Xu Hướng 2/2023 # Tự Hào Nam Định Quê Hương # Top 5 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Tự Hào Nam Định Quê Hương # Top 5 View

Bạn đang xem bài viết Tự Hào Nam Định Quê Hương được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Nhà thơ Nguyễn Thế Kiên chúc mừng CLB xuất bản tập thơ 7 Tiếng vọng thành Nam

Nam Định – Quê hương yêu dấu, miền văn hóa “Non Côi, Sông Vị” giàu truyền thống văn chương với những tên tuổi thi nhân lừng lẫy: Tú Xương, Nguyễn Bính, Á Nam Trần Tuấn Khải… niềm tự hào của người dân Nam Định.

Những người con Nam Định đang sinh sống, làm việc và học tập tại thủ đô Hà Nội cũng như mọi miền đất nước luôn hướng về cội nguồn với tình yêu, nỗi nhớ và niềm tự hào về quê hương đất học Thành Nam.

Câu lạc bộ thơ văn Tiếng vọng Thành Nam của những người con Nam Định và những người từng sống, làm việc, gắn bó với Thành Nam như quê hương thứ hai của mình. Họ có cùng sở thích văn chương và nặng nghĩa tình với quê nhà Nam Định.

Ra đời cách đây 6 năm, là thành viên của Hội Đồng hương Nam Định tại Hà Nội, câu lạc bộ thơ văn Tiếng Vọng Thành Nam thường tổ chức sinh hoạt giao lưu thơ văn vào  ngày mồng 7 dương lịch hàng tháng.

Mỗi dịp Tết đến Xuân về, Câu lạc bộ đều xuất bản tập thơ văn do các hội viên lựa chọn những bài thơ tâm đắc trong số các bài thơ đã sáng tác của mình.

Xuân Kỷ Hợi (2019), Câu lạc bộ cho ra đời tập thơ thứ 7 như một món quà Xuân dành tặng khách quí và những người thân.

Với gần 230 bài thơ, của 50 tác giả là hội viên và khách mời, Tiếng vọng Thành Nam tập 7 khá dày dặn, hơn 300 trang phản ánh sinh động hiện thực đời sống xã hội với những góc nhìn đa chiều tạo nên sự phong phú về nội dung, đa dạng về nghệ thuật.

3 nhà thơ được Hội đồng hương tỉnh Nam Định tại Hà Nội đưa vào Hội Nhà văn Thành phố Hà Nội

Năm nay, Tiếng vọng Thành Nam lại tiếp tục được nhà báo, nhà thơ Hồng Vinh, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên phó Trưởng Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương gửi thơ đăng. Đặc biệt, nhà thơ Vũ Mão, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, đồng hương Nam Định, khách mời của CLB Tiếng vọng Thành Nam có bài thơ rất sinh động viết về Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn – Đức Thánh Trần – niềm tự hào của dân tộc ta. Bài thơ “Người Anh Cả” viết về cố Tổng bí thư Trường Chinh – Người con của quê hương Nam Định với tình cảm thân thiết, chân tình: “Bền bỉ Trường Chinh nhân, đức, trí/ Thủy chung tình nghĩa mấy thân thương…”

Tiếng vọng Thành Nam tập 7 số lượng thơ viết về quê hương khá nhiều, hơn 30 bài chiếm 17% số bài thơ in trong tập. Đó là những bài thơ: Quê tôi, Nam Định quê tôi, Hải Hậu quê ta, Về quê, Về quê đón Tết, Về Vị Xuyên, Tình quê, Nhớ quê xưa, Thao thức cùng quê, Nghĩa tình đồng hương, Hạt gạo Xuân Thành, Gái Thành Nam, Gái Xuân Trường, Quả ngọt vườn xưa, Một thời heo may…

Nhà thơ Đỗ Thanh Uyên giới thiệu tập 7 Tiếng vọng thành Nam

Giới thiệu về quê hương Nam Định, tác giả Nguyễn Trọng Cẩn viết những vần thơ đầy niềm tự hào, phấn khởi: “Chợ Viềng nổi tiếng từ lâu/ Du xuân vẫn nhớ qua cầu Đò Quan/ Đến chợ Rồng ra Đại An/ Em mua chuối Ngự về làm quà chung…”

