Xu Hướng 2/2024 # Về Kinh Bắc Nghe Câu Dân Ca Quan Họ # Top 7 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Về Kinh Bắc Nghe Câu Dân Ca Quan Họ được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

“Một lần đến Kinh Bắc Hồn lơ thơ sông Cầu Nghe một lần Quan họ Đắm suốt đời trong nhau”

Đi khắp bốn phương trời, ai không mang trong lòng những kí ức đẹp về một cây đa, bến nước, con đò… nơi mình sinh ra và lớn lên. “Quê hương”- hai tiếng thiêng liêng ấy luôn khắc sâu trong tâm khảm và thổn thức nỗi nhớ mong vô hạn trong lòng mỗi người con mưu sinh xa xứ như tôi (AD Nguyễn Hồng Hoa)… Tôi được sinh ra bên dòng sông Cầu thơ mộng như trong cổ tích. Lớn lên trong tiếng ru của mẹ, lời ca của bà, câu hát Quan họ tình tứ ngấm sâu vào máu thịt mỗi người con đất Kinh Bắc chúng tôi. Người ta bảo rằng, trẻ con sinh ra và lớn lên ở đất Kinh Bắc “ngấm” chất Quan họ từ trong bụng mẹ để rồi đi xa lại vương vấn nhớ thương vùng đất mà thơ nhạc đã ngợi ca là miền quê mà “Một làn nắng cũng mang điệu dân ca”.

Sông Cầu nước chảy lơ thơ Đôi ta thương nhớ bao giờ cho nguôi

Ngày 30 tháng 9 năm 2009, tại kỳ họp lần thứ 4 của Ủy ban liên chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (từ ngày 28/9 tới ngày 2/10/2009), Quan họ đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Người Kinh Bắc chúng tôi càng thêm tự hào về câu dân ca quê mình. Về Kinh Bắc bây giờ không chỉ có 49 làng Quan họ cổ mà con số ấy đã phát triển theo cấp số nhân thành hàng trăm làng Quan họ dọc hai bên bờ Bắc và bờ Nam sông Cầu.

Câu Quan họ “ngấm” vào máu thịt những người con Kinh Bắc trong cả bữa ăn, giấc ngủ, theo trẻ thơ cả khi đến lớp, khi ra đồng chăn trâu, thả diều, thổi sáo… Người Quan họ từ đời này qua đời khác cha truyền con nối. Ông bà hát thì con cháu học theo. Ai đã trót bị “ngấm” Quan họ vào người thì sẽ vương vấn suốt cả cuộc đời mãi không thôi. Về Kinh Bắc bây giờ không khó để được nghe người Quan họ hát câu dân ca. Phong trào người người hát Quan họ, nhà nhà hát Quan họ phát triển trong từng làng xã, từng thôn xóm, góc phố. Trẻ em lên ba lên năm dẫu chưa thuộc mặt chữ song đã có thể hát được những làn điệu dễ nhớ dễ thuộc như: “Cây trúc xinh”, “Vào chùa”, “Trên rừng 36 thứ chim”, “Trống cơm”… bởi cách dạy Quan họ truyền khẩu của các bà, các mẹ… Trong làng trong phố, nhà ai có đám cưới, đám hỷ là lại mời các liền anh liền chị đến biểu diễn hát mừng đến tận thâu đêm. Cũng bởi vậy mà đời sống của các anh chị em nghệ sĩ Quan họ bây giờ đã được cải thiện hơn nhiều so với xưa. Họ hoàn toàn sống được với nghề của mình bằng một niềm đam mê cháy bỏng câu dân ca quê mẹ.

Tháng Giêng mùa hát hội, Quan họ tưng bừng làng trên xóm dưới khắp vùng Kinh Bắc. Du khách bốn phương một lần đến hội Lim, một lần về làng Diềm thăm đền Vua Bà thờ Thủy tổ Quan họ đều không khỏi bồi hồi trước những anh Hai áo the khăn xếp, xao xuyến trước những chị Hai duyên dáng trong tà áo tứ thân với khăn mỏ quạ và chiếc nón ba tầm.

Ai làm chiếc nón quai thao? Để cho anh thấy cô nào cũng xinh…

Em là con gái Bắc Ninh Tay nâng vành nón, mái đình nghiêng theo

Ngày xưa các cụ nhà ta không gọi là đi “hát Quan Họ” mà các cụ gọi là “ca Quan Họ”, đi “‘chơi Quan họ”‘:

Dưới giời mấy kẻ biết ra Biết ra chỉ có vùng nhà mà thôi Trong sáu tỉnh nghe đà chưa tỏ Ngoài năm thành chỉ có Bắc Ninh Yêu nhau nghĩ lại xuân tình Nghề chơi Quan họ có tinh mới tường

Cho đến nay đã có khoảng trên dưới 200 bài Quan họ đã được ký âm. Các bài Quan họ được giới thiệu mới chỉ là một phần trong kho tàng dân ca bao gồm hàng trăm bài Quan họ cổ đã được nghệ nhân ở các làng Quan họ biểu diễn, lưu truyền cho hậu thế.

Quan họ truyền thống không có nhạc đệm và chủ yếu hát đôi giữa liền anh và liền chị vào dịp lễ hội xuân thu nhị kỳ ở các làng quê. Trong Quan họ truyền thống, đôi liền anh đối đáp với đôi liền chị được gọi là hát hội, hát canh. Hát cả nhóm liền anh đối đáp cùng cả nhóm liền chị được gọi là hát chúc, hát mừng… “Chơi quan họ” truyền thống không có khán giả, người trình diễn đồng thời là người thưởng thức (thưởng thức “cái tình” của bạn hát).

Hôm nay sum họp trúc mai Tình trong một khắc nghĩa dài trăm năm

Ngày nay, theo nhịp sống của thời đại, Quan họ phát triển thêm hình thức biểu diễn trên sân khấu, tức là Quan họ mới, có kèm theo nhạc đệm để hỗ trợ tiết tấu cho bài hát, song các nghệ sĩ Quan họ đa phần cũng chỉ dùng đến nhạc cụ dân tộc như: trống, phách, sáo trúc, đàn bầu… để giữ được “hồn” của dân ca chứ ít khi dùng đến sự hỗ trợ của nhạc cụ điện tử tân nhạc. Quan họ mới luôn có khán thính giả, người hát giao lưu, truyền tải thông điệp của từng làn điệu tới người nghe chứ không chỉ dừng lại là tình cảm giữa bạn hát với nhau. Quan họ mới không còn nằm ở không gian làng xã mà đã vươn ra xa ở nhiều nơi, đến với nhiều thính giả ở các quốc gia trên thế giới.

Từ xưa, các làng “chơi Quan họ” đã có tục kết chạ (kết nghĩa) với nhau. Đó là mối tình huynh đệ gắn bó ngàn đời giữa các làng Quan họ cổ bên dòng sông Cầu. Bởi vậy mà khi đã kết chạ Quan họ với nhau thì trai gái, liền anh liền chị của 2 làng đó không được nên duyên chồng vợ để giữ trọn sự thanh khiết, trong sáng cho câu hát Quan họ. Cái lệ “Quan họ không lấy nhau” cũng từ đó mà ra. Trong vùng Kinh Bắc có thể kể một số “bọn” (“Bọn” là từ dùng để chỉ một tập thể đồng chất chứ không mang nghĩa xấu) Quan họ kết chạ như: Bựu Sim (Hoài Thị) – Làng Diềm (Viêm Xá)̣, Phù Lưu – Hạ Giang, Lũng Giang – Tam Sơn, Bồ Sơn – Y Na, Ném Đông – Ném Đoài…

Người Kinh Bắc khi khách đến chơi nhà thì hát câu mời nước, mời trầu. Về mời nước, người Quan họ có câu:

Mấy khi khách đến chơi nhà Đốt than, quạt nước, pha trà mời người xơi Trà này ngon lắm người ơi! Mỗi người mỗi chén cho em vui lòng

Về mời trầu, người người Quan họ thường nói:

Gặp đây ăn một miếng trầu Không ăn cầm lấy cho nhau vừa lòng Trầu này trầu tính trầu tình Ăn vào cho đỏ môi mình môi ta Yêu nhau đứng ở đằng xa Con mắt liếc lại bằng ba đứng gần

Về mời rượu, người Quan Họ lại nói:

Tay tiên chuốc chén rượu đào Đổ đi thời tiếc, uống vào thời say

Tuy nhiên ăn xong mà có hát canh thì không được uống rượu. Trong bữa, khách ăn trước, chủ ngồi cạnh ca cho khách nghe. Khách xơi cơm xong, chủ mới ngồi vào mâm của mình, đến lượt khách ngồi cạnh ca cho chủ nghe.

