Xu Hướng 12/2022 # Việt Nam Quê Hương Ta / 2023 # Top 17 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Việt Nam Quê Hương Ta / 2023 # Top 17 View

Bạn đang xem bài viết Việt Nam Quê Hương Ta / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Việt Nam đất nước ta ơi Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn Cánh cò bay lả rập rờn Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều Quê hương biết mấy thân yêu Bao nhiêu đời đã chịu nhiều thương đau Mặt người vất vả in sâu Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn

Đất nghèo nuôi những anh hùng Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên Đạp quân thù xuống đất đen Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa Việt Nam đất nắng chan hoà Hoa thơm quả ngọt bốn mùa trời xanh Mắt đen cô gái long lanh Yêu ai yêu trọn tấm tình thuỷ chung

Đất trăm nghề của trăm vùng Khách phương xa tới lạ lùng tìm xem Tay người như có phép tiên Trên tre lá cũng dệt nghìn bài thơ

Nước bâng khuâng những chuyến đò Đêm đêm còn vọng câu hò Trương Chi Đói nghèo nên phải chia ly Xót xa lòng kẻ rời quê lên đường

Ta đi ta nhớ núi rừng Ta đi ta nhớ dòng sông vỗ bờ Nhớ đồng ruộng, nhớ khoai ngô Bữa cơm rau muống quả cà giòn tan…

I. Tìm Hiểu Về Nguyễn Đình Thi

– Nhà thơ Nguyễn Đình Thi sinh ngày 20-12-1924 tại Thành phố Luông Pra Băng, nước Lào. Ông sống và làm việc chủ yếu ở Thành phố Hà Nội, nước Việt Nam. Ông sinh thuộc cung Nhân Mã, cầm tinh con (giáp) chuột (Giáp Tý 1924). Nguyễn Đình Thi xếp hạng nổi tiếng thứ 5042 trên thế giới và thứ 6 trong danh sách Nhà thơ nổi tiếng.

– Nguyễn Đình Thi được xem là một nghệ sĩ đa tài, ông sáng tác nhạc, làm thơ, viết tiểu thuyết, kịch, tiểu luận phê bình. Ở lĩnh vực nào ông cũng có những đóng góp đáng trân trọng.

– Thơ Nguyễn Đình Thi mang một diện mạo mới, độc đáo và hiện đại. Bài thơ được xem là tâm đắc nhất của của nhà thơ Nguyễn Đình Thi, đó là bài “Đất nước”, đây là một tác phẩm bất hủ của văn học. Sau này, bài thơ “Đất nước” đã được nhạc sỹ Đặng Hữu Phúc phổ thành bản Giao Hưởng – Hợp xướng cùng tên “Đất nước”.

+ Những bài thơ tiêu biểu của ông:

– Người chiến sỹ (1958)

– Bài thơ Hắc Hải (1958)

– Dòng sông trong xanh (1974)

– Tia nắng (1985)

– Đất nước (1948 – 1955)

– Nhớ

– Lá đỏ

– Những tác phẩm văn xuôi của Nguyễn Đình Thi là sự phản ánh kịp thời cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân ta trong các cuộc kháng chiến. Các tác phẩm của ông đều mang tính thời sự về các cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam.

– Tiểu thuyết được xem là thành công nhất trong lĩnh vực văn xuôi của Nguyễn Đình Thi là tác phẩm “Vỡ bờ”. Tác phẩm đã tái hiện bức tranh đa chiều của xã hội Việt Nam từ năm 1939 đến năm 1945.

– Nhà thơ Nguyễn Đình Thi còn là một ngòi bút phê bình văn học sắc sảo. Tiểu luận “Nhận đường” của ông đã giúp thế hệ văn nghệ sĩ lúc bấy giờ tìm ra con đường đi đúng đắn

II. Cảm Nghĩ Về Việt Nam Quê Hương Ta

Việt Nam- Đất nước thân yêu của những người dân Việt Nam.Một đất nước đã trải qua hàng nghìn năm đấu tranh dành độc lập.Việt Nam anh dũng nhưng lại mang trong mình những vẻ đẹp tự nhiên.Một trong những vẻ đẹp ấy là vẻ đẹp bình dị Việt Nam được thể hiện qua hai khổ thơ đầu của bài thơ:”Việt Nam đất nước ta ơi!…” của nhà thơ Nguyễn Đình Thi.

