Xu Hướng 2/2024 # Truyền Thuyết Ông Hoàng Mười; Ông Hoàng Bảy # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Truyền Thuyết Ông Hoàng Mười; Ông Hoàng Bảy được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

1.1. Theo sưu tầm của Quách Văn

Trong số Thập vị Quan Hoàng, chỉ có Thánh ôngở Việt Nam Hoàng Mười và Thánh ông Hoàng Bảy là hay về ngự đồng. Khi ngự đồng, Thánh ông Hoàng Mười thường diện long phục, thêu chữ “thọ”, đầu đội khăn xếp, thắt dây vàng, trâm cài tóc màu vàng. Khi ngự đồng, có khi ông lấy quạt làm sách, lấy bút làm trâm, vừa đi vừa ngâm thơ hoặc giả động tác của dân lao động…

Trong số Thập vị quan Hoàng, Thánh ông Hoàng Mười là một trong những vị tồn tại nhiều dị bản về thân thế. Nhưng khác với truyền thuyết về ông Hoàng Bảy, Thánh ông Hoàng Mười được gắn với các nhân vật có thật trong sử sách. Tuy nhiên, đáng tiếc là đến nay, giới nghiên cứu vẫn chưa thể bóc tách từng giả thuyết để trả lời cho câu hỏi. Ông Hoàng Mười là ai?

Truyền thuyết ông Hoàng Mười:

– Ông Hoàng Mười là con của Đức vua cha Bát Hải Động Đình(*)

Một số câu chuyện ghi lại rằng: Thánh ông Hoàng Mười là con của Đức vua cha Bát Hải Động Đình đầu thai thành vị tướng tên Lê Khôi dưới triều Lê, giúp Lê Lợi đánh tan giặc Minh. Khi đất nước thái bình, theo lệnh vua cha, ông hóa thân về trời. Từ đó, người dân vùng Nghệ An gọi ông là “Đức thánh minh”, lập nên đền thờ để hậu thế đời đời tưởng nhớ.

Trong sách “Đạo mẫu Việt Nam”, GS Ngô Đức Thịnh chủ biên, Nhà nghiên cứu Phạm Văn Khiêm cũng đã liệt kê được trên 80 câu thơ về nhân vật lịch sử này. Đây cũng đồng thời là bài hát khi hầu giá ông Hoàng Mười. Điểm đặc biệt trong nội dung lời hầu giá lại chính là lai lịch, sở thích của vị tướng quân có công giết giặc giữ nước trùng với giả thuyết cho rằng, ông Hoàng Mười thực ra là vị tướng Lê Khôi.

Lời hầu giá rằng: “Cánh hồng thấp thoáng trăng thanh/ Nghệ An có đức thánh minh ra đời (Hoàng Mười)/ Gươm thiêng chống đất chỉ trời/ Đánh Đông dẹp Bắc việc ngoài binh nhung/ Thanh xuân một đấng anh hùng/ Tài danh nổi tiếng khắp vùng trời Nam”… Nội dung bài hầu giá ngoài việc ca ngợi vị tướng Lê Khôi, tức đức thánh minh không chỉ có tài kiếm cung, thao lược mà ông cũng rất phong lưu, đào hoa. Khi rảnh rỗi, ông thường cưỡi ngựa đi ngắm cảnh, làm thơ, bên cạnh lúc nào cũng năm, ba thiếu nữ theo hầu…

Lời hát khi hầu giá ông Hoàng Mười mà Nhà nghiên cứu Phạm Văn Khiêm đưa vào sách “Đạo Mẫu Việt Nam” chỉ là một trong số nhiều bài hát hầu giá khác cùng tồn tại. Điều đó nói lên sự phức tạp và có nhiều dị bản khác nhau về ông Hoàng Mười.

(*) Chú thích: Vua cha Bát Hải Động Đình là ai?

Tục truyền, vào đời Vua Hùng Vương thứ 18, nước nhà bị ngoại bang xâm lấn, Long Cung Hoàng Thái Tử (Giao Long – con của Lạc Long Quân và người thiếp Ngọc Nữ) đầu thai vào một gia đình vùng cửa sông Vĩnh thuộc Trang Hoa Đào, đất Việt (An Lễ, Quỳnh Phụ bây giờ), giúp vua đánh giặc. Ngài cùng 2 em, 10 tướng (Quan Lớn thượng, Quan Đệ Tam, Quan Đệ Tứ…Quan Điều Thất (Hoàng Mười ), quân sư quê ở Nuồi (Tứ Kỳ – Hải Dương), 28 vị nội tướng và binh sĩ, chỉ trong 3 ngày xuất quân đã đánh tan giặc trên 8 cửa biển nước Nam. Từ đó, ngài có tên là Vĩnh Công (Trọng nhân phát tích trên sông Vĩnh).

Sau chiến thắng, Hùng Duệ Vương triệu Vĩnh Công về triều phong là “Vĩnh Công Nhạc phủ Thượng đẳng thần”. Ngài xin về quê trông nom thân mẫu, khai khẩn vùng duyên hải, chiêu dân lập ấp, giúp vua Hùng giữ yên 8 cửa biển Lạc Việt. 10 tướng theo Ngài về Hoa Đào Trang. Riêng Quan Điều Thất về trời ngay sau khi thắng giặc. Vĩnh Công thương xót cho lập bàn thờ ngay tại Dinh Công Đồng là nơi ngài cùng chư tướng bàn việc (đó chính là Đền thờ quan Điều Thất ngày nay, thường gọi là Đền Công Đồng). Quan lớn Đệ Tam được phân công giữ yên vùng duyên hải từ sông Cái lên hết biên giới phía Bắc Lạc Việt. Quan lớn Đệ thập được tỵ nhậm tại Cửu Chân, Quan Đệ tứ được phân công khai khẩn vùng Bắc Sơn Nam…

Có 5 vị nội tướng được Vĩnh Công sai khai khẩn chăn dân, lập ấp tại Hoa Đào trang (sau chính là 5 vị thành hoàng nổi tiếng linh ứng, đã có công âm phù Trưng Vương đánh thắng quân Tô Định)…Vua Hùng trao Vĩnh Công quản lý miền duyên hải Lạc Việt lấy tên là Tây Đô. Định kỳ hàng năm, nhân ngày đại thắng quân phương Bắc trên 8 cửa biển, Vĩnh công triệu chư tướng về tề tựu tại Hoa Đào trang (đất An Lễ bây giờ) tổ chức thi đấu vật, thi võ, bơi thuyền, giữa đội thuyền bản hạt và thuyền của các tướng, thuyền của quân sư Nuồi, để ôn lại chiến thắng, tập dượt phòng thủ và luyện quân sẵn sàng ứng phó mọi biến cố… (lệ thi bơi trải có từ đó).

Ngày 25 tháng 8 âm lịch, năm Bính Dần, Vĩnh Công thác về trời. Để ghi nhớ công ơn ngài, người dân trong vùng tôn ngài là “Vua cha – Bát Hải Đại Vương”, coi ngài như cha mẹ của dân. Vua Hùng thương xót, ban phong mỹ hiệu: “Trấn Tây An Tam kỳ linh ứng Đại Vương” cho tu sửa dinh thất của Vĩnh công thành miếu điện thờ tự hương hoả cho Vĩnh công mãi mãi… Từ đó, nhân ngày giỗ Vĩnh Công, các tướng lại tề tựu tại Hoa Đào trang, dâng hương và tổ chức các hình thức kỷ niệm ngày đại thắng như trước đây … Lâu dần thành lệ Hội tháng 8 âm lịch mà truyền đến ngày nay.

Các tướng của Vĩnh Công sau khi mất đều được lập đền thờ, được các triều đại sau sắc phong tôn vinh, kính trọng. Tại đất Đào Động có Đền thờ Quan lớn Thượng, Quan lớn đệ Nhị, Quan lớn Đệ Tam, Quan lớn Điều Thất, Quan lớn Đệ Bát, tĩnh Quan lớn Thượng, tĩnh Quan Đệ Tứ, đều được tái tạo dựng trên nền cổ tự. Quan Đệ Ngũ thờ tại Đình Giới Phúc, tĩnh Quan Đệ Lục (Miếu Giáp Nhị) đã bị thực dân Pháp phá huỷ. Quan Đệ Tam còn được thờ ở Đền Lảnh Giang (Hưng Yên), Quan Đệ Tứ đền thờ chính ở Vĩnh Bảo – Hải Phòng. Quan Đệ Ngũ có đền thờ ở bến đò Chanh – Hải Dương, Quan Điều Thất có Đền ở Bảo Hà – Lào Cai. Quan Đệ Cửu xưa có Đền ở Thanh Hoá, Quan Đệ Thập (Hoàng Mười) có đền ở Nghệ An …

Đền thờ Vĩnh công Đại Vương Bát Hải Động Đình từ xa xưa đã nổi tiếng linh ứng. Các triều đại sau này như Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn… đều tái sắc phong cho ngài. Vĩnh Công được coi là Thượng Đẳng Thần của đất Lạc Việt, Hội tháng 8 âm lịch tại Đền, hội tụ muôn phương dân Việt về chiêm bái lễ cầu. Câu thành ngữ dân gian: Tháng 8 giỗ Cha, tháng 3 giỗ Mẹ chính là để chỉ Hội tháng 8 ở Đền Đồng Bằng. Đây được coi là nơi “đi trình về tạ” của các bản Hội tín ngưỡng trong toàn quốc từ xa xưa.

– Ông Hoàng Mười chính là Uy Minh Vương Lý Nhật Quang

Giả thuyết thứ hai cho rằng rằng: Ông Hoàng Mười chính là Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, con trai của Lý Công Uẩn, cai quản châu Nghệ An. Tuy nhiên, cho đến nay giới nghiên cứu vẫn chưa tìm ra tư liệu hay bằng chứng nào để chứng minh cho giả thuyết này. Nhưng dẫu sao thì truyền thuyết vẫn tồn tại trong một bộ phận dân chúng, người ta vẫn coi ông Hoàng Mười là con trai đức vua cha Bát Hải Động Đình và dĩ nhiên, trong bài hầu giá của mình, người ta vẫn coi ông là Uy Minh Vương Lý Nhật Quang.

Trong nhiều truyền thuyết về xuất thân Thánh ông Hoàng Mười, nhiều người nghiêng về giả thuyết, ông Hoàng Mười chính là Nguyễn Xí, sống ở thời Hậu Lê.