Những bài thơ viết về mẹ kính yêu với những tình cảm thân thương, biết ơn công sinh thành dưỡng dục làm xúc động lòng người. Đó là những bài thơ: Mẹ ơi, Hoa xuân dâng mẹ, Tìm mẹ, Quê mẹ, Lời ru của mẹ… Bài thơ “Đêm mưa nhớ mẹ”của tác giả Vũ Xuân Do, Chủ nhiệm CLB với nhiều liên tưởng, những mong ước thật chân tình làm lay động lòng người: “Con muốn được làm cây lúa mẹ ơi/ Hứa hẹn bội thu mùa vàng trĩu hạt/ Để lòng mẹ dạt dào bao câu hát/ Giai điệu vui… trong khúc nhạc được mùa”

Đó là những bài thơ viết về những người con của quê hương Nam Định đã hy sinh tuổi thanh xuân của mình trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong bài thơ “Tưởng niệm” của nhà thơ Lê Quang Định viết về nữ thanh niên xung phong Nam Định không ngại hy sinh, lao vào ga Gôi cứu hàng những năm máy bay Mỹ ném bom phá hoại miền Bắc: “C895 nữ thanh niên xung phong phơi phới tuổi xuân thì/ Lao vào ga Gôi cứu tầu thời chống Mĩ/ Bom phá xé trời mịt mù khói độc/ Sát thương hàng loạt bom bi…”.

Đó là các bài thơ về mùa xuân, về tình yêu, về gia đình, về phong cảnh quê hương, đất nước, về thời sự kinh tế – xã hội… những bức tranh đa sắc màu phong phú tạo nên diện mạo và sự hấp dẫn của tập thơ.

Phần văn chương có đoản văn “Em và tôi đi chợ tình Khâu vai” khá hấp dẫn của nhà Nghiên cứu và phê bình văn học Song Vũ Hoàng Phương. Ba bài bình và cảm nhận thơ Hội viên CLB của các tác giả Trần Kim Ngọc và Nguyễn Đình Nguộc. Cuối tập thơ là hai bản nhạc phổ thơ của hội viên CLB Nguyễn Trọng Cẩn và Nguyễn Tiến Lãng. Đặc biệt, bản nhạc “Trái tim hồng” hội viên Đỗ Minh Hằng phổ nhạc dựa theo ý thơ của hội viên Nguyễn Ngọc Cơ góp phần tăng thêm sự hấp dẫn của tập thơ.

Tự hào Nam Định quê hương

Về nghệ thuật, chất lượng các bài thơ được nâng lên. Những bài thơ khá trở lên năm nay đã tăng rõ rệt. Về thể loại, thơ tự do tuy vẫn chiếm tỷ lệ cao nhưng đã giảm đáng kể so với tập trước, chỉ còn dưới 50%. Thơ lục bát tăng lên, với 109 bài, chiếm hơn 47%.

Đặc biệt thơ thất ngôn bát cú, thất ngôn bát cú liên hoàn chiếm gần 11% (25 bài) của các tác giả: Trịnh VănToản, Hà Bích, Nguyễn Thanh Hà, Lâm Chương, Vũ Thị Phim, Vũ Kiểm, Đỗ Thanh Uyên… Ca trù và hát văn – loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo ở miền quê Nam Định, tăng lên 5 bài (tập trước 1 bài) của các tác giả quen thuộc: Thanh Nhã, Vũ Kiểm, Thanh An. Nhà thơ Cao Ngọc Châu với 30 bài thơ 2 câu độc đáo tạo nên một trong những điểm nhấn của tập thơ. Tác giả Nguyễn Trọng Cẩn tiếp tục “trình làng” hai bài thơ lục bát “Nam Định quê tôi” và “yêu quê” kỳ công, mỗi bài 23 câu, chữ cái đầu theo vần A, B, C… Không ít tác giả chơi thơ, tìm tòi, sáng tạo, thể nghiệm những loại hình nghệ thuật thơ mới lạ góp phần tăng thêm sự hấp dẫn của tập thơ.

Có thể nói, Tiếng vọng Thành Nam tập 7 là một tập thơ đáng đọc! Đó là tâm huyết và kết quả lao động sáng tạo của 50 Hội viên và khách mời góp phần tạo nên sự thành công của Tập thơ. Đây thật sự là món quà Xuân đầy ý nghĩa để Hội viên, Quý khách và bạn thơ thưởng thức trong dịp năm mới 2019 và Xuân Kỷ Hợi. Tuy nhiên, đây là tập thơ của một Câu lạc bộ nên có thể có những bài thơ bạn đọc chưa thật hài lòng. Hy vọng bạn thơ sẽ tìm được những bài thơ tâm đắc.