Xưa kia, mâm cỗ đãi khách ở tất cả các làng Quan họ gốc có chung đặc điểm là 3 tầng, đều được bày trên “mâm đan, bát đàn” nghĩa là mâm tròn bằng gỗ, sơn đỏ, bát tiện bằng gỗ cây bạch đàn (sau chuyển thành bát sứ tráng men trắng của người Trung Quốc), nhưng mỗi làng lại có những món ăn đặc trưng, riêng biệt và tầng trên cùng thường dành để bày những món ăn đặc sản của làng mình. Chỉ một số món đựng bằng bát lớn, khó chồng lên trên thì mới phải đặt ở tầng dưới, như: cháo cái Đào Xá, bún riêu Đương Xá…

Tàn canh hát, Quan họ hát câu giã bạn đầy lưu luyến vấn vương:

Người về em vẫn trông theo Trông nước nước chảy, trông bèo bèo trôi Người về em vẫn khóc thầm Đôi bên vạt áo ướt đầm như mưa Người về em dặn mấy nhời Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua Người về em dặn tái hồi Đâu hơn người kết, đâu bằng người đợi em

Người Quan họ sống thanh tao, ý vị và cũng rất trọng nghĩa tình:

Tiếc thay cành quế loan vời Lời Quan họ nói, biết đời nào quên Bao giờ lở núi Tản Viên Cạn sông Tô Lịch không quên nghĩa người Nghĩa người em để lên cơi Nắp vàng đậy lại để nơi giường nằm Một ngày ba, bẩy lần thăm Bên vàng nặng chín, bên ân nặng mười

Tình nghĩa ở cái “hữu duyên” trong mỗi “bọn” Quan họ ấy thật mãnh liệt, dù cách xa mấy họ cũng tìm đến tận nơi để hát giao duyên và “chơi Quan họ” với nhau:

Chơi cho nước Hán sang Hồ Nước Tần sang Sở, nước Ngô sang Lào Chơi cho chín trận mưa rào Một trăm trái núi lọt vào trôn kim Chơi cho bong bóng thì chìm Đá bia thì nổi, gỗ lim mập mờ Chơi cho bể cạn sông khô Căng buồm xuôi gió Hán- Hồ gặp nhau Chơi cho sông Lục sáu đầu Cạn sông hết nước, giống mầu giữa sông Chơi cho con ốc có sừng Con lươn có vẩy mới ngừng đi chơi

Về Kinh Bắc, xơi một chén trà mạn hảo, thưởng thức một miếng trầu têm cánh phượng, uống chén rượu làng Vân… nghe kể chuyện Thái tổ Lý Công Uẩn, Nguyên Phi Ỷ Lan, chuyện “hùm thiêng Yên Thế” Hoàng Hoa Thám… cũng đủ níu chân bao khách lữ hành đi ngang qua miền Quan họ.

Cả một vùng quần thể văn hiến Kinh Bắc với: chùa Dâu, chùa Phật Tích, chùa Bổ Đà, đền thờ Lý Bát Đế, đền Bà Chúa Kho, lăng Kinh Dương Vương, thành Luy Lâu… Những món ăn ẩm thực dân dã như: bánh đa Kế, bánh Phu Thê Đình Bảng, bánh đúc lạc Đình Tổ, bánh Khúc làng Diềm, nem Bùi Thuận Thành, mì Chũ… qua đôi bàn tay chế biến khéo léo của những cô gái Quan họ đã trở thành thứ đặc sản ẩm thực, làm lòng người xa xứ không khỏi bồi hồi nhớ về hương vị thanh đạm nơi quê hương.

Kinh Bắc không quá ồn ào, hối hả, tấp nập như Hà Nội, Sài Gòn nhưng cũng không quá vắng vẻ, tĩnh lặng… Cái cảm giác huyên náo đủ để con người ta cảm thấy muốn lắng mình trong những cung bậc xúc cảm của cuộc sống đời thường, đủ cho những ai đã từng có lần đến rồi đi vẫn mong chờ một khoảng lặng để nghĩ về những ngày đã qua ở miền Quan họ hiếu khách này.

Vùng đất “Địa linh nhân kiệt” có “Trai Cầu Vồng- Yên Thế, gái Nội Duệ- Cầu Lim” đã khiến bao người ngẩn ngơ, động lòng trước “Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng” để rồi cứ thẩn thơ đi tìm một “Lá Diêu bông” phía “Bên kia sông Đuống”, xa rồi lại bồi hồi:

Nhớ mưa Thuận Thành Long lanh mắt ướt… Ngón tay trắng nuột Nâng bồng Thiên Thai… Hạt mưa chưa đậu Vai trần Ỷ Lan…

Lại ao ước mong chờ về miền Quan họ để say trong miếng trầu têm cánh phượng, bên chén rượu làng Vân, nghe các liền anh liền chị hát câu Quan họ “vang, rền, nền, nảy”… “Người ơi! Người ở… đừng về”… Để rồi lại da diết trong lời dặn dò… người ơi! Đến hẹn lại về..

– Hồng Hoa – (duyenquanho.vn)

1001 Bài Thơ Viết Về Dân Ca Quan Họ, Làn Điệu Quê Hương Tôi

(iini.net) Tổng hợp những bài thơ viết về dân ca Quan Họ và tình yêu quê hương của người con vùng đất nổi tiếng với làn điệu đặc sắc này. Bên cạnh đó là tình yêu đôi lứa gắn liền với dân ca quan họ.

BÀI THƠ: NGƯỜI Ở ĐỪNG VỀ

Thơ: Bình Minh

Đi tìm câu hát luồn kim ngày nào

Sông cầu nước chảy lao xao

Tháng giêng hát hội anh vào chị ra

Trầu xanh vôi trắng làng ta xuân về

Còn đây một ánh trăng thề

Bao câu hát ghẹo tràn trề tiếng yêu

Quai thao nón thúng Mĩ miều

Anh hai chị cả những chiều hát vang

Câu ca vẫn đấy rộn ràng lắm thay

Mà hãy ở lại nơi đây hát mừng

Giao duyên câu hát tương Phùng

Mong người ở lại chớ đừng ra đi.

BÀI THƠ: ĐI TÌM CÂU HÁT DÂN CA 1

Thơ: Bình Minh

Anh đến tìm em chiều Đông lạnh

Bến sông buồn hiu quạnh vấn vương

Mà sao không chọn câu thương chữ chờ

Anh vẫn nhớ bên bờ sông ấy

Điệu lý còn vẫn đấy chưa quên

Cùng câu ví giặm ấm êm một thời

Những câu hát như lời nhắn gửi

Bao giận hờn buồn tủi ta trao

Chiều nay bỗng thấy nao nao

Câu thương năm ấy em trao ai rồi

Bến sông cũ anh ngồi ngóng đợi

Điệu lý buồn vời vợi tình xa

Còn vang câu hát ngân nga

Dòng sông năm ấy thiết tha gọi tình.

BÀI THƠ: ĐI TÌM CÂU HÁT DÂN CA 2

Thơ: Bình Minh

Giận và thương xoáy lòng anh đó

Lời ngày nào theo gió bay xa

Tưởng rằng như mới hôm qua

Ta cùng hát ghẹo thiết tha đượm nồng

Xin em giữ má hồng Đông đến

Đừng như thuyền không bến chơi vơi

Thuyền không vô bến biết nơi nào tìm

Những câu hát đắm chìm mê mải

Sao bây giờ tay nải gió đưa

Mần chi răng dứa người thưa

Bởi vì ngày ấy em chưa biết gì

Nay lại đến một kỳ thi hát

Bến sông buồn bát ngát ngô xanh

Để em từ giã trăng thanh về trời.

BÀI THƠ: ĐI TÌM CÂU HÁT DÂN CA 3

Thơ: Bình Minh

Một chiều Đông anh lại về quê nội

Câu hát nào trong đêm hội hoa đăng

Còn đâu đây khi đông nhạt nắng vàng

Chỉ còn lại lỡ làng ơi câu hát

Lý giận thương hay em tôi hờn mát

Mà Đông về tan nát trái tim ai

Lệ nỉ non hay nước mắt ngắn dài

Câu hát giặm vẫn đan cài nỗi nhớ

Em biết không ngày xưa cùng một thuở

Ta chung thuyền hát giặm bến sông lam

Khúc tơ vương lưu luyến những hôm rằm

Lời ươm kén câu nuôi tằm buổi ấy

Sao chiều nay bên sông buồn vắng vậy

Người đâu rồi đò đẩy khách chẳng sang

Lý giận thương ai lỡ bỏ bên đàng

Theo năm tháng ngỡ ngàng…Tôi vẫn nhớ.