Nguyễn Xí xuất thân tại xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, Nghệ An ngày nay. Ông là bậc đại công thần, là võ tướng, chính trị gia lỗi lạc giúp Lê Lợi chiến đấu chống giặc Minh xâm lược. Nguyễn Xí là vị quan phò tá qua 4 đời vua Lê gồm. Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Hiến Tông và Lê Túc Tông. Đây là giai đoạn cực thịnh của nhà Lê. Sự hưng thịnh đã đi vào ca dao rằng: “Đời vua Thái Tổ, Thái Tông/ Lúa chất đầy đồng trâu chẳng buồn ăn”, hay “Đời vua Thái Tổ, Thái Tông/ Con bế, con dắt, con bồng, con mang”…

Sinh thời, Nguyễn Xí không chỉ là một bậc quan khai quốc công thần, tài hoa lỗi lạc mà ông còn giúp nhân dân xóa đói giảm nghèo. Sau khi đánh tan giặc Minh xâm lược, ông được Lê Lợi phân công cai quản đất Nghệ An, Hà Tĩnh. Tại đây, ông đã dạy dân trồng lúa nước, đắp đê ngăn lũ, thủy lợi nội đồng… Tương truyền, trong một lần gió lớn, mưa to, nhà cửa, cây cối của người dân bị bẻ sập, Nguyễn Xí đốc thúc quân lính và đích thân lên rừng đốn gỗ về dựng lại nhà cửa cho dân, sai người mở kho lương thực cứu tế kịp thời. Nhờ đó mà nhiều người đã thoát khỏi đói rét, chết chóc vì bão lũ… Vì vậy được dân chúng khắp nơi tôn sùng, coi như hiền thánh. Sự hưng thịnh của các đời vua Lê có dấu ấn quan trọng của Nguyễn Xí và bộ máy quan đại thần hạ triều.

Sự hóa thân từ bậc khai Quốc công thần đến Thánh Hoàng Mười cũng thật ly kỳ. Chuyện kể rằng: Một lần Nguyễn Xí dạo thuyền trên sông Lam, đoạn qua núi Hồng Lĩnh thì bỗng có đợt sóng to, gió lớn nổi lên, thuyền của ông bị thủy triều, phong ba cuốn đi mất. Dân chúng biết tin liền đến bên đôi bờ Lam giang mà tỏ lòng thương tiếc, người người khóc thương vị quan hết lòng vì dân. Đúng lúc đó, bầu trời đang cuồng phong bão táp bỗng tan biến, bầu trời nổi áng mây vàng, thi thể của ông nổi lên mặt nước, sắc mặt hồng hào như người nằm ngủ. Khi dạt vào bờ, đất xung quanh bỗng bao bọc lấy di quan. Cùng lúc, trên nền trời bỗng xuất hiện mây ngũ sắc, kết thành xích mã và thiên binh đưa ông về trời.

Sau khi ông mất, người dân Nghệ An lập đền thờ ông. Bách tính suy tôn ông là Thánh ông Hoàng Mười. Việc suy tôn này mang ý nghĩa ông là con của Đức vua cha Long Hải Đại Đình đầu thai vào Nguyễn Xí mà giúp dân dẹp giặc, xây dựng cuộc sống phồn vinh…

Theo nhận định của một số nhà nghiên cứu văn hóa thì giả thuyết ông Hoàng Mười chính là Nguyễn Xí có sức nặng hơn cả. Bởi xét về lịch sử ngôi đền được xây dựng vào năm 1634, tức cùng thời của Nguyễn Xí. Hơn nữa, Nguyễn Xí lại là quan đại thần, là bậc khai Quốc công thần dưới thời Lê, có công phò vua đánh tan giặc Minh xâm lược, khi thiên hạ thái bình, ông lại cùng ăn, cùng ở với dân, giúp bách tính vượt qua khổ ải vươn đến phú quý, hưng thịnh. Xét trên công lao đó, dân chúng chí tôn ông là Thánh Hoàng Mười là điều hiển nhiên và cũng hợp với ý nguyện của muôn dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh.

1.2. Theo sưu tầm của Giang Anh

Theo như ở vùng Nghệ Tĩnh thì ông được coi là Lê Khôi, vị tướng tài, cháu ruột và là người theo Lê Lợi chinh chiến trong mười năm kháng chiến chống quân Minh, sau làm đến nguyên thần tam triều Lê gia, phong đến chức Khâm Sai Tiết Chế Thủy Lục Chư Dinh Hộ Vệ Thượng Tướng Quân. Lại có một dị bản khác cho rằng ông giáng xuống trần là Uy Minh Vương Lí Nhật Quang, con trai Vua Lí Thái Tổ, cai quản châu Nghệ An. ngoài ra còn có sự tích ông Mười giáng sinh thành Nguyễn Xí, một tướng giỏi dưới thời vua Lê Thái Tổ.

Nhưng sự tích được lưu truyền nhiều nhất có lẽ là câu chuyện: Ông Mười giáng sinh thành Nguyễn Xí, một tướng giỏi dưới thời Vua Lê Thái Tổ, có công giúp vua dẹp giặc Minh, sau được giao cho trấn giữ đất Nghệ An, Hà Tĩnh (cũng chính là nơi quê nhà). Tại đây ông luôn một lòng chăm lo đến đời sống của nhân dân, truyện kể rằng có một lần xảy ra cơn cuồng phong làm đổ hết nhà cửa, ông liền sai quân lên rừng đốn gỗ về làm nhà cho dân, rồi mở kho lương cứu tế. Trong một lần đi thuyền trên sông, đến đoạn chân núi Hồng Lĩnh, thì lại có đợt phong ba nổi lên, nhấn chìm thuyền của ông và ông đã hóa ngay trên sông Lam. Trong khi mọi người đang thương tiếc cử hành tang lễ, thì trời quang đãng, nổi áng mây vàng, bỗng thấy thi thể của ông nổi trên mặt nước nhẹ tựa như không, sắc mặt vẫn hồng hào tươi tắn như người đang nằm ngủ, khi vào đến bờ, đột nhiên đất xung quanh ùn ùn bao bọc, che lấy di quan của ông. Lúc đó trên trời bỗng nổi mây ngũ sắc, kết thành hình xích mã (có bản nói là xích điểu) và có các thiên binh thiên tướng xuống để rước ông về trời.

Sau này khi hiển ứng, ông được giao cho trấn thủ đất Nghệ Tĩnh, ngự trong phủ Nghệ An. Nhân dân suy tôn ông là Ông Hoàng Mười (hay còn gọi là Ông Mười Củi) không chỉ vì ông là con trai thứ mười của Vua Cha (như một số sách đã nói) mà còn vì ông là người tài đức vẹn toàn, văn võ song toàn (“mười” mang ý nghĩa tròn đầy, viên mãn), không những ông xông pha chinh chiến nơi trận mạc, mà ông còn là người rất hào hoa phong nhã, giỏi thơ phú văn chương, không chỉ nơi trần thế mà các bạn tiên trên Thiên Giới ai cũng mến phục, các nàng tiên nữ thì thầm thương trộm nhớ. Sau các triều đại đã sắc tặng Ông Mười tất cả là 21 sắc phong (tất cả đều còn lưu giữ trong đền thờ ông).

Cùng với Ông Hoàng Bảy, Ông Hoàng Mười cũng là một trong hai vị Ông Hoàng luôn về ngự đồng, cũng bởi vì ông còn được coi là người được Vua Mẫu giao cho đi chấm lính nhận đồng (khác với Ông Bảy, những người nào mà sát căn Ông Mười thì thường hay hào hoa phong nhã, giỏi thi phú văn chương). Khi ngự về đồng Ông Mười thường mặc áo vàng (có thêu rồng kết uốn thành hình chữ thọ), đầu đội khăn xếp có thắt lét vàng, cài chiếc kim lệch màu vàng kim. Ông ngự về tấu hương rồi khai quang, có khi ông múa cờ xông pha chinh chiến, có khi lại lấy quạt làm quyển thư, lấy bút gài đầu để đi bách bộ vịnh phú ngâm thơ, có khi ông lại cầm dải lụa vàng như đang cùng người dân lao động kéo lưới trên sông Lam (quan niệm cho rằng đó cũng là ông kéo tài kéo lộc về cho bản đền) và ông cũng cầm hèo lên ngựa đi chấm đồng như Ông Bảy, người ta cũng thường dâng tờ tiền 10.000đ màu đỏ vàng để làm lá cờ, cài lên đầu ông. Khi ông ngự vui, thường có dâng đọi chè xanh, miếng trầu vàng cau đậu, thuốc lá (là những đặc sản của quê hương ông) rồi cung văn tấu những điệu Hò Xứ Nghệ rất mượt mà êm tai.

Theo một số đền thờ vùng Nghệ Tĩnh thì ông được coi là Lê Khôi, vị tướng tài, cháu ruột và là người theo Lê Lợi chinh chiến trong mười năm kháng chiến chống quân Minh. Vì thế, ông Hoàng Mười còn được nhân dân xứ Nghệ tôn vinh là “Đức thánh minh”, là một vị quan nằm trong hệ thống điện thần thờ mẫu tứ phủ ở Việt Nam. Nơi nào có điện thờ mẫu là nơi đó có tượng hoặc bàn thờ ông Hoàng Mười.

Đền thờ Ông Hoàng Mười là Đền Chợ Củi, chính là nơi năm xưa di quan ông trôi về và hóa, qua cây cầu Bến Thủy, bên sông Lam, núi Hồng Lĩnh, thuộc xã Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (cũng chính là nơi quê nhà của Ông Mười). Ngày ông giáng sinh 10/10 âm lịch được coi là ngày tiệc chính của ông, vào ngày này, du khách thập phương nô nức đến chiêm bái cửa đền ông thật là tấp nập, trải dải đến tận đôi bờ sông Lam, người ta dâng ông: cờ quạt bút sách … để cầu tài cầu lộc cũng là cầu mong cho con em được đỗ đạt khoa cử, thành tài để làm rạng danh tổ tông.

Ngôi đền được xây dựng năm 1634 từ thời hậu Lê trên diện tích hơn 1 ha ở làng Xuân Am, xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên. Trải qua nhiều lần tu bổ, đến nay, đền có 3 toà chính: Thượng điện, Trung điện và Hạ điện, nhân vật chính được thờ là Bình chương quân quốc trọng sự Thái uý Vị Quốc công (Lê Khôi); Phúc Quận công; Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân (Nguyễn Duy Lạc); Song Đồng Ngọc Nữ.