NAM ĐỊNH QUÊ TÔI

(Theo 23 chữ cái A, B, C) 

Ai về lễ hội Đền Trần

Buổi đêm khai ấn trước sân Rồng chầu

Chợ Viềng nổi tiếng từ lâu

Du xuân vẫn nhớ qua cầu Đò Quan

Đến chờ Rồng, ra Đại An

Em mua chuối ngự về làm quà chung

Gạo tám Hải Hậu thơm lừng

Hòa cùng bánh nhãn, bánh chưng Bà Thìn

Ít nhiều vẫn giữ niềm tin

Kẹo Sìu châu đó đã nhìn là mua

Lại về với biển theo mùa

Mặn mòi Hải Thịnh tranh đua đón mời

Nhìn về Hành Thiện mà coi

Ông Trường Chinh với lớp người nêu gương

Phủ Giầy, xin thắp tuần hương

Quy mô thờ Mẫu, con đường tâm linh

Rồi đi Cổ Lễ – Nam Ninh

Sức dân sáng tạo công trình cổ xưa

Thăm thành phố Dệt bây giờ

Uống “Na Đa” nhớ bạn thơ Thiên Trường

Viếng thăm ngôi mộ Tú Xương

Xôn xao Bến Ngự, nhớ thương cảnh đời

Yêu sao Nam Định quê tôi.

                           Tác giả Nguyễn Trọng Cẩn

ĐÊM MƯA NHỚ MẸ

Chiều Trường Sơn mây trôi lang thang

Giai điệu buồn mưa rơi rả rích

Tiếng côn trùng rừng hoang cô tịch

Thương mẹ già tần tảo sớm trưa

Thổn thức hoài trong đêm gió mưa

Ruộng nhà ta chắc mẹ vừa mới cấy

Con thương mẹ tiết trời đông ngoài ấy

Rét cắt da …Mẹ vẫn phải xuống bùn

Nhánh mạ non bàn tay mẹ run run

Như nâng niu con, cái thời thơ bé

Tỏa hơi ấm từ trong lòng của mẹ

Cây lúa non, ngay ngắn vững giữa trời

Con muốn được làm cây lúa mẹ ơi

Hứa hẹn bội thu mùa vàng trĩu hạt

Để lòng mẹ dạt dào bao câu hát

Giai điệu vui …Trong khúc nhạc được mùa.

Tác giả: Vũ Xuân Do

QUÊ MẸ

Lòng bâng khuâng về quê mẹ

Con sông Đào ngọt mát phù sa

Hải Hậu quê hương – quê muối đậm đà

Nối đôi bờ cầu Ngói yêu thương

Lòng bâng khuâng về quê mẹ

Lúa ven đồng ngào ngạt hương thơm

Đất quê mình “Quần Anh văn hiến”

“Mỹ tục khả phong” từ ngàn xưa

Đất biển ơi!

Hải Hậu yêu thương tình người đằm thắm

Da diết lời cha “cây đức con trồng”

Tiếng thoi đưa lời ru lòng mẹ

Lòng biển khơi cho tôm cá đầy khoang

Đất biển ơi!

Hải Hậu yêu thương tình người đằm thắm

Thắm ngày hè phượng đỏ tiếng ve

Thắm tình thày trò, bạn bè bao kỷ niệm

Về quê mẹ mùa xuân vui ngày hội

Xao xuyến bâng khuâng…

Thương nhớ! …

Đến nao lòng! …

                         Tác giả: Trần Thị Hoa Đăng

TIẾNG VỌNG THÀNH NAM

(Thể ca Trù )

Mưỡu:

Giá như không có ta – mình

“Thành Nam tiếng vọng” cũng thành hư vô

Ới ai! … Thơ túi rượu vò

Ngàn sau, lục bát tiền đồ là đâu

Hát nói:

Thành Nam tiếng vọng

Nghe ếch kêu, còn lắng đọng đâu đây

Kìa non sông, đất nước, trời mây

Nọ bến Ngọc, đường Vàng tiếp bước…

Thơ lục bát, vọng lời tổ quốc

Khúc ca trù, dậy tiếng quê hương

Đất học Thành Nam, đạo lý, cương thường

Văn chính khí, thơ Sóng Hồng tuyệt tác

Giòng trào lộng cụ Tú Xương uyên bác

Khi bổng, lúc trầm … dào dạt thanh tao

…. Thành Nam rất đỗi tự hào!

                                      Tác giả Thanh Nhã

BÊN THỀM XUÂN

Phố khuya tiễn biệt đông gày

Sớm mai xuân đến, kịp thay áo rồi

Đã nghe lộc biếc bung chồi

Lây phây mưa bụi đất trời vào xuân

Đào, Mai ủ nụ trên cành

Gió xuân khe khẽ lay mành đó sao?