Mở đầu bài thơ, nhà thơ đã phác họa nên bức tranh thiên nhiên tươi đẹp của VN:

“Việt Nam đất nước ta ơi! Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn Cánh cò bay lả rập rờn Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều”

Nhà thơ đã coi VN là một người bạn thân từ rất lâu:”VN đất nước ta ơi!”.VN như một người bạn thân thiết dã rất thân thuọc và gần gũi không chỉ với tác giả mà cả chúng ta. Từng lời thơ vang lên mộc mạc như hiện lên trước mắt người đọc một làng quê thanh bình, yên ả nhưng không hoang vu, heo hút mà nơi đấy lại ấm áp. Những cánh đồng mênh mông tưởng chừng như vô tận đang dần hiện ra trước mắt người đọc. Những biển lua mênh mông, bát ngát và xanh mát, mang theo hương thơm dịu nhẹ của cánh đồng VN khiến ai đã từng chứng kiến đều muốn quay lại, nhất là khi lúa chín.

Những bông lúa chín vàng treo lủng lẳng, những hạt lúa vang ươm chắc nịnh theo gió bay xa manh theo bao hạnh phúc về một vụ mùa bội thu. Chiều chiều, từng đàn cò trắng rập rờn cánh bay trở thành những câu hát quên thuộc của đồng quê:”Con cò là cò bay lả,lả bay la. Bay từ là từ ruộng lúa,bay ra là ra cánh đồng.Tình tính tang là tang tính tình…”.Rồi cả dãy núi Trường Son sớm chiều may bay che phủ một làn sương trắng mỏng manh.

Những cách đồng mênh mông, bát ngát; những cánh cò bay lả rập rờn và đỉnh Trường Sơn mây mờ che phủ như đã được thổi hồn vào làm cho những cảnh vật ấy có sức sống . Từ đó, khổ thơ đã làm nổi bật vẻ đẹp thanh bình, giản dị, mộc mạc của thiên nhiên VN , đồng thời thể hiện tình yêu những vẻ đẹp bình dị, dân dã dất nước của tác giả. Nếu khổ thơ thứ nhất là về thiên nhiên đất nước thì khổ thơ thứ hai lại nói về con người VN. (trích dẫn khổ 2:Quê hương bết mấy thân yêu…Chìm trong bể máu lại vùng đứng lên”

Giặc kia dù mạnh thế nào, cao siêu bao nhiêu thì cũng sẽ chịu cúi đầu trước những con người dũng cảm mà thôi. Một dân tộc trước kia bị xem thường rồi cũng sẽ vươn lên.Con người việt nam là thế đấy, luôn cố gắng vươn lên, chiến thắng mội kẻ thù xâm lược, làm cho những đế quốc hùng mạnh rồi cũng bị tiieu diệt như bài Nam quốc sơn hà đã viết:

” Nam quốc sơn hà, Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.

Từ hai khổ thơ đầu, nhả thơ đã ca ngợi vẻ đẹp giản dị, mộc mạc của thiên nhiên, con người VN,đồng thời nhà thơ cũng thể hiên tình yêu thương, sự gắn bó sâu sắc đối với quê hương đất nước.Qua đoạn thơ, ta càng cảm thấy yêu mến và trân trọng quê hương nhiều hơn.Đó cũng là một lời với mối người:”Bất kể ai đi xa cũng luôn hướng về quê hương thân yêu

Việt Nam Đất Nước Ta Ơi (Nguyễn Đình Thi) – Tình Yêu Quê Hương Đất Nước Trường Tồn Mãi Mãi / 2023

Việt Nam đất nước ta ơiMênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơnCánh cò bay lả rập rờnMây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiềuQuê hương biết mấy thân yêuBao nhiêu đời đã chịu nhiều thương đauMặt người vất vả in sâuGái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn

Đất nghèo nuôi những anh hùngChìm trong máu lửa lại vùng đứng lênĐạp quân thù xuống đất đenSúng gươm vứt bỏ lại hiền như xưaViệt Nam đất nắng chan hoàHoa thơm quả ngọt bốn mùa trời xanhMắt đen cô gái long lanhYêu ai yêu trọn tấm tình thuỷ chung