BÀI THƠ: ĐI TÌM CÂU HÁT DÂN CA 4

Thơ: Bình Minh

Anh về nơi ấy một chiều Đông

Gió bấc hiu hiu thổi lạnh lòng

Ví giặm năm nào em nhớ không?

Ơi!tình cô gái hát giận thương

Có lẽ hai ta lệch con đường

Lên lời ca ấy theo anh mãi

Giờ vẫn đi tìm bao vấn vương

Anh đã chót sai lệch con đường

Để câu hát giặm ấy vấn vương

Giờ về nơi ấy anh tìm lại

Đông của năm nào bao nhớ thương

Ngày nào em hát câu dân ca

Trách oán làm chi chẳng mặn mà

Câu ví giặm xưa còn vang mãi

Để anh mãi tìm trong diết da.

BÀI THƠ: GỬI NGƯỜI QUAN HỌ

Nhớ không em buổi ban đầu

Nồng nàn tạc dạ tình sâu khắc lời…

Nhớ nhung nhung nhớ luân hồi

Ai trao tôi nửa nụ cười đã say

Người đi sầu đọng tim này

Ước mong làm gió mây bay khắp trời

Theo em vạn nẻo không rời

Nâng câu quan họ ngọt lời bay xa

Biển tình sóng dậy thu ba

Tứ thân vương vấn lụa là trao nhau

Lặng thầm trăng nấp nơi đâu

Để cho bến mộng chênh chao hỡi tình

Người đi vương nụ cười xinh chốn này

Mà trầu bớt thắm tình say bớt nồng.

Gái Bắc Ninh với câu quan họ

Rất chung tình nón ngỏ trao duyên

Gió đưa tiếng hát thuyền quyên

Dịu dàng lúng liếng chiều siêng hoa hờn.

Ngày trẩy hội em buông câu hát

Hỡi người ơi… bát ngát xa đưa

Mớ ba mớ bảy anh chưa muốn về.

Trên quán dốc chân đê anh đợi

Ngày mộng xanh vời vợi anh trông

Hội làng hôm ấy thắm nồng

Trao nghiêng cánh én triền sông quê mình.

Tranh Đông Hồ tươi xinh nét vẽ

Nón quai thao đẹp đẽ về đâu

Yếm đào êm thắm nương dâu

Lở bồi bờ cát sông Cầu lơ thơ.

Bắc Ninh đẹp anh mơ anh nhớ

Gái Bắc Ninh rạng rỡ tươi xinh

Sắc xuân và rất chung tình

Ai về thắm thiết dáng hình thẳm sâu.

Đê sông Hồng nắng tía chiều sương

Trầu têm cánh phượng thắm hường

Tiếng oanh thỏ thẻ thân thương anh về.

Qua Miền Quan Họ người ơi!

Một lần Đến hẹn nhớ lời Giao duyên.

Chung câu hát Đối mạn thuyền đẩy đưa.

Miền quê Quan Họ ai chưa từng về?

Quai Thao nghiêng nón đêm về nhớ nhung.

Mong rằng sẽ được hát cùng

Lúng la lúng liếng mình chung một bè.

Để rồi Tình Thắm Duyên Quê

Ninh Kiều trên bến hẹn thề chung đôi.

Mắt nhìn trong mắt kề môi

La đà khóm trúc mình ngồi bên nhau.

Têm trầu Cánh phượng thắm màu yêu thương.

Cây Đa, Quán Dốc chung đường

Cùng nghe câu hát Mười thương vọng về.

Mớ ba,Mớ bảy dãi dề lòng nhau.

Nên đôi duyên thắm Trầu Cau

Nghe Câu Quan Họ người mau hãy về.

BÀI THƠ: VỀ MIỀN QUAN HỌ

Thơ: Lãng Du Khách

Về Kinh Bắc tìm câu quan họ

Người qua cầu gửi gió áo bay

Long lanh ánh mắt nheo mày

Liền anh liền chị mê say đối lời.

Chén rượu ngọt chủ mời khách tới

Tiễn người về hẹn đợi mùa sau

Cho duyên thêm thắm cho cau thêm nồng.

Thuyền Rồng lượn trên sông lời đối

Nón quai thao nghiêng đội buông lời

Câu ca quan họ suốt đời trao duyên.

Đầu khăn xếp lạc miền quan họ

Xin hỏi người còn có nhớ không

Câu ca duyên thắm tình nồng

Người ơi ở lại bến sông đừng về.

Hẹn gặp lại miền quê duyên thắm

Đọng ân tình sâu thẳm tim tôi

Hẹn mùa sau lại về nôi MỜI TRẦU !

Trầu cánh phượng em têm đẹp lắm

Để cho anh càng ngắm càng say

Tuyệt vời quan họ trao tay

Mời anh ăn miếng trầu này thắm duyên

Anh ngồi tựa mạn thuyền nghe hát

Lời chị hai dào dạt yêu thương

Miếng trầu tô thắm môi hường

Làm anh xao xuyến vấn vương trong lòng

Giờ đến hội anh mong muốn lắm

Gặp được em tay nắm chặt tay

Thỏa bao ước vọng những ngày chia xa

Nhìn lữ khách thật là vui vẻ

Tới hội Lim em sẽ mời trầu

Thơm nồng mặn chát nhớ câu em mời

Người ở khắp mọi nơi lại đến

Để cùng em trên bến dưới thuyền

Nhớ câu quan họ giao duyên

Trầu têm cánh phượng sẽ truyền tay nhau

Anh sẽ hẹn sang đầu năm mới

Mang trầu cau anh tới rước dâu

Sẽ cùng mời khách miếng trầu nên duyên.

Tứ thân nón thúng quai thao

Cùng khăn mỏ quạ.. yếm đào làm duyên

Long lanh đôi mắt nhung huyền

Này đây má thắm dịu hiền đáng yêu

Môi hường chúm chím mĩ miều

Tay em e ấp.. nắng chiều còn ghen

Xinh rồi làm dáng bên sen

Ai mà không muốn làm quen với nàng

Giọng ca nền nảy rền vang

Lúng la lúng liếng.. tình tang.. hội hừ

Tuy rằng em tuổi đầu “tư “(40)

Duyên còn thắm mãi vẫn như xuân về.

Còn nhớ mãi.. đêm trăng rằm tỏa sáng

Ngắm đằng xa.. cùng bạn hát giao duyên

Khúc dân ca..lúng liếng mắt nhung huyền

Lời ca ấy.. còn nguyên trong kí ức

Còn nhớ mãi.. hội quê mình náo nức

Chia tay rồi.. thao thức suốt canh thâu

Để lứa đôi..lưu luyến đứng bên cầu

Trao lời hẹn.. cau trầu nên duyên thắm

Lời hẹn ấy.. cho dù xa muôn dặm

Vẫn tìm về.. chờ ngắm ánh trăng thanh

Hội quê hương..nơi vun đắp duyên lành

Câu quan họ..trở thành người mai mối

Rồi xuân đến..lại mong về với hội

Cất lời ca.. đáp đối để tìm duyên

Đã biết bao.. đôi lứa khắp mọi miền

Cùng về hội.. lên thuyền hoa hạnh phúc.

Giã hội rồi.. trong lòng đầy lưu luyến

Trầu em trao.. anh nhận miếng làm tin

Hội năm sau.. để nhớ lại đi tìm

Câu Quan họ.. giữa hội Lim ấm áp

Giã hội rồi.. lời ca còn đối đáp

Rằng người ơi..xin ở lại đừng về

Để nhớ thương.. không phải đợi triền đê

Chờ mùa tới..mới về tìm giữa hội

Chia tay rồi.. trao lời còn chưa vội

Vẫn dùng dằng..ta đến hẹn lại lên

Trầu trong tay.. sao ai nỡ lòng quên

Mùa xuân tới.. sẽ đáp đền ơn nghĩa

Giã hội rồi.. tâm tình đầy thấm thía

Mỗi lời ca.. một nét đẹp yêu thương

Xa nhau rồi.. để lại những vấn vương

Bao kỷ niệm.. quê hương mình Kinh Bắc.

