Xu Hướng 12/2022 # Văn Lớp 11: Phân Tích Khổ 2 Bài Thơ Từ Ấy Của Tố Hữu / 2023 # Top 18 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Văn Lớp 11: Phân Tích Khổ 2 Bài Thơ Từ Ấy Của Tố Hữu / 2023 # Top 18 View

Bạn đang xem bài viết Văn Lớp 11: Phân Tích Khổ 2 Bài Thơ Từ Ấy Của Tố Hữu / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

BÀI VĂN PHÂN TÍCH KHỔ 2 BÀI “TỪ ẤY” Tố Hữu được mệnh danh là nhà thơ của dân tộc. Thơ ca của ông có ảnh hưởng rất lớn tới đời sống của nhân dân những năm Cách Mạng. Tập thơ “Từ ấy” mở đầu cho chặng đường thơ ca Cách mạng của ông. Bài thơ cùng tên sang tác năm 1938 như khúc hát sôi nổi về nhiệt huyết, tình yêu niềm tin với Đảng và Cách mạng. Mở đầu bài thơ là những câu thơ diễn tả cảm xúc dạt dào của người thanh niên trẻ tuổi, thì những vẫn thơ tiếp vẫn là mạch cảm xúc đó tác gải nói lên tiếng nói tình cảm gắn kết khối đại đoàn kết của dân tộc trong ánh sang Cách mạng Đảng.

“Tôi buộc lòng tôi vói mọi người Để tình trang trải với muôn nơi Để hồn tôi với bao hồn khổ Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”

Nhấn để mở rộng…

Tố Hữu tự nguyện“ buộc” lòng mình với long mọi người. Dưới ánh sáng của Cách Mạng, tác giả như hòa mình vào với muôn triệu trái tim Việt Nam. Từ “buộc” thể hiện sự gắn bó chặt chẽ, đoàn kết. Tác giả nguyện cùng đứng trong đau khổ, cùng đói nghèo, cùng vui sướng cùng hạnh phúc với người dân Việt Nam. Ông không ngại khổng ngại khó. Cũng từ chữ “buộc” ta như thấy được sự trách nhiệm của ông đối với dân tộc, đất nước. Trách nhiệm của một người dân Việt Nam là bảo vệ nền độc lập dân tộc. Trách nhiệm của người chiến sĩ Cách mạng là yêu thương lấy đồng bào, bảo vệ nhân dân thoát khỏi chiến tranh, thoát khỏi đói nghèo.

Tác giả “để tình trang trải với muôn nơi”. Phải chăng cái tình của tác giả bao la rộng lớn có thể “trang trải” tới muốn nơi? Đúng thế, đó là tình yêu với muôn vàn người dân đất Việt. Tình yêu đó bao la, tình yêu đó rộng lớn. Tác giảm uốn tình yêu của mình được hòa cùng tính yêu của muôn người. Đó là tình yêu to lớn, tình yêu gắn bó.

Không chỉ “trang trải tới muôn nơi” mà Tố Hữu còn muốn“ Để hồn tôi với bao hồn khổ”. “ Hồn khổ” đó là cách nói hình ảnh về những con người Việt Nam thời kì này bị chiến tranh làm cho đói nghèo, bị thực dân đàn áp, cuộc sống khó khan, vất vả. Những con người đó sống trong những tháng ngày tăm tối của nô lệ, của đàn áp. Tác giả nguyện để mình sống cùng những đau khổ, sống cùng những khó khan để san sẻ những nối khổ, nỗi đau của triệu người dân.

Điệp từ “ để” đứng ở đầu câu nhấn mạnh tình cảm, sự vị tha của một con người không chỉ yêu Cách Mạng mà yêu cả những con người xung quanh. Đó là lí tưởng mới khi ánh sang Đảng đã soi chiếu. Sống không chỉ vì ta mà còn vì mọi người. Câu thơ cuối vang lên đầy cảm xúc :

“Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”

Nhấn để mở rộng…

“Khối đời” một cách nói trừu tượng về tình đoàn kết, sự gắn bó chặt chẽ của mọi người dân đất Việt Nam. Đó là những con người cùng chung cảnh ngộ khó khan, cùng chung hoàn cảnh đau khổ. Đó cũng là cũng con người chung lí tưởng, chung chí hướng: sống vì đất nước, vì dân tộc, đấu tranh cho một hòa bình độc lập dân tộc. Tố Hữu muốn nhấn mạnh trong khó khăn gian khổ, con người cùng nhau gần gũi, cùng nhau sát cánh, cùng nhau đứng lên chiến đấu thể hiện tình đoàn kết, tình dân tộc thì mọi điều đều vượt qua dễ dàng.

Phân Tích Bài Thơ Từ Ấy Của Nhà Thơ Tố Hữu Ngữ Văn Lớp 11 / 2023

Nhà thơ Tố Hữu – một người chiến sĩ cộng sản, cánh chim đầu đàn của thơ ca cách mạng Việt Nam. Tuy sống trong thời kì bùng nổ của phong trào thơ mới nhưng Tố Hữu không chọn con đường này. Thay vào đó, ông sử dụng ngòi bút của mình để phục vụ cho cách mạng giải phóng dân tộc và công cuộc kháng chiến bảo vệ tổ quốc. Bằng giọng thơ lãng mạn, vần thơ gần gũi mà chân thành, thơ Tố Hữu đã ăn sâu vào trong tâm hồn của những người yêu văn chương Việt Nam. Trong số những tác phẩm tiêu biểu, nổi bật nhất là bài thơ “ Từ ấy” được trích trong tập thơ cùng tên của Tố Hữu.