Đất trăm nghề của trăm vùngKhách phương xa tới lạ lùng tìm xemTay người như có phép tiênTrên tre lá cũng dệt nghìn bài thơ

Nước bâng khuâng những chuyến đòĐêm đêm còn vọng câu hò Trương ChiĐói nghèo nên phải chia lyXót xa lòng kẻ rời quê lên đường

Ta đi ta nhớ núi rừngTa đi ta nhớ dòng sông vỗ bờNhớ đồng ruộng, nhớ khoai ngôBữa cơm rau muống quả cà giòn tan…

Trích từ trường ca Bài thơ Hắc Hải (1958).

Việt Nam quê hương ta là bài thơ được viết dưới thể lục bát, âm điệu nhẹ nhàng, bay bổng nhưng cũng không kém phần sôi nổi, trầm hùng. Câu thơ mở đầu như câu hát ca ngợi da diết.

Việt Nam đất nước ta ơiMênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn

Nhà thơ đã tinh tế vẽ nên một bức tranh màu sắc hài hòa, tươi đẹp, rất đặc trưng của làng quê Việt. Giữa nền xanh biếc “biển lúa” là hình ảnh đàn cò trắng chao nghiêng rập rờn. Cánh cò ấy không cao vút tầng không mà “bay lả” giữa cánh đồng, dưới những đám mây mờ bị che phủ bởi đỉnh núi, mở ra khung cảnh về một đất nước thanh bình.

Để có được sự thanh bình ấy, dân tộc ta đã phải trải qua bao đau thương, mất mát, chịu bao gông xiềng của phong kiến, đế quốc. Hình ảnh “mảnh áo nâu nhuộm bùn” như minh chứng cho sự gian lao, tảo tần, cho đức hy sinh của những con người thật thà, chất phác.

Trước muôn vàn khổ đau, mảnh đất nghèo biến những con người bé nhỏ thành những anh hùng bất khuất, không chịu lùi bước trước bạo tàn mà “chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên”. Trong mọi hoàn cảnh, lòng yêu nước luôn được đặt lên trên hết.

Đất nước ngày một khang trang, đời sống nhân dân cũng đổi thay rõ rệt. Vậy nhưng, hình ảnh hào hùng trong quá khứ và niềm vui của con người những năm đầu hòa bình sẽ mãi trường tồn với thời gian. Để mỗi chúng ta có thể tự hào rằng,

Việt Nam đất nước ta ơiMênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn…

Bài Thơ Quê Hương Của Giang Nam / 2023

Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ: “Ai bảo chăn trâu là khổ ?” Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao

Nhớ những ngày trốn học Đuổi bướm cầu ao Mẹ bắt được… Chưa đánh roi nào đã khóc Có cô bé nhà bên Nhìn tôi cười khúc khích…

Cách mạng bùng lên Rồi kháng chiến trường kỳ Quê tôi đầy bóng giặc Từ biệt mẹ tôi đi

Cô bé nhà bên (có ai ngờ)! Cũng vào du kích Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi)

Giữa cuộc hành quân không nói được một lời… Đơn vị đi qua tôi ngoái đầu nhìn lại Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi

Hòa bình tôi trở về đây Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày Lại gặp em Thẹn thùng nép sau cánh cửa Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ – Chuyện chồng con… (khó nói lắm anh ơi)! Tôi nắm bàn tay, ngậm ngùi, nhỏ nhắn Em để yên trong tay tôi nóng bỏng

Hôm nay nhận được tin em Không tin được dù đó là sự thật Giặc bắn em rồi quăng mất xác Chỉ vì em là du kích em ơi! Đau xé lòng anh chết nửa con người!

Xưa yêu quê hương vì có chim, có bướm Có những ngày trốn học bị đòn roi Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất Có một phần xương thịt của em tôi

***

Когато бях дете и ходех на училище, обиквах родната страна със всяка страница на детската ми книга. Там пишеше : “Кой казва, че е трудно да пасеш биволи в гората, на полето ?” И закопнях за песните на птиците в гората. . . Понявга майка ме улавяше, когато край блатото подгонех пеперуда, вместо да ида в клас. Да бяхте чули как жално плачех, преди да са ме още били ! Едно момиченце в съседната ни къща ме гледаше и дяволито се усмихваше.

