Xu Hướng 2/2024 # Xót Xa Trước Số Phận Bi Thảm Của Người Phụ Nữ Trong Xã Hội Phong Kiến, Nhà Thơ Nguyễn Du Đã Viết: # Top 6 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Xót Xa Trước Số Phận Bi Thảm Của Người Phụ Nữ Trong Xã Hội Phong Kiến, Nhà Thơ Nguyễn Du Đã Viết: được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

I. DÀN Ý

1. Mở bài:

– Trong xã hội phong kiến đầy áp bức, bất công, người phụ nữ là nạn nhân chịu nhiều đau khổ nhất.

– Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du đã phản ánh sâu sắc nỗi khổ ghê gớm ấy qua hình tượng người con gái tài sắc Thuý Kiều.

– Lời than của Kiều đã khái quát được nỗi thống khổ chung của người phụ nữ:

Đau đớn thay phận đàn bà!

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

2. Thân bài:

a. Giải thích ý nghĩa câu thơ:

+ Là nhận định về số phận chung của phụ nữ dưới chế độ phong kiến. Bạc mệnh như một định mệnh bất di bất dịch đối với họ.

+ Bạc mệnh là gì?

– Bạc: mỏng; mệnh: số mệnh.

– Bạc mệnh: nghĩa hẹp là số phận mỏng manh, bạc bẽo. Nghĩa rộng là cuộc đời gặp nhiều bất hạnh, tai ương. Số phận long đong, vất vả hoặc là chết yểu một cách thảm thương.

b. Khẳng định nhận xét của Nguyễn Du là hoàn toàn đúng:

– Trong chế độ phong kiến, chiến tranh cùng với những quan niệm cổ hủ, lạc hậu như trọng nam khinh nữ,… đã gây ra bao bất công, khổ nhục cho người phụ nữ. (Dẫn chứng: Người con gái Nam Xương, Thơ Hồ Xuân Hương, Truyện Kiều…).

– Thân phận phụ nữ bị xã hội coi rẻ, vùi dập. Mọi khát vọng sống cao đẹp của họ đều không được chấp nhận. Dù cố vươn lên để chiến thắng số phận, rốt cuộc, họ vẫn bị những thế lực hắc ám nhấn chìm xuống bùn đen. (Dẫn chứng: Cuộc đời Kiều là một chuỗi dài bi kịch).

– Nguyễn Du thực sự thông cảm và xót thương người phụ nữ – nạn nhân của lễ giáo bất công, của thế lực đồng tiền trong xã hội phong kiến.

c. Nâng cao, mở rộng vấn đề:

– Từ thân phận bạc mệnh của người phụ nữ, Nguyễn Du phản ánh nỗi khổ của họ dưới chế độ phong kiến suy tàn, thối nát. Từ đó, tác giả tố cáo xã hội đương thời đã chà đạp thô bạo lên nhân phẩm, nhân quyền của người phụ nữ.

– Trong chế độ mới, người phụ nữ được coi trọng, được đánh giá đúng. Điều đó đã phát huy năng lực to lớn của người phụ nữ, động viên họ đóng góp sức mình vào sự nghiệp chung của đất nước, dân tộc.

– Mọi suy nghĩ, hành động sai trái, xúc phạm đến nhân phẩm người phụ nữ cần phải bị lên án.

3. Kết bài:

– Câu thơ trên của Nguyễn Du phản ánh chân thực và xúc động về thân phận đau khổ của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến.

– Nó như lời than thống thiết trước một định mệnh hết sức tàn bạo, phũ phàng đối với người phụ nữ. Hãy tôn trọng phụ nữ, trả họ về với vị trí xứng đáng mà Tạo hoá đã ban cho: người duy trì, tiếp nối sự sống trên trái đất.

II. BÀI LÀM

Nguyễn Du (1765 – 1820) là nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX. Ông đã được công nhận là Danh nhân văn hoá thế giới. Tuy xuất thân từ tầng lớp quan lại phong kiến nhưng cuộc đời Nguyễn Du lại phải trải qua nhiều lưu lạc, đau khổ. Vì vậy, ông thông cảm với nhân dân đặc biệt là với số phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến suy tàn, thối nát. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã mượn lời Thuý Kiều, một cô gái tài hoa bạc mệnh để khái quát chung về số phận bi thảm của người phụ nữ:

Đau đớn thay phận đàn bà!

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

Câu thơ xót xa, ai oán như một lời than phẫn uất trước định mệnh cực kì vô lí, bất công đối với phụ nữ. Tiếc thay, trong xã hội phong kiến, bạc mệnh đã trở thành số phận chung của bao kẻ hồng nhan.

Bạc mệnh là số phận mỏng manh, bạc bẽo, nói rộng ra là cuộc đời gặp nhiều tai ương, buồn khổ. Người bạc mệnh có kiếp sống long đong, lận đận. hoặc chết yểu một cách thảm thương. Nguyễn Du tan nát cả cõi lòng khi hạ bút viết những câu thơ như có nước mắt rơi, máu chảy. Đằng sau lời than thống thiết ấy là một hiện thực cay đắng, phũ phàng : xã hội phong kiến bất công chà đạp tàn bạo lên nhân phẩm người phụ nữ.

Trong xã hội trọng nam khinh nữ ấy, người phụ nữ bị tước đoạt mọi quyền lợi chính đáng. Họ bị biến thành nô lệ của những ràng buộc nghiệt ngã từ phía lễ giáo phong kiến và những quan niệm lạc hậu như tam tòng, thủ tiết, nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô, nữ nhân ngoại tộc… Số phận họ hoàn toàn phụ thuộc vào tay kẻ khác. Thậm chí, họ còn bị coi như hàng hoá, dùng để bán mua, đổi chác. Bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương, Truyện Kiều của Nguyễn Du đã thể hiện thật sinh động những thân phận đau thương ấy.

Hồ Xuân Hương ví thân phận người phụ nữ như chiếc bánh trôi: Thân em vừa trắng lại vừa tròn, Bảy nổi ba chìm với nước non, Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn… Nguyễn Du miêu tả quãng đời đầy truân chuyên, bão tố của nàng Kiều: Thoắt mua về thoắt bán đi, Mây trôi bèo nổi thiếu gì là nơi ; Khi Vô Tích, khi Lâm Tri, Nơi thì lừa đảo nơi thì xót thương… Người con gái tài sắc vẹn toàn ấy lẽ ra phải được sống ấm êm bên cha mẹ, hạnh phúc bên người yêu, nhưng thế lực đen tối, bạo tàn trong xã hội mà đồng tiền là chúa tể đã cướp đi của nàng tất cả những gì tốt đẹp nhất và nhẫn tâm xô đẩy nàng xuống tận lớp bùn nhơ dưới đáy xã hội. Mỗi lần Kiều cố gắng vươn lên để chiến thắng hoàn cảnh, chiến thắng số phận là một lần nàng lại bị dìm sâu hơn nữa.