Đền cả, còn gọi là Dinh Đô Quan Hoàng Mười: theo sắc phong bảo lưu thì Dinh Đô được xây dựng vào năm 1060 thời nhà Lý (Sắc phong của vua Lý Thánh Tông).

Về sau được trùng tu bởi thời nhà Lê bởi (Sắc phong vua Lê Ý Tông 1726) và đến triều nhà Nguyễn 1427 trùng tu toạ lạc vùng Mỏ Hạc Linh Từ, là ngã ba giao nhau giữa sông Minh Giang (xưa là kênh nhà Lê),sông La và sông Lam.

Dinh Đô Quan Hoàng Mười hiện nay gần như bị phế tích hoàn toàn ‘Đền Cả – Dinh đô Quan Hoàng Mười (tại tỉnh Hà Tĩnh) còn có tên gọi là Mỏ Hạc Linh Từ; đền có niên đại khá sớm, quy mô kiến trúc đồ sộ. Vị thần được thờ chính là ông Hoàng Mười. Hiện nay, ngôi mộ (ý niệm mộ vọng) của ông Hoàng Mười nằm trong quần thể di tích của đền. (Ông là một bậc Thiên Thần hiển linh tái thế Nhân thần theo truyền thuyết nên không có mộ). Đền ông Hoàng Mười là ngôi đền thờ vọng theo ý niệm sinh hoạt văn hoá tâm linh của nhân dân nổi tiếng ở Nghệ An thờ đạo Mẫu Tứ phủ, vị thần được thờ chính là ông Hoàng Mười, con thá mười của Vua cha Bát Hải Động Đình (theo truyền thuyết dân gian là một vị thiên thần).

Nhiều nhà nghiên cứu hiện nay khảo sát thần tích gần 50 đền thờ cho rằng ông giáng xuống trần thành Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, con trai Vua Lý Thái Tổ, cai quản châu Nghệ An, thời Lý.

Hàng năm cứ vào dịp tháng 9, tháng 10 âm lịch, nhân dân, du khách thập phương trong Nam, ngoài Bắc lại nô nức về lễ đền Ông Hoàng Mười xã Hưng Thịnh – Hưng Nguyên. Đây được coi là mùa tạ lễ quan trọng nhất trong năm.

Ông Hoàng Mười là một “Đức Thánh Minh” trong hàng các ông quan Hoàng của tín ngưỡng Đạo Mẫu, được nhiều người ngưỡng mộ và được thờ ở nhiều địa phương trong nước. Ông được giao cai quản về tâm linh trấn giữ một vùng non nước dọc sông Lam, nên những nơi thờ Tứ Phủ theo Đạo mẫu Nghệ An đều thờ ông, nhưng chỉ là phối thờ. Còn đền thờ chính Ông Hoàng Mười ở xã Hưng Thịnh – Hưng Nguyên, đền có tên là đền Xuân Am (theo địa danh làng Xuân Am) hay Mỏ Hạc Linh Từ (theo địa hình thế đất núi sông của thuyết phong thủy).

Đền nằm ở vị trí cảnh quan đẹp với phong cảnh non xanh nước biếc thật hữu tình. Trước mặt đền (hướng Nam) là dòng Lam giang như một dải lụa xanh trải rộng, thuyền bè tấp nập ngược xuôi sông Cồn Mộc quanh co, uốn khúc ôm ấp quanh đền, đôi bờ là những đồng lúa bát ngát, xanh tươi. Phía sau, bên kia sông Cồn Mộc là núi Kỳ Lân, núi Dũng Quyết và Phượng Hoàng Trung Đô với những dấu tích lịch sử, những rừng thông, bạch đàn bạt ngàn tươi tốt. Ngoài cảnh đẹp kỳ thú, từ lâu, đền đã nổi tiếng linh thiêng vì ở đây ngoài thờ Quan Hoàng Mười theo tín ngưỡng Đạo Mẫu, còn phối thờ các vị Song Đồng Ngọc Nữ, vị Quốc Công Thái Bảo Phúc Quận Công, Phụ Quốc Thượng Tướng quân Nguyễn Duy Lạc.

Lễ hội đền Ông Hoàng Mười diễn ra từ mùng 8 đến 10/10 ÂL, nhưng trước đó, trong suốt tháng 9, tháng 10 ÂL, trung bình mỗi ngày đền đã đón khoảng hàng trăm lượt du khách về làm lễ. Đông nhất vẫn là khách đến từ các tỉnh phía Bắc như Hà Nội, Cao Bằng, Lạng Sơn, Ninh Bình… Nhiều du khách do ở xa chờ làm lễ nên phải thuê phòng trọ ngay trước đền.

Lễ hội đền Ông Hoàng Mười gồm phần lễ và phần hội. Phần lễ gồm lễ khai quang, lễ rước bài vị, đạo sắc từ làng Xuân Am về đền, lễ yết cáo, lễ đại tế và cuối cùng là lễ tạ. Phần hội gồm các trò chơi dân gian diễn ra trong hai ngày mùng 9 và mùng 10 thu hút nhân dân trong huyện Hưng Nguyên tham gia như giải bóng chuyền các xã, trò chơi nhảy bao bố, kéo co, chọi gà, giao lưu văn nghệ …

Đền Bảo Hà, hay còn gọi là đền Hoàng Bảy thuộc xã Bảo Hà, Bảo Yên, Lào Cai. Khu di tích lịch sử văn hóa quốc gia cổ kính, hoành tráng này nằm dưới chân đồi Cấm, ngay cạnh dòng sông Hồng cuộn đỏ. Nhìn từ xa, đền Bảo Hà rất uy nghi, tĩnh mặc. Phong cảnh trên bến, dưới thuyền, núi rừng bao bọc xanh ngắt, thâm u.

Truyền thuyết chính thống nhất được sử dụng kể về ông Hoàng Bảy như sau: Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, Bảo Hà có một vị trí quan trọng phòng thủ biên giới, là cửa trạm của phòng tuyến sông Hồng phía Tây Bắc.

Từ đời nhà Trần đã đặt hai cửa trấn ải là cửa quan Bảo Thắng và Bảo Hà, trong đó Bảo Hà là hậu cứ của Bảo Thắng. Tại đây có đài hỏa hiệu, trạm liên lạc thông tin cho các châu huyện phía dưới.

Giữa niên hiệu Cảnh Hưng, Bảo Hà là trung tâm Châu Văn Bàn. Trong thời Cảnh Hưng (1740 – 1786), bọn giặc phương Bắc thường hay tràn sang quấy nhiễu, cướp bóc. Xã Khấu Bàn, châu Văn Bàn đã phải xây dựng các thành luỹ chống giặc.

Trước cảnh đau thương tang tóc, lại có nguy cơ bị xâm lược, tướng Nguyễn Hoàng Bảy được triều đình giao trọng trách khởi binh dẹp loạn vùng biên ải.

Đội quân của ông tiến dọc sông Hồng đánh đuổi quân giặc, giải phóng châu Văn Bàn và củng cố xây dựng Bảo Hà thành căn cứ lớn. Tại đây, danh tướng đã tổ chức các thổ ty, tù trưởng luyện tập binh sỹ… Sau đó thống lĩnh quân thủy và quân bộ tiến đánh giặc ở Lào Cai, giải phóng các châu thuộc phủ Quy Hóa (Yên Bái, Lào Cai ngày nay).

Quân giặc phương Bắc do tên tướng Tả Tủ Vàng Pẹt đưa quân sang xâm lược bờ cõi, danh tướng Hoàng Bảy lại dẫn quân lên tham chiến. Song, do trận chiến không cân sức, ông đã anh dũng hy sinh. Giặc vứt xác ông xuống sông Hồng, và trôi đến Bảo Hà. Nhân dân trong vùng do ông Lư Văn Cù đứng ra tổ chức vớt xác ông lên chôn cất và lập miếu thờ.

Để ghi nhớ công lao của ông, các vua triều Nguyễn như Minh Mệnh, Thiệu Trị đã tặng ông danh hiệu “Trấn an hiển liệt” và đền thờ ông cũng được các vua triều Nguyễn cấp sắc phong là “Thần Vệ Quốc”. Còn đồng bào các dân tộc Kinh, Tày, Dao… thì tôn thờ ông là vị nhân thần. Ông đi vào cõi tâm linh các dân tộc và hiện thân trong các lễ hội xuống đồng vào ngày Thìn tháng giêng.

Đền Bảo Hà – khu di tích lịch sử văn hóa quốc gia, được xây dựng dưới chân đồi Cấm, bên cạnh dòng sông Hồng chảy vào miền đất Việt, thuộc xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai; cách Tp. Lào Cai khoảng 60km về phía nam; cách ga xe lửa Bảo Hà khoảng 800m. Đền thờ thần vệ quốc Hoàng Bảy, một anh hùng miền sơn cước đánh giặc phương Bắc bảo vệ bản làng. Đây là địa chỉ thu hút du khách thập phương đông nhất của huyện Bảo Yên.

Nhìn từ xa, đền Bảo Hà rất uy nghi, tĩnh mặc. Phong cảnh thiên nhiên nơi đây cũng thật hữu tình: trên bến, dưới thuyền, xung quanh là núi rừng bao la, rộng lớn xanh mướt một màu.

Đền Bảo Hà có lưng tựa vào núi, mặt hướng theo dòng nước sông Hồng và nơi đây còn có sự kết hợp hài hoà giữa cảnh quan thiên nhiên với kiến trúc văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam theo thuyết phong thủy.