  Tố Hữu (1920- 2002)  được sinh ra trong một gia đình nhà Nho ở Thừa Thiên Huế. Quê hương xứ Huế -  đất nhạc đất tình thân yêu, cộng thêm sự am hiểu nghệ thuật dân gian của cha mẹ đã nuôi dưỡng tâm hồn Tố Hữu. Từ đó, ông bắt mạch được với các thể loại văn học dân gian và cho ra đời những tác phẩm mang đậm yếu tố văn học dân gian. Đặc biệt, Tố Hữu đã rất thành công ở thể thơ lục bát. Ông tham gia hoạt động cách mạng bắt đầu từ năm 1937. Đến tháng 4 năm 1939, thực dân Pháp quay trở lại đàn áp phong trào cách mạng giải phóng thuộc điạ ở Đông Dương và Tố Hữu đã bị bắt trong cuộc đàn áp đấy. Từ 1939-1942, trong thời gian ngồi tù, Tố Hữu vẫn hướng đến cách mạng và sáng tác nhiều tác phẩm thơ ca, một trong số đó là phần “Xiềng Xích” trong tập thơ “Từ ấy”. Đến 1942, ông đã vượt tù, quay trở lại hoạt động cách mạng với Đảng Cộng Sản Việt Nam. Cả cuộc đời của ông gắn liền với thơ ca và những chặng đường lịch sử vẻ vang, hào hùng của dân tộc. Thơ Tố Hữu chất chứa chân thành và giàu cảm xúc, là những lời thủ thỉ tâm tình, là con đường song hành với con đường cách mạng Việt Nam. Những tập thơ xuất sắc nhất của Tố Hữu bao gồm : Từ ấy, Việt Bắc, Máu và Hoa… đã in sâu trong lòng và nhận thức người đọc. Đặc biệt là bài thơ “Từ ấy” nằm trong phần Máu Lửa của tập thơ cùng tên, được ra đời vào năm 1938, khi ông tham gia hoạt động cách mạng và được đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng Sản Đông Dương.

 “Từ ấy” là bài thơ đầu tay, đánh dấu một mốc son quan trọng trong cuộc đời của Tố Hữu khi ông bắt đầu đứng vào hàng ngũ của Đảng, sống và chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng con người. Tìm được lý tưởng, lẽ sống cao đẹp cũng là lúc ông gắn cuộc đời của mình với nhân dân với tổ quốc. 

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim”

Mở đầu bài thơ là cụm từ “Từ ấy”, trùng với nhan đề của bài thơ và là tên chung cho cả một tập thơ đầu tiên của Tố Hữu. Cụm từ phiếm chỉ thời gian và gợi nhiều cảm xúc đánh dấu một mốc thời gian quan trọng. Đây là khoảnh khắc tâm hồn rung động sâu thẳm nhất khi Tố Hữu trở thành một người chiến sĩ cộng sản và nhận ra lẽ sống ở đời. Tác giả sử dụng phép ẩn dụ “nắng hạ” để nói về ánh sáng của Đảng, của cách mạng. Ánh sáng mạnh mẽ, rực rỡ và huy hoàng như ánh nắng mùa hạ. Động từ mạnh “bừng” thể hiện sự bất chợt, giác ngộ, thức tỉnh một cách mạnh mẽ nhất, thôi thúc nhất trong tâm hồn thi sĩ. Là lúc lý tưởng của ông bắt với lý tưởng của Đảng. Ánh sáng cách mạng bừng tỉnh trong con người Tố Hữu từ trí tuệ cho đến trái tim. “Mặt trời chân lí” lại là một hình ảnh ẩn dụ nữa ám chỉ Cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Cách mạng như vầng thái dương, mang lại nguồn sống, ánh sáng cho vạn vật. Nếu như ở trên là động từ “bừng” thì ở câu thơ dưới từ là động từ mạnh “chói”. “Chói” là chiếu sáng, là xuyên qua, đến rất nhanh, rất mạnh nhưng để lại thức tỉnh rõ ràng về chân lí cách mạng. Tuổi trẻ vốn giàu ước mơ, khao khát lý tưởng lại gặp được chủ nghĩa cộng sản. Vì vậy đây là sự gặp gỡ, đồng điệu, giao thoa giữa hai lý tưởng, giữa lý tưởng tuổi trẻ của nhà thơ và lý tưởng cách mạng tạo nên niềm vui sướng mãnh liệt, chi phối cảm xúc của cái tôi trữ tình.

Từ đấy mà nhà thơ thốt lên:

“Hồn tôi như một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim”

Tố Hữu so sánh tâm hồn của mình như một khu vườn. Đó là từ khi nhận được ánh sáng của Đảng, hồn ông như một khu vườn bừng tỉnh lên sức sống có hoa lá, hương thơm và âm thanh tươi vui “rộn tiếng chim”. Nhà thơ bỗng vui sướng rộn ràng khi nhận ra ánh sáng cách mạng. Như cây cỏ vạn vật trong vườn nhận được ánh sáng của mặt trời trở nên tươi tốt, căng tràn sức sống. Đó một điều tất yếu. Tố Hữu cũng từng diễn tả cảm xúc này trong hai câu thơ:

“Đảng cho ta một trái tim giàu Thẳng lưng mà bước, ngẩng đầu mà bay” Nói rộng ra, ta có thể hiểu rằng từ khi có cách mạng, có Đảng lãnh đạo cuộc sống nhân dân được soi sáng,  thoát khỏi kiếp nô lệ xiền xích, thoát khỏi kiếp khổ cực không cơm áo gạo tiền đến với cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Khổ thơ đầu đã nhấn mạnh vai trò ánh sáng của Đảng đối với tâm hồn nhà thơ, là tình yêu là niềm say mê khi bắt gặp ánh sáng ấy. Trong thời kì thi nhân đang trăn trở tìm đến cái mới để quanh quẩn tìm lẽ đời, tìm lý tưởng sống như nào Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử… thì Tố Hữu bằng giác ngộ cách mạng đã tìm thấy mục đích sống to lớn của đời mình: chiến đấu vì quê hương đất nước, lấy cuộc đời riêng góp vào đời chung. Đó cũng là sự chuyển mình về nhận thức trong khổ thơ thứ hai:

 “ Tôi buộc lòng tôi với mọi người Để tình trang trải khắp muôn nơi Để hồn tôi với bao hồn khổ Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”