Từ kiếp bạc mệnh của Thuý Kiều, nhà thơ khái quát lên thành lời chung, kiếp đau khổ chung của người phụ nữ. Văn học thời ấy đã từng nói đến cái chết thảm thương, oan khốc của Người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ); một nạn nhân của chiến tranh và lễ giáo phong kiến bất công. Hay một nàng Đạm Tiên nổi danh tài sắc một thì mà phải rơi vào cảnh: Sống làm vợ khắp người ta, Hại thay thác xuống làm ma không chồng. Trong xã hội cũ, hỏi có bao nhiều nàng Đạm Tiên như thế?

Câu thơ: Đau đớn thay phận đàn bà… không chỉ là một tiếng kêu thương mà còn là lời tố cáo, lên án đanh thép cái chế độ phong kiến vô nhân đạo, chà đạp không thương tiếc lên nhân phẩm con người nói chung và phụ nữ nói riêng. Bởi vậy nó chứa đựng ý nghĩa nhân văn cao cả.

Trong chế độ mới ưu việt, người phụ nữ được gia đình và xã hội tôn trọng. Vai trò to lớn của họ được đánh giá đúng đắn. Chính những điều đó đã giải phóng người phụ nữ ra khỏi những ràng buộc phi lí xưa nay, khơi dậy tiềm năng vô tận của họ trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Không phải trong cuộc sống hiện nay đã thật sự chấm dứt những quan niệm bất công đối với người phụ nữ, nhưng thái độ coi thường và những hành vi xúc phạm đến nhân phẩm phụ nữ đã và đang bị xã hội nghiêm khắc lên án.

Tuy ra đời cách đây đã gần hai thế kỉ nhưng những câu thơ tâm huyết của Nguyễn Du vẫn gây xúc động sâu xa trong lòng người đọc. Nó vừa là lời thân thống thiết về nỗi đau khổ to lớn của kiếp người, vừa là lời kết án tội ác của chế độ phong kiến bất công chà đạp lên nhân phẩm người phụ nữ. Người đọc bao thế hệ đã nhận được từ hai câu thơ này thông điệp của Nguyễn Du: Hãy cứu lấy phụ nữ, hãy bảo vệ phụ nữ và trả lại cho họ vị trí xứng đáng, thiêng liêng mà Tạo hoá đã ban cho họ là duy trì sự sống của loài người trên trái đất.

Phân Tích Thân Phận Người Phụ Nữ Trong Xã Hội Cũ Qua Một Số Bài Ca Dao Than Thân (Có Dàn Ý Và Bài Làm Chi Tiết)

Phân tích thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ qua một số bài ca dao than thân (có dàn ý và bài làm chi tiết)

Thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa vốn đã chịu nhiều đau đớn và bất hạnh.

Ca dao là một bộ phận quan trọng trong văn học dân gian, đó là phần lời của những bài hát dân ca.

Lời than thân nghe mà chứa chan nước mắt, như sợi dây vô hình nào đó đã quấn chặt lấy người phụ nữ, tạo nên sự đau đớn và tuyệt vọng:

”Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”.

Lời than thân nghe mà chứa chan nước mắt, như sợi dây vô hình nào đó đã quấn chặt lấy người phụ nữ, tạo nên sự đau đớn và tuyệt vọng:

”Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”.

Lời than thở của một cô gái lấy chồng khi còn quá trẻ:

”Bướm vàng đậu đọt mù u

Lấy chồng càng sớm tiếng ru càng buồn”

Tác giả dân gian đã sử dụng phép ẩn dụ”bướm” để chỉ người con trai,”mù u”là cô gái trẻ.

Những khao khát mãnh liệt trong tình yêu và sự ngăn cản của cuộc đời:

”Hòn đá đóng rong vì dòng nước chảy,

Hòn đá bạc đầu vì bởi sương sa.

Em với anh cũng muốn kết nghĩa giao hòa,

Sợ mẹ bằng biển, sợ cha bằng trời.

Em với anh cũng muốn kết tóc ở đời,

Sợ rằng mây bạc giữa trời mau tan.”

Đây là lời tâm sự của cô gái với chàng trai, người mà cô yêu thương.

Hình ảnh”con cò” có lẽ đã quá quen thuộc với tác giả dân gian, hình ảnh gắn với những nỗi khổ cực, những lam lũ vất vả của người nông dân. Tác giả dân gian kể về tình cảnh của con cò

”Con cò mà đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.

Ông ơi! ông vớt tôi nao,

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng.

Có xáo thì xáo nước trong,

Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.

Con cò đi ăn đêm, lộn cổ xuống ao. Thể hiện sự vất vả, đáng thương trong cuộc mưu sinh và gợi niềm cảm thông.

Họ khổ quá, họ phải cất lên tiếng than như sự giãi bày với hậu thế.

Một thoáng chốc tâm trạng như thế đã được neo lại bởi nghệ thuật ngôn từ để rồi gieo lại bao cảm xúc

Thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa vốn đã chịu nhiều đau đớn và bất hạnh. Đó là cô Kiều gian truân, ngậm những giọt đắng giọt cay của cuộc đời, số phận hồng nhan mà bạc mệnh. Và còn rất nhiều thân phận người phụ nữ nữa. Dường như tất cả trở nên quá đỗi bình thường và quen thuộc trong xã hội ấy. Tất cả những đau thương ấy được họ gửi gắm vào trong ca dao. Vậy ca dao là gì? Ca dao là một bộ phận quan trọng trong văn học dân gian, đó là phần lời của những bài hát dân ca. Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa là nỗi niềm xót xa, cay đắng và tình cảm yêu thương thủy chung, đằm thắm ân tình của người dân trong xã hội cũ. Nội dung ca dao biểu lộ đời sống tâm tư của nhân dân lao động trong các lĩnh vực cuộc sống. Những lời than thân, những tiếng nói yêu thương tình nghĩa chiếm một số lượng đáng kể và có giá trị trong kho tàng ca dao cổ. Ca dao rất ngắn ngọn và hàm súc, ngôn ngữ giản dị.

Lời than thân nghe mà chứa chan nước mắt, như sợi dây vô hình nào đó đã quấn chặt lấy người phụ nữ, tạo nên sự đau đớn và tuyệt vọng:

”Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”.

Nếu trong thơ của Tú Xương sử dụng hình ảnh thân cò để nói về những khó khăn, gian truân vất vả của người vợ nói riêng và người phụ nữ Việt nói chung:

”Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

Thì trong ca dao dùng hình ảnh”tấm lụa đào” thật nhẹ nhàng như chính tâm hồn, phẩm chất người phụ nữ. Gợi một cảm giác rất nhẹ nhàng và thanh thoát nhưng ẩn trong đó là nỗi niềm nặng trĩu.

”Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”

”Tấm lụa đào” thanh thoát ấy lại”phất phơ giữa chợ”.Một cảm giác thật nghịch lí.”Phất phơ”gợi cảm giác vô định không biết đi đâu về đâu, giống như cảnh”hoa trôi man mác biết là về đâu”.Một số phận bị định đoạt không thể làm chủ được cuộc đời của mình, để rồi tự hỏi rằng”biết vào tay ai”?.Trong cả cuộc đời, người phụ nữ bị đẩy vào trạng thái thụ động, phải để cho cuộc đời mình dựa dẫm, quanh quẩn với việc thờ chàng, thờ cha, theo con. Câu ca dao ấy là một lời than, nó cất lên từ số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Bằng cách sử dụng phép so sánh và những hình ảnh rất đời thường, ca dao ấy gợi đầy cảm xúc.

Không chỉ vậy, người phụ nữ còn cất lên câu than thân nhiều lần bởi vì họ sống khổ quá,họ sống chưa bao giờ được là mình, luôn bị kìm kẹp trong định kiến cổ hủ, lạc hậu của xã hội:

”Thân em như giếng giữa đàng

Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân”

Trong ca dao than thân, sẽ không xa lạ gì khi ta bắt gặp mô típ”thân em” được so sánh với giếng giữa đàng, gợi một nguồn nước trong trẻo tinh khiết. Số phận ấy còn phụ thuộc vào giá trị sử dụng.”Rửa mặt” là những người khôn ngoan, biết trân trọng phẩm giá người phụ nữ, còn”rửa chân” là những người phàm tục. Bằng phép ẩn dụ kết hợp với phép đối”khôn, phàm” thể hiện rõ được thân phận của người phụ nữ luôn phụ thuộc vào người sử dụng.

”Bướm vàng đậu đọt mù u

Lấy chồng càng sớm tiếng ru càng buồn”

Tác giả dân gian đã sử dụng phép ẩn dụ”bướm” để chỉ người con trai,”mù u” là cô gái trẻ. Triếng ru càng buồn là một kiểu tâm sự không biết chia sẻ với ai, chỉ biết tâm sự với lời ru. Hình ảnh ẩn dụ”lấy chồng càng sớm tiếng ru càng buồn”thể hiện sự tăng tiến tâm sự của người con gái trẻ, một hình ảnh đầy đáng thương và tội nghiệp. Tiếng than ấy còn là sự ý thức về phẩm giá của mình trong một xã hội đầy bất công.

”Hòn đá đóng rong vì dòng nước chảy,

Hòn đá bạc đầu vì bởi sương sa.

Em với anh cũng muốn kết nghĩa giao hòa,

Sợ mẹ bằng biển, sợ cha bằng trời.

Em với anh cũng muốn kết tóc ở đời,

Sợ rằng mây bạc giữa trời mau tan.

Đây là lời tâm sự của cô gái với chàng trai, người mà cô yêu thương. Hình ảnh”đá”là một vật thể cứng và bền nhưng vẫn đóng rong vì nước, vẫn có thể bạc đầu. Thiên nhiên ấy còn đổi thay, phôi pha, huống chi là tuổi xuân của cô rồi cũng sẽ tàn phai theo năm tháng. Nỗi lo của cô gái thể hiện rõ ràng hơn qua phép đối nối cảnh sinh tình, tả cảnh ngụ tình. Tính chất bền vững muôn thuở của đá đã trở thành ẩn dụ nghệ thuật được dùng để biểu thị sự bền vững lâu dài của tình cảm con người.

”Em với anh cũng muốn kết nghĩa giao hòa,

Sợ mẹ bằng biển, sợ cha bằng trời.

Em với anh cũng muốn kết tóc ở đời,

Sợ rằng mây bạc giữa trời mau tan.”

Em muốn kết nghĩa giao hòa nhưng sợ mẹ bằng biển, sợ cha bằng trời. Bởi ”Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.Trong thâm tâm của những người con thì hình ảnh bố mẹ luôn cao quý mà phận làm con tôn kính. Sử dụng phép đối, so sánh, những hình ảnh truyền thống để diễn tả nỗi sợ. Em muốn kết tóc, muốn gắn bó se duyên nhưng sợ mây bạc mau tan:Sợ tình yêu của chàng trai tuy đẹp đẽ nhưng rất mỏng manh. Phép đối giữa khát vọng hạnh phúc lứa đôi với thân phận đầy bi kịch của người phụ nữ.

Hình ảnh”con cò” có lẽ đã quá quen thuộc với tác giả dân gian, hình ảnh gắn với những nỗi khổ cực, những lam lũ vất vả của người nông dân. Tác giả dân gian kể về tình cảnh của con cò

”Con cò mà đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.

Ông ơi! ông vớt tôi nao,

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng.

Có xáo thì xáo nước trong,

Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.

Con cò đi ăn đêm, lộn cổ xuống ao. Thể hiện sự vất vả, đáng thương trong cuộc mưu sinh và gợi niềm cảm thông. Thường thì cò kiếm ăn vào ban ngày. Như vậy đây là một hoàn cảnh bất bình thường. Nhưng ở đây cò kiếm ăn vào ban đêm, bởi vì nghèo quá kiếm mỗi ban ngày thì cũng không thể đủ để trang trải cuộc sống, nên phải mưu sinh kiếm ăn cả ban đêm. Vì cùng cực, khổ quá nên cất lên tiếng than thân, tiếng kêu chân thành và gấp gáp, cầu cứu được sống một cách khao khát.

”Ông ơi! ông vớt tôi nao,

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng.

Có xáo thì xáo nước trong,

Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.”

Từ ông được nhắc lại đến ba lần, hai từ tôi được điệp lại như nhấn mạnh thêm bi kịch của con cò.Đó cũng là một sự thanh minh, phân trần”Tôi có lòng nào” là có ý gì xấu thì hãy xáo măng. Cò van xin, lựa chọn cái chết’trong” giữ lấy danh dự không muốn chết”đục”để giữ lại tai tiếng vì không thể để cho con cháu vạ lây, mang tiếng xấu. Như:

”Thà làm ma nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc”.

Tác giả dân gian mượn hình ảnh con cò để nói về người nông dân đã khẳng định được vẻ đẹp cao quý trong tâm hồn, đồng thời cũng là sự phản kháng xã hội, mong muốn được sống tự do, được hạnh phúc . Con có là biểu tượng về người nông dân một nắng hai sương, khi cò lộn cổ xuống ao cũng là những bi kịch của người nông dân được thể hiện rõ vì sưu thuế, lao dịch nặng nề khiến họ bị kìm kẹp, bị đẩy tới bước đường cùng. Cũng từ đó mà ta càng trân quý người nông dân, những người cùng khổ của xã hội luôn khao khát được sống.