Đầu xuân chính hội mười ba

Liền anh Liền chị gần xa nhớ ngày

Giao duyên Quan họ đắm say

Người dân các xứ về đây vui cùng

Hội Lim một nét đẹp chung

Tứ thân Liền chị thẹn thùng dải đeo

Quai thao nón thúng yếm đào

Với khăn mỏ quạ duyên nào cũng xinh

Liền anh cũng vậy trao tình

Áo the khăn xếp ô mình khoác tay

Gặp nhau giữa hội Lim đây

Lời ca đối đáp ngất ngây lòng người

Nhớ nhau ngày hội sang chơi đừng về

Trao duyên say đắm mải mê

Ân tình thắm mãi lời thề thủy chung.

Thơ Về Người Nông Dân – Tổng Hợp Thơ Hay Về Người Nông Dân Và Nỗi Lòng Của Họ

Người nông dân

Người nông dân, cái tên quá quen thuộc với chúng, tuy họ là người dãi nắng dầm mưa và phần lớn là trên ruộng đồng, đất rẫy. Sẽ không được sạch sẽ thơm tho, nhưng với tôi họ là những con người để lại tiếng vang lớn nhất trong lòng mỗi chúng ta, sự cần cù và chịu khó khiến cho những đôi chân, đôi tay lắm bùn đất này trở nên sạch sẽ và óng ánh hơn bao giờ hết.

Thương Người Nông Dân – Tác Giả: Hà Hương

Kiếp sau nếu có làm người Xin chọn nghề khác chứ đừng làm nông Cái nghề một nắng hai sương Làm ăn không đủ lấy gì nuôi con

Vậy mà còn bị kiểm lâm Đi vô nhổ hết còn gì đau hơn Xót xa lòng tái tê lòng Hỏi ông trời có thương dùm cho con

Không làm thì biết làm gì Nghề thì không có vốn thì cũng không Chẳng biết mẹ nó dạy gì Không làm việt tốt, mà đi phá người

Phá mì là của nông dân Mà nó kéo tới ,tới năm mươi thằng Nó phá rồi nó chặt điều Ôi đau xót quá ôi người nông dân

Nỗi Lòng Của Nông Dân – Tác Giả: Bong Bóng Biển

Bao người hiểu được cái nghề nông Cực khổ quanh năm chốn ruộng đồng Sáng thuốc chiều phân ê ẫm cẳng Be bờ đấp đập…rã rời hông Êm mùa chú bác lòng vui vẻ Thất vụ bà con nợ chất chồng Cứ mãi rầu lo…hằng nét mặt Bao người hiểu được cái nghề nông

Tuyển Chọn Các Bài Thơ Về Nông Dân Hay Nhất

Lão Nông Thích Làm Thơ – Tác Giả: Đặng Hùng

Nông dân chính hiệu”Con nai vàng”!? Cuộc sống còn nghèo… Chẳng giàu sang?! Văn chương, chữ nghĩa… Thì “kém cỏi”!? Nên”Nàng thơ”! Lam lũ… Chẳng gọn gàng!?

Thất ngôn bát cú… chỉ “tàm tạm”!? Lục bát chưa hay… loại”loàng xoàng”…!? Thơ vui, hài hước… Cười là chính!? Nếu có châm biếm cũng… nhẹ nhàng!?

Thấy cảnh khó nhìn… ưa phê phán..!? Nghe tin sai trái… thích luận bàn!? *** Mọi người có thương… thì chia sẻ… Xin đừng ném đá… Thơ… nát tan…?!?!

Người Nông Dân Dạy Con – Tác Giả: Huỳnh Thanh An

Nhắn gửi con hiền trí mẫn khai Ngoan nghe tía° dạy ít lời này Thương dân học hỏi gầy nguồn tốt Mến nước tìm tòi dựng lực hay Mốt nọ nguy thời canh biển Bắc Mai chiều biến thế giữ trời Tây Tiền nhân bản lĩnh muôn đời vậy Diệt hết thằng gian đuổi giặc bầy

Anh Nông Dân Và Cái Lò Tôn Cũ – Tác Giả: Đặng Hùng

Có cái lò tôn, ở cuối làng… Không người coi giữ đã bỏ hoang… Nắng mưa sương gió,rong rêu phủ…!? Tôn thì đã cũ,lò hở hang.. Có bác nông phu ghé qua làng… Thấy lò tôn cũ, lòng xốn xang..? Ngày đêm tu bổ và chăm sóc… Giờ cái lò kia , mới đàng hoàng….!?!?

Người Nông Dân Việt Nam – Tác Giả: Thanh Huynh

Muôn đời rồi, và muôn đời tiếp nối Vẫn thấy người nông dân, sớm tối trên đồng Vẫn cô em.. má đỏ.. môi hồng Cười khúc khích, mồ hôi nồng hương đất

Vẫn chàng trai,. cần cù.. chân chất Bao bão giông ;không để đánh mất mình Sống chứa chan ; trọn nghĩa, vẹn tình Luôn gắn bó,. bên hình cây lúa…

Dù hạn hán: đồng khô.. cỏ úa Dù gió mưa ; khoai – lúa rập vùi Người nông dân, lòng có ngậm ngùi Nhưng vẫn sống ;quyết không lùi bước

Noi gương sáng: Cha ông ta ngày trước Hăng hái cầy bừa ;vững bước tiến xa Ôi : tự hào dòng máu Việt nam ta Con cháu Lạc hồng sinh ra chói lọi

Sẵn sàng chết: khi Quê hương kêu gọi Sẵn sàng đi đến: mọi chốn gian lao Dù đói khổ; vẫn giữ nét thanh cao Dù sóng gió; vẫn bao dung độ lượng

Người nông dân đã tạc thành pho tượng : TRÍ TUÊ -CẦN CÙ -CAO THƯỢNG THỦY CHUNG Sống hết mình ;sống tự tại ung Vui vẻ sống trong khung trời đổi mới..

Ơn Đảng Bác; dân làm ăn tấn tới Cuộc sống đủ đầy; phơi phới đi lên Ấm no rồi; ta nhớ chớ có quên Cần cù lao động, mới nên con người, /,

Anh Nông Dân Tỏ Tình – Tác Giả: Nguyễn Văn Ngữ

Đêm mơ, ra phố chiều mưa Em là cô bé chỉ vừa đôi mươi Gặp em, anh mến nụ cười Bé ơi ! anh hỏi – có người thương chưa ?

Bé rằng: lắm kẻ đón đưa Người thương, kẻ nhớ, sớm trưa đưa về. Anh là người ở thôn quê Lâu lâu ra phố, bộn bề việc nông

Cày sâu, cuốc bẩm, gieo trồng Trồng rau, tỉa đậu , vun giồng khoai lang Ruộng nương cho đến việc làng Anh làm giỏi tất, trời ban ấy mà

Mấy khi anh được đi xa Phố đông, người chật vậy mà không vui Bỗng nhiên anh thấy bé cười Hồn nhiên, e thẹn , sáng tươi cuộc đời

Bé ơi, anh nhắn đôi lời Ngày mai bé rảnh anh mời cà phê Giấc nồng trong mộng đê mê Nắm bàn tay bé, vụng về nụ hôn

Xa xa gà gáy vang dồn Tình đà tan biến lệ còn rưng rưng

Nỗi Khổ Người Nông Dân – Tác Giả: Nguyễn Tất Thắng

Lâu lắm mới có một lần Bão về trên đất tây nguyên gầm gào Bao nhiêu mầm sống dâng trào Tan trong sức gió ào ào bão ơi…..!

Thế là hết bao niềm mơ ước Sau bão là một đống tan hoang Nông dân trông giấc mơ vàng Giờ đây còn lại muôn vàn sầu bi

Bàn tay trắng lại về tay trắng Hỏi trời nào thấu nỗi khổ đây Đất kia muôn thủa vẫn dày Mồ hôi nước mắt nghẹn đầy trong tim…

Quanh năm khó muốn tìm lối thoát Đã bao lần nuốt mặn mồ hôi Bao phen nắng cháy mưa trôi Đầu trần chân đất giữa trời xông pha

Nhiều gian khó dẫu rằng vẫn biết Gian khổ nhiều vốn thiệt nông dân Bây giờ bão phá như xong….. Bao nhiêu mơ ước thời không còn gì

Nợ chồng chất,ngân hàng đến cữ…. Con ì èo đóng học bố ơi Tiền điện hết tháng tới rồi Mẹ ơi hết gạo mấy hôm rồi này…..!

Thế là hết chẳng còn chi nữa Ông trời ơi ông ác lắm thay Chắp tay tôi lạy trời dày Sao nông dân khổ thế này…. trời ơi.