Từ khi bắt gặp được lý tưởng, xác định được mục tiêu của cuộc đời mình Tố Hữu giải bày những chân tình sâu sắc, những xúc cảm mãnh liệt với con người. Động từ mạnh “buộc” thể hiện tinh thần chủ động gắn bó, gần gũi với nhân dân lao động của người chiến sĩ cách mạng. Đây là tình cảm dựa trên sự tự nguyện, xuất phát từ trái tim. Để tình cảm đấy chan hòa đến với tất cả mọi người. “Buộc” phải đi đôi với trang trải. Tức là sau sự gắn kết, gần gũi là sự chia sẻ cảm thông với những số phận với những cuộc đời của bao nhiêu con người khổ cực ngoài kia. Chiến sĩ làm cách mạng ngoài chiến đấu còn phải có trách nhiệm, tinh thần gần gũi với cuộc sống của nhân dân, thấu hiểu và cảm thông với nhân dân.  Đó phải là sự gắn kết bằng tâm hồn “Để hồn tôi với bao hồn khổ”. Người làm cách mạng không thể xa rời với cuộc sống nhân dân, nếu không cách mạng sẽ không thành công, không thăng lợi. Ta điều biết, nhân dân Việt Nam đã trải qua nhiều sự thống khổ trước cách mạng tháng Tám, chung với nỗi đau dân tộc là cảnh dân đói rét lầm than, cảnh không nhà không ruộng, chịu áp bức bóc lột, không có cơm ăn áo mặc, không biết chữ, không được sống cuộc sống tự do vui vẻ. Đó cũng là điều khiến không chỉ nhà thơ mà hàng vạn người chiến sĩ cách mạng khắc khoải. Muốn đau với nỗi đau dân tộc, muốn sẻ chia nên tìm đến gắn bó tạo ra tình yêu thương giữa người với người để sống có niềm tin- niềm tin vào cách mạng, vào Đảng vào chủ nghĩa Cộng Sản.  Tố Hữu cũng từng tâm sự :

“ Có gì đẹp trên đời hơn thế Người với người sống  để yêu nhau “

Hình ảnh “mạnh khối đời” thể hiện sự yêu thương, đùm bọc và gắn bó tạo nên sức mạnh đoàn kết của những con người có chung một số phận, cụ thể ở đây là những người dân lao động cần lao ở Việt Nam. Đoàn kết là sức mạnh của Đảng, nguồn lực bên trong của một dân tộc. Với tình yêu với đời, với Đảng với nhân dân thì người chiến sĩ mới có thể tự nguyện chiến đấu hết mình vì sự nghiệp cao cả là giải phóng con người “vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hi sinh” .

“ Tôi đã là con của vạn nhà Là em của vạn kiếp phôi pha Là anh của vạn đầu em nhỏ Không áo cơm, cù bất cù bơ…”

Không chỉ buộc lòng mình gắn bó với nhân dân. Tố Hữu đã có những đổi mới trong tình cảm khi coi đất nước là nhà, mọi người dân đều là ruột thịt. Những kết cấu được lặp lại “ là con”, “là em”, “là anh” đã nhấn mạnh sâu sắc sự gắn bó ân tình của nhà thơ với nhân dân lao động cần lao, như những người thân trong gia đình. Tình cảm này là tình cảm máu mủ, tha thiết và thiêng liêng cao cả nhất đối với con người. Đọc cả khổ thơ ta cảm nhận được những rung động chân thành nhất, trong đó là chất chứa lo toan cho mọi kiếp người. Hình ảnh”vạn kiếp phôi pha” , “vạn đầu em nhỏ” có thể là những người đồng đội hi sinh anh dũng, có thể là những người đồng đội đang quật cường chiến đấu vì tổ quốc, cũng có thể là những người dân lao động nghèo đang sống từng ngày vất vả “không cơm áo”, “cù bất cù bơ”. Người thanh niên đang ở độ tuổi trưởng thành, đã có những thay đổi rõ rệt từ khi đứng vào hàng ngũ của Đảng. Bỏ đi giấc mơ “tôi” riêng biệt còn ích kỷ còn hẹp hòi để mơ một giấc mơ chung- giấc mơ của dân tộc. Lời thơ như những lời tuyên thệ nguyện xóa tan rào cản để hướng tới sự cảm thông, chia sẻ như ruột thịt của giai cấp bấy giờ. Đó cũng là lý tưởng, là niềm tin để Tố Hữu hoạt động cách mạng hăng say. Ông đã từng viết:

“Nếu là con chim chiếc lá Thì chim phải hót chiếc lá phải xanh Lẽ nào vay mà không trả Sống là cho đâu phải nhân riêng mình”

Như “chim phải hót” như lá phải xanh, đó quy luật tồn tại khách quan của sự vật. Cũng giống như với Tố Hữu ông quan niệm, sống không chỉ biết nhận mà là phải cho đi. “Cho” ở đây thể hiện sự dâng hiến, tự nguyện phục vụ của một người chiến sĩ cách mạng đối với quê hương đất nước, đối với đồng bào dân tộc.

Qua bài thơ “Từ ấy” ta thấy niềm vui sướng, hạnh phúc của một người thanh niên đang loay hoay đi tìm lẽ sống thì được giác ngộ lý tưởng cách mạng. Tố Hữu đã bộc lộ nỗi niềm với dân với đời một cách chân thành và sâu sắc nhất qua những vầng thơ lúc tươi vui, rạo rực lúc lãng mạn, trữ tình lúc lại lắng đọng, trầm ngâm.

Phân Tích Bài Thơ Từ Ấy Của Tố Hữu / 2023

Một con thuyền ra khơi không thể dạt theo những con sóng. Một cánh chim trên bầu trời không thể bị cuốn theo những cơn sóng vô định. Và một con người không thể tồn tại mà không có lí tưởng. Ở mỗi thời đại, con người mang trong mình lí tưởng khác nhau và có cách riêng để thể hiện ngọn lửa đam mê của mình. Là ngọn cờ đầu của thi ca cách mạng, Tố Hữu thể hiện niềm say mê lí tưởng và khát khao được chiến đấu, hi sinh cho cách mạng trên tinh thần lạc quan của người thanh niên cộng sản.

Nhà thơ Sóng Hồng từng nói: “Thơ là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp nhất”. Và có lẽ đặt bài thơ vào hoàn cảnh mà nó ra đời ta mới có thể ” thấu thị” những cung bậc cảm xúc của nhân vật trữ tình. Bài thơ ra đời vào cuộc cách mạng dân tộc dân chủ do Đảng cộng sản lãnh đạo nhân dân thực hiện để đấu tranh giành độc lập. Với trái tim hai mươi tuổi căng đầy sự sống, Tố Hữu đã đến với cách mạng bằng niềm phấn khích của người vừa tìm thấy con đường lí tưởng của đời mình. Nhân vật trữ tình hiện lên trong bài là người chiến sĩ trẻ tuổi với quan niệm cao đẹp về lí tưởng sống, lí tưởng cộng sản.