Thắt lưng xanh, dải yếm đào

Hội chèo Làng Đặng khi nào khai xuân

Tác giả: Trần Kim Ngọc

NẺO QUÊ

(Giao lưu thơ CLB Tiếng Vọng Thành Nam

cùng CLB thơ Việt Nam tỉnh Nam Định)

Cuối thu thấp thoáng mưa bay

Trời se se lạnh cho ngày sang đông

Hội trường rộn rã ấm nồng

Giao lưu thơ phú nối vòng hai quê

Thành Nam Tiếng Vọng tìm về

Thơ Nam Định đón tràn trề tình thân

Nẻo quê xa mấy cũng gần

Lòng vui khôn xiết mỗi lần về quê

Tác giả: Trần Kim Ngọc

THÁNG BA VỀ

Tháng Ba trổ mùa gạo đỏ

Thắp lửa trời quê rực rỡ

Dòng sông ánh màu hoa đỏ

Bóng người… nghiêng nắng hè sang.

Hoa bưởi thơm đêm tháng Ba

Gió xưa thoảng mùa tinh khiết

Tóc em hương bưởi nhiệm màu

Tháng Ba một trời riêng nhớ…

Này hoa xoan tím khoe màu

Mỏng manh đỡ làn gió nhẹ

Đâu rồi từng trang tuổi trẻ

Tay mềm… đậu cánh hoa rơi.

Tháng Ba quê nhà mở hội

Phủ Dầy hiện giữa ngàn xanh

Có người chiều nay tóc trắng

Chầu văn… nhập phía xanh đồng.

Vụ Bản, Xuân 2018

Tác giả: Nguyễn Đình Nguộc

Một Số Bài Ca Dao Về Quê Hương Nam Định

Thuyền ngược hay là thuyền xuôi Thuyền về Nam Định cho tôi ghé nhờ Con gái chỉ nói ỡm ờ Thuyền anh chật chội còn nhờ làm sao! Miệng nói, tay bẻ lái vào Rửa chân cho sạch bước vào trong khoang Thuyền dọc anh trải chiếu ngang Anh thì nằm giữa hai nàng nằm bên.

Em là con gái Phù Long

Quê em Cồn Vịt, lấy chồng vườn Dâu Dù đi buôn đâu bán đâu Cũng về giữ đất trồng dâu chăn tằm.

Hỡi cô thắt dải lưng xanh Có về Nam Định với anh thì về Nam Định có bến Đò Chè Có tàu ngô khách, có nghề ươm tơ.

Chợ Vị Hoàng tháng sáu phiên Gặp cô hàng xén kết duyên bán hàng Hàng cô cánh kiến vỏ vang Giây thau giây thép giây đàn lưỡi câu Gương soi với lược chải đầu Hòn son bánh mực gương Tàu bày ra Đèn nhang sắp để trong nhà Giấy tiền vàng bạc đem ra bày hàng.

Bán cơi trầu muộn, mua khuôn đúc vàng

Mà duyên sao vẫn bẽ bàng ngày qua.

Mồng một chơi cửa, chơi nhà Mồng hai chơi xóm, mồng ba chơi đình. Mông bốn chơi chợ Quả linh Mồng năm chợ Trình, mùng sáu non Côi. Qua ngày mồng bảy nghỉ ngơi Bước sang mồng tám đi chơi chợ Viềng Chợ Viềng một năm có một phiên Cái nón em đội cũng tiền anh mua.

Nhắn dùm cô lái đò ngang năm nào

Thuyền cô bên bến cắm sào

Hay là đã đón khách vào phố trong.

Thành Nam cảnh trí an bài

Phố phường trên bộ, vạn chài dưới sông.

Nhất thành là phố Cửa Đông

Nhất lịch Hàng Ghế, Hàng Đồng, Hàng Thao

Hàng Giầy đẹp khách yêu đào

Muốn tìm quốc sĩ thì vào Văn Nhân

Lại lều lại chõng về thăm Cửa Trường.

Ngọt ngào lên đến Hàng Đường

Say sưa Hàng Rượu, phô trương Hàng Cầm

Hàng Tiện, Hàng Sũ, Hàng Mâm

Gặp nhau Bến Gỗ, vui sân một nhà.

Hàng Cót, Hàng Sắt bao xa

Ai về Bến Ngự rẽ ra Khoái Đồng.