Покриха вражи сенки моята страна. Сбогувах се със майка и заминах. И, представете си, съседското момиче и то поело в горските усои. Веднъж случайно я видях по пътя. Тя пак тъй дяволито се усмихна, очите й блестяха черно-черни. Защо така привличаха очите й ? Не разменихме дума : аз бях в строй, но се обръщах дълго, много дълго. Над нас валеше. В мен блестеше слънце.

Мирът настъпи. Върнах се във къщи, в училище, в оризището при браздите. И пак видях съседката ни млада, която криеше главица зад пердето. Тя се усмихваше – потайна, дяволита. Когато я запитах един ден дали сърцето й все е свободно, “Въпросът ти е, знаеш, неудобен. . .” отвърна и главата си наведе. Цял разтреперан, пълнен с бяла нежност, аз хванах тънките й пръсти. Тя ги остави да почиват в ръцете ми горещи.

И връхлетя внезапно новината – така ужасна, че не смея да повярвам : Убили са те, сестро, о, любима ! Захвърлили те нейде във гората. Защо ли ? През войната ти си си била – ето твоя грях. Сърцето ми раздират остри пръсти. Не зная, жив ли съм, или съм вече прах. . .

Като дете обичах родната страна за птиците и пеперудите й. С тях ходех на училище в гората. Обичам днес страната си, защото всяка нейна шепа пръст съдържа малко от кръвта на моята любима.

Превел Стефан Гечев

– Bài thơ làm trong một giờ.

“Hồi đó, tôi giác ngộ cách mạng rất sớm, từ năm 20 tuổi, lại được người anh trai – nhà cách mạng Nguyễn Lưu- truyền cho bầu nhiệt huyết, nên luôn sôi sục ý chí chiến đấu và sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Có năng khiếu chữ nghĩa nên khi vào hoạt động cách mạng, tôi được giao nhiệm vụ tuyên huấn”- nhà thơ Giang Nam bồi hồi nhớ lại. Chính những ngày làm cán bộ dân chính, Giang Nam đã nảy nở tình yêu với bà Phạm Thị Chiều – người đã đi suốt cuộc hành trình của đời ông và cũng chính là nhân vật làm bật lên cảm xúc để ông viết bài thơ Quê hương. Thời khắc nghiệt của chiến tranh, tình yêu bung nở một cách giản dị nhưng có sức gắn kết bền chặt đến phi thường. “Cùng làm ở cơ quan dân chính Phú Khánh, hồi đó tôi rất thích vợ tôi nhưng xung quanh cô ấy lại có rất nhiều người theo đuổi, nên tôi chỉ còn cách mỗi lần đến đưa công văn, gửi kèm cho cô ấy một lá thư chứ không dám đến hỏi thêm gì. Viết thư cũng chỉ dám hỏi mấy câu đơn giản như; anh có ý thích em, em nghĩ thế nào?”. Sau lá thứ hai, Giang Nam bồn chồn chờ đợi suốt cả tuần lễ, cuối cùng cũng nhận được hồi âm… Từ đó, họ bắt đầu một tình yêu và không lâu sau thì làm đám cưới (vào đầu năm 1955).