Hai tiếng “Từ ấy” vang lên trong nhan đề bài thơ như một tấm bản lề khép mở: khép lại quá khứ và mở ra tương lai. Quá khứ là bóng đêm tối tăm, mù mịt khiến cho con người đặc biệt lớp thanh niên rơi vào tâm trạng bế tắc, chán chường, người thì đến với thế giới tưởng tượng để trốn tránh hiện thực hoặc tìm quên bằng những cách của riêng mình. Nó dễ đưa con người ta tới bước đường lạc lối, tới ngã rẽ bơ vơ giữa dòng đời:

Chọn một dòng hay để nước trôi xuôi Ta đi ngơ ngác trong cuộc đời.

Nhưng “Từ ấy” nhà thơ đã tìm đượcc lối đi cho mình khi giác ngộ lí tưởng cộng sản. ” Từ ấy” trở thành một nốt ngân cao vút đánh dấu mốc son quan trọng trong cuộc đời tác giả, như một hồi chuông đánh thức bao lớp thanh niên lúc bấy giờ.

Mở đầu bài thơ là tiếng reo ca hân hoan, nồng nhiệt của một tâm hồn trẻ khao khát lẽ sống bắt gặp lí tưởng cộng sản:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim

Giây phút ấy được nhà thơ diễn tả bằng hình ảnh, từ ngữ và giọng điệu cao đẹp, trong sáng, reo vang. Lí tưởng cách mạng được ví như một nguồn sáng mới làm bừng sáng tâm hồn nhà thơ. Nguồn sáng ấy không phải là ánh thu vàng nhẹ hay ánh xuân dịu dàng mà là ánh sáng vừa rực rỡ vừa tinh khôi của một ngày nắng hạ. Nó bắt nguồn từ ” mặt trời chân lí”. Nếu mặt trời của thiên nhiên ban phát cho nhân gian ánh sáng, hơi ấm của sự sống thì Đảng cũng là nguồn sáng kì diệu tỏa lan tư tưởng đúng đắn, thuận lòng người, là tiếng chuông báo hiệu tương lai tươi sáng hơn. Ánh sáng của chân lí thần kì ấy xóa tan lớp mây mù dày đặc trong lòng người chiến sĩ, mở đường cho tia nắng chói rọi qua tim. Nó khiến bao tháng ngày “Bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nước/ Băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời” được trả lời, dẫn dắt.

Hai câu thơ sau với bút pháp trữ tình lãng mạn cùng hình ảnh so sánh đã diễn tả cụ thể niềm vui sướng vô hạn của nhà thơ trong buổi đầu đến với lí tưởng cộng sản:

Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim…

Đó là một khu vườn, một thế giới tràn đầy sức sống với hương sắc của các loài hoa, vẻ tươi xanh của cây lá, âm thanh rộn rã của tiếng chim hót. Hình ảnh thơ khiến ta liên tưởng tới vườn xuân trẻ trung căng tràn sức sốngtrong những câu thơ của Xuân Diệu:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật Này đây hoa của đồng nội xanh rì Này đây lá của cành tơ phơ phất Của yến anh này đây khúc tình si

Nếu Xuân Diệu vẽ lên vườn tình của lứa đôi nồng thắm thì thơ Tố Hữu là khu vườn của tình say mê lí tưởng, niềm khát khao được hòa nhập, được cống hiến. Hương thơm của lí tưởng cùng tiếng chim của lẽ yêu đời cứ trào dâng, cứ rộn ràng mãi trong tâm trí người thanh niên giàu nhiệt huyết. Lời thơ như sự phát hiện bất ngờ về một vùng đất mới – nơi sự sống đang sinh sôi nảy nở. Mặt trời chân lí như đổ ngập ánh nắng làm tốt tươi một vườn hồn.

Song “mặt trời chân lí” không chỉ đem lại cho người thanh niên nguồn sức sống mà với Tố Hữu lí tưởng còn là nguồn sáng làm rực rỡ lên một lẽ sống và một cách sống ở đời. Đó là yêu thương, là đùm bọc, là sẻ chia:

Tôi buộc lòng tôi với mọi người Để tình trang trải với muôn nơi Để hồn tôi với bao hồn khổ Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời.

Khác với nhân sinh quan của nhà thơ lãng mạn cùng thời “Ta là một là riêng là duy nhất/ Không có ai bè bạn nổi cùng ta”, người thanh niên cộng sản Tố Hữu đã hòa cái tôi nhỏ bé, yếu đuối như “cây sậy ven đường” của mình vào cái ta chung rộng lớn của quần chúng nhân dân cần lao. Nhà thơ nguyện “buộc”, nguyện gắn kết cuộc đời mình với cuộc đời của người nhân dân lao động Việt Nam, nguyện cùng họ trèo lái con thuyền tự do, dân chủ cập bến. Dường như Tố Hữu đã nhận ra cái nhỏ bé của mình trong cái rộng lớn của đất trời, cái hữu hạn của bản thân trước cái vô hạn của dòng đời. Bằng việc sử dụng hai động từ “buộc” và ” trang trải”, Tố Hữu thể hiện tinh thần đoàn kết, tình cảm nồng thắm chan hòa với nhân dân. Nhà thơ muốn thấu hiểu, san sẻ nỗi khổ của mọi người, muốn dùng ngọn lửa trong trái tim mình sưởi ấm trái tim của những con người đang ngày đêm lam lũ cực khổ, muốn khắp nơi trên Trái Đất này tràn ngập yêu thương.

Cùng với sự thay đổi nhận thức cuộc sống, nhà thơ dường như nhận ra trách nhiệm của mình với cuộc đời, với cách mạng:

Tôi đã là con của vạn nhà Là em của vạn kiếp phôi pha Là anh của vạn đầu em nhỏ Không áo cơm, cù bất cù bơ

Chân dung của thi sĩ vẫn tiếp tục hiện lên trong hình ảnh một con ngưởi ở giữa mọi người và của mọi người dân lao khổ: “là con của vạn nhà, của bạn kiếp phôi pha, của vạn đàn em nhỏ không áo cơm…”. Nhưng nhà thơ không đứng trên, không đứng ngoài những kiếp lầm than ấy để lắng nghe những âm thanh của nó dội lên trong lòng mình. Bởi ông đã coi mình là người của đại gia đình những con người cực khổ, là ruột thịt máu mủ, là con em của họ. Tố Hữu nguyện sẽ đứng vào hàng ngũ của những người “than bụi lầy bùn” để đấu tranh cho một ngày mai tươi sáng. Lời thơ đặc biệt xót xa khi nói về “vạn đầu em nhỏ không áo cơm cù bất cù bơ” tựa con chim non rũ cánh đi tìm tổ bơ vơ, tựa cánh hoa yếu ớt dạt trôi theo cơn sóng cuồn cuộn của cuộc đời. Cùng với đó động từ “là” nhắc lại vang lên âm hưởng mạnh mẽ lắng đọng khiến ta thêm yêu mến chàng trai trẻ yêu người, yêu đời này.