Vải Màn nhỏ chỉ, nõn bông

Hàng Cấp dệt lĩnh, Hàng Song buôn thừng.

Hàng Dầu, Hàng Lạc, Hàng Vừng,

Hàng Nâu tươi vỏ đỏ lòng vốn quen

Hàng Vàng lắm bạc nhiều tiền

Hàng Sơn gắn bó gần bên Hàng Quỳ.

Trăm năm nghĩa bạc tình nghi

Hàng Đàn, Hàng Ghế chung nghề thủ công.

Đò Chè lơ lửng bến sông cắm sào.

Phố khác buôn bán vui sao,

Lợi quyền chểnh mảng nỡ trao tay người.

Hàng Dầu, Hàng Mã, Hàng Nồi,

Hàng Trống, Hàng Thiếc, lên chơi Hàng Thùng

Hàng Cau, Hàng Nón, tưng bừng,

Thành Nam văn vật lẫy lừng là đây!

Đỗ Văn Binh @ 08:36 14/02/2013 Số lượt xem: 1620

Việt Nam Quê Hương Ta

Việt Nam đất nước ta ơi Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn Cánh cò bay lả rập rờn Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều Quê hương biết mấy thân yêu Bao nhiêu đời đã chịu nhiều thương đau Mặt người vất vả in sâu Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn

Đất nghèo nuôi những anh hùng Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên Đạp quân thù xuống đất đen Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa Việt Nam đất nắng chan hoà Hoa thơm quả ngọt bốn mùa trời xanh Mắt đen cô gái long lanh Yêu ai yêu trọn tấm tình thuỷ chung

Đất trăm nghề của trăm vùng Khách phương xa tới lạ lùng tìm xem Tay người như có phép tiên Trên tre lá cũng dệt nghìn bài thơ

Nước bâng khuâng những chuyến đò Đêm đêm còn vọng câu hò Trương Chi Đói nghèo nên phải chia ly Xót xa lòng kẻ rời quê lên đường

Ta đi ta nhớ núi rừng Ta đi ta nhớ dòng sông vỗ bờ Nhớ đồng ruộng, nhớ khoai ngô Bữa cơm rau muống quả cà giòn tan…

I. Tìm Hiểu Về Nguyễn Đình Thi

– Nhà thơ Nguyễn Đình Thi sinh ngày 20-12-1924 tại Thành phố Luông Pra Băng, nước Lào. Ông sống và làm việc chủ yếu ở Thành phố Hà Nội, nước Việt Nam. Ông sinh thuộc cung Nhân Mã, cầm tinh con (giáp) chuột (Giáp Tý 1924). Nguyễn Đình Thi xếp hạng nổi tiếng thứ 5042 trên thế giới và thứ 6 trong danh sách Nhà thơ nổi tiếng.

– Nguyễn Đình Thi được xem là một nghệ sĩ đa tài, ông sáng tác nhạc, làm thơ, viết tiểu thuyết, kịch, tiểu luận phê bình. Ở lĩnh vực nào ông cũng có những đóng góp đáng trân trọng.

– Thơ Nguyễn Đình Thi mang một diện mạo mới, độc đáo và hiện đại. Bài thơ được xem là tâm đắc nhất của của nhà thơ Nguyễn Đình Thi, đó là bài “Đất nước”, đây là một tác phẩm bất hủ của văn học. Sau này, bài thơ “Đất nước” đã được nhạc sỹ Đặng Hữu Phúc phổ thành bản Giao Hưởng – Hợp xướng cùng tên “Đất nước”.

+ Những bài thơ tiêu biểu của ông:

– Người chiến sỹ (1958)

– Bài thơ Hắc Hải (1958)

– Dòng sông trong xanh (1974)

– Tia nắng (1985)

– Đất nước (1948 – 1955)

– Nhớ

– Lá đỏ

– Những tác phẩm văn xuôi của Nguyễn Đình Thi là sự phản ánh kịp thời cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân ta trong các cuộc kháng chiến. Các tác phẩm của ông đều mang tính thời sự về các cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam.

– Tiểu thuyết được xem là thành công nhất trong lĩnh vực văn xuôi của Nguyễn Đình Thi là tác phẩm “Vỡ bờ”. Tác phẩm đã tái hiện bức tranh đa chiều của xã hội Việt Nam từ năm 1939 đến năm 1945.