Nhà thơ Giang Nam

Cưới xong ở với nhau được đúng hai đêm, ông lại phải nhận nhiệm vụ mới ở Bình Định. Đây cũng là cái mốc đánh dấu cho những chuỗi ngày xa nhau đằng đẵng của ông bà. Ông miệt mài với công việc tổ chức giao, âm thầm tham gia tờ báo hợp pháp với tên gọi Gió mới, hoạt động công khai tại nội thành Nha Trang. Khi Mỹ nguỵ tiến hành các đợt “tố cộng”, “diệt cộng”, cán bộ đảng viên ở miền Nam phải tổ chức đổi vùng để tránh bị lộ. Tổ chức đã sắp xếp để ông bà chuyển vùng hoạt động về Biên Hoà. “Lần đoàn tụ này, chúng tôi vô cùng xúc động nhưng vẫn phải giữ bí mật tuyệt đối cho cách mạng. Cũng tại Biên Hòa, vợ tôi sinh hạ đứa con gái đầu tiên và cũng là duy nhất cho đến giờ, ngay sau khi vợ sinh, tôi được tổ chức rút về lại KhánhHoà. Sau đó không lâu, vào một buổi tối giữa năm 1960, giữa lúc trời mưa tầm tã, tôi được cấp trên gọi lên trấn an tư tưởng, thăm hỏi động viên rồi thông báo tin chẳng lành, có thể vợ và con gái tôi đã bị địch giết hại trong nhà tù tại Phú Lợi (Bình Dương). Đau đớn đến bàng hoàng, sự thương cảm xót xa cứ thế trào lên. Tất cả những kỷ niệm cũ, tình yêu nghẹn ngào, những giận hờn và buổi chia tay đầy nước mắt như sống dậy xót xa, nhức nhối, tôi đã phải bật khóc nức nở và chỉ trong một giờ đồng hồ, tôi đã viết xong bài thơ Quê hương. Viết liền mạch, không tẩy xóa, không thay đổi” – Giang Nam bộc bạch sự ra đời của bài thơ Quê hương.

Tạo cảm hứng cho một đời

Dù những ngày tháng đau khổ đã đi qua, rất lâu, nhưng mỗi lần nhắc đến những mất mát hy sinh, từ phía sau cặp kính cận, khuôn mặt Giang Nam vẫn như nặng trĩu nỗi ưu tư. Những kỷ niệm chiến trường găm sâu trong ký ức lại trỗi dậy. Ông thổ lộ rằng: “Với tôi, đau thương cũng là một sức mạnh. Sau khi làm xong bài Quê hương, tôi đưa cho cấp trên đọc, ngay lập tức nhận được sự đồng cảm. Rồi sau đó ít ngày, tôi gửi bài thơ ấy cho báo Thống Nhất ở Hà Nội. Tháng 9.1961, đang trên đường công tác ở huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa), tôi bất chợt nghe Đài Tiếng nói Việt Nam đọc bài thơ Quê hươngcủa mình và thông báo được giải Nhì báo Văn Nghệ.

Trong giây phút vui mừng đó, tất cả hình ảnh người vợ thân yêu cùng đứa con nhỏ của mình lại ùa về. Một lần nữa tôi bật khóc. Có lẽ mỗi câu thơ trong bài Quê hương đều hàm chứa hình ảnh người vợ của tôi. Cũng từ đó, tôi lao vào làm thơ phục vụ cách mạng, làm báo tuyên truyền, cổ vũ đồng chí của mình như một nhiệm vụ cao cả” – Nhà thơ Giang Nam bồi hồi kể lại. Ngày nhận thư của nhà thơ Hoàng Trung Thông mời ra Ha Nội nhận giải, Giang Nam đau đáu trong lòng một suy nghĩ: Phải chăng những tình cảm tha thiết, chân thành, xót xa đã giúp người ta có những câu thơ hay. Cũng từ đó, ông luôn nuôi cho mình một ý thức viết một cách chân thành và tha thiết nhất. Đúng vào ngày nhận giải, nhà thơ Chế Lan Viên đã gọi Giang Nam lại và nhận xét rằng: “Cả bài thơ Quê hương của Giang Nam và Núi đôi của Vũ Cao đều nói về sự hy sinh của người con gái, của tình yêu và nỗi cách xa. Nhưng, bài Quê hươngcủa Giang Nam đau quá! Tuy bài thơ được giải Nhì nhưng sẽ có sức sống vượt thời gian”. Sau khi bài thơ Quê hương được công bố, rất nhiều cuộc mít tinh chớp nhoáng đã lấy bài thơ này ra đọc lên như một sự cổ vũ. “Lúc đó, tôi vô cùng sung sướng, thấy mình như được tiếp thêm niềm đam mê, viết không ngưng nghỉ” – Giang Nam cho biết.

Nguyễn Quang Sáng, Hoài Vũ, Giang Nam, Chim Trắng ở chiến trường Tây Ninh (năm 1974).