Chỉ có vỏn vẹn 10 bài thơ về nghề nông dân thôi, nhưng bấy nhiêu cũng đủ giúp mọi người ai cũng sẽ được trải lòng mình qua từng cảm xúc khác nhau.

Những Câu Chuyện Kinh Điển Về Marketing

Lịch sử phát triển Marketing đã trải qua hơn 100 năm đã để lại nhiều bài học cho ngành Marketing hiện đại. Vẫn còn đó những câu chuyện marketing mang tính thời và có rất nhiều ý nghĩa.

Bài học rút ra: Câu chuyện trên cho thấy cùng một sự việc nhưng hai người có hai cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau. Người dân Châu Phi đi chân đất chỉ là một thói quen trong điều kiện kinh tế lạc hậu. Nếu coi đó là một yếu tố bất biến thì sẽ bỏ qua một thị trường đầy tiềm năng như cách người thứ nhất đã làm. Ngược lại, nhận thấy thói quen đó có thể thay đổi cùng với sự phát triển của nền kinh tế như người thứ hai thì sẽ thành công. Đây là một câu chuyện kinh điển dạy bài học về phương pháp đánh giá thị trường.

2. Bán lược cho sư.

Qua hình ảnh của 3 người bán hàng trên chúng ta có thể thấy:

Người thứ nhất thuộc mẫu bán hàng cổ điển, cần cù nhẫn nại và kiên trì.

Người thứ hai có năng lực quan sát, suy đoán sự việc, dám nghĩ dám làm.

Người thứ ba, anh ta nghiên cứu phân tích kỹ nhu cầu và tâm lý của đám đông, có ý tưởng tốt, lại có giải pháp cụ thể nên đã mở ra một thị trường tốt cho sản phẩm.

Bài học rút ra: Ngoài việc nhìn thấy nhu cầu tiềm năng của thị trường, người tiếp thị cần khơi gợi và kích thích nó phát triển thành hành động mua hàng và phát triển ra càng nhiều khách hàng.

3.Bán chéo sản phẩm.

Hàn Quốc là quốc gia nổi tiếng với các sản phẩm sâm. Người dân xứ Hàn thường xuyên ăn nhiều sâm tươi nên rất khỏe. Ngay cả các quý ông cao tuổi cũng khỏe “quá mức” đến độ nhu cầu chăn gối cũng vẫn rất cao kể cả khi họ trở thành U70.

Nhu cầu trên dẫn đến chuyện các quý ông trên có nhu cầu cao trong việc mua bao cao su để đáp ứng cho sinh hoạt thường xuyên của mình. Ngặt một nỗi xã hội Hàn Quốc là một xã hội Á Đông và người ta vẫn có tâm lý ngại ngùng trong chuyện ghé vào nhà thuốc hỏi mua bao cao su, đặc biệt là đối với các quý ông đã ngấp nghé tuổi 70. Thấu hiểu được tâm lý này của khách hàng, các nhà thuốc ở Hàn Quốc đã có sáng kiến rất hay là đóng gói 1 hộp bao cao su vào 1 bánh xà phòng và bán chung thành một package. Các quý ông khi ghé vào nhà thuốc sẽ không còn phải hỏi mua “bao cao su” nữa mà có thể lớn giọng “cho tôi một bánh xà phòng”! Thật là nhất cử lưỡng tiện – nhà thuốc vừa bán được bao cao su, vừa bán được xà phòng, trong khi các quý ông thì lại luôn sạch sẽ (nhờ xà phòng!) và tránh được cảm giác ngại ngùng khi hỏi mua bao cao su!

Bài học marketing được rút ra từ case nói trên là khi làm marketing, chúng ta cần hiểu rõ nhu cầu, hành vi của khách hàng và tìm ra các cách thức sáng tạo để đáp ứng tốt nhất nhu cầu đó. Khi phân tích nhu cầu, hành vi khách hàng thì những yếu tố văn hóa – xã hội trong môi trường marketing là rất quan trọng. Đồng thời, trong quá trình tìm tòi sáng tạo, chúng ta có thể lại tìm ra những cơ hội mới, chẳng hạn như cơ hội bán chéo sản phẩm nói trên. Tình huống này cũng là một ví dụ fun để giải thích cho học viên hiểu được một khái niệm nghe rất nghiêm túc trong marketing là “cross selling” – bán chéo sản phẩm!

Một bài học nữa có thể rút ra từ tình huống nói trên là mục đích bán chéo sản phẩm không phải bao giờ cũng là tối đa hóa nguồn thu từ khách hàng (hiện hữu) mà có thể là nhằm bảo vệ mối quan hệ với khách hàng.

Câu chuyên tương tự:

Cộng doanh số bán hàng trong ngày, thấy nhân viên mới đến bán được những 100 ngàn đôla, chủ cửa hàng gọi anh này lên hỏi:

– Chỉ với một vị khách, làm thế nào mà cậu bán được ngần ấy tiền hàng?

– Đầu tiên, ông ta mua một lưỡi câu nhỏ. Sau đó tôi khuyên ông ta mua thêm một cái loại vừa và một cái lớn. Mua xong lưỡi câu, tôi bảo ông ta nên mua thêm dây câu: loại nhỏ, loại nhỡ và loại to. Tiếp đến là cần câu, lều câu, xuồng câu hai động cơ… Cuối cùng, thay vì chúng ta phải chở hàng đến tận nhà cho khách, tôi khuyên ông ta nên mua luôn một chiếc microbus chuyên dùng để chở xuồng và đi picnic.

– Như vậy là cậu đã thuyết phục và bán cho ông ta tất cả mọi thứ bắt đầu từ ý định chỉ mua một cái lưỡi câu. Giỏi lắm!

– Không hẳn thế đâu ạ – cậu nhân viên giải thích – Ông ta đến mục đích chính là mua một hộp băng vệ sinh cho vợ. Nhưng tôi khuyên ông ta rằng: Nếu vợ ông ở tình trạng như vậy, thì ông không nên ở nhà mà tốt nhất là đi câu vài ngày.

Bài học rút ra: Người bán hàng phải hiểu rõ nhu cầu và hành vi của khách hàng và tìm ra cách thức để đáp ứng nhu cầu đó của khách hàng. Một lưu ý khi thực hiện bán chéo sản phẩm khi phân tích nhu cầu hành vi của khách hàng phải chú ý tới yếu tố văn hóa và môi trường Marrketing.

4. Câu chuyện Anh bán kính.

Trong một công ty nọ, chuyên bán các sản phẩm về kiếng xây dựng, có một anh chàng bán hàng rất cừ khôi, doanh số cá nhân của anh vượt trội hơn hẳn những người khác cùng công ty. Một hôm, sếp của anh ta hẹn gặp mặt anh và ngỏ lời bảo anh chia sẻ bí quyết bán hàng của mình cho những người khác trong công ty để nhằm gia tăng doanh số chung, đổi lại anh ấy sẽ được thưởng hậu hĩnh. Và rồi, anh ta vui vẻ nhận lời.

Trong buổi họp mặt các nhân viên kinh doanh, anh ta vui vẻ chia sẻ bí quyết khi đi bán hàng của mình. Khi đi bán hàng, anh ta mang theo một tấm kiếng mẫu và một cây búa. Khi giới thiệu cho khách hàng, anh ta vừa nói vừa cầm cây búa gõ vào tấm kiếng để chứng minh tính chịu lực cực tốt của kiếng, thậm chí khi kiếng bị vỡ cũng không vỡ vụn mà vẫn còn tính liên kết, đảm bảo sự an toàn cho người sử dụng, như thế người mua hoàn toàn tin tưởng vào chất lượng của kiếng, và đồng ý mua hàng. Trong công ty ai nấy nghe xong đều vỡ òa lẽ lý, mọi người vỗ tay tán thưởng, sau này tất cả các nhân viên kinh doanh đều trang bị thêm cây búa và tấm kiêng khi đi thuyết phục khách hàng.

Bài học rút ra: Sự nhạy bén trong nhìn nhận trong kinh doanh luôn luôn thay đổi để tạo ra sự khác biệt nếu không muốn tụt hậu.

5. Người ăn mày – bài học Marketing kinh điển.

Tôi xách túi đồ nhãn hiệu Gucci ra khỏi Tràng Tiền Plaza rồi đứng lại ở cửa chờ bạn. Một tay ăn mày chuyên nghiệp phát hiện ra tôi, sán tới đứng trước mặt. Câu chuyện của tôi chỉ có thế thôi. Thế nhưng tay ăn mày đã dạy tôi một bài học kinh tế còn sâu sắc hơn một khoá học MBA ở trường.