– Nhà thơ Nguyễn Đình Thi còn là một ngòi bút phê bình văn học sắc sảo. Tiểu luận “Nhận đường” của ông đã giúp thế hệ văn nghệ sĩ lúc bấy giờ tìm ra con đường đi đúng đắn

II. Cảm Nghĩ Về Việt Nam Quê Hương Ta

Việt Nam- Đất nước thân yêu của những người dân Việt Nam.Một đất nước đã trải qua hàng nghìn năm đấu tranh dành độc lập.Việt Nam anh dũng nhưng lại mang trong mình những vẻ đẹp tự nhiên.Một trong những vẻ đẹp ấy là vẻ đẹp bình dị Việt Nam được thể hiện qua hai khổ thơ đầu của bài thơ:”Việt Nam đất nước ta ơi!…” của nhà thơ Nguyễn Đình Thi.

Mở đầu bài thơ, nhà thơ đã phác họa nên bức tranh thiên nhiên tươi đẹp của VN:

“Việt Nam đất nước ta ơi! Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn Cánh cò bay lả rập rờn Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều”

Nhà thơ đã coi VN là một người bạn thân từ rất lâu:”VN đất nước ta ơi!”.VN như một người bạn thân thiết dã rất thân thuọc và gần gũi không chỉ với tác giả mà cả chúng ta. Từng lời thơ vang lên mộc mạc như hiện lên trước mắt người đọc một làng quê thanh bình, yên ả nhưng không hoang vu, heo hút mà nơi đấy lại ấm áp. Những cánh đồng mênh mông tưởng chừng như vô tận đang dần hiện ra trước mắt người đọc. Những biển lua mênh mông, bát ngát và xanh mát, mang theo hương thơm dịu nhẹ của cánh đồng VN khiến ai đã từng chứng kiến đều muốn quay lại, nhất là khi lúa chín.

Những bông lúa chín vàng treo lủng lẳng, những hạt lúa vang ươm chắc nịnh theo gió bay xa manh theo bao hạnh phúc về một vụ mùa bội thu. Chiều chiều, từng đàn cò trắng rập rờn cánh bay trở thành những câu hát quên thuộc của đồng quê:”Con cò là cò bay lả,lả bay la. Bay từ là từ ruộng lúa,bay ra là ra cánh đồng.Tình tính tang là tang tính tình…”.Rồi cả dãy núi Trường Son sớm chiều may bay che phủ một làn sương trắng mỏng manh.

Những cách đồng mênh mông, bát ngát; những cánh cò bay lả rập rờn và đỉnh Trường Sơn mây mờ che phủ như đã được thổi hồn vào làm cho những cảnh vật ấy có sức sống . Từ đó, khổ thơ đã làm nổi bật vẻ đẹp thanh bình, giản dị, mộc mạc của thiên nhiên VN , đồng thời thể hiện tình yêu những vẻ đẹp bình dị, dân dã dất nước của tác giả. Nếu khổ thơ thứ nhất là về thiên nhiên đất nước thì khổ thơ thứ hai lại nói về con người VN. (trích dẫn khổ 2:Quê hương bết mấy thân yêu…Chìm trong bể máu lại vùng đứng lên”

Giặc kia dù mạnh thế nào, cao siêu bao nhiêu thì cũng sẽ chịu cúi đầu trước những con người dũng cảm mà thôi. Một dân tộc trước kia bị xem thường rồi cũng sẽ vươn lên.Con người việt nam là thế đấy, luôn cố gắng vươn lên, chiến thắng mội kẻ thù xâm lược, làm cho những đế quốc hùng mạnh rồi cũng bị tiieu diệt như bài Nam quốc sơn hà đã viết:

” Nam quốc sơn hà, Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.

Từ hai khổ thơ đầu, nhả thơ đã ca ngợi vẻ đẹp giản dị, mộc mạc của thiên nhiên, con người VN,đồng thời nhà thơ cũng thể hiên tình yêu thương, sự gắn bó sâu sắc đối với quê hương đất nước.Qua đoạn thơ, ta càng cảm thấy yêu mến và trân trọng quê hương nhiều hơn.Đó cũng là một lời với mối người:”Bất kể ai đi xa cũng luôn hướng về quê hương thân yêu

Yêu Quê Hương Qua Từng Trang Sách Nhỏ: Giang Nam Với Bài Thơ Quê Hương

    Bài thơ Quê hương nổi tiếng của Giang Nam từng được đưa vào sách giáo khoa và bao thế hệ học trò đã thuộc lòng từng câu, từng chữ…

    Ở đó, người đọc bị cuốn hút, ám ảnh bởi những tiếng cười khúc khích thật hồn nhiên để rồi bỗng thấy hụt hẫng khi nghe tin dữ…