Bài thơ “Từ ấy” như tiếng hát hân hoan của người thanh niên, một người chiến sĩ chân chính luôn tuôn trào trong mình mạch nguồn của lí tưởng cách mạng. Đọc bài thơ, người đọc cảm nhận được Tố Hữu trong buổi đầu đến với cách mạng rất nồng nhiệt, tiếp nhận ánh sáng lí tưởng Đảng và có một sự nhận thức toàn diện về nhân sinh quan, thế giới quan. Thi sĩ Xuân Diệu dường như cảm nhận được mạch ngầm của cảm xúc tuôn trào trong từng vần thơ của Tố Hữu: “Thơ của chàng thanh niên Tố Hữu khi ấy từ trái tim vọt ra cũng như thơ của chúng tôi, cũng lãng mạn như thể chúng tôi, nhưng là thứ lãng mạn khác có nhiều máu huyết hơn, thơ chúng tôi chỉ đập cho mở cửa trời nhưng thơ Tố Hữu thì mới có chìa khóa: cách mạng, giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho người lao khổ”.

Nguyễn Thúy Huyền

Mẫu Văn Phân Tích Bài Thơ Từ Ấy Của Tố Hữu Xúc Tích / 2023

Bài thơ Từ Ấy của Tố Hữu được xem như một bản tuyên ngôn về lý tưởng cách mạng cho tầng lớp thanh niên trẻ. Nhưng không phải vì thế mà bài thơ khô cứng mà ngược lại rất mượt mà, tình cảm và đầy tính nghệ thuật.

Trong bài thơ, người thanh niên trẻ đã có một cuộc giác ngộ đầy tự hào, đầy say mê và mãnh liệt với lý tưởng cách mạng.

Bài 1. Bài văn của em Phạm Hoài Thương đã phân tích bài thơ Từ Ấy của Tố Hữu:

Trong nền văn học Việt Nam, Tố Hữu được coi là lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng. Từ một thanh niên trí thức tiểu tư sản, được giác ngộ lí tưởng, Tố Hữu đã trở thành một chiến sĩ cộng sản. Thơ Tố Hữu gắn với cuộc sông cách mạng và chính trị, thời sự đất nước. Từ ấy (1937 – 1946) là chặng đường đầu của thơ Tố Hữu. Từ ấy là bài thơ có ý nghĩa mở đầu và cũng có ý nghĩa như một tuyên ngôn về lẽ sống của một chiến sĩ cách mạng cũng là tuyên ngôn nghệ thuật của nhà thơ. Bài thơ cũng là tâm nguyện của người thanh niên yêu nước: niềm vui sướng, say mê mãnh liệt, những nhận thức mới về lẽ sống, sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm.

Sự vận động của tâm trạng nhà thơ được thể hiện sinh động bằng những hình ảnh tươi sáng, các biện pháp tu từ gợi cảm và ngôn ngữ giàu nhạc điệu.

Hai câu thơ mở đầu được viết theo bút pháp tự sự, nhà thơ kể lại một kỉ niệm không quên của đời mình:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim

Từ ấy là cái mốc thời gian có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đời cách mạng và đời thơ của Tố Hữu. Khi đó nhà thơ mới 18 tuổi, đang hoạt động tích cực trong Đoàn Thanh niện Cộng sản Huế, được giác ngộ lí tưởng cộng sản, được kết nạp vào Đảng. Bằng những hình ảnh ẩn dụ: nắng hạ, mặt trời chân lí, chói qua tim, Tô Hữu khẳng định lí tưởng cách mạng như một nguồn sáng mới làm bừng sáng tâm hồn nhà thơ. Nguồn sáng ấy không phài là ánh thu vàng nhẹ hay ánh xuân dịu dàng mà là ánh sáng rực rỡ của một ngày nắng hạ. Hơn thế, nguồn sáng ấy còn là mặt trời, và là mặt trời khác thường, mặt trời chân lí

Một sự liên kết sáng tạo giữ hình ảnh và ngữ nghĩa. Mặt trời của thiên nhiên đem lại cho nhân gian ánh sáng, hơi ấm, sự sống thì Đảng cũng là nguồn sáng kì diệu tỏa ra những tư tương đúng đắn, hợp lẽ phải, báo hiệu những điều tốt lành cho cuộc sống. Cách gọi lí tưởng như vậy thể hiện thái độ thành kính, ân tình. Thêm nữa, những động từ bừng (chỉ ánh sáng phát ra đột ngột.), chói (ánh sáng có sức xuyên mạnh) càng nhấn mạnh ánh sáng cùa lí tưởng đã hoàn toàn xua tan màn sương mù của ý thức tiểu tư sản và mờ ra trong tâm hồn nhà thơ một chân trời mới cùa nhận thức, tư tưởng, tình cảm.

Ở hai câu sau, bút pháp trữ tình lãng mạn, cùng với hình ảnh so sánh đã diễn tả cụ thế niềm vui sướng vô hạn của nhà thơ trong buổi đấu đến với lí tưởng cộng sản. Đó là một thế giới tràn đầy sức sông với hương sắc của các loài hoa, vẻ tươi xanh của cáy lá, âm thanh rộn rã của tiếng chim ca hót. Đối với khu vườn hoa lá ấy, còn gì đáng quý hơn ánh sáng mặt trời? Đôi với tâm hồn người thanh niên đang băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời, còn gì quý giá hơn khi có một lí tưởng như có cây hoa lá đón ánh sáng mặt trời, chính lí tưởng cộng sản đã làm tâm hồn con người tràn đầy sức sống và niềm yêu dời làm cho cuộc sông của con người có ý nghĩa hơn. Tố Hữu là một nhà thơ nên vẻ đẹp và sức sống mới ấy tâm hồn cũng là vẻ đẹp và sức sống mới của hồn thơ. Cách mạng không đối lập với nghệ thuật mà đã khơi dậy sức sông, đem lại một cảm hứng sáng tạo mới cho hồn thơ.