Bài học về người ăn mày là một trong những câu chuyện kinh điển về Marketing mà bất kỳ dân marketing nào cũng phải thán phục và học hỏi

Tôi kể câu chuyện này chính bởi ý nguyện của tay ăn mày đó.

– Xin anh… cho tôi ít tiền đi! – Tôi đứng đó chả có việc gì nên tiện tay vứt cho hắn đồng tiền xu, rồi bắt chuyện cùng nhau.

Ăn mày rất thích kể lể.

– Tôi chỉ ăn mày quanh khu mua sắm này thôi, anh biết không? Tôi chỉ liếc một phát là thấy anh ngay. Đi mua Gucci ở Plaza chắc chắn nhiều tiền…

– Hả? Ông cũng hiểu đời phết nhỉ! – Tôi ngạc nhiên.

– Làm ăn mày, cũng phải ăn mày cho nó có khoa học! – Ông ta bắt đầu mở máy.

Tôi ngẫm nghĩ một lát, thấy thú vị bèn hỏi:

– Thế nào là ăn mày một cách khoa học?

Tôi nhìn kỹ ông ta, đầu tóc rối bù, quần áo rách nát, tay gầy giơ xương, nhưng lại sạch sẽ.

Ông ta giảng giải:

– Ai chẳng sợ và ghét ăn mày, nhưng tôi tin anh không ghét tôi, tôi đoán chắc điều đó. Đấy là điểm tôi khác biệt với những thằng ăn mày khác.

Tôi gật đầu đồng ý, đúng là tôi không ghét ông ta, nên tôi đang nói chuyện với ông ta đấy thôi.

– Tôi biết phân tích SWOT, những ưu thế, bất lợi, những cơ hội và nguy cơ. Đối mặt với những thằng ăn mày là đối thủ cạnh tranh của tôi, ưu thế (Strengths) của tôi là tôi không làm người ta phản cảm, lánh sợ. Cơ hội (Opportunities) và nguy cơ (Threats) thì chỉ là những yếu tố điều kiện bên ngoài thuộc về hoàn cảnh, có thể là dân số ở đây đông hay vắng, thành phố có quyết định chỉnh trang đô thị, dẹp hè phố chăng…

– …???

– Tôi đã từng tính toán rất cụ tỉ (cụ thể và tỉ mỉ) rằng, khu vực thương mại này người qua lại đông, mỗi ngày khoảng mười nghìn người, nghèo thì nhiều lắm, nhưng người giàu còn nhiều hơn. Trên phương diện lý luận thì giả như mỗi ngày tôi xin được mỗi người một đồng xu một nghìn đồng, thì mỗi tháng thu nhập của tôi đã được ba trăm triệu đồng. Nhưng thực tế thì đâu phải ai cũng cho ăn mày tiền, mà một ngày làm sao tôi đi xin được mười nghìn lượt người. Vì thế, tôi phải phân tích, ai là khách hàng mục tiêu của tôi, đâu là khách hàng tiềm năng của tôi.

Ông ta lấy giọng nói tiếp:

– Ở khu Tràng Tiền Plaza này thì khách hàng mục tiêu của tôi chiếm khoảng 30% số lượng người mua sắm, tỉ lệ thành công khoảng 70%. Lượng khách hàng tiềm năng chiếm khoảng 20%, tỉ lệ thành công trên đối tượng này khoảng 50%. Còn lại 50% số người, tôi chọn cách là bỏ qua họ, bởi tôi không có đủ thời gian đểtìm vận may của mình với họ, tức là xin tiền họ.

– Thế ông định nghĩa thế nào về khách hàng của ông? – Tôi căn vặn.

– Thế thì mỗi ngày ông xin được bao nhiêu tiền?

– Thứ hai đến thứ sáu, sẽ kém một chút, khoảng hai trăm nghìn. Cuối tuần thậm chí có thể 4-500 nghìn.

– Hả? Nhiều vậy sao?

Thấy tôi nghi ngờ, ông ta tính cho tôi thấy:

– Tôi cũng khác gì anh, tôi cũng làm việc tám giờ vàng ngọc. Buổi sáng từ 11h đến tối 7h, cuối tuần vẫn đi làm như thường. Mỗi lần ăn mày một người tôi mất khoảng 5 giây, trừ đi thời gian tôi đi lại, di chuyển giữa các mục tiêu, thường một phút tôi xin được một lần được một đồng xu 1 nghìn, 8 tiếng tôi xin được 480 đồng một nghìn, rồi tính với tỉ lệ thành công 60% [(70%+50%)÷2] thì tôi được khoảng 300 nghìn.

Chiến lược ăn mày của tôi là dứt khoát không đeo bám khách chạy dọc phố. Nếu xin mà họ không cho, tôi dứt khoát không bám theo họ. Bởi nếu họ cho tiền thì đã cho ngay rồi, nếu họ cho vì bị đeo bám lâu, thì tỉ lệ thành công cũng nhỏ. Tôi không thể mang thời gian ăn mày có giới hạn của tôi để đi lãng phí trên những người khách này, trong khi tôi có thể xoay ngay sang mục tiêu bên cạnh.

Trời, tay ăn mày này có đầu óc quá đi, phân tích như thể giám đốc kinh doanh hoặc giám đốc tiếp thị vậy.

– Ông nói tiếp đi! – Tôi hào hứng.

Tôi ngẫm nghĩ rồi bảo, tôi không biết.

– Anh nên đi đến xin tiền anh thanh niên kia. Vì đứng bên anh ta là một phụ nữ đẹp, anh ta chẳng lẽ lại không cho ăn mày tiền. Nhưng nếu anh đi xin cô gái đẹp, cô ta sẽ giả vờ là ghê sợ anh rồi lánh xa anh. Thôi cho anh một ví dụ nữa: Hôm nọ đứng ở cửa siêu thị BigC có một cô gái trẻ tay cầm túi đồ vừa mua từ siêu thị, một đôi nam nữ yêu nhau đang đứng ăn kem, và một anh chàng đóng bộ công chức chỉnh tề, tay xách túi đựng máy tính xách tay. Tôi chỉ nhìn họ ba giây, sẽ không ngần ngừ bước thẳng tới mặt cô gái trẻ xin tiền, cô gái cho tôi hẳn hai đồng xu, nhưng ngạc nhiên hỏi tôi tại sao chỉ xin tiền có mỗi cô ta. Tôi trả lời rằng, cái đôi tình nhân kia đang ăn, họ không tiện rút ví ra cho tiền, anh kia trông có vẻ lắm tiền, trông như sếp nhưng vì thế trên người họ thường không có sẵn tiền lẻ. Còn cô vừa mua sắm ở siêu thị ra, cô tất còn ít tiền thừa, tiền lẻ.

Chí lý, tôi càng nghe tay ăn mày nói càng tỉnh cả người ra.

– Cho nên tôi bảo rồi, tri thức quyết định tất cả!

Tôi nghe sếp tôi nói bao lần câu này, nhưng đây là lần đầu tôi nghe một thằng ăn mày nói câu này.

– Ăn mày cũng phải mang tri thức ra mà ăn mày. Chứ ngày ngày nằm ệch ra ở xó chợ, cầu thang lên đường vượt giao lộ, xin ai cho được tiền? Những người đi qua giao lộ, chạy qua cổng chợ đều vội vàng hoặc cồng kềnh, ai ra đấy mà chơi bao giờ, ra đấy xin chỉ mệt người. Phải trang bị tri thức cho chính mình, học kiến thức mới làm người ta thông minh lên, những người thông minh sẽ không bao giờ ngừng học hỏi kiến thức mới. Thế kỷ 21 rồi, bây giờ người ta cần gì, có phải là cần nhân tài không?

Có lần, có một người cho tôi hẳn 50 nghìn, nhờ tôi đứng dưới cửa sổ gào: “Hồng ơi, anh yêu em”, gào 100 lần. Tôi tính ra gọi một tiếng mất 5 giây, thời gian cũng tương tự như tôi đi ăn mày một lần, nhưng lợi nhuận đạt được chỉ 500 đồng, còn kém đi ăn mày, thế là tôi từ chối.