Ông Hoàng Bảy hay thường gọi là Ông Bảy Bảo Hà. Ông là con Đức Vua Cha. Theo lệnh vua, ông giáng phàm trần, trở thành con trai thứ bảy trong danh tộc họ Nguyễn, cuối thời Lê. Vào triều Lê Cảnh Hưng, có giặc Trung Quốc từ Vân Nam tràn sang cướp bóc, đốt phá. Triều đình bèn cử ông, dọc theo sông Hồng, lên đánh đuổi quân giặc và trấn giữ vùng biên ải nơi Bảo Hà, Lào Cai. Tại đất Bảo Hà, ông thống lĩnh lục thủy, đánh đuổi quân giặc về vùng Vân Nam, sau đó ông chiêu dụ các thổ hào địa phương đón người Dao, người Thổ, người Nùng lên khẩn điền lập ấp. Sau này trong một trận chiến đấu không cân sức, Ông Bảy bị giặc bắt, chúng tra khảo hành hạ dã man, nhưng ông vẫn một lòng kiên trung, quyết không đầu hàng, cuối cùng, không làm gì được, chúng sát hại ông rồi mang thi thể vứt xuống dòng sông. Kì lạ thay, di quan của ông dọc theo sông Hồng, trôi đến phà Trái Hút, Bảo Hà, Lào Cai thì dừng lại. Còn một điều kì lạ nữa là khi ông bị giặc sát hại, thì trời bỗng chuyển gió, mây vần vũ, kết lại thành hình thần mã (ngựa), từ thi thể ông phát ra một đạo hào quang, phi lên thân ngựa, đến Bảo Hà thì dừng lại, trời bỗng quang đãng, mây ngũ sắc kết thành hình tứ linh chầu hội. Sau này khi hiển linh ông được giao quyền cho trấn giữ đất Lào Cai, ngự trong dinh Bảo Hà, đến lúc này ông nổi tiếng là một Ông Hoàng không chỉ giỏi kiếm cung mà còn rất ăn chơi, phong lưu: khi thanh nhàn ông ngả bàn đèn, uống trà mạn Long Tỉnh, ngồi chơi tổ tôm, tam cúc, xóc đĩa… lúc nào cũng có thập nhị tiên nàng hầu cận, ông cũng luôn khuyên bảo nhân dân phải ăn ở có nhân có đức, tu dưỡng bản thân để lưu phúc cho con cháu. Triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị sắc tặng ông danh hiệu “Trấn An Hiển Liệt” và các triều vua nhà Nguyễn khác tôn ông danh hiệu: “Thần Vệ Quốc – Ông Hoàng Bảy Bảo Hà”.

Ông Bảy là Ông Hoàng hay ngự về đồng nhất, cũng bởi vì trong hàng Tứ Phủ Ông Hoàng, ông rất hay chấm lính bắt đồng (có quan niệm cho rằng, những người nào mà sát căn Ông Bảy thì thường thích uống trà tàu, hay đánh tổ tôm, xóc đĩa…). Khi ngự về đồng, ông thường mặc áo lam hoặc tím chàm (thêu rồng kết uốn thành hình chữ thọ), đầu đội khăn xếp có thắt lét lam, cài chiếc kim lệch màu ngọc thạch. Ông ngự về tấu hương, khai quang rồi cầm đôi hèo, cưỡi ngựa đi chấm đồng. Đến giá Ông Bảy về ngự, nếu ông ném cây hèo vào người nào thì coi như ông đã chấm đồng người đó. Lúc ông giá ngự, thường dâng ông ba tuần trà tàu rồi thuốc lá có tẩm thuốc phiện.

Đền thờ Ông Hoàng Bảy được lập tại nơi năm xưa di hài của ông lưu lại là Đền Bảo Hà, nằm ở chân đồi Cấm, bên bờ thượng lưu sông Hồng, ở bên bến phà Trái Hút, thuộc xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai (Vì thú chơi phong lưu của ông nên nơi ông ngự còn được mệnh danh là Trái Hút Bảo Hà). Ngày tiệc chính của ông là ngày 17/7 âm lịch, vào ngày này, ở đền ông tập nập du khách thập phương đến dâng ông ngựa xám, bàn đèn, thuốc cống, kẹo xìu (kẹo lạc)… để cầu tài cầu lộc. Khi thỉnh ông về ngự, văn thường hát rằng:

“Bảo Hà đất ấy phong quang Thỉnh Ông Hoàng Bảy xe loan ngự về […] Bắc Nam đôi sứ vào ra Đồn rằng Ông Bảy Bảo Hà tối linh” Khi nói về sự tích của ông, văn hát: “Con ngôi Thượng Đế Đức Vua Cha Giáng tại Sơn Lâm, trấn Bảo Hà Diện mạo hồng hào so vẻ ngọc Dung nghi tươi tốt khác nhường hoa” Hay khi ông ngự vui, văn thường hát để ông ban thưởng: “Ai lên Trái Hút Bảo Hà Nếm mùi phong nguyệt ấy là cảnh tiên […] Cỏ cây hoa lá tần ngần Hoa đào năm ngoái mười phần kém xa […] Ba gian tòa đá phủ rêu Ai người có phúc được theo Ông Hoàng […] Dang tay mở khóa động đào Ai người dày phúc đưa vào quần tiên […] Lâng lâng rũ sạch bụi trần Một ngày bắc ghế nên duyên nợ nhiều” Hay có cả những đoạn rất hay, độc đáo nói về các thú ăn chơi của Ông Bảy như xóc đĩa, tam cúc, tổ tôm…: “Đĩa vàng bát ngọc bày ra Bạn tiên trải chiếu long hoa tức thì Phàm tâm tả hữu hồ kì Ông Bảy xóc đĩa bốn bề xôn xao” “Khi thanh nhàn Ông Hoàng giá ngự Ngự về đồng dự hội tổ tôm Màn hoa chắn gió đông nồm Hiên loan bóng quế chiều hôm đánh bài Ông Bảy ngồi khoan thai cách điệu Sập công đồng trải chiếu long lân Hương xông gấm vóc áo quần Dang tay châu báu kim ngân đánh bài” “Cuộc cờ xóa xóa bày bày Ván bài tam cúc xưa nay tức cười […] Pháo kia nổi hiệu lôi oanh Tốt không bảo vệ giữ mình được sao Người nay đợi lệnh Thiên tào Giữ xe pháo mã điều vào giáp công […] Xưa nay việc nước việc nhà Giữ bền sĩ tốt ấy là thành công” Và có hẳn một đoạn nói về thập nhị tiên nàng hầu cận ông: “Lệnh sai thập nhị tiên nàng Cô nào việc ấy sửa sang đứng hầu Cô Cả pha nước trà tàu Nhấp vào vừa ý gật đầu ban khen Cô Đôi dâng bộ khay đèn Xe ngà diện sứ móc tiêm nạm vàng […] Cô Mười Hai trải chiếu chia bài Tổ tôm chắn cạ nào ai dám bì […] Thoi xanh vượt suối băng ngàn Mười hai tiên nữ rước hoàng về dinh”.

Quách Văn, http://kienthuc.net.vn/tham-cung/di-tim-su-tich-thanh-ong-hoang-muoi-642437.html

Giang Anh, https://gianganh.net/quan-hoang-muoi-la-ai-327.html

VTC News, http://vietnamnet.vn/vn/doi-song/di-tim-su-that-quai-go-o-den-ong-hoang-bay-163284.html

CHIA SẺ BÀI VIẾT

Tượng Thờ Ông Hoàng: Ông Hoàng Bảy, Ông Hoàng Bơ, Ông Hoàng Mười

Mẫu Tượng: Tượng Ông Hoàng, Tứ Phủ Quan Hoàng .

Chất liệu gỗ: Gỗ Mít…(Chất liệu gỗ chuyên làm tượng thờ)

Hình tượng: Tượng Quan Hoàng là Thánh nam. Ngồi xếp bằng hoặc ngồi vắt chân. Thường đại diện là Ông Hoàng Bơ áo màu trắng, ông Hoàng Bảy áo màu áo màu lam hay tím chàm, Ông Hoàng Mười áo màu vàng. 

Chất liệu sơn: Sơn son thếp vàng hoặc sơn kiểu giả cổ.

Kích thước: Tùy theo không gian thờ cúng và các cung trong thước Lỗ Ban.

Đặt hàng: Liên hệ.

Tứ phủ Ông Hoàng hay Tứ phủ Thánh Hoàng là còn được dân gian gọi là Thập vị Ông Hoàng hay thấy tọa dưới hàng Chầu Bà và Ngũ Vị Tôn Quan trên ban thờ Công Đồng Tứ Phủ. Đây là các vị Thánh nam thuộc về bốn phủ: Thiên, Điạ, Thoải và Nhạc. Huyền tích về sự xuất hiện của họ thường có liên hệ mật thiết với các nhân vật lịch sử, danh tướng có công đánh dẹp giặc hay những người khai sáng, mở mang cho đất nước, địa phương nơi họ hiển linh. Tứ phủ Thánh Hoàng ta thường thấy có đại diện là Ông Hoàng Bơ, ông Hoàng Bảy, Ông Hoàng Mười.

Các Ông Hoàng thường được gọi tên theo thứ tự từ Ông Hoàng Cả đến Ông Hoàng Mười.

Ông Hoàng Cả

Ông Hoàng Cả hàng trên, bên phải, trong màu áo đỏ tượng trưng cho Thiên Phủ. Quan Hoàng Cả rất ít khi giáng đồng.

Ông Hoàng Cả Thượng Thiên là vị Thánh Hoàng thuộc Thiên phủ (miền Trời) vì vậy, trong thần điện và trong nghi lễ hầu đồng của Tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ, Ngài ngự áo màu đỏ tượng trưng cho Thiên phủ. Ngài là Thánh Hoàng rất ít khi giáng đồng.

Ông Hoàng Đôi

Ông Hoàng Đôi là vị Thánh Hoàng thuộc Nhạc phủ. Tương truyền Ông là người Mán, có công dẹp giặc cứu nước nên được nhân dân thờ cúng và tôn sùng. Các huyền tích của ông gắn liền với đền Bảo Hà, Lào Cai. Ông cùng với Ông Hoàng Bảy Bảo Hà dẹp giặc dưới thời vua Lê. Trong thần điện và trong nghi lễ hầu đồng, ông Hoàng Đôi ngự áo màu xanh lá, tượng trưng cho Nhạc phủ (miền Rừng)

Ông Hoàng Bơ

Ban thờ các Quan Hoàng với đại diện là Quan Hoàng Ba Bơ (bên trái), Quan Hoàng Mười (Chính giữa) và Quan Hoàng Bảy (bên phải).

Ông Hoàng Bơ hay chính là Ông Hoàng Ba (“Bơ” là cách đọc chệch đi của “Ba”) còn được gọi là Ông Hoàng Bơ Thoải là vị Thánh Hoàng thuộc Thoải phủ. Tương truyền, Ông thông thuộc Phật pháp, thơ phú và từng hiển linh giáng trần ban phúc cho dân, ban lộc cho người buôn bán, kẻ học hành đỗ đạt. Trong thần điện và trong nghi lễ hầu đồng của Tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ, Ông ngự màu áo trắng của Thoải cung. Ngày tiệc của ông là vào 13 tháng 6 và 7 tháng 3 âm lịch hàng năm.