Những câu ca dao ấy đã khiến mỗi chúng ta cảm nhận được sự khổ cực của họ, của những người dân lao động trong xã hội, những người phụ nữ. Không được sống là mình, luôn chịu những đau đớn và bất hạnh. Họ khổ quá,họ phải cất lên tiếng than như sự giãi bày với hậu thế. Một thoáng chốc tâm trạng như thế đã được neo lại bởi nghệ thuật ngôn từ để rồi gieo lại bao cảm xúc trong lòng người tiếp nhận. Ca dao thật ngắn gọn và hàm súc, ngôn ngữ giản dị , gắn với lời nói hằng ngày. Ca dao giàu hình ảnh so sánh, ẩn dụ, nhân hóa và mang tính đại chúng. Hình tượng trong ca dao chân thật, dân dã và đậm sắc thái dân tộc.

Đỗ Anh Ngọc

Lớp 10A4 – Trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn, Lai Châu

Thân Phận Người Phụ Nữ Trong Bài Thơ Bánh Trôi Nước

Nhận định về thơ Hồ Xuân Hương, sách “Văn học trung đại Việt Nam” của Lê Trí Viễn có viết: “Thơ Hồ Xuân Hương là tiếng nói tâm tình của người phụ nữ, thể hiện một bản lĩnh sống mạnh mẽ khác thường”

Ở thơ của Hồ Xuân Hương mang âm sắc vô cùng khác biệt, một cái tôi ngông cuồng muốn phá tan mọi rào cản của xã hội phong kiến để cất cao tiếng nói của bản năng và tính cách. Là một người phụ nữ, hơn ai hết bà hiểu rất rõ thân phận bèo bọt của họ trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ. Hình ảnh của người phụ nữ được khắc họa rất rõ nét trong bánh trôi nước

“Thân em thời trắng phận em tròn, Bảy nổi ba chìm mấy nước non. Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn, Nhưng em vẫn giữ tấm lòng son”

Vẻ đẹp của người phụ nữ

Người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa bị gò bó bởi rất nhiều hà khắc, họ mất đi hoàn toàn tiếng nói của mình. Song thật ngạc nhiên khi họ vẫn giữ cho mình vẻ đẹp sáng ngần của tâm hồn. Nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương đã mượn hình ảnh bánh trôi nước để nói lên vẻ đẹp đó:

Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Mở đầu bằng đại từ nhân xưng “thân em”, vừa diễn tả được sự tự hào về bản thể của mình, đồng thời thể hiện cảm hứng tự thương của người phụ nữ khi xưa đã từng được thể hiện trong những câu ca dao:

“Thân em như củ ấu gai. Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen”

Hay:

“Thân em như đoá hoa rơi Phải chăng chàng thật là người yêu hoa”

Ở một bộ phận trong chùm ca dao than thân viết về người phụ nữ, luôn dành những hình ảnh đẹp nhất, thanh cao nhất để so sánh với tâm hồn của họ. Hồ Xuân Hương cũng vậy, chỉ với một câu thơ nhưng nhà thơ đã miêu tả quá chi tiết hình dáng, màu sắc của chiếc bánh trôi. Bánh trôi là loại bánh dân dã, gắn liền với đời sống của nhân dân. Có rất nhiều cách để viết hay, viết đẹp hơn nữa nhưng nhà thơ Hồ Xuân hương lại chọn cách viết thật, viết đúng, viết sâu như thế này. “Vừa trắng lại vừa tròn” không phải là chuẩn mực của cái đẹp nhưng lại rất phúc hậu. Chiếc bánh trôi trắng và tròn cũng giống như tâm của người phụ nữ hiền lành, điềm đạm và không vướng bụi trần.

Không sử dụng những hình ảnh quen thuộc trong thơ xưa, thi sĩ chọn cho mình chiếc bánh trôi nước, hình ảnh thể hiện rất rõ vẻ đẹp của người phụ nữ thời xưa, tính từ “trắng” đã làm nổi bật nên vẻ đẹp ấy một cách hoàn chỉnh và chân thực nhất.

Vẻ đẹp của người phụ nữ được thể hiện rõ hơn qua câu thơ:

Mà em vẫn giữ tấm lòng son

Trong tất cả các phẩm chất, thi nhân chỉ chọn tấm lòng thủy chung son sắc để miêu tả và khắc họa, bởi đây là phẩm chất điển hình nhất, hi sinh và cao thượng nhất ở người phụ nữ. Họ phải chịu cảnh ghẻ lạnh:

“Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng Chém cha cái kiếp lấy chồng chung Năm chừng mười hoạ hay chăng chớ Một tháng đôi lần có cũng không” (Lấy chồng chung)

Ấy vậy mà vẫn luôn chung thủy một lòng:

“Phụ nữ Việt Nam trung trinh tiết hạnh, Trang điểm cuộc đời muôn cánh hoa thơm. Ra ngoài giúp nước, giúp non, Về nhà tận tụy chồng con một lòng.”

Câu thơ của Hồ Xuân Hương một lần nữa khẳng định vẻ đẹp vĩnh cửu đó. Ở đây kết cấu đối lập được tác giả khai thác triệt để. Đó là sự đối lập giữa thái độ người phụ nữ trong câu ba và câu bốn, đối lập giữa thái độ cam chịu và thái độ quả quyết bảo vệ phần trong sáng trong tâm hồn con người. Sự đối lập này tràn ra cả ngôn từ Mặc dù… mà em vẫn giữ… chỉ quan hệ đối lập nhưng do đặt vị trí đầu câu lại được tăng cường thêm của từ vẫn khiến cho ý nghĩa đối lập càng thêm sắc, mạnh. Câu thơ là lời khẳng định đầy đanh thép cho vẻ đẹp “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.

Thân phận của người phụ nữ

Bài thơ là sự đi lại liên tục giữa số phận của người phụ nữ và vẻ đẹp của họ. Càng làm bật lên sự thống khổ của người phụ nữ, ta càng càm thấy thêm trân quý vẻ đẹp lẩn khuất hi sinh thầm lặng của họ. Có thể nói đây là nghệ thuật đòn bẩy mà nhà thơ đã sử dụng. Ta không thể không đau xót khi đọc câu thơ:

Bảy nổi ba chìm với nước non

Mượn cách nấu bánh trôi nước để nói về thân phận người phụ nữ, nhà thơ đã khát quát được cuộc đời truân chuyên của những người phụ nữ. Không phải ngẫu nhiên mà ca dao xưa có câu:

“Thân em như giếp giữa đàng Người khôn rửa mặt người phàm rửa chân.”