Trong quan niệm về lẽ sống, giai cấp tư sản và tiểu tư sản có phần đề cao cái tôi cá nhân chủ nghĩa. Khi được giác ngộ lí tưởng, Tố Hữu khẳng định quan niệm mới về lẽ sống và sự gắn bó hài hòa cái tôi cá nhân và cái ta chung của mọi người. Với động từ buộc , câu một là một cách nói quá thế hiện ý thức tự nguyện sâu sắc và quyết tâm cao độ của Tố Hữu muốn vượt qua giới hạn của cái tôi cá nhân để sống chan hòa với mọi người (trăm nơi là một hoán dụ chỉ mọi người sống ở khắp nơi). Với từ trang trải ở câu 2, có thể liên tưởng tâm hồn nhà thơ trải rộng với cuộc đời, tạo ra khả năng đồng cảm sâu xa với hoàn cảnh của từng con người cụ thể.

Hai câu thơ sau cho thấy tình yêu thương con người cùa Tố Hữu không phải là thứ tình thương chung chung mà là tình cảm hữu ái giai cấp. Câu 3 khẳng định trong mối liên hệ với mọi người nói chung, nhà thơ đặc biệt quan tâm đến quần chúng lao khổ. Ớ câu 4, khối đời là một ẩn dụ chỉ một khối người đông đảo cùng chung cảnh ngộ trong cuộc đời, đoàn kết chặt chẽ với nhau cùng phấn đấu vì một mục tiêu chung. Có thể hiểu: khi cái tôi chan hòa trong cái ta, khi cá nhân hòa mình vào tập thể cùng lí tưởng thì sức mạnh cúa mỗi người sẽ được nhân lên gấp bội.

Tóm lại, Tố Hữu đặt mình giữa dòng đời và trong môi trường rộng lớn của quần chúng lao khổ, ở đấy Tố Hữu đã tìm thấy niềm vui và sức mạnh mới không chì bằng nhận thức mà còn bằng tình cảm mến yêu, bằng sự giao cảm của những trái tim. Qua đó, Tố Hữu cũng khẳng định mối liên hệ sâu sắc giữa văn học và cuộc sống, mà chủ yếu là cuộc sống của quần chúng nhân dân.

Trước khi được giác ngộ lí tưởng, Tố Hữu là một thanh niên tiểu tư sản. Lí tưởng cộng sản không chỉ giúp nhà thơ có được lẽ sống mới mà còn giúp nhà thơ vượt qua tình cảm ích kỉ, hẹp hòi của giai cấp tiểu tư sản đế có được tình hữu ái giai cấp với quần chúng lao khổ. Hơn thế, đó còn là tình thân yêu ruột thịt. Những điệp từ là cùng với từ con, em, anh và số từ ước lệ vạn (chỉ số lượng hết sức đông đảo) nhấn mạnh, khẳng định một tình cảm gia đình thật đầm ấm, thản thiết, cho thấy nhà thơ đã cảm nhận sâu sắc bản thân minh là một thành viên cùa đại gia đình quần chúng lao khổ. Tấm lòng đồng cảm, xót thương của nhà thơ còn biếu hiện thật xúc động, chân thành khi nói tới những kiếp phôi pha (những người đau khổ bất hạnh, những người lao động vất vả, thường xuyên dãi dầu mưa nắng để kiếm sống) những em nhỏ không áo cơm cù bất, cù bơ (những em bé không nơi nương tựa phải lang thang vất vưởng, nay đây mai đó). Qua những lời thơ ấy, người đọc thấy được lòng căm hận của nhà thơ trước bao bất công, ngang trái của cuộc đời cũ. Chính vì những kiếp phôi pha, những em nhò cù bất cù bơ ấy mà người thanh niên Tố Hữu hăng say hoạt động cách mạng, và họ cũng trở thành đối tượng sáng tác chủ yếu của nhà thơ (cô gái giang hồ trong Tiếng hát sông Hương; chú bé đi ở trong Đi đi em; ông lão khốn khổ trong Lão đầy tớ; em bé bán bánh trong Một tiếng rao đêm,…).

Đến đây có thế thấy, về quan điểm nhận thức và sáng tác, bài thơ là tuyên ngôn cho tập Từ ấy nói riêng và cho toàn bộ tác phẩm của Tố Hữu nói chung. Cần nói rõ: đó là quan điểm của giai cấp vô sản với nội dung quan trọng là nhận thức sâu sắc về mổĩ quan hệ giừa cá nhân với quần chúng lao khổ, với nhân loại cần lao.

Từ ấy là lời tâm nguyện của thanh niên yêu nước giác ngộ và say mê lí tưởng cách mạng. Sự vận động của tâm trạng nhà thơ được hiện sinh động bằng những hình ảnh tươi sáng, bằng các biện pháp tu từ và ngôn ngữ giàu nhạc diệu. Từ ấy đánh dấu một thời điểm quan trọng trong cuộc đời Tố Hữu và trong sự nghiệp thơ ca của óng. Bài thơ không ngừng hấp dẫn độc giả các thế hệ.

Bài 2. Bài văn của em Trần Thanh Nhã đã phân tích bài thơ Từ Ấy của Tố Hữu:

1. Tố Hữu (1920 – 2002) là một nhà thơ lớn của dân tộc, là ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam. Cuộc đời thi sĩ và chiến sĩ của Tố Hữu luôn song hành với nhau. Trên hành trình vừa làm chiến sĩ vừa làm thi sĩ, Tố Hữu đã có nhiều cột móc quan trọng nhưng cột móc đáng chú ý nhất là cột móc khi giác ngộ lý tưởng Đảng vào 1937. Ở thời điểm này, Tố Hữu đã có một bài thơ ghi lại ấn tượng của buổi đầu ấy, bài thơ có tên “Từ ấy”. Bài thơ “Từ ấy” được in trong tập thơ cùng tên, là một trong những bài thơ đặc sắc của Tố Hữu. Bài thơ là tiếng reo vui của người thanh niên trai trẻ Tố Hữu khi được giác ngộ lý tưởng Đảng và nhận thức mới của người thanh niên ấy khi đi với cách mạng. Tiếng reo vui của buổi đầu đi với cách mạng được Tố Hữu thể hiện một cách rất hình ảnh và sinh động.