Cuộc sống luôn hàm chứa những bất ngờ, cứ đinh ninh vợ con đã bị địch giết chết nhưng giữa năm 1962, bà Chiều và con gái bất ngờ được thả về, do địch không tìm ra căn cứ kết tội. Nỗi vui mừng chưa được bao lâu, năm 1968, vợ Giang Nam lại bị địch bắt lần thứ hai cho đến mãi năm 1973 mới được thả, nhờ một luật sư giỏi bào chữa. Nhớ lại thời kỳ này, giọng ông lại nấc lên: “Suốt hai lần vào tù, ra tội, những ngày dài sống đằng đẵng trong xà lim, đứa con gái duy nhất của tôi vẫn phải bám sát lấy mẹ. Ai có tách ra nó cũng không chịu. Có những ngày bị lạnh tím tái, tưởng chừng như đã ra đi. Có lúc sợ nó nhớ tôi, vợ tôi đã trùm chiếc áo cũ tôi lên người nó. ‘Tận khổ cam lai’, giờ vợ và con tôi vẫn khỏe mạnh. Sau ngày giải phóng, tôi có đi tìm lại người luật sư bào chữa cho vợ tôi để cảm ơn nhưng không gặp”.

Sau ngày thống nhất đất nước, năm 1976, theo điều động của tổ chức, Giang Nam vào làm việc tại TP Hồ Chí Minh. Năm 1978, chấp hành ý kiến của cấp trên, ông ra Hà Nội làm Thường trực Hội Nhà văn VN. Năm1989 (tách tỉnh Phú Khánh thành 2 tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa), Tỉnh ủy Khánh Hòa xin ông về làm phó chủ tịch UBND tỉnh – Phụ trách văn xã. Cứ tưởng rằng bước vào đường quan, cảm xúc thơ của ông sẽ giảm đi nhưng đúng như ông nói: “Có về nơi cuối trời vẫn đau đáu với quê hương, với thơ ca. Được làm việc trên quê hương của mình, được phục vụ nhân dân, lại được nhiều người quý trọng và nhớ đến bài thơ Quê hương nổi tiếng nên tôi vẫn miệt mài viết, viết cho đến hơi thở cuối cùng mới thôi”.

Chính trong thời gian làm phó chủ tịch tỉnh, có dịp tiếp cận nhiều hơn với người dân cũng như muôn mặt của cuộc sống nên ông đã cho ra đời trường ca Sông Dinh mùa trăng khuyết. Vì cái đam mê viết nên hiện nay, dù tuổi đã cao, ông vẫn làm đại diện báo Văn Nghệ tại Khánh Hòa.

Người Con Ưu Tú Của Quê Hương Hà Nam / 2023

Tảo Môn là một xóm bãi lâu đời vùng cửa sông Châu Giang, đoạn đổ ra sông Hồng, sau đổi thành Đại Hoàng, thuộc tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (Lý Nhân ngày nay). Tảo Môn cũng là nơi sinh ra đồng chí Hoàng Tùng, nhà báo lớn của đất nước và quê hương Hà Nam.

Tảo Môn là một xóm bãi lâu đời vùng cửa sông Châu Giang, đoạn đổ ra sông Hồng, sau đổi thành Đại Hoàng, thuộc tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (Lý Nhân ngày nay). Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Tảo Môn, Đại Hoàng mang địa danh hành chính mới – xã Nhân Hòa; năm 1977 Nhân Hòa hợp nhất với Nhân Hậu thành Hòa Hậu. Tảo Môn được người dân nhiều vùng biết đến bởi giống quýt Tảo Môn, quả nhỏ, hương thơm, vị đậm. Tảo Môn cũng là nơi sinh ra đồng chí Hoàng Tùng, nhà báo lớn của đất nước và quê hương Hà Nam.