Từ thoáng chút hài lòng, tự hào chuyển sang than vãn về số phận hẩm hiu. Đảo lại một thành ngữ quen thuộc (ba chìm bảy nổi), nhà thơ đã tạo nên cách nói mới, nhấn mạnh hơn vào sự long đong. Thành ngữ này được sử dụng đối lập với cụm từ “vừa trắng lại vừa tròn” ở câu thơ đầu tiên để tăng sự đối lập, qua đó làm tăng tiến hơn nữa thân phận của người phụ nữ. Họ không biết được số phận của mình sẽ như thế nào, câu thơ diễn tả khoảng không vô tận trong tâm hồn người phụ nữ vì họ không được quyết định số phận của mình. Câu thơ tiếp theo càng khiến ta thêm xót xa:

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Hồ Xuân Hương là một nhà thơ có cái tôi đầy ngông cuồng và phá cách, song câu thơ ta lại chỉ nghe tiếng thở dài. Thở dài cho một phận đời bèo bọt nổi trôi, cho vẻ đẹp bị bào mòn và che lấp. Người phụ nữ không còn cách nào khác ngoài việc để mặc cho người khác quyết định hạnh phúc của mình. biết bao giờ họ mới có được cuộc sống riêng tự lâp cho chính bản thân mình. Họ phải đau khổ biết bao để chịu đựng những thứ đao lí như thế.

Chỉ vẻn vẹn bốn câu thơ, nhưng Hồ Xuân Hương đã thật tài tình khi khắc họa được cả thân phận người phụ nữ cũng như vẻ đẹp của mình. Bằng sự trải nghiệm của mình, nhà thơ đã làm sống dậy trong người đọc lòng xót thương cho những người phụ nữ thời phong kiến.

Thảo Nguyên

Hình Ảnh Và Thân Phận Người Phụ Nữ Trong Thơ Hồ Xuân Hương

Trong lịch sử văn học Việt Nam, Hồ Xuân Hương là một hiện tượng hết sức độc đáo: nhà thơ phụ nữ viết về phụ nữ, trào phúng mà trữ tình, đậm đà chất văn học dân gian, từ đề tài, cảm hứng, đến ngôn ngữ, hình tượng. Nổi bật trong thơ Hồ Xuân Hương là tiếng nói thông cảm đối với người phụ nữ, là sự khẳng định, đề cao vẻ đẹp và khát vọng của họ.

Xuân Diệu coi Hồ Xuân Hương là nhà thơ của “hai lần độc đáo” bởi trong thời đại bấy giờ, bà không chỉ là một trong số rất ít những nhà thơ nữ mà còn là một nhà thơ nữ viết về phụ nữ một cách đầy bản lĩnh. Trước hết, thơ Hồ Xuân Hương là tiếng nói khẳng định vẻ đẹp, tài năng và bản lĩnh cá nhân. Khẳng định vẻ đẹp của họ, Hồ Xuân Hương không chỉ nhấn mạnh vẻ đẹp hình thức mà còn là sự hài hòa giữa vẻ đẹp về hình thức và vẻ đẹp tâm hồn. Đó là vẻ đẹp trắng trong, tinh khiết:

“Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình Chị cũng xinh mà em cũng xinh Đôi lứa như in tờ giấy trắng

Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh”.

Vẻ đẹp trong trắng, hồn nhiên ấy như được chạm khắc vào thời gian một cách vĩnh cửu. Không chỉ vậy, đó còn là vẻ đẹp khác lạ: lạ lùng, thanh tân, có đường nét, hình khối, “một vẻ đẹp đầy sức sống, một vẻ đẹp đang lên men” (Nguyễn Đức Bính):

“Lược trúc biếng cài trên mái tóc Yếm đào trễ xuống dưới nương long Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm

Một lạch đào nguyên suối chửa thông”.

Vẻ đẹp phồn thực nhưng lại hết sức hồn nhiên, trong sáng nên có sức mê hoặc lòng người, vẻ đẹp ấy không phải người phụ nữ nào trong xã hội đó cũng dám lên tiếng khẳng định. Không chỉ khẳng định vẻ đẹp về hình thức, Hồ Xuân Hương còn rất chú trọng đến vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ:

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son”.

Miêu tả về chiếc bánh trôi và các công đoạn làm bánh, Hồ Xuân Hương đã không ngần ngại liên tưởng đến hình ảnh của người phụ nữ để từ đó khẳng định vẻ đẹp đầy đặn, phúc hậu của họ. Bài thơ ẩn chứa những ngậm ngùi về thân phận nhưng vượt lên trên tất cả vẫn là lời khẳng định phẩm giá đầy kiêu hãnh: dù số phận có lênh đênh vất vả nhưng tấm lòng trinh bạch, son sắt thì vẫn không bao giờ thay đổi. Một điểm thú vị nữa có thể coi là một hiện tượng chỉ có ở Hồ Xuân Hương đó là bà ca ngợi người phụ nữ ở những vẻ đẹp phồn thực nhất, không ngần ngại khi nhắc đến cả những điều trần tục. Người phụ nữ đẹp bởi tất cả những gì vốn thuộc về họ. Họ có vẻ đẹp trong sáng, thuần khiết, và căng tràn nhựa sống. Đó là cái đẹp được nhà nghiên cứu gọi là cái đẹp trần thế luôn cựa quậy, khiến cho… đứng ngồi không yên biết bao bậc tu mi nam tử. Nhưng nói về vẻ đẹp của người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương từng ấy thôi chưa đủ. Người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương không chỉ đẹp, đó còn là những người phụ nữ thông minh, tài năng, sắc sảo, nhanh nhẹn và đầy bản lĩnh. Người phụ nữ của bà dám “ghé mắt trông ngang” để mà mỉa mai về “sự anh hùng”:

“Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo Kìa đền Thái thú đứng cheo leo Ví đây đổi phận làm trai dược

Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?”.

Đền chùa là nơi thuộc về tâm linh, thường được kính trọng, thế nhưng với ngôi đền thờ tên tướng giặc sầm Nghi Đống, Hồ Xuân Hương lại bộc lộ một thái độ khinh bỉ, thiếu trân trọng đến ngang ngược. Bà chỉ “ghé mắt”, chỉ “trông ngang” bởi thấy cái “sự anh hùng” của sầm Nghi Đông chỉ tầm thường một cách đáng thương. Thi sĩ nói tất cả những điều đó với sự tự tin vào khả năng của bản thân, một sự bản lĩnh cũng là một kì tích mà thậm chí đến cả đấng nam nhi không phải ai cũng có thể làm được. Chân dung người phụ nữ bản lĩnh, cá tính, thông minh dường như không lúc nào mờ nhạt. Thế nên mới có một Hồ Xuân Hương xưng “chị” mà lớn tiếng “Mắng lũ học trò dốt” tưởng rằng có học nhưng cũng chỉ là những kẻ tầm thường, đáng bị đưa ra để cười cợt. Và một Hồ Xuân Hương, mời trầu người ta nhưng cũng theo một cách riêng đầy bản lĩnh:

“Quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi Này của Xuân Hương đã quệt rồi Có phải duyên nhau thì thắm lại

Đừng xanh như lá, bạc như vôi”.