Ông Hoàng Bắc Quốc

Ông vốn là tướng nhà Minh. Khi nhà Thanh chiếm nhà Minh, không thể chống cự được sức mạnh quân Thanh ông đã phải chạy sang đất Việt ta, ông đã cùng nhân dân ta đánh giặc Thanh bảo vệ bờ cõi.

Ông Hoàng Bảy

Quan Hoàng Bảy là vị thánh thuộc Nhạc Phủ, thường ngự áo màu lam hay tím chàm. Đây là một trong các vị thánh thường hiển linh và được các thanh đồng hầu giá nhiều.

Ông Hoàng Bảy còn được gọi là Ông Hoàng Bảy Bảo Hà là vị Thánh Hoàng thuộc Nhạc phủ. Các huyền tích về Ông gắn liền với nơi thờ Ông là đền Bảo Hà, Lào Cai. Tương truyền, tên húy của Ông là Nguyễn Hoàng Bảy, là vị quan triều đình trấn giữ vùng Lào Cai, Yên Bái dưới thời vua Lê. Bằng tài thao lược, Ông đã có công dẹp giặc, hộ quốc, an dân, sau này cũng vì dân mà hy sinh. Sau khi Ông mất lại hiển linh phù giúp nước nhac, được các triều đình phong kiến ban sắc phong Thượng đẳng thần, phong danh hiệu “Trấn An Hiển Liệt”, “Thần Vệ Quốc”.

Ông Hoàng Bát

Ông Hoàng Bát tương truyền vốn là danh tướng Nùng Trí Cao trong lịch sử, quê Quảng Nguyên (Cao Bằng ngày nay). Ông có công đánh giặc Tống xâm lược, lưu danh sử sách, được nhân dân ghi nhớ công ơn và lập đền thờ tự. Sau này, Ông được triều đình phong kiến sắc phong Thượng Đẳng Đai Vương.

Trong thần điện và nghi lễ hầu đồng của Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tứ phủ, Ông Hoàng Bát ngự áo màu vàng. Tuy nhiên, ông rất ít giáng đồng. Đền thờ chính của Ông nằm ở đền Kỳ Sầm, xã Vinh Quang, Hòa An, Cao Bằng. Ngày tiệc Ông là vào 10 tháng Giêng âm lịch hàng năm.

Ông Hoàng Chín

Trong Tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ, khi nói tới Ông Hoàng Chín, người ta lập tức nhớ ngay tới Ông Chín Cờn Môn. Nơi chính thờ của Ông nằm ở đền Cờn, xã Quỳnh Phương, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Sau khi mất, Ông hiển linh phù trợ cho dân, được nhân dân thờ phụng. Trong nghi lễ hẫu đồng của Tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ, ông Chín Cờn Môn thường ngự áo the khăn xếp màu đen, hoặc the hồng khăn xếp đỏ.

Ông Hoàng Mười

Ông Hoàng Mười hay Ông Hoàng Mười Nghệ An là vị Thánh Hoàng nổi danh tài hoa, sang trọng, văn võ song toàn. Huyền tích về Ông trong dân gian rất nhiều. Tương truyền rằng, Ông quê ở Nghệ An, là người có nhiều công lao với đất nước và nhân dân. Khi ngự về đồng Ông Mười thường mặc áo vàng.

Câu Nói Hay Về Ông Hoàng Bảy

Câu nói hay về ông hoàng bảy

Câu nói hay về ông hoàng bảy. Trong tín ngưỡng thờ Mẫu, Ông Hoàng Bảy là vị nam thần quan trọng, thường hay ngự đồng và được lệnh Mẫu vương đi chấm lính nhận đồng, răn dạy trần gian đức độ, phụng sự cần mẫn việc Thánh. Ông phù trì cho những ai tâm đức được hạnh phúc, may mắn trong cuộc sống. Vậy khi đi lễ ông Hoàng Bảy, chúng ta cần sắm lễ như thế nào? Bài khấn ông Hoàng Bảy ra sao? Ngày tiệc ông Hoàng Bảy? Cách xin lộc ông Hoàng Bảy Bảo Hà?…

Lào Cai thiêng nhất Bảo Hà Có ông Hoàng Bảy thật là phong lưu Nhân gian ai muốn cầu mưu Thường mang sính lễ về tâu Ông Hoàng Đền thờ ông Hoàng Bảy ở đâu?

Đền Ông Hoàng Bảy – Ngôi đền SỐ MÁ nổi tiếng Lào Cai

lichngaytot.com

 › Tâm linh

25 thg 2, 2024 — 

(Lichngaytot.com) Đền Ông Hoàng Bảy hay còn gọi là Đền Bảo Hà, … Ca dao có câu: “Cầu tài ông Bảy, cầu quan ông Mười”, ý muốn nói ai … Có nhiều người sau khi đi lễ tại đền ông Hoàng Bảy về, cứ mơ là đánh trúng.Câu nói hay về ông hoàng bảy.

VỀ BẢO HÀ LỄ ÔNG HOÀNG BẨY – Vũ Thế Sơn Photographer

vutheson.wordpress.com

 › ve-bao-ha-le-ong-hoang-bay

Những người hay đi hầu đồng thường truyền miệng nhau câu thơ: “…Lào Cai thiêng nhất Bảo Hà Có ông Hoàng Bẩy thật là phong lưu…

www.dongaphu.vn

 › 2011/06 › ong-hoang-bay

Mượn khúc cung đàn câu hát gợi hồn thơ … Bỗng cơn đen như gió thổi ào ào, năm canh ông Hoàng Bảy chút hết cả … Thập nhị tiên đàn lạy ông Bảy sai, thập nhị các cố tiên nàng, nghênh đón rước ông Bảy về Bảo Hà tôi tấu đối việc quan. … Dang khay văn mộc – Ông Bảy vẻ vang hay là … Ông nói rằng:

Sự tích đền ông Hoàng Bảy – Giang Anh

gianganh.net

 › Tứ Phủ Thánh Mẫu

Đền ông Hoàng Bảy – hay còn gọi là đền Bảo Hà – di tích nằm trên ngọn núi Cấm … dẫn du khách vì nhiều lý do; trong đó có những câu chuyện truyền kỳ khó tin. … xuyên tụ họp về đây để thắp hương tưởng niệm; cầu an; cầu lộc. … Có lẽ vì vậy; cứ nói đến ông Hoàng Bảy là chúng ta nghĩ đến một vị quan Câu nói hay về ông hoàng bảy.

Đền Bảo Hà và những biến tấu về quan điểm lễ thờ trong dân …

afamily.vn

 › den-bao-ha-bot-canh-chen-lan-do-anh-hu…

11 thg 2, 2024 — 

Trong quan điểm Tín ngưỡng thờ Mẫu của dân gian Việt Nam, Ông Hoàng Bảy hay Quan Hoàng Bảy là 1 vị thánh hay được người dân thờ …

Đi lễ ông Hoàng Bảy & Cách sắm lễ, bài văn khấn xin lộc …

docungtamlinhviet.com

 › di-le-ong-hoang-bay-cach-sa…

Vậy khi đi lễ ông Hoàng Bảy, chúng ta cần sắm lễ như thế nào? … đồ rẻ, đồ ôi; Mua hoa, quả cũng phải lựa lời mà nói: Hãy đợi hương cháy được 2/3 ta mới hạ lễ. … Các huyền tích về Ông gắn liền với nơi thờ Ông là đền Bảo Hà, Lào Cai. … vì biết đâu, mai các ngài mới đi duyệt, chứng lễ, thì mình thật phí công, bởi có câu:Câu nói hay về ông hoàng bảy.

tamlinh.org

 › quan-hoang-bay-va-tat-ca-nhung-dieu-ca…

Nội dung bài văn khấn ông Hoàng Bảy đầy đủ và chuẩn xác …

langmodagiare.com

 › noi-dung-bai-van-khan-ong-hoa…

… dù trong dân gian có nhiều câu chuyện truyền kỳ khác nhau giải đáp điều này. … Truyền thuyết kể rằng; Ông Hoàng Bảy hay thường gọi là Ông Bảy Bảo Hà. Ông là … thuốc phiện nên những người sát “căn” ông Bảy nếu về lễ ông rất có lộc. … Có giả thuyết lại nói rằng đền này thờ ông có tên là Hoàng Bẩy là thủ lĩnh của …

Bài thơ: Ông Hoàng Bẩy ở Bảo Hà, Lao Cai (dangvanhoan)

www.thivien.net

 › … › Trang thơ cá nhân › Thơ chọn lọc

Hàng năm có hàng vạn người từ khắp nơi về đền Bảo Hà dự lễ và cầu bình an, phúc lộc. (3)- Để thu phục tầng lớp thổ ty, tù trưởng người dân tộc Câu nói hay về ông hoàng bảy.

hatvan.vn

 › … › Tản Mạn › Thơ văn quán

Bài thơ em viết khi đi thăm Cô Chín và Ông Bảy. … 1 – Thăm Đền Hoàng Bảy Bảo Hà: … thì về cô chín thành đô quảng hàn. … Có Nên Cắt DUYÊN ÂM Hay không? bởi mantico, 12/12/20 lúc 17:29 … Vac_Xau_Xi nói: ↑.

HOÀNG MƯỜI.KHI THỈNH ÔNG VỀ … – Facebook

vi-vn.facebook.com

 › posts

Ông Hoàng Bẩy trong đền Bảo Hà là vị tướng hay trùm buôn …

vtc.vn

 › Phóng sự – Khám pháCâu nói hay về ông hoàng bảy.