“Từ ấy” là thời điểm người thanh niên Tố Hữu đến với cách mạng, được giác ngộ lý tưởng Đảng. Thời điểm ấy trong tâm hồn nhà thơ có một sự nồng ấm nồng nhiệt của một nhiệt huyết cách mạng mà nhà thơ đã cảm giác như một thứ nắng hạ chói chan. Cảm giác ấy là vì lý tưởng Đảng, ánh sáng cách mạng như là “mặt trời chân lý” bừng sáng “chói qua tim”. Tim là nơi hội tụ của tâm hồn, tư tưởng, tình cảm, ánh sáng chân lí chói qua tim là một sự sáng bừng sáng tỏ trong tình cảm, trong nhận thức của người thanh niên cách mạng.

Sau khi được ánh sáng Đảng, lý tưởng cách mạng như mặt trời chân lý rọi vào sáng tỏ thì nhà thơ cảm thấy tâm hồn mình như được hồi sinh.

“Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim”.

Như ta đã biết trong bài thơ “Một nhành xuân” 1980, Tố Hữu đã tự thuật lại quãng đời trước kh gặp lý tưởng Đảng rằng:

Một tâm hồn kho héo như thế nay bỗng nhiên trỗi dậy hồi sinh. Nhà thơ cảm thấy trong tâm hồn mình xanh tươi như “một vườn hoa lá” có hương sắc hương thơm và cả “rộn tiếng chim”. Cũng có nghĩa là tâm hồn như được sống lại, rạo rực mê say, có đủ âm thanh màu sắc. Thật khó có hình ảnh nào ví về sự hồi sinh tâm hồn hình ảnh hơn thế, sinh động hơn thế. Bốn câu thơ mở đầu với những hình ảnh thơ mới lạ sáng tạo, nhà thơ vừa thể hiện được cảm giác reo vui khi lý tưởng Đảng soi rọi vào tâm hồn mình, khi tâm hồn mình được hồi sinh dưới ánh sáng chân lý Đảng.

b. Sau khi tiếp nhận lý tưởng Đảng và hồi sinh tâm hồn, người thanh niên cộng sản Tố Hữu đã có một sự thay đổi về nhận thức, đó là phải gắn bó yêu thương những người lao khổ để xiết chặt đội ngũ chiến đấu, tác giả viết:

Nếu như các nhà thơ lãng mạn cùng thời chưa có một nhân sinh quan sống đúng, họ sống chán nản hoặc tách biệt với nhân dân. Chẳng hạn như Xuân Diệu viết:

“Ta là một là riêng là thứ nhất Không có ai bè bạn nổi cùng ta”. Hay như Chế Lan Viên thì nói: “Nhân dân ở quanh ta mà ta chẳng biết Thơ xuôi tay như nước chảy xuôi dòng”.

Thì Tố Hữu lại có một nhận thức mới mẻ đúng đắn đó là:

“Tôi buộc lòng tôi với mọi người Để tình trang trải với trăm nơi”.

Buộc là một cách nói ngoa dụ nhưng nhằm nhấn mạnh sự gắn bó đoàn kết với mọi người với nhân dân. Và Tố Hữu xác định gắn bó đoàn kết chưa đủ mà phải trang trải tình cảm, chia sẽ yêu thương với trăm nơi với mọi nhà. Hai chữ “buộc” và “trang trải” tình cảm với mọi người với trăm nơi đã thể hiện cái nhận thức khá toàn diện về một quan niệm sống mới, tức là một nhân sinh quan mới.

Sau nhận thức buộc và trang trải tình cảm nhà thơ còn thể hiện một nhận thức mới cụ thể hơn, đó là buộc và trang trải tình cảm với bao hồn khổ là với những con người lao khổ, để không ngoài mục đích là cho “mạnh khối đời” cho mạnh đội ngũ chiến đấu. Như vậy quan niệm về gắn bó và chia sẽ tình cảm của Tố Hữu có địa chỉ cụ thể và có mục đích cụ thể. Khổ thơ thứ hai nhà thơ đã phản ánh kết quả của lý tưởng Đảng được soi chiếu vào tâm hồn nhà thơ ở khổ thơ thứ nhất. Đó là sự hình thành một nhân sinh quan mới, đó là quan niệm sống vì mọi người vì cách mạng.

c. Sau khi diễn tả quá trình tiếp nhận ánh sáng Đảng, sự thay đổi nhận thức cuộc sống, nhà thơ đi đến nêu lên trách nhiệm của mình đối với cuộc đời đối với cách mạng. Trách nhiệm đó được nhà thơ thể hiện rất cụ thể:

Với vạn nhà thì làm con, với những kiếp phôi pha là quá khứ cha ông thì làm em, còn với những em nhỏ cù bất cù bơ thì làm anh. Con của mọi nhà thì phải trung hiếu với mọi nhà, em của kiếp phôi pha thì phải noi gương tiếp bước cha ông trong quá khứ, còn làm anh của đàn em nhỏ thì phải nâng đỡ che chở cứu rỗi cho họ. Nhà thơ nêu lên trách nhiệm của mình nhưng không phải chung chung mà rất cụ thể, rất đúng với vai trò của người thanh niên trong thời điểm thời bấy giờ. Đặc biệt ở khổ thơ này tác giả có đề cập đến hình ảnh làm anh những đàn em nhỏ cù bất cù bơ, đó cũng chính là một trách nhiệm đối với những hồn lao khổ mà tác giả đã nói ở phần thơ trên.

3. Bài thơ “Từ ấy” đã ghi lại một cột móc trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Tố Hữu. Đọc bài thơ này, người đọc cảm nhận được một Tố Hữu trong buổi đầu đến với cách mạng đã rất nồng nhiệt tiếp nhận ánh sáng lý tưởng Đảng và có một sự thay đổi khá toàn diện về nhận thức về nhân sinh quan và thế giới quan. Tuy viết về một thời khắc lịch sử, một thời điểm lịch sử hoạt động cách mạng của mình nhưng Tố Hữu không diễn đạt một cách khô khan mang tính khẩu hiệu, mà trái lại được diễn đạt một cách sinh động qua những hình ảnh rất gợi hình gợi cảm. Vì thế một bài thơ cách mạng những vẫn xanh tươi trong lòng người đọc.