Thuở nhỏ, trò nghèo Trần Khắc Thọ theo học thầy giáo Cát, thầy giáo Thịnh (nhà cách mạng Hồ Xanh quê Mễ Tràng, Liêm Chính, Phủ Lý) là những nhà tri thức yêu nước, có tư tưởng tiến bộ, tích cực tham gia Hội truyền bá Quốc ngữ. Gia cảnh khó khăn nên thức dùng chính hằng ngày của trò nghèo Trần Khắc Thọ và gia đình là ốc, thứ sản vật rất sẵn ở vùng cửa sông Châu Giang ngày đó. Theo lời kể của các cụ cao niên làng Tảo Môn, lượng ốc sử dụng làm thức dùng hằng ngày của gia đình trò nghèo Trần Khắc Thọ nhiều đến nỗi vỏ ốc đổ thành đống ngoài vườn nhà. Cũng vì gia cảnh nghèo nên Trần Khắc Thọ phải nhận làm giúp việc hằng ngày cho các thầy giáo, mong đỡ một phần học phí. Nhưng cũng vì vậy mà trò nghèo Trần Khắc Thọ luôn được các thầy giáo yêu quý, là điều kiện để trò nghèo Trần Khắc Thọ sớm ảnh hưởng tư tưởng yêu nước, tiến bộ từ những thầy giáo, vốn là trí thức yêu nước, nhiệt huyết với sự nghiệp truyền bá Quốc ngữ, để rồi sớm giác ngộ, đi theo con đường cách mạng.

Năm 1935, tròn 15 tuổi, dù rất khao khát muốn được học lên nữa nhưng do cảnh nhà nên Trần Khắc Thọ chỉ có thể theo học hết chương trình Êlêmăngtê (tương đương cấp một) tại trường làng Tảo Môn rồi phải rời quê hương đi làm công nhân Nhà máy dệt Nam Định. Đây là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời, sự nghiệp của nhà báo Hoàng Tùng. Thời gian đầu vào làm trong Nhà máy dệt Nam Định, người công nhân trẻ tuổi Trần Khắc Thọ cùng những thanh niên có tư tưởng tiến bộ tranh thủ ngoài giờ đi ca, đi tầm để dạy chữ Quốc ngữ và tập hợp, vận động, giác ngộ anh em công nhân. Thời gian sau đó, làm công nhân ở Cẩm Phả (Quảng Ninh), người thanh niên quê Tảo Môn – Trần Khắc Thọ được những chiến sĩ cộng sản lớp trước dìu dắt đi theo con đường cách mạng.

Năm 1937, theo giới thiệu, phân công của tổ chức, chuyển về thành phố Nam Định trực tiếp tham gia Đoàn Thanh niên Dân chủ (sau đó là Đoàn Thanh niên Phản đế), ông cùng nhiều nhà cách mạng bí mật viết truyền đơn, tham gia diễn thuyết, tuyên truyền giác ngộ và vận động quần chúng đặc biệt là giới thanh niên, trí thức, công nhân đi theo con đường giải phóng dân tộc. Thực tiễn cách mạng thuộc cao trào dân chủ giai đoạn 1936 – 1939 giúp ông trưởng thành rất nhiều về nhận thức cũng như kinh nghiệm làm công tác tư tưởng, văn hoá, báo chí. Năm 1940, bị chính quyền thực dân bắt, kết án, giam giữ ở Hoả Lò, nhà tù Sơn La, trong chốn ngục tù, ý chí cách mạng vẫn luôn cháy đỏ trong tâm thức của nhà cách mạng trẻ tuổi quê hương Lý Nhân.

Từ năm 1941 đến 1945, ngoài phụ trách phong trào thanh niên, ông còn giúp các nhà cách mạng Nguyễn Duy Trinh, Đặng Việt Châu viết truyền đơn tố cáo tội ác của thực dân Pháp, móc nối gây dựng phong trào đấu tranh với những đảng viên trong tù. Đây cũng là thời gian ông có may mắn được tiếp xúc và được một số nhà cách mạng, đồng thời là nhà báo nổi tiếng thuộc thế hệ đi trước như Trần Huy Liệu, Xuân Thủy… trực tiếp dìu dắt tham gia công việc làm báo.