Truyền thuyết được sử dụng nhiều nhất kể về ông Hoàng Bẩy như sau: … Xưa, người Lào Cai có câu: “Cọp Bảo Hà – ma Trái Hút” – câu cửa …

Đi tìm sự thật quái gở ở đền ông Hoàng Bẩy – VietNamNet

vietnamnet.vn

 › Đời sống

Nhắc đến ông Hoàng Bẩy, những người hay đi chùa, thích hầu đồng khắp … sang, trò chuyện rôm rả về ông Hoàng Bẩy, những câu chuyện linh nghiệm … thân thể đàn ông, mà nói giọng đàn bà, mãi sau tôi mới biết tên Sơn, …

Hãy trả lại sự linh thiêng cho ông Hoàng Bảy! – Báo pháp luật

baophapluat.vn

 › dan-sinh › hay-tra-lai-su-linh-thieng-…

Điện hoa tươi huyện Krong Pa – shop hoa tươi đẹpĐiện hoa tươi đẹp huyện Kbang  – những đoá hoa yêu thương

Trong dân gian lưu truyền nhiều khác nhau về vị quan Hoàng Bảy, trong đó có đoạn: … Chị nói, bạn em có căn ông Hoàng Bảy, tức là tuổi trẻ thì ăn chơi … về Bảo Hà ấy, đã có rất nhiều người như câu chuyện của chị Dương …

Tính cách người có căn ông Hoàng Bảy

Cách xin lộc ông Hoàng Bảy

Thờ văn ông Hoàng Bảy

Thờ ông Hoàng Bảy

Căn ông Hoàng Bảy như the nào

Đi lễ đền ông Hoàng Bảy cầu gì

Văn khấn ông Hoàng Bảy ngắn gọn

Hình anh ông Hoàng Bảy

điên hoa 24gio  , hoa tươi đẹp không tưởng, hoa tươi

dienhoavip.vn, đặt tên đẹp ,Những câu nói hay , Rối Loạn Cương dương ,

Đền Ông Hoàng Bảy Ở Đâu? Sự Tích Và Cách Dâng Lễ Quan Hoàng Bảy

Ông Hoàng Bảy hay Quan Hoàng Bảy Bảo Hà là vị thánh thuộc hàng vị thứ 7 trong Thập vị Quan Hoàng Tứ Phủ. Hằng năm cứ vào dịp tháng 7 (âm lịch), đất Bảo Hà, Lào Cai lại đông nghịt khách thập phương tiến về đền để chấp lễ, chấp bái nhà ngài.

Ông Hoàng Bảy là ai, lịch sử ông Hoàng Bảy như thế nào vẫn là câu chuyện có nhiều dị bản chưa được kiểm chứng chính xác. Dựa vào những tài liệu lịch sử đáng tin cậy thì ông là con Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình. Theo lệnh Vua Cha, cuối thời Lê, ông giáng trần làm con trai thứ Bảy trong dòng họ Nguyễn.

Khi giặc phương Bắc tràn vào nước ta xâm lược địa phận phủ Quy Hóa (nay là Yên Bái và Lào Cai) tình hình trong nước vô cùng hỗn loạn. Danh tướng thứ Bảy nhà họ Nguyễn được vua cử đi đánh đuổi giặc ngoại xâm. Ông đã giải phóng và xây dựng Bảo Hà thành khu căn cứ lớn để tổ chức các thổ ty và luyện tập quân sĩ. Khi lực lượng lớn mạnh, ông đã cho tập hợp quân tiến đánh giặc tại Lào Cai, giải phóng các châu thuộc phủ Quy Hóa.

– Ông Hoàng Bơ được thờ ở đâu – Sắm lễ dâng Ông Hoàng Bơ – Sự tích Ông Hoàng Mười giáng thế cứu nhân gian – nguồn gốc cái tên “Ông Mười Củi”

Chưa dừng lại ở đó, giặc Trung tiếp tục tràn qua nước ta qua biên giới phía Bắc để cướp bóc, đốt phá. Nhận lệnh Triều Đình, ông cầm quân đánh giặc dọc theo bờ sông Hồng, trấn giữ vùng biên ải nơi Bảo Hà, Lào Cai. Đồng thời, để củng cố sức mạnh nội bộ, ông đã chiêu dụ các thổ hào, thổ ty, mời người Dao, người Thổ lên khấn điền lập ấp. Bảo Hà lập tức trở thành căn cứ quân sự vững chắc trấn giữ nơi biên giới Tổ Quốc.

Tuy nhiên vào một trận đánh sau này, ông đã bị giặc bắt và tra khảo dã man. Tướng Nguyễn Hoàng Bảy nhất quyết không chịu khuất phục dưới tay giặc. Danh tướng nhà Nguyễn đã bị chúng sát hại rồi ném xuống sông. Di quan ông theo dòng sông Hồng trôi đến Bảo Hà, Lào Cai thì dừng lại. Nhân dân đã an táng và lập đền thờ mang tên Bảo Hà ở nơi đây để tưởng nhớ công ơn của ngài. Sau này ông được các triều vua và nhân dân phong danh “Thần Vệ Quốc”.

Sau khi hiển linh, Quan Hoàng Bảy không những nổi tiếng về giỏi kiếm cung mà còn rất phong lưu. Khi an nhàn ông thường ngả bàn đèn, ngồi chơi tổ tôm, xóc đĩa,… Vậy nên rất nhiều người nghĩ ông là vị thánh nghiện thuốc, nghiện cờ bạc,… và lan truyền những thông tin sai lệch làm hạ thấp hình ảnh cao đẹp của ông.

– Đấu hiệu nhận biết những người có căn Cô Chín – Sự tích về Cô Chín – Những người có căn Cô Bơ thường có tính cách như thế nào – Đền thờ và sẵm lễ dâng Cô Bơ

Lý do để giải thích cho việc này là để thu phục các thổ hào, tù trưởng đoàn kết lại với nhau, ông đã chủ động hòa mình vào cuộc sống của họ như uống rượu, đánh bạc, hút thuốc phiện,… Đây là cách tiếp cận và chiêu dụ họ bằng nhân tâm chứ không phải bằng biện pháp quân sự. Sau này, ông cũng chỉ giá ngự về đánh đàn, chơi tổ tôm vào những lúc an nhàn như một thú vui giải trí chứ không hề nghiện ngập. Ngài vẫn luôn là vị tướng có tài và cũng luôn răn dạy nhân dân phải tu tâm, giữ gìn phúc đức về sau.

Do đó, người ta cũng quan niệm rằng, những người có căn Ông Hoàng Bảy có đặc điểm rất rõ là hào hoa phong nhã. Bên cạnh đó, họ cũng sớm giác ngộ tâm linh, lấy đức độ người, khéo cầm kỳ văn xướng, khéo động lòng trắc ẩn, coi tiền danh phù du, xả thân trượng nghĩa….

Ông Hoàng Bảy là vị thần hay chấm lính bắt đồng cũng như ngự về đồng nhất trong hệ thống Thập Vị Ông Hoàng. Khi ngự về đồng, ông mặc áo tím chàm hoặc xanh lam, đầu đội khăn xếp thắt lét lam, cài chiếc kim lệch màu ngọc. Lúc ngự đồng, ông về tấu hương, khai hoang và cưỡi ngựa đi chấm đồng, trên tay cầm đôi hèo. Nếu ông chấm ai ông sẽ thảy cây hèo vào người đó. Cùng với ông khi đó đồng là Ngài ngự đồng. Ngài là một trong tứ vị Khâm sai, sẽ ngự tọa phán truyền và ban lộc phát tài cho người dâng lễ. Không sử dụng thuốc phiện để hầu ghế ông mà chỉ cần dâng 3 tuần trà ô long và thuốc lá khi ông giá ngự.

Đền thờ ông Hoàng Bảy – vị trí và cách di chuyển đến đền

Năm 1977, đền Bảo Hà được chứng nhận là di tích lịch sử quốc gia. Ngôi đền ngự tại chân đồi Cấm, xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Nơi đây nằm cách thành phố Lào Cai 60km và cách ga xe lửa Bảo Hà 900m. Hiện ngôi đền đã được tu sửa khang trang để tạo thuận lợi cho du khách hành hương.

Phong cảnh nơi đền thiêng vô cùng thơ mộng, bình yên, rừng núi bao quanh xanh một màu. Đối diện với dòng sông Hồng, lưng tựa vào núi, ngôi đền được cho là mang phong thái ung dung đĩnh đạc của quan Hoàng Bảy, là minh chứng cho sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc văn hóa truyền thống và khung cảnh thiên nhiên vĩ đại.

Ngày 17/7 hằng năm là ngày chính tiệc ông Hoàng Bảy. Vào ngày này, con hương lại nô nức sắm sửa đồ lễ dâng bái để cầu tài lộc, may mắn và bình an nơi cửa đền.

Nếu bạn đọc có nhu cầu tìm hiểu về lộ trình tới đền Ông Hoàng Bảy Bảo Hà, chúng tôi xin được cung cấp một số thông tin sau:

Từ bến xe Mỹ Đình tại Hà Nội, quý khách có thể bắt được xe khách đến thẳng Đền Bảo Hà. hoặc gọi thêm hotline đặt xe theo yêu cầu với giá vé dao động 180.000 đến 200.000đ/người. Thời gian di chuyển dự kiến 4h.

Hoặc bạn cũng có thể mua vé tàu chặng Ga Hà Nội – Lào Cai để xuống bến xe lửa Bảo Hà cách đền khoảng gần 1km. Thời gian di chuyển dự kiến là 6h.

Lộ trình di chuyển đến đền Bảo Hà bằng ô tô – thời gian di chuyển dự kiến là 3h30:

Cầu Nhật Tân rẽ vào QL2A – ĐCT131(các biển báo dành cho Thái Nguyên) – ĐCT05 (Phí cầu đường) – QL279(phí cầu đường) – Đền Bảo Hà.

Đồ lễ của ông Bảy mang sắc xanh lam hoặc tím chàm. Đây cũng là màu áo của ông khi ngự về đồng. Điều này sẽ thể hiện tấm lòng thành kính của con hương tới ông Bảy, mọi mong muốn sẽ cầu được ước thấy.

Ngoài hương, nhang, rượu hay hoa quả, thì những quanh oản là phẩm lễ được con hương đệ tử lựa chọn nhiều nhất. Vì khác với hương hoa trà quả, Oản Tài Lộc là vật phẩm cầu kỳ tỉ mĩ thường được, lưu lại rất lâu trên ban thờ. Vì đẹp và lưu được lâu nên nhiều con hương còn được tiến dâng thẳng vào cung cấm nhà ngài. Những quanh oản đẹp như vậy bạn có thể tìm mua tại Oản Cô Tâm. Tại đây, những mẫu oản Tứ Phủ, đặc biệt là lễ Ông Hoàng Bảy đều được làm ra sự nghiên cứu kỹ lưỡng về hệ thống tâm linh.

Ngoài ra, để tưởng nhớ và báo đáp lại công ơn của ông, người ta cũng thường sắm sửa vật lễ là điếu cày, kẹo lạc,… để ông thưởng thức.