    Ở phần mở đầu bài thơ: Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường/Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ/“Ai bảo chăn trâu là khổ?”/Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao…, có lẽ lúc hoài niệm về thời thơ ấu, trong ký ức của tác giả đã hiện lên thấp thoáng những câu hát của… Phạm Duy: Ai bảo chăn trâu là khổ?Chăn trâu sướng lắm chứ!Ngồi mình trâu phất ngọn cờ lau và miệng hát nghêu ngao… (Em bé quê). Bởi nếu không thì tác giả đã không để câu Ai bảo chăn trâu là khổ trong ngoặc kép. Tuy nhiên, dẫu có như vậy thì câu này cũng liền mạch với một tứ thơ hết sức trong trẻo, hồn nhiên: … Những ngày trốn học/Đuổi bướm cầu ao/Mẹ bắt được/Chưa đánh roi nào đã khóc!/Có cô bé nhà bên/Nhìn tôi cười khúc khích… Một điều chắc chắn rằng, sở dĩ bài thơ có sức hấp dẫn người đọc là bởi tuy tác giả sử dụng những câu chữ mộc mạc nhưng lại khéo dụng công ở những lần “cô bé nhà bên cười khúc khích”, tạo nên một ấn tượng khó quên…

“Cô bé” ấy là ai?

        “Cô bé” ấy tên thật là Phạm Thị Triều, sinh ra trong một gia đình có nghề làm mắm gia truyền ở Vĩnh Trường (Nha Trang). Nghề làm mắm cũng là để đóng góp kinh tài cho cách mạng. Cô bé Triều mới “trổ mã” đã theo chị gái lên căn cứ Đồng Bò. Gia đình thấy Triều còn nhỏ quá, cho người nhắn về nhưng cô nhất quyết không về. Khi mặt trận Nha Trang vỡ, Triều được điều về làm ở khối Dân chính của Tỉnh ủy Phú Khánh, đóng ở Đá Bàn. Chính nơi đây, cô đã gặp chàng trai sau này trở thành nhà thơ Giang Nam…

    Còn anh chàng Nguyễn Sung (tên thật của Giang Nam), mới 16 tuổi đã bỏ học giữa chừng vì nhà trường đóng cửa do thời cuộc (Nhật đảo chính Pháp tháng 8.1945). Cậu theo anh trai là nhà cách mạng Nguyễn Lưu tham gia Việt Minh ở mặt trận Phú Khánh. Khoảng đầu năm 1954, Nguyễn Sung được điều về căn cứ Đá Bàn và anh bộ đội trẻ đã “ngẩn ngơ” trong lần đầu gặp Phạm Thị Triều.

    Ít lâu sau anh biết thêm rằng không phải chỉ mình anh mà cả đám lính trẻ cũng thường tìm cớ này, cớ nọ để tạt vào cơ quan chỉ để… nhìn cô Triều một cái. “Bạo phổi” lắm thì cũng chỉ nói vu vơ một câu rồi… biến! Chuyện yêu đương, trai gái trong cùng tổ chức hồi ấy hầu như bị cấm nghiêm ngặt. Tuy nhiên, là một anh lính có “chút thơ văn” nên Nguyễn Sung vẫn nghĩ được cách tiếp cận người đẹp. Trước tiên, anh vận dụng khả năng thơ văn của mình để được giao nhiệm vụ chạy công văn. Và thế là mỗi lần đưa công văn đến cơ quan, anh lại kèm theo một lá thư (viết sẵn) cho nàng mà không nói năng, hỏi han gì thêm vì sợ lộ. Phải hơn một tuần sau lá thư thứ hai, anh mới “sướng rêm người” khi được nàng “ừ” (trong bức thư hồi âm)…

    Yêu nhau “kín đáo” như thế mà vẫn không giấu được ai, may mà cả anh lẫn chị đều được anh em thương mến nên trước ngày anh ra Bình Định tham gia Đoàn Sĩ quan liên bộ đình chiến, chuẩn bị cho việc ký kết Hiệp định Genève, cơ quan đã tổ chức đám cưới cho họ. Sống với nhau được hai đêm thì anh lên đường, còn chị trở lại Nha Trang… Từ buổi đó, đôi vợ chồng trẻ phải luôn chịu cảnh xa cách, gian truân…