Khẳng định vẻ đẹp, tài năng và bản lĩnh của mình, Hồ Xuân Hương cũng lên tiếng ngợi ca, khẳng định vẻ đẹp của người phụ nữ trong xã hội đó. Tuy vẫn có một chút buồn tủi song trên hết vẫn là sự thông minh, tự tin, bản lĩnh hiếm có và một nét riêng không thể trộn lẫn trong cá tính Hồ Xuân Hương.

Người phụ nữ của Hồ Xuân Hương mang vẻ đẹp cả về hình thể và tâm hồn, lẽ ra, họ phải nhận được hạnh phúc xứng đáng. Vậy mà “Hồng nhan bạc phận”, trong xã hội đó, họ lại luôn phải chịu những điều bất hạnh. Đồng cảm với họ, thơ Hồ Xuân Hương còn là tiếng nói cảm thương chân thành. Hồ Xuân Hương không quan tâm đến những người phụ nữa gặp may mắn trên đường đời, cũng không quan tâm đến những người phụ nữ nơi lầu son gác tía – đề tài quen thuộc trong thơ văn trung đại mà chỉ quan tâm đến những người phụ nữ lao động bình thường chịu nhiều thua thiệt trong cuộc đời. Thơ bà thể hiện sự cảm thương sâu sắc, thương cho người và cũng là thương cho mình. Thơ bà có hẳn hai mảng về nỗi bất hạnh của người phụ nữ, trong tình yêu và trong cuộc sống gia đình. Bản thân Hồ Xuân Hương cũng là một người phụ nữ chịu nhiều bất hạnh về tình duyên: hai lần làm lẽ và cả hai lần tình duyên đều không trọn vẹn. Hơn ai hết, bà thấm thía cảnh duyên phận hẩm hiu, nỗi cô đơn và bất hạnh của những người bị ông tơ bà nguyệt trêu đùa. Hồ Xuân Hương đã “tự tình”, “tự thán” để nói lên tình cảnh và tâm trạng của mình, cũng là nói thay cho bao người phụ nữ khác.

“Chiếc bách buồn vì phận nổi nênh

Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh”.

Thân phận người phụ nữ cũng lênh đênh, lận đận như chiếc thuyền giữa dòng, mãi mà chưa thể tìm được chốn neo đậu bình yên. Nỗi ngao ngán vì tình duyên muộn mằn khiến cho người phụ nữ dường như chán nản: “Ấy ai thăm ván cam lòng vậy/ Ngán nỗi ôm đàn những bấp bênh”. Vậy nhưng thời gian vẫn trôi đi không trở lại, để cho họ ở đó, giữa đêm khuy thanh vắng để đối diện với tình cảnh buồn thảm và éo le của mình:

“Canh khuya văng vẳng trống canh dồn Trơ cái hồng nhan với nước non (…) Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại

Mảnh tình san sẻ tí con con”

“Mảnh tình san sẻ tí con con” đó là một mảnh tình không trọn vẹn. Đã chỉ là “mảnh tình thôi” lại còn bị san sẻ đến “con con”. Có một cái gì đó chua chát, ngán ngẩm, bẽ bàng, cô độc đến đáng thương, đến tội nghiệp. Có lúc, nó được đẩy lên thành nỗi oán hận, không thể nào giải tỏa hết được, giận bởi đời, giận bởi số kiếp mình hẩm hiu, giận vì “duyên để mõm mòm”. Ngay cả khi với bản lĩnh của mình, Hồ Xuân Hương vẫn nói lên lời thách thức cuộc đời: “Thân này đâu đã chịu già tom” nhưng sâu xa, người ta vẫn cảm nhận được tình cảnh đáng thương và những nỗi niềm thầm kín sâu sắc của một người phụ nữ tình duyên bất hạnh. Tiếng nói cá nhân nhưng lại có ý nghĩa đại diện sâu sắc cho số phận của biết bao người phụ nữ trong xã hội thời bà, những người ý thức được về mình nhưng lại không được làm chủ cuộc đời và số phận của chính mình.

Không chỉ vậy, Hồ Xuân Hương còn lên tiếng tố cáo, bênh vực người con gái vì “cả nể” mà phải mang trong mình “khối tình con”, nhận biết bao điều tiếng.

“Cả nể cho nên hóa dở dang

Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng?”

Người con gái biết mình có lỗi nhưng không cho đó là cái tội, mà chỉ vì sự cả nể. Nàng nghĩ đến cái nghĩa trăm năm để đầy bao dung, oán giận nhưng vẫn sẵn sàng tha thứ và đầy hi sinh, kiên cường trước búa rìu dư luận. Trong một xã hội mà những người phụ nữ như nàng bị khinh rẻ, bà lại lớn tiếng khẳng định: “Không có nhưng mà có mới ngoan”. Không phải ca ngợi, không phải đồng tình, mà đó chỉ là sự cảm thông, che chở. Hồ Xuân Hương đã rất thấu tình đạt lí khi bao bọc cho người con gái lỗi lầm kia.

“Kể đắp chăn bông kẻ lạnh lùng Chém cha cái kiếp lấy chồng chung Năm thì mười họa chăng hay chớ Một tháng đôi lần có cũng không Cố đấm ăn xôi xôi lại hỏng Cầm bằng làm mướn, mướn không công Thân này ví biết dường này nhỉ

Thà trước thôi đành ở vậy không”.

Hồ Xuân Hương đã không ngần ngại khi nói đến những chuyện tế nhị trong hạnh phúc vợ chồng. Bi kịch của người phụ nữ được bà chú ý ở đây là danh phận là vợ nhưng thân phận lại như con ở – một thứ con ở không công, vậy mà cũng chỉ biết oán thoán, chịu đựng. Đau đớn hơn nữa còn là sự thiếu thốn tình cảm vợ chồng, là cảm giác cô đơn lạnh lẽo ngay giữa chính căn nhà mà mình đang ở. Hồ Xuân Hương đã từng làm lẽ hai lần. Nỗi bất hạnh của cảnh “Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng” không phải là hiếm trong xã hội phong kiến mà chắc hẳn bà đã là người ít nhiều trải nghiệm. Hồ Xuân Hương là kiểu người không chịu cúi đầu mà khóc, không chỉ với bản thân mình mà với người khác nữa. Bà đứng trước đau khổ người khác, không phải để góp thêm nước mắt mà để vỗ về, dìu họ ra khỏi đau thương.