Ở đây, nói chung một tay ăn mày một tháng có thể đi xin được một nghìn hoặc tám trăm lần. Người nào may mắn thì cùng lắm đi xin được khoảng hai nghìn lần. Dân số ở đây khoảng ba triệu, ăn mày độ chục anh, tức là tôi cứ khoảng mười nghìn người dân mới ăn mày một người. Như thế thu nhập của tôi ổn định, về cơ bản là cho dù kinh tế thế giới đi lên hay đi xuống, tình hình xin tiền của tôi vẫn ổn định, không biến động nhiều.

Trời, tôi phục tay ăn mày này quá!

– Tôi thường nói tôi là một thằng ăn mày vui vẻ. Những thằng ăn mày khác thường vui vì xin được nhiều tiền. Tôi thường bảo chúng nó là, chúng mày nhầm rồi. Vì vui vẻ thì mới xin được nhiều tiền chứ.

Quá chuẩn!

– Ăn mày là nghề nghiệp của tôi, phải hiểu được niềm vui do công việc của mình mang lại. Lúc trời mưa ít người ra phố, những thằng ăn mày khác đều ủ rũ oán trách hoặc ngủ. Đừng nên như thế, hãy tranh thủ mà cảm nhận vẻ đẹp của thành phố. Tối về tôi dắt vợ và con đi chơi ngắm trời đêm, nhà ba người nói cười vui vẻ, có lúc đi đường gặp đồng nghiệp, tôi có khi cũng vứt cho họ một đồng xu, để thấy họ vui vẻ đi, nhìn họ như nhìn thấy chính mình.

– Ối ông cũng có vợ con?

– Vợ tôi ở nhà làm bà nội trợ, con tôi đi học. Tôi vay tiền ngân hàng Vietinbank mua một căn nhà nhỏ ở ngoại thành, trả nợ dần trong mười năm, vẫn còn sáu năm nữa mới trả hết. Tôi phải nỗ lực kiếm tiền, con tôi còn phải học lên đại học, tôi sẽ cho nó học Quản trị kinh doanh, Marketing, để con tôi có thể trở thành một thằng ăn mày xuất sắc hơn bố nó.

Tôi buột miệng:

– Ông ơi, ông có thu nhận tôi làm đệ tử không?

Từ những câu chuyện trên cho ta bài học để kinh doanh tốt không những cần phải có ý tưởng tốt mà còn sự nhạy bén và tư duy nhanh nhạy vì các tình huống bán hàng trong cuộc sống là không giống nhau.

Chùm Thơ Hay Viết Về Quê Hương Xứ Kinh Bắc

Tổng hợp những bài thơ hay viết về tình yêu quê hương và văn hóa xứ Kinh Bắc. Kinh Bắc là tên gọi xưa cũ về địa danh nằm ở phía Bắc nước ta. Văn hóa xứ Kinh Bắc nổi tiếng với: Dân ca quan họ, lễ hội Gióng,… Có nhiều di tích lịch sử nổi tiếng như: đền Sóc, Tây Yên Tử, chùa Phật Tích, chùa Dâu, chùa Vĩnh Nghiêm, Cổ Loa, đền thờ Hai Bà Trung,…

BÀI THƠ: NHỚ VỀ KINH BẮC

Tác giả: Hoa Chu Van

Hàng năm cứ đến tiết xuân

Ai về kinh bắc bước chân nhẹ nhàng

Nghe bài hát đón xuân sang

Dân ca quan họ rộn ràng nơi đây

Niềm thương nỗi nhớ vơi đầy

Sông Cầu nước chảy bóng mây vờn bờ

Quê hương Kinh Bắc mộng mơ

Giao duyên đối đáp trông chờ say mê

Em buông vạt áo bốn bề tứ thân

Tưng bừng đất nước vào xuân

Hội Lim anh nhớ những lần gặp nhau

Thơm nồng vị nặm đậm mầu hồng tươi

Trầu têm cánh phượng em mời

Em trao kỷ vật một đời cho anh

Giao duyên xe kết tác thành

Liền anh liền chị ngọt lành say mê

Sang năm đến đón phu thê một nhà

Hồng tươi đào thắm nở hoa

BÀI THƠ: GẶP EM NƠI LỄ HỘI

Tác giả: Thơ và Tình

Gặp em nơi chốn đông người quá

Chỉ kịp nhìn nhau một phút thôi

E thẹn lườm anh rồi vội vã

Gót sen tung tẩy ở chân đồi

Hội Lim làng xã mở năm nay

Rộn rã làng quê, cả mấy ngày

Duệ Khánh, Lộ Bao đầy đủ hết

Lũng Giang, Đình Cả cũng vừa đây

Đi theo liền chị suốt mấy ngày

Nghe tiếng mà chưa gặp đã say

Em cứ lã lơi cùng mấy chị

Liền anh xao xuyến giáng hao gầy !

Câu hát giao duyên lời giã bạn

Thôn Đông bịn rịn với thôn Đoài

Làng nước cuốn cờ sau lễ hội

Nán lại chờ nhau dưới khóm mai

Xin được cùng em một đoạn đường

Má phấn môi hường đã thấy thương

Mai mốt anh sang bên Đình Cả

Gửi nốt cho mình hết vấn vương !

BÀI THƠ: SANG KINH BẮC

Tác giả: Đồng Kế

Anh buồn hứng nỗi bơ vơ đem về

Còn bao vướng bận câu thề … đa mang

Gió đùa xô chiếc thuyền nan

Câu “Người ơi” hát dở dang bao đời

Mà nghe muốn nuốt từng lời

Giọng em trong vắt ngọt mời vút lên

Miếng trầu cánh phượng em têm

Ăn vào say mãi đến mềm ruột gan

Bao giờ lại hẹn nhau sang

Để ta thiếp thiếp chàng chàng có nhau

Lơ thơ nước chảy sông Cầu

Chia tay trong dạ nỗi sầu đầy vơi

Dùng dằng những hạt mưa rơi

Có thương có nhớ … người ơi … đừng về!

BÀI THƠ: GỞI VỀ MIỀN QUAN HỌ

Tác giả: Mai Trúc

Gởi câu thơ qua miền quan họ

Phía chòng chành dải nón quai thao

Lúng liếng tràn điệu hát ngọt ngào

Nụ tầm xuân gọi bình minh thức

Xuôi sông Cầu về miền Kinh Bắc

Qua cầu dải yếm để tìm nhau

Chiều tràn sóng, thuyền thơ nghiêng ngả

Trong câu hát cánh cò bay lả

Miếng trầu cánh phượng đỏ cả lòng

Lời thơ rơi giữa mênh mông

Mới gặp đây sao đành giã bạn

Chưa kịp cùng em lên quán dốc

Đêm xuân vồi vội mảnh trăng non

Câu thơ buộc câu hát ví von

Còn em buộc hồn tôi vào quan họ.

BÀI THƠ: VỀ KINH BẮC XƯA

Tác giả: Dạ Khúc

Trở về Kinh Bắc một chiều say

Say người, say rượu, say Quan Họ

Say cả con tim với đất này

Ta đã về đây Kinh Bắc ơi!

Một chiều đông sương gió tơi bời

Biên thùy vó ngựa quân Nam réo

Giặc Tống kinh hoàng thây xác phơi

Ta đã về đây với nước non

Đông Đô xưa mấy thuở vàng son

Dấu Tích Cha Ông oai hùng quá!

Lối cũ rêu phong vẫn chửa mòn

Quan Họ ai ca giữa trời chiều

Cho lòng lữ khách bớt cô liêu

Áo the chen nón quai thao ấy!

Đọng lại trong ta biết mấy điều

Ta về Kinh Bắc nhớ Hoàng Cầm

“Bên kia Sông Đuống” người còn không?

Một chiều đông lạnh ta đâu lạnh

Ngâm lại bài thơ ấm cả lòng.

BÀI THƠ: DUYÊN KINH BẮC

Tác giả: Xuân Phong

Dập dìu liền chị liền anh

Bắc Ninh tình lắm, anh càng tình hơn

Bên em anh mới tỏ tường chữ “Yêu”

Têm trầu cánh phượng – nên duyên

Ao dài khăn đóng ! Mạn thuyền người ơi

Người ơi sáng nhớ chiều chờ

Bắc Ninh xuân đậm chữ tình

Xuân này càng đậm chúng mình nên duyên.

BÀI THƠ: VỀ KINH BẮC

Tác giả: Hồ Thanh

Trở về Kinh Bắc một chiều say

Say người, say rượu, say Quan họ…

Say cả con tim với đất này.

Ta đã về đây Kinh Bắc ơi!

Một chiều đông sương gió tơi bời

Biên thùy vó ngựa quân Nam réo

Giặc Tống kinh hoàng thây xác phơi.