Gió nam thoảng đưa hương bay ngào ngạt

Bóng ác tà đã gác non tây

Trăng in mặt nước vơi đầy

Bảo Hà có tích xưa nay còn truyền

Quan Hoàng Bảy trần miền Băc địa

Hợp binh hùng lục thuỷ Thao Giang

Quân cơ mưu lược luận bàn

Doang trung thường có hai hoàng vào ra

Quan Hoàng Bẩy Bảo Hà chính vị

Cùng tướng công đệ nhị Hoàng Hai

Can qua dâu bể biến dời

Anh hùng xưa đã ra người cung tiên

Nhớ công đức lập đền phụng sự

Thổ, Mán, Nùng tiên nữ dâng hoa

Thú vui điếu khách bàn trà

Phong lưu thuốc cống Bảo Hà dâng ông

Hoàng hoa tửu khăn hồng gối xếp

Ngự tính tình phong nguyệt hoạ ca

Nhắn ai lên đất Bảo Hà

Nếm mùi phong nguyệt ấy là thần tiên

Cõi Bắc địa còn truyền cổ tích

Quan Bảo Hà thực đích trung quân

Sinh thời làm tướng trung thần

Tấc lòng yêu nước thương dân hãy còn

Dẫu bể cạn non mòn cũng quyết

Thử ra tài cho biết oai danh

Bao phen lẫm liệt tung hoành

Định an xã tắc đề binh cõi ngoài

Đất Lào Cai là nơi dụng võ

Quyết ra tay đội ngũ tiến công

Biên cương súng nổ đùng đùng

Sa trường sương núi máu sông chẳng nề

Đem quân về Thất Khê phòng thủ

Đền Bảo Hà lạc thú huê viên

Mãn tuần chiếu hạc hồi thiên

Tấm thân thoát lánh nghiệp duyên cõi trần

Bỗng một trận sầu vân ám kết

Hiện chân hình dạo Bắc hết Nam

Vui cùng nước biếc trăng ngàn

Tốt tươi quả lạ trăng vàng đìu hiu

Độ dân xã ngày Nghiêu tháng Thuấn

Cõi Việt Nam Bắc trấn oai danh

Từ bi cải dữ làm lành

Chọn ngươi nữ tú nam thanh chấm đồng

Kẻ xuôi ngược dưới sông trên bộ

Ai khẩn cầu tế độ thì qua

Hoàng về trắc giáng điện toà

Hộ trì đệ tử vinh hoa thọ trường.

Ai lên Trái Hút Bảo Hà

Đền thờ ông Bảy ấy là cảnh tiên

Trước cửa đền thiên nhiên tạo dựng

Núi xếp tâng vách đứng cheo leo

Suối trong uốn lượn qua đèo

Sông sâu nước chảy thác reo quanh đồi

Đất Lao Cai chung linh dục tú

Huyện Bảo Yên mọi thú mọi xinh

Quan Bảy Hoàng tối tú anh linh

Sử xanh ghi chép lưu danh muôn đời

Khắp muôn nơi ơn nhờ đức cả

Vâng mệnh trời giáng hạ trần gian

Quan Hoàng vâng lệnh thiên nhan

Bách tiên chư tướng tiễn Hoàng xuất cung

Năm Cảnh Hưng hậu Lê lưu tích

Giặc Bắc phương đạo nghịch bất dung

Quan Bảy Hoàng đội lệnh tiên phong

Khởi binh dẹp loạn lên công hàng đầu

Vùng Quy Hóa ai hầu dễ biết

Châu Văn Bàn lập địa thành sơn

Gió mưa trăm trận chẳng sờn

Mưu cao kế hiểm biết hơn liệu đường

Gương trung chính cương thường hiếu nghĩa

Định thiên cơ trận địa chẳng sai

Thất nguyệt,chính nhật,nhật lai

Điện minh phụng bệ long ngai hiển thần

Nổi một trận phong vân gió thét

Mới hiển thần khắp hết đâu đâu

Bốn phương nam bắc khẩn cầu

Bảo Hà thắng tích nhiệm mầu còn ghi

Quan Hoàng Bảy độ trì ban phước

Thượng đẳng thần đã được sắc phong

Quyền cai tam phủ công đồng

Quyền Hoàng cai quản thanh đồng bốn phương

Khi nhàn hạ bàn đèn điếu thuốc

Chén rượu quỳnh càng chuốc càng say

Trà sen trà cúc thơm bay

Ô Long tiên tửu vơi đầy đầy vơi

Nay đệ tử văn mời giáng hạ

Thỉnh đức Hoàng xa giá ngự lên

Hoàng về trắc giáng bản đền

Khuông phù đệ tử thiên niên thọ trường.

Thơ(ngâm trước khi chuốc trà ngự thuốc…)

Khi vui hiến tửu nhậm trà

Ô long nha phiến yên hà rất sang

Diên tẩu thiết nhĩ đồng đen

Khay tầm hổ phách lạng nguyên vàng mười

Đầu xe bít ngọc tam khôi

Tiêm vàng móc bạc có chuôi bằng ngà

Khay tầm giát những vàng hoa

Chụp đèn ngọc thạch in hoa tứ bình

Hộp trầu ông khảm tứ linh

Bên trong long phượng đua tranh đôi đầu

Thuốc răm chính cống bên tàu

Mười hai tiên nữ tiêm hầu Hoàng xơi

Khói bay ngát bốn phương trời

Hút dăm ba điếu ngự vui thanh nhàn

Cô dâng nghiên mực bằng vàng

Cô dâng bút ngọc Quan Hoàng đề thơ

Thơ phú trong văn ông Bảy

Trần ai tri kỷ

Khách tài tình hồ dễ mấy ai hay

Cõi nhân sinh ba vạn sáu ngàn ngày

Say cũng luỵ không say thời cũng tục

Khoảng trời đất dọc ngang ngang dọc

Nợ tang bồng vay trả trả vay

Trái càn khôn hun đúc vững bền tay

Kho vô tận không xoay mà vẫn đủ

Giáo trăm trận xông pha ngoài huyệt hổ

Khách tài tình còn nợ thú phong lưu

Bóng hoa đăng soi tỏ mặt anh hào

Dẫu khanh tướng cũng siêu siêu mùi thế vị

Ai đã biết trần ai tri kỉ

Có hay lòng tráng sĩ lúc đêm xuân

Sáo vi vu gió đục mây vần

Cho bõ lúc tang bồng non với nước

Gió xuân thổi hương bay ngào ngạt

Vẳng cung đàn khúc hát gợi hồn xuân

Tài tình hỡi khách thi nhân

Vậy có thơ rằng:

Trù hoạch quân cơ tạm đắc nhàn

Nung gan thành sắt luyện tiên đan

Vi vu sáo trúc trời mây khói

Kỳ cục thâu canh đất nổi hoàng

Tuệ nhật sáng soi lòng dũng kiệt

Cương thường nặng gánh dạ sắt son

Ấy mùi phong nguyệt là thế thế

Giục ả phù dung Cuốc gọi hồn

Đượm mùi phong nguyệt nước non non

Đê mê quốc tuý quốc hồn xưa nay

Phù dung hồn hiện đau đây

Dường như ngọn cỏ cành cây la đà

Hay còn đắm nguyệt say hoa

Mau ra tiêm thuốc pha trà Quan Hoàng Bảy xơi

Con Vua Thượng Đế Đức Vua cha

Giáng tại sơn lâm trấn Bảo Hà

Diện mạo hồng hào tươi vẻ ngọc

Dung nghi tươi tốt khác nào hoa

Khi vui cung kiếm khi đàn hát

Nhã thú nhã yên lúc ẩm trà

Say thơ say phú say câu hát

Say nợ tang bồng tỉnh lại say

Say tình non nước câu kim cổ

Say với non sông chuyện tháng ngày

Khách trần hồ dễ ai hay

Tang bồng hồ thỉ hẹn ngày vinh hoa

Tuyết trắng trăng trong ,hoa thơm gió mát

Mượn cung đàn câu hát,diễn hồn thơ

Man mác không gian ,hương đưa khói toả

Chí tang bồng muôn ngả khắp mọi nơi

Trong vũ trụ rộng không thế giới

Giấc mơ màng cõi ấy bồng lai

Cảnh u nhàn tùng cúc trúc mai

Nơi tĩnh mịch thú riêng người biết thú

Nâng chén rượu ngâm câu thơ cổ

Phải chăng hồn Lý, Đỗ còn đây

Rượu bồ đào,nhấp cạn chưa say

Trà long tỉnh ,hương bay thoang thoảng

Hát nhịp một:

Nhắn ai lên đất Bảo Hà

Nếm mùi phong nguyệt đó là cảnh tiên (Xáng u xáng u lưu phàn)

Hỏi rằng mói gặp đào nguyên

Yên hà mới gặp cảnh tiên nơi phàm trần (Xáng u xáng u lưu phàn)

Cỏ cây hoa lá tần ngần

Hoa đào năm ngoái mười phần kém xa (Xáng u xáng u lưu phàn)

Phàm trần phút gặp người tiên

Lạ thay Lưu,Nguyễn cũng duyên tình cờ (Xáng u xáng u lưu phàn)

Cung trăng ai hẹn bao giờ

Vì đường đi hái thuốc tình cờ gặp tiên (Xáng u xáng u lưu phàn)

Lâng lâng rũ sạch ba nghìn

Một ngày đệ tử cũng duyên nợ nhiều (Xáng u xáng u lưu phàn)

Giang tay mở khoá động đào

Rẽ mây cho tỏ lối vào Bảo Hà Sơn (Xáng u xáng u lưu phàn)

Non xanh ai đúc nên bầu

Trần gian ai dễ được hầu mà theo (Xáng u xáng u lưu phàn)

Xanh xanh toà đá phủ rêu

Ai người có phúc được theo Ông Bảy Bảo Hà (Xáng u xáng u lưu phàn)

Lệnh sai thập nhị tiên nàng

Cô nào việc ấy sửa sang ra hầu

Cô Cả pha nước trà tàu

Sơn lâm vừa ý gật đầu ban khen

Cô Đôi dâng bộ khay đèn

Xe ngà tẩu sứ móc tiêm nạm vàng

Cô Ba dâng hộp thuốc ngang

Thế là vừa ý ông Hoàng sơn lâm

Cô Tư đốt đỉnh nhang trầm

Ngọn đèn khêu tỏ tay cầm móc tiêm

Cô Năm dâng hộp bánh nguyên

Kẹo lạc thuốc cống, cảnh tiên ai bì

Cô Sáu tính nết nhu mì

Dâng con tuấn mã, Hoàng đi chấm đồng

Cô Bảy nảy khúc đàn thông

Miệng ca tay múa năm cung nõn nà

Cô Tám dâng chiếc lược ngà

Hai tay chải chuốt thật là khéo thay

Cô Chín yểu điệu ai tày

Ngày ngày dâng một đôi giày hầu ông

Cô Mười thắt đáy lưng ong

Canh ba giờ tí lồng đèn bước ra

Cô Mười Một quạt nước pha trà

Ấm tiên bình ngọc,tay ngà dâng lên

Cô Mười Hai múa lượn sênh tiền

Mười hai tố nữ đôi bên rõ ràng về trắc giáng bản đền

Khuông phù đệ tử thiên niên thọ trường

Cảnh thanh nhàn Ông về giá ngự

Ngự về Đồng ông dự hội Tổ tôm

Màn loan chắn gió Đông nồm

Tiên Rồng bóng quế chiều hôm đánh bài.