“Hồ Xuân Hương là một nhà thơ đầy sáng tạo. Các nghệ sĩ tài năng vừa tuân thủ thi pháp thời đại mình vừa vi phạm các quy tắc ấy và sáng tạo phong cách của riêng mình. Hồ Xuân Hương sáng tạo một phong cách thơ Đường mới, một thế giới đời thắm tươi, một thiên nhiên tràn đầy sức sống, một triết lý tự nhiên của cuộc đời trần thế, của trực giác, cảm giác, bản năng, của say mê,…” (Đỗ Đức Hiểu). Viết về hình ảnh và thân phận của người phụ nữ một cách sâu sắc và đầy bản lĩnh, Hồ Xuân Hương không chỉ nói về thân phận của mình mà còn là tiếng nói cảm thông với số phận bất hạnh của những người phụ nữ ý thức được vẻ đẹp hình thể và tâm hồn mình nhưng phải chịu đựng biết bao bất công trong xã hội. Tiếng nói ấy sẽ còn tìm được sự đồng cảm và đón nhận của những người phụ nữ nói riêng và con người nói chung trong mọi thời đại.

Các Bài Thơ Của Hồ Xuân Hương Về Thân Phận Người Phụ Nữ Xưa

Bảy nổi ba chìm với nước non.

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

2. Lấy chồng chung Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.

Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung

Năm chừng mười họa hay chăng chớ

Một tháng đôi lần có cũng không

Cố đấm ăn xôi xôi lại hỏng

Cầm bằng làm mướn mướn không công

Nỗi này ví biết dường này nhỉ

Thời trước thôi đành ở vậy xong.

Đáng thương cho thân phận người phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ phong kiến, cuộc sống của họ là chuỗi ngày long đong lận, người vợ vất vả lam lũ vì chồng con nhưng chưa chắc chắn được hạnh phúc. Đàn ông năm thê bảy thiếp nhưng phụ nữ, Họ là những người giàu đức hy sinh mà lại không được coi trọng bởi xã hội lạc hậu và khắc nghiệt.

3. Tự tình 1 Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom,

Oán hận trông ra khắp mọi chòm.

Mõ thảm không khua mà cũng cốc,

Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om.

Trước nghe những tiếng thêm rầu rỉ,

Sau giận vì duyên để mõm mòm.

Tài tử văn nhân ai đó tá?

Thân này đâu đã chịu già tom!

4. Tự tình 2 Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,

Trơ cái hồng nhan với nước non.

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn,

Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám.

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tí con con!

5. Tự tình 3 Chiếc bánh buồn vì phận nổi nênh,

Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh.

Lưng khoang tình nghĩa dường lai láng,

Nửa mạn phong ba luống bập bềnh.

Cầm lái mặc ai lăm đỗ bến,

Giong lèo thây kẻ rắp xuôi ghềnh.

Ấy ai thăm ván cam lòng vậy,

Ngán nỗi ôm đàn những tấp tênh.

Vẫn là những câu thơ nói về nỗi buồn khổ, của người phụ nữ gặp hoàn cảnh éo le, bất hạnh. Người phụ nữ sống trong thời kỳ phong kiến dù có đẹp, dù có hy sinh hết thảy thì vẫn bẽ bàng, vẫn long đong lận đận với nước non, với đời, với tiếng yêu. Những dòng thơ của bà nói lên sự đồng cảm, bênh vực cho thân phận người phụ nữ xưa.

7. Thương Há dám thương đâu kẻ có chồng, Thương vì một nỗi hãy còn không. Thương con cuốc rũ kêu mùa Hạ, Thương cái bèo non giạt bể Đông. Thương cha mẹ nhện vương tơ lưới, Thương vợ chồng Ngâu cách mặt sông. ấy thương quân tử thương là thế, Há dám thương đâu kẻ có chồng.

Những dòng thơ là sự thấu hiểu tâm tư của Hồ Xuân Hương về dòng chảy của thời gian, cho thanh xuân tuổi trẻ, cho duyên phận mỗi người. Rằng thời gian và tuổi xuân cứ đi qua mà không hề trở lại, trước sự trớ trêu của số phận, người phụ nữ luôn khát khao hạnh phúc vẫn gồng mình lên trước những sự nghiệt ngã.

các bài thơ của hồ xuân hương

Các bài thơ của Hồ Xuân Hương

8. Canh khuya

Canh khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan mấy nước non

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn

Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

Đâm toạc chân mây đá mấy chòm

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

Mảnh tình son trẻ tí con con.

Qua các bài thơ của Hồ Xuân Hương về thân phận người phụ nữ, chúng ta có thể nhìn thấy sự thấu hiểu, sự đồng cảm khao khát được hạnh phúc của những người phụ nữ xưa. Các bài thơ đều mang phong cách độc đáo và ý nghĩa nhân văn vô cùng sâu sắc.

sưu tầm

Chùm Thơ Kiếp Truân Chuyên, Hồng Nhan Bạc Phận (Người Phụ Nữ)

Tuyển chọn những bài thơ hay viết về những người phụ nữ với số kiếp truân chuyên, hồng nhan bạc phận. Đó là những vần thơ nói về người đàn bà bất hạnh, không gặp may mắn trong tình duyên và cuộc sống.

BÀI THƠ: MỘT KIẾP HỒNG NHAN

Tác giả: Đồng Kế

Trăm ngàn vạn tiếng thở dài mà thương

Một mình thân gái dặm trường

Đa đoan má phấn môi hường xót xa

Huyền mơ hão mộng những là trái ngang

Quê người khắp nẻo lang thang

Bao phen trắc trở lỡ làng tình duyên

Dạt trôi biết mấy mươi miền

Không nơi bến đậu lòng thuyền rạn đau

Tình côi một mảnh nát nhàu

Chỉ còn héo hắt một màu thở than

Trăng lên trăng xuống trăng tàn còn mơ

Xót thương vô bến vô bờ .. ngàn năm!

BÀI THƠ: THÂN PHẬN ĐÀN BÀ

Tác giả: Ngọc Chi

Ôi thương quá tấm thân bồ liễu

Lỡ sa chân đục chịu trong nhờ

Mười hai bến nước đợi chờ

Em nào biết được bến bờ bình yên

Nếu lấy được chồng hiền tốt phước

Thương vợ con như nước dâng trào

Gia đình hạnh phúc biết bao

Yêu thương hòa thuận ngọt ngào quanh năm

Nếu xấu số lấy nhằm chồng dữ

Ngày rượu chè mấy cử li bì

Vợ con bỏ mặc sầu bi đêm ngày

Bao cực khổ đắng cay phận bạc

Đành cắn răng phó mặc ông trời

Biết bao sóng gió tơi bời

Đành cam chịu đựng một đời khổ đau.