    Sau Hiệp định Genève (tháng 7.1954), Nguyễn Sung vào hoạt động trong lòng địch, trong vai trò công nhân ở một xưởng cưa và âm thầm viết cho tờ Gió mới – là tờ báo hợp pháp ở Nha Trang. Tuy hoạt động cùng địa bàn nhưng đôi vợ chồng son vẫn không thể gặp nhau vì khác tuyến, phải tuân giữ kỷ luật khắt khe để không bị lộ… Mãi đến năm 1958, tổ chức chuyển vùng công tác cho họ vào Biên Hòa thì họ mới thật sự có những ngày hạnh phúc bên nhau, dù khoảng thời gian này cũng rất ngắn ngủi. Họ thuê một căn nhà nhỏ trong xóm lao động nghèo. Ông làm mướn cho một nhà thầu khoán, còn bà buôn bán lặt vặt…

    Một thời gian sau, tổ chức lại rút ông về lại Khánh Hòa, bà Triều ở lại một mình nuôi con. Mỗi đêm, nghe con gái khóc ngằn ngặt vì nhớ cha, bà Triều phải lấy chiếc áo cũ của chồng đắp lên người con để “có hơi của ông ấy cho nó nín khóc”. Sau này, ông đã mượn lời vợ, và mượn luôn sự cố khóc đêm của con để bày tỏ nỗi nhớ thương: Con nhớ anh thường đêm biếng ngủ/Nó khóc làm em cũng khóc theo/Anh gởi về em manh áo cũ/Đắp cho con đỡ nhớ anh nhiều… (Lá thư thành phố).

Quê hương ra đời trong hoàn cảnh nào?

    Trong hồi ký Sống và viết ở chiến trường, Giang Nam đã kể lại như sau: “Bài thơ Quê hương ra đời năm 1960, dưới chân núi Hòn Dù, cách chúng tôi Trang hơn 40 cây số về phía tây. Lúc ấy, tôi đang là Phó ban Tuyên huấn của Tỉnh ủy Khánh Hòa. Chiều hôm ấy, anh Phó bí thư Tỉnh ủy đã gọi tôi lên chỗ anh ở (một căn chòi nhỏ giữa rừng). Anh ân cần hỏi thăm tôi về tình hình công tác, sức khỏe… Tôi linh cảm thấy có điều gì không bình thường. Quả nhiên sau đó, anh nói thật: Tin của cơ sở trong thành vừa báo cho biết vợ và con gái tôi bị địch bắt trước đó hơn một năm đã bị chúng thủ tiêu… Tôi bàng hoàng, trời đất như sập xuống đầu mình… Trong nỗi đau đớn tột cùng, tôi ngồi trong căn chòi nhỏ, trước mắt là ngọn đèn dầu lù mù được che kín ba mặt, tôi đã viết một mạch xong bài thơ, không xóa sửa chút nào… Không phải tôi làm thơ mà là ghi lại những ký ức, những hình ảnh đã trở thành máu thịt trong tôi. Từng đoạn nước mắt tôi trào ra, nhất là ở hai câu cuối của bài: Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất/Có một phần xương thịt của em tôi”.

    Bài thơ được ký tên Giang Nam, bởi dạo còn đi học ông rất thích những câu thơ của Hồ Dzếnh: Tô Châu lớp lớp phủ kiều/Trăng đêm Dương Tử, mây chiều Giang Nam… Sau đó, ông gửi bài thơ theo đường giao liên cho Báo Thống Nhất (Hà Nội), vì chỉ có tờ báo này được chuyển vào chiến trường phía Nam. Khoảng tháng 8.1961, trên đường công tác qua huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa), qua chiếc radio, ông nghe Đài phát thanh Việt Nam đọc bài thơ Quê hương và thông báo bài thơ này đoạt giải nhì của Báo Văn nghệ. Trong giây phút vui mừng đó, hình ảnh thân yêu của vợ con ông lại ùa về, ông bật khóc…

    Đinh ninh là vợ con mình đã chết, Giang Nam lao vào công tác, nhất là trên mặt trận văn hóa. Bỗng giữa năm 1962, vợ con ông được thả về vì địch không tìm được chứng cứ. Sum họp chưa được bao lâu, vợ ông lại bị bắt lần thứ hai (1968), đứa con gái cứ bám riết lấy mẹ nên cũng… bị tù. Mãi đến năm 1973 họ mới được trả tự do…

    Hiện nay, đôi “bách niên – đồng chí” đều đã qua ngưỡng tuổi 80, họ vẫn hạnh phúc bên nhau trong căn nhà số 46 đường Yersin (TP.Nha Trang).

Cập nhật thông tin chi tiết về Tự Hào Nam Định Quê Hương trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!