Bài 3. Bài văn của em Trần Khánh Ly đã phân tích bài thơ Từ Ấy của Tố Hữu:

Bài thơ “Từ ấy” được Tố Hữu sáng tác vào tháng 7/1938; nhan đề bài thơ trở thành tên tập thơ đầu của ông. Có thể nói ” Từ ấy” là tiếng hát của người thanh niên yêu nước Việt Nam giác ngộ lí tưởng Mác Lê Nin trong ngày hội lớn của cách mạng.

Người thanh niên học sinh Tố Hữu đã đón nhận lí tưởng ấy không chỉ bằng khối óc mà bằng cả con tim, không chỉ bằng nhận thức lí trí mà xuất phát từ tình cảm:

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ, Mặt trời chân lí chói qua tim.”

Từ ấy đã làm cho tâm hồn Tố Hữu” bừng nắng hạ” đó là một luồng ánh sáng mạnh mẽ, rực rỡ của nắng vàng chứa chan hạnh phúc ấm chúng tôi tỏ vào những bài thơ sau này ta mới thấy hết được niềm vui sướng của Tố Hữu trước ánh sáng huy hoàng của chân lí.

“Đời đen tối ta phải tìm ánh sáng Ta đi tới chỉ một đường cách mạng”

Và đó mới là bản chất của lí tưởng cộng sản đã làm người thanh niên 18 tuổi ấy say mê, ngây ngất trước một điều kì diệu:

Mặt trời chân lí chói qua tim

Mặt trời chân lí là một hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho lí tưởng của Đảng,của cách mạng , mặt trời của chủ nghĩa xã hội. Tố Hữu với tấm lòng nhiệt thành của mình đã tự hào đón lấy ánh sáng của mặt trời, sẵn sàng hành động cho lí tuởng cách mạng cao đẹp.Bởi lí tưởng đã “chói” vào tim- chính là nơi kết tụ của tình cảm, là nơi kết hợp hài hòa giữa tâm lí và ý thức trí tuệ chỉ thực sự hành động đúng khi có lí tưởng cách mạng, khi có ánh sáng rực rỡ của mặt trời chân lí chiếu vào. Lý tưởng Cách mạng đã làm thay đổi hẳn một con người, một cuộc đời. So sánh để khẳng định một sự biến đổi kì diệu mà lí tưởng Cách mạng đem lại:

“Hồn tôi là một vườn hoa lá, Rất đậm hương và rộn tiếng chim.”

Cái giọng điệu rất tỉnh và rất say rạo rực và ngọt lịm hồn ta chủ yếu là cái say người và lịm ngọt của lí tưởng, của niềm hạnh phúc mà lí tưởng đem lại :”hồn” người đã trở thành “vườn hoa”, một vườn xuân đẹp ngào ngạt hương sắc, rộn ràng tiếng chim hót.Ở đây hiện thưc và lãng mạn đã hòa quyện vào nhau tạo nên cái gợi cảm, cái sức sống cho câu thơ.

Nếu khổ đầu là một tiếng reo vui phấn khởi thì khổ thứ hai và thứ ba là bản quyết tâm thư của người thanh niên cộng sản nguyện hòa cái tôi nhỏ bé của mình vào cái ta chung rộng lớn của quần chúng nhân dân cần lao.Người đọc thật sự cảm động bởi thái độ chân thành thiết tha đến vồ vập của một nhà thơ vốn xuất thân từ giai cấp tiểu tư sản tự giác và quyết tâm gắn bó vớI mọi người:

“Buộc” và “trang trải”là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau nhưng nó đều nằm trong nhận thức mới về lẽ sống của Tố Hữu. “Buộc” là đoàn kết gắn bó, tự nguyện gắn bó đời mình với nhân dân cần lao, với hết thảy nhân dân lao động Việt Nam. Xác định vị trí của mình là đứng trong hàng ngũ nhân dân lao động chưa đủ, Tố Hữu còn biểu hiện một tinh thần đoàn kết, tình cảm nồng thắm, chan hòa với nhân dân.Tình yêu người, yêu đời trong Tố Hữu đã nâng lên thành chủ nghĩa nhân đạo cộng sản.Nhà thơ muốn được như Mác: “Vì lẽ sống, hy sinh cho cuộc sống – Đời với Mác là tình cao nghĩa rộng”., mong ước xây dựng một khối đời vững chắc làm nên sức mạnh quần chúng cách mạng.Từ đó Tố Hữu đã thể hiện niềm hãnh diện khi được là một thành viên ruột thịt trong đại gia đình những người nghèo khổ bất hạnh:

Tố Hữu nguyện sẽ đứng vào hàng ngũ những người “than bụi, lầy bùn”là lực lượng tiếp nối của “vạn kiếp phôi pha”, là lực lượng ngày mai lớn mạnh của “vạn đầu em nhỏ”,để đấu tranh cho ngày mai tươi sáng.Điệp từ “là” được nhắc đi nhắc lại, nó vang lên một âm hưởng mạnh mẽ lắng đọng trong tâm hồn ta một niềm cảm phục, quý mến người trai trẻ yêu đời, yêu người này. Với một tình cảm cá nhân đằm thắm, trong sáng, “Từ ấy” đã nói một cách thật tự nhiên nhuần nhụy về lí tưởng, về chính trị và thật sự là tiếng hát của một thanh niên, một người cộng sản chân chính luôn tuôn trào trong mình mạch nguồn của lí tưởng cách mạng.

Bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu là một bài thơ vừa có tính triết lý sâu sắc, vừa rất gần gũi, bình dị, thân thuộc. Sau mấy chục năm đọc lại, những vần thơ đó vẫn là một câu hỏi thấm thía mà những người cộng sản hôm nay không thể không suy ngẫm một cách nghiêm túc để tự mình tìm ra lời giải đáp thấu đáo. Giữa cái chung và cái riêng, giữa cộng đồng – tập thể và cá nhân, giữa vật chất tầm thường và tinh thần – tư tưởng của người cộng sản.

Cập nhật thông tin chi tiết về Văn Lớp 11: Phân Tích Khổ 2 Bài Thơ Từ Ấy Của Tố Hữu / 2023 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!