BÀI THƠ: PHẬN MÁ HỒNG

Tác giả: Hoàng Trọng Lợi

Trời sinh em kiếp má hồng

Vu quy em bước theo chồng rủi may

Ngỡ rằng có bến con thuyền ngừng trôi

Hỡi ôi bến chẳng được trong

Thế nên trăm mối tơ lòng em mang

Buông thì bia miệng thế gian

Tam tòng hai chữ hồng nhan gánh gồng

Tình giờ còn chỉ bằng không

Níu chân chữ nghĩa mênh mông cõi lòng

Sống trong một kiếp đoạ đầy

Con tim khô héo thân gầy lao đao

Thôi nào cam chịu phận thôi

Mặc đời xô đẩy số rồi biết sao

Biết bao nước mắt tuôn rơi

Mỗi khi đêm đến ông trời thấu chăng.

BÀI THƠ: KIẾP HỒNG NHAN

Tác giả: Duy Vinh Cao

Hồng nhan một kiếp truân chuyên

Mấy ai hiểu nỗi ưu phiền lòng nhau

Mới phẳng phiu…lại nát nhàu

Mới thương quấn quýt…buông sâu quên lời

Tả tơi cánh bướm gọi mời xác thân

Rượu uống say…tình chẳng cần

Tàn nhanh như khói thuốc vần bay cao

Má hồng nâng đỡ khát khao

Tới khi hết khát lại trao tay người

Lệ lại rơi…miệng vẫn cười

Đóa hoa đã sắp rụng rơi cánh tàn

Thương thay một kiếp hồng nhan

Phận đời như đã định mang đau buồn

Đêm khuya lắm…bước trên đường

Vẳng xa tiếng guốc…tiếc thương kiếp người.

THƠ LỤC BÁT: KIẾP HỒNG NHAN

Tác giả: Cẩm Chi Châu

Buồn thay một cánh hoa đào

Lụy tình nên phải rơi vào đa mang

Cuộc đời hơn mấy tấc gang

Mà mình phải chịu bước ngang cuộc tình

Lưới tình đã mắc bất bình với ai

Hồng nhan bạc phận chẳng sai

Má hồng da trắng mắt ngài chân thon

Lưng ong thắt đáy mắt còn đong đưa

Nhiều chàng ra ngóng sớm trưa

Kể đâu trời nắng trời mưa mặc lòng

Tình trôi lệ chảy thành dòng

Cớ sao mình lại theo vòng xoáy trôi

Bồng bềnh như cánh bèo trôi

Lộc bình vẫn sống đơn côi một mình.

BÀI THƠ: PHẬN MÁ ĐÀO

Tác giả: Nguyễn Thành Diệu

Không ngờ duyên kiếp lỡ làng thế sao?

Sớm thành cô phụ nghẹn ngào đời xuân

Cho dù cuộc sống gian truân

Sắc hương sánh tựa hồng quần tiểu thơ

Trêu hoa ghẹo nguyệt phĩnh phờ triền miên

Nhưng nàng vẫn cứ điềm nhiên

Nắng mưa xuôi ngược kiếm tiền nuôi con

Ai người chân thật sắt son chung tình?

Đời hoa trải nghiệm một lần đắng cay

Khuyên em sớm chọn bờ vai tựa kề…

THƠ LỤC BÁT: HỒNG NHAN BẠC PHẬN Tác giả: Sen Hồng

Sinh ra cái kiếp hồng nhan

Mĩ miều sắc thắm trời ban ngọc ngà

Nét xuân hương sắc kiêu sa

Lung linh mắt biếc dáng ngà eo thon

Nước da trắng mịn môi son

Nụ cười tươi thắm mê hồn bao anh

Vậy mà cuộc sống mong manh

Hứng bao cay đắng luôn dành cho em

Buồn phiền lệ đẫm bao đêm

Sao lòng chẳng được ấm êm bên nguời

Hồng nhan bạc phước đó người

Luôn bao cay đắng cuộc đời hẩm hiu

Tìm đâu cho thấy ngọt bùi

Cùng ai chia sẻ buồn vui tháng ngày

Tâm tư giờ biết dãi bày nơi nao

Thương thay duyên phận má đào

Sao nghe nức nở nghẹn ngào trong tim

Ước chi ta được lặng chìm

Vài giây nồng thắm để tìm mộng say .!

BÀI THƠ: XÓT PHẬN HỒNG NHAN Tác giả: Sen Nguyễn

Lệ uất nghẹn trong lòng đau quá

Tình cảnh này ôi quả xót thương

Buồn cho số phận má hường

Trách trời sao nỡ để vương vấn sầu

Bao khổ cực nào đâu vội trách

Gói vào tim tìm mạch sống non

Con người nhỏ bé lòng son vững bền

Dẫu mang bệnh vẫn quên ngọc thể

Cố lăn mình để lệ mãi trôi

Vì con cuộc sống phải nhồi

Thân mình gánh chịu chẳng thôi miệt mài

Tinh duyên ấy ngày mai giã biệt

Nợ không còn đau xiết buồng tim

Khóc thương phận số lặng chìm

Nửa chừng gãy gánh đàn im nhịp tàn

Thương một kiếp hồng nhan đổ vỡ

Khóc thân mình tiếng thở xót chua

Cũng đành chấp nhận phải thua một đời

Bệnh mang nặng tiền ơi nào có

Vẫn miệt mài sức đọ buốt đau

Thương ai cuộc sống mãi nhàu

Xót người thương cảnh muốn lau lệ buồn.

PHẬN MÁ HỒNG Thơ: Tùng Trần

Vốn xưa nay mang thân phận má hồng

Như con thuyền xuôi theo dòng nước chảy

Cũng có khi bị tiếng đời mai mải

Phải âm thầm chịu trăm đắng ngàn cay

Một cuộc tình nếu có lỡ không may

Vì trái ngang bởi an bài tạo hoá

Dù biết rằng mấy ai nguôi buồn bã

Nhưng đàn bà nhận tất cả thiệt thòi

Hay phải chăng trời cao đã định rồi

Là phận gái mang mười hai bến nước

Đục hay trong chẳng thể nào biết trước

Chỉ mong sao gặp được chốn yên bình

Có những người quên mất bản thân mình

Sống chân tình bằng yêu thương hết thẩy

Ngay cả khi cuộc đời như sóng dậy

Vẫn âm thầm cố gắng để đậy che

Hay đôi lần trên khoé mắt đỏ hoe

Vì nỗi đau khiến cõi lòng se thắt

Gắng nén kìm ngăn tuôn dòng nước mắt

Cả cuộc đời lượm nhặt ghép yêu thương.

BÀI THƠ: KIẾP HOA BUỒN Thơ: Hà Thu

BÀI THƠ: THƯƠNG KIẾP HỒNG NHAN Thơ: Hoàng Minh Hằng

Cập nhật thông tin chi tiết về Xót Xa Trước Số Phận Bi Thảm Của Người Phụ Nữ Trong Xã Hội Phong Kiến, Nhà Thơ Nguyễn Du Đã Viết: trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!