Bóng ông hoàng khoan thai cách điệu,

Sập Công đồng trải chiếu Long vân.

Hương xông tỏa ngát xa gần

Giang tay châu báu kim ngân xoay bài.

Tiên Tứ cố Tam khôi Nhất Kính.

Tứ Thập Hồng, Bạch định, chi chi.

Tôm, lèo bạch thủ gà ly

Bí Tứ xuyên lục, nước gò Hoàng cũng chơi

Thất Văn đen xạm đen xì

Cùng cây tam sách cho vào đĩa tô

Hồi đầu bạch thủ ù chi

Hai lèo, tám đỏ lại thêm cửa trì.

Các cô mừng rỡ hò reo .

Hồi sau thông Bạch định, cả Chì cả tôm.

Nhắn ai lên tới chợ Cầu Nôm.

Hỏi chàng Cửu vạn chiều hôm đợi chờ.

Sông sâu nước chẩy lững lờ.

Cửu Vạn, Bát Sách còn chờ Chi Chi

Lúc thanh nhàn còn gì thú vị

Chơi ván bài so trí thấp cao

Ông Hoàng còn thú thanh tao

Bộ bài một trăm hai mươi nước các cô trao cho Hoàng

Tay tiên bắt các tiên nàng

Tam vạn tam sách có chàng thất văn

Ông cho hưởng lộc làm ăn

Buôn may bán tốt quanh năm lộc tài

Hồi sau chéo cánh xoay bài.

Xuống hai dịch một ai nào dám chơi

Trước Điện Tiên mua vui vào hội.

Dâng đào tiên đỏ ối điểm tâm.

Xoay bài chuyển nhạc bát âm.

Đàn thông nhạc vũ hòa cùng phụng minh

Lên Thiên đình vui cùng Tiên nữ.

Về Trần gian phụng sự uy linh.

Thần thông biến hóa hiện hình.

Độ cho Đệ tử hiển vinh đời đời.

Lệnh truyền điếu ống đồi mồi

Thuôc lào Vĩnh Bảo hút chơi vài tuần

Khói thơm tỏa khắp xa gần

Hương bay ngào ngạt hương xuân trẻ già

Kêu ròn tựa thể pháo hoa

Thuốc lào Tiên Lãng gần xa tiếng đồn

Đượm mùi phong nguyệt nước non

Đê mê quốc túy quốc hồn xưa nay

Đố ai hút thuốc không say

Ông hoàng hút thuốc khói bay rợp trời

Hoa thơm quả ngọt tốt tươi

Lộc ban già trẻ mọi người bình an

Mấy khi giá ngự trần phàm

Văn hay tiền hết hoàng ban khăn hồng

Lệnh truyền xa giá hồi cung

Ghế đem tiền chuộc khăn hồng dâng lên

Cuộc cờ xoá xoá bày bày

Ván bài tam cúc xưa nay tức cười

Được thua ván kết mà thôi

Khi suy tướng sĩ cũng đi đời nhà ma

Khi bình địa, lúc phong ba

Hiếu trung giữ tốt ấy là tài danh

Pháo kia nổi hiệu lôi oanh

Tốt không bảo vệ giữ mình được sao

Người nay đợi lệnh Thiên tào

Giữ xe pháo mã điều vào giáp công

Tốt đều mở hội xung phong

Bắc cầu sĩ tượng xe hồng tiến ra

Xưa nay việc nước việc nhà

Giữ bền sĩ tốt ấy là thành công

Đĩa vàng bát ngọc bày ra

Bạn tiên trải chiếu bày ra tức thì

Phàm tâm tả hữu hồ kỳ

Ông Bảy ngồi xóc đĩa bốn bề xôn xao

Tiếng tiền trong đĩa rào rào

Ông Bảy bán chẵn ghế nào dám cân

May ai có phúc có phần

Mở ra một sấc mười phân vẹn mười

Một quan giam lại thành hai

Ván sau gấp bốn hoàng thắng hoài như không

Trần gian khát nước tứ tung

Bảo nhau đánh lẻ khắp trong một bàn

Tiền tiền bạc bạc dư muôn

Biết dâu đen đỏ thiệt hơn thế nào

Cơn đen như gió thổi ào

Năm canh hoàng trút cả vào trần gian

Những toan xe giá về ngàn

Vẳng nghe tiếng hát quan hoàng lại ngự vui.

Truyền Thuyết Về Ông Già Noel Và Lễ Giáng Sinh

Ông già Noel được truyền thuyết cho rằng chỉ thưởng cho các em nào ngoan và biết vâng lời. Đêm Giáng sinh, ông già Noel sẽ trèo qua ống khói hoặc cửa sổ nhà để đặt quà trong các đôi tất màu đỏ mà các em đã treo gần lò sưởi. Nhiều ngày trước Noel tại Mỹ, cha mẹ thường bảo các con của họ viết thư cho ông già Noel kể lại những điều tốt mà các em đã làm trong năm và muốn được quà gì. Nhiều người vẫn cho rằng chuyện ông già Noel là huyền thoại, nhưng trên thực thế đây là truyền thuyết có thật và được chép như sau.

Santa Claus lại xuất phát từ truyền thuyết về một nhân vật có thật sống ở thế kỷ thứ 4 tên là Ni-kô-la. Ông là con một trong một gia đình theo đạo Cơ Ðốc giàu có. Ni-kô-la sinh ra vào khoảng những năm 280 tại Patara, một cảng nhỏ của thị trấn Lycia ở Thổ Nhĩ Kỳ. Khi còn nhỏ cậu bé đã được mẹ dạy rất nhiều về kinh thánh nhưng không may, cha mẹ qua đời do bệnh dịch, bỏ lại cậu cùng toàn bộ gia tài.

Ni-kô-la được nhiều người biết đến vì biết thương người nghèo và dành cả đời mình để phục vụ Chúa. Một lần, gặp ba cô gái trẻ không có người cầu hôn vì cha họ quá nghèo, ông liền lấy ba túi vàng và bỏ vào phòng ba cô gái nọ. Nhờ đó mà họ lấy được chồng và sống rất hạnh phúc. Mặc dù vậy, những người La Mã lại luôn khinh miệt ông, Họ bắt giam và tra tấn ông trong ngục tối. Khi Công-xtăng-tin trở thành hoàng đế La Mã thì ông đã trả tự do cho thánh Ni-kô-la . Cũng từ đó Công-xtăng-tin trở thành con chiên của đạo Cơ Ðốc. Ông triệu tập hội nghị Ni-a-xê-a và thánh Ni-kô-la được mời làm đại biểu của hội nghị. Thánh Ni-kô-la được đặc biệt ca tụng vì tình yêu của ông dành cho trẻ em. Người ta đồn rằng các món quà bất ngờ đều do thánh Ni-kô-la mang đến và cũng chính ngài là người luôn mang quà đến cho trẻ em vào các dịp Nô-en.

Bên cạnh đó, thánh Ni-kô-la còn là người bảo vệ cho các thuỷ thủ đảo Xi-xin-li của nước Hy Lạp và nước Nga. ở đất nước Hà Lan, truyền thuyết về thánh Ni-kô-la luôn sống mãi trong lòng mỗi người dân. Vào thế kỉ thứ 16, ở Hà Lan trẻ em thường đặt những chiếc giầy gỗ của mình bên cạnh lò sưởi với hy vọng là chúng sẽ được thánh Ni-kô-la thết đãi no nê. Người Hà Lan phát âm từ St. Nicholas (thánh Ni-kô-la) thành Sint Nicholaas, sau đó nói chệch thành Sinterklaas và cuối cùng được những người theo giáo phái Anh đọc thành Santa.

Sự Tích Ông Công Ông Táo

Ngày xưa, có hai vợ chồng son nhà nghèo sinh nhai bằng nghề làm thuê làm mướn.

Tuy nghèo nhưng họ rất yêu nhau. Thường buổi tối sau khi đi làm về, hai Vợ chồng ngồi bên bếp lửa hay dưới ánh trăng kể cho nhau những chuyện xa gần mới nghe được, hay hát những câu tình duyên, có khi vui vẻ quên cả cơm nước.

Một năm trời làm mất mùa, hạt gạo kiếm rất khó khăn. Tình trạng đói kém diễn ra khắp mọi miền. Hai Vợ chồng theo lệ cũ đi tìm việc ở các nhà giàu nhưng chả mấy ai thuê nữa. Người vay công lĩnh nợ thì đông mà gạo rất khan hiếm nên khó chen vào lọt. Hơn nữa, cổng mấy lão trọc phú lại thường đóng chặt vì chúng không muốn cho ai quấy nhiễu.

Túng thế hai Vợ chồng phải đi mò cua bắt ốc, hoặc đào củ, hái rau về ăn. Tuy có đỡ phần nào nhưng tình cảnh vẫn không mảy may sáng sủa. Cái chết luôn luôn đe dọa họ vì trận đói còn kéo dài. Một buổi chiều, sau khi húp vội mấy bát canh rau má, chồng bảo vợ:

– Tôi phải đi một nơi khác kiếm ăn, không thể ở nhà được.

Nghe chồng nói, người đàn bà đòi đi theo để sống chết có nhau. Nhưng người chồng bảo:

– Tôi chưa biết sẽ đi đến đâu và sẽ phải làm những gì. Nàng ở nhà dễ sống hơn tôi, không nên theo làm gì cho vất vả. Chưa biết chừng tôi sẽ nằm lại dọc đường để cho loài chim đến than khóc. Nhưng cũng chưa biết chừng tôi lại mang những quan tiền tốt bó mo về đây nuôi nàng cũng nên! Chao ôi! Số mệnh! Nàng hãy chờ tôi trong ba năm