Ta đã về đây với Nước non

Đông đô xưa mấy thuở vàng son

Dấu Tích Cha ông oai hùng quá!

Lối cũ rêu phong vẫn chưa mòn?

Quan họ ai ca giữa trời chiều

Cho lòng lữ khách bớt cô liêu

Áo the chen nón quai thao ấy

Đọng lại trong ta biết mấy điều

Ta về Kinh bắc nhớ Hoàng Cầm

“Bên kia sông Đuống” người còn không?

Đất trời có lạnh ta đâu lạnh

Ngâm lại Thơ xưa ấm cả lòng.

Dân Ca Dân Nhạc Vn – Qua Cầu Gió Bay

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu với các bạn một bài dân ca quan họ bất hủ rất phổ biến xưa nay trên khắp vùng miền của đất nước diễn tả về tình yêu giữa đôi trai gái vừa lãng mạn, vừa nhẹ nhàng mê đắm, vừa nồng nàn và cũng vừa liều mạng cả gan dối cha dối mẹ để được trọn vẹn tình tứ với người yêu của các cụ ta xưa. Đó là bài “Qua Cầu Gió Bay”.

Bài “Qua Cầu Gió Bay” có một câu sẽ là một đề tài khá thú vị để các bạn cùng bàn luận:

“Yêu nhau cởi áo cho nhau”

“Cởi áo cho nhau” nhưng mà là ai cởi áo cho ai đây?

Các bạn nghĩ sao?

Cái hay và đẹp nhất ở chổ tình yêu của các cụ ta xưa tuy lãng mạn và liều mạng tột mực đến mức độ dám dối cha dối mẹ vì người yêu nhưng rốt cuộc lại các cụ vẫn không thể nào vượt ra ngoài vòng lễ giáo của gia đình. Có lẽ vì thế mà khi các cụ đã được hai bên cha mẹ tác hợp thành vợ thành chồng rồi thì hình như các cụ có một sự ràng buộc vô hình kết chặt các cụ lại với nhau trong bền vững hôn nhân với con đàn cháu đống cho đến ngày viên mãn.

Nét đẹp văn hóa xưa của các cụ ta trong tình cảm và hôn nhân thực sự có khác với nét văn hóa tự do thời nay của chúng ta. Theo trào lưu văn hóa Âu Tây, ngày nay chúng ta có không biết bao nhiêu là sự tự do để lựa chọn người yêu và người vợ/chồng… tự do kết nối bè bạn… tự do chọn lựa… tự do thích/không thích… tự do yêu thương… tự do kết hôn… tự do bỏ nhau… tự do ly dị… etc… etc…

Bài có “Lời cổ 2” hiện đang được phổ biến rộng rải trong nước và được các liền anh liền chị quan họ thể hiện biểu diễn thường xuyên.

Bài có “Lời cải biên” cũng rất thịnh hành với giới trẻ trong nước hiện nay vì mang chất hài trẻ trung dí dỏm nên các bạn thường xuyên biểu diễn.

Rất tiếc mình không có clip “Lời cổ 1” để chia sẻ với các bạn, nhưng mình có 3 clips “Lời cổ 2” và “Lời cổ 3” do các nghệ nhân biểu diễn với những phong cách truyền thống và cải biên để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

Qua Cầu Gió Bay (Lời cổ 1)

Yêu nhau… ngã nón í a ra ngồi… về nhà, mẹ hỏi… Sông sông đế í a sông tình… tình tình là non i ì í đâu… tình tình là nón i ì í đâu… Chị rằng hai ờ ơ ớ ơi… chị có hay rằng, nói dối với mẹ cha rằng… chứ đi qua cầu… là nón… là nón… í a gió bay í ì… Nón í để í a làm tin… nón í để í a làm tin…

Yêu nhau… cởi áo í a cho người… về nhà, mẹ hỏi… Sông sông đế í a sông tình… tình tình là áo i ì í đâu… tình tình là áo i ì í đâu… Chị rằng hai ờ ơ ớ ơi… chị có hay rằng, nói dối với mẹ cha rằng… chứ đi qua cầu… là áo í… là áo í… í a gió bay i ì… Áo í để í a làm tin… áo í để í a làm tin…

Yêu nhau… cởi nhẫn í a trao người… về nhà, mẹ hỏi… Sông sông đế í a sông tình… tình tình là nhẫn í a đâu… tình tình là nhẫn í a đâu… Chị rằng hai ờ ơ ớ ơi… chị có hay rằng, nói dối với mẹ cha rằng… chứ đi qua cầu… là nhẫn í… là nhẫn í… í a đánh rơi i ì… Nhẫn í để í a làm tin… nhẫn í để í a làm tin…

Gió…bay…i ì…sao được chứ mà bay… Cút cài…i ì…năm hạt…ì…anh giật hoài… mà chẳng ra…í i… ì i… Ới i…ì i… ới i…ì i í í i… .

Qua Cầu Gió Bay (Lời cổ 2)

Yêu nhau giở nón cho nhau Yêu nhau giở nón ới à trao nhau i. Về nhà, về nhà mẹ cha có hỏi ơ ớ ơ. Em nói có a dối rằng, chứ đi có a qua cầu Tình tình tình gió bay, qua cầu gió bay.

Yêu nhau cởi áo cho nhau Yêu nhau cới áo ới à trao nhau i. Về nhà, về nhà mẹ cha có hỏi ơ ớ ơ. Em nói có a dối rằng, chứ đi có a qua cầu Tình tình tình gió bay, qua cầu gió bay.

Yêu nhau tháo nhẫn ới à lồng tay. Về nhà, về nhà mẹ cha có hỏi ơ ớ ơ. Em nói có a dối rằng, chứ đi có a qua cầu. Tình tình tình chót đánh rơi, qua cầu em chót đánh rơi.

Yêu nhau gắn bó ới à cùng nhau. Càng ngày, càng ngày càng thêm nghĩa nặng ơ ớ ơ. Này a ới a càng dày, này a ới a càng dày. Tình tình tình ân sâu, tình tình tình ân sâu.

Qua Cầu Gió Bay (Lời cải biên)

Yêu nhau cởi áo ối à cho nhau… Về nhà dối rằng cha dối mẹ a..à..a..á..a… Rằng a ối a qua cầu… rằng a ối a qua cầu… Tình tình tình gió bay… tình tình tình gió bay… .

Yêu nhau cởi nhẫn ối a cho nhau… Về nhà dối rằng cha dối mẹ a..à..a..á..a… Rằng a ối a qua cầu… rằng a ối a qua cầu… Tình tình tình đánh rơi… tình tình tình đánh rơi…

Yêu nhau cởi nón ối à cho nhau… Về nhà dối rằng cha dối mẹ a..à..a..á..a… Rằng a ối a qua cầu… rằng a ối a qua cầu… Tình tình tình gió bay… tình tình tình gió bay…

Yêu nhau cởi áo ối à cho nhau… Về nhà me hỏi… qua cầu… gió bay… (x3). Yêu nhau cởi nón ối à cho nhau… Về nhà mẹ hỏi, qua cầu… gió bay… (x3) Cũng tại mẹ may áo mà rộng tay… Em quên cài nút…qua cầu… đánh rơi, qua cầu…gió bay (x3)

Qua cầu nho nhỏ, cái vỏ vân vân, nay anh học gần, mai anh học xa… Chứ lấy chồng từ thưở 13… đến năm 18… thiếp đã 5 con… Ra đường thiếp hãy còn son… về nhà thiếp đã… 5 con mà cùng chồng… qua cầu…gió bay (x3) Qua cầu nho nhỏ, cái vỏ vân vân, nay anh còn nhầm, mai anh nhầm to… Lấy chồng từ tuổi 13… bữa nay 18… ối giời trăm con… Ra đường cứ tưởng còn son… về nhà ấy đã… giăm con mà cùng chồng… qua cầu… gió bay (x4)

oOo

Xuân Hinh, Thu Huyền & Thanh Mai – Qua Cầu Gió Bay (Lời cổ 2):

Liên Khúc: Qua Cầu Gió Bay & Buôn Bấc Buôn Dầu – Ngọc Hạ & Trần Thái Hòa (Lời cổ 2):

Qua Cầu Gió Bay – Tốp Ca (Lời cải biên):

Share this:

Facebook

Email

Thêm

In

Twitter

Reddit

Thích bài này:

Thích

Đang tải…

Cập nhật thông tin chi tiết về Về Kinh Bắc Nghe Câu Dân Ca Quan Họ trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!