Tờ Báo “Ruối reo” được ông và các đồng chí của mình phát hành, lưu truyền bí mật trong tù ngục bằng cách tối viết, đọc, truyền tay, ban ngày chôn kín dưới đất tránh sự rình mò, khám xét của mật thám, cai ngục. Tháng 11/1943, ông được kết nạp Đảng tại Chi bộ Nhà tù Sơn La. Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp. Lợi dụng tình hình đó, ông cùng anh em vượt ngục, về tham gia Tỉnh uỷ Bắc Ninh, sau đó được Trung ương Đảng điều về phụ trách Khu An toàn chỉ đạo cuộc khởi nghĩa Phú Lương (ngoại thành Hà Nội), được chỉ định là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cách mạng. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, với trọng trách Bí thư Thành ủy Hà Nội, Bí thư Thành ủy Hải Phòng, Xứ ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ, Phó Bí thư Khu ủy 3 (Tả ngạn sông Hồng)… nhà báo Hoàng Tùng luôn quan tâm và tích cực tham gia hoạt động báo chí. Ông thường xuyên viết bài cho tờ “Kiến thiết” (1945), tờ “Dân chủ” – cơ quan Việt Minh của các tỉnh miền biển (năm 1946). Kháng chiến bùng nổ, ông tham gia công tác Đảng, trực tiếp chỉ đạo và viết bài cho tờ “Chiến đấu” – cơ quan của Khu ủy Chiến khu Ba (từ 1947).

Tháng 1/1948, Trung ương Đảng điều ông lên Việt Bắc làm Phó Trưởng Ban Đảng vụ Trung ương (sau này là Ban Tổ chức Trung ương), Thư ký Tạp chí “Sinh hoạt nội bộ”; rồi Phó Trưởng Ban Thi đua Trung ương. Tháng 1/1950, nhà báo Hoàng Tùng được Trung ương Đảng giao nhiệm vụ Chủ nhiệm Báo “Sự thật”. Khi Đảng ra hoạt động công khai và lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam, Báo “Sự thật” đổi tên thành Báo “Nhân Dân”. Từ năm 1951 đến 1982, ông được phân công phụ trách Văn phòng đồng chí Tổng Bí thư của Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, tham gia Ban Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương, làm công tác nghiên cứu, lý luận – những trọng trách luôn gắn liền với công tác quản lý, chỉ đạo hoạt động báo chí của Đảng.

Xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân. Ảnh: Thế Trang

Họ Trần ở Tảo Môn và rộng hơn là ở Hòa Hậu quê hương nhà báo Hoàng Tùng có nhiều người thành đạt trong lĩnh vực tư tưởng, báo chí như nhà văn, nhà báo Liệt sĩ Nam Cao (Trần Hữu Tri). Ngôi từ đường bình dị của dòng họ Trần Khắc và gia đình nhà báo Hoàng Tùng – Trần Khắc Thọ mà nhiều năm gần đây được người con trai Trần Chiến Thắng (nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin) thường xuyên đi về dâng hương hiện đặt tại khuôn viên nhà ông Trần Khắc Bính (cháu gọi nhà báo Hoàng Tùng là chú).

Hội làng Tảo Môn từ lâu đời đã được định vào mùng sáu tháng giêng hằng năm. Theo ông Trần Khắc Bính, sinh thời nhà báo Hoàng Tùng thường hay nhắc và rất ao ước có dịp thảnh thơi về dự hội làng đầu xuân. Nhưng rồi phải lo làm tròn trọng trách mà Đảng, Nhà nước giao phó, công việc bận rộn nên ước muốn nho nhỏ ấy cũng rất khó được thỏa nguyện. Chính bởi thế sau này khi sức khỏe yếu, ít có điều kiện về thăm quê, công việc của quê hương, họ mạc, việc khuyến học, khuyến tài luôn được bác Hoàng Tùng nhắc nhở con cháu lưu tâm, chăm lo chu đáo.

Năm 2007, nhà báo Hoàng Tùng được Đảng, Nhà nước tặng thưởng phần thưởng cao quý Huân chương Sao Vàng, tôn vinh công lao và những đóng góp to lớn của ông với hoạt động tư tưởng, văn hóa cũng như nền báo chí cách mạng Việt Nam. Tên của nhà báo Hoàng Tùng được trân trọng đặt cho một tuyến phố ở Khu đô thị Bắc Châu Giang, thành phố Phủ Lý, gần trụ sở Báo Hà Nam.

Thế Vĩnh

Thế Vĩnh, Thế Trang

Cập nhật thông tin chi tiết về Việt Nam Quê Hương Ta / 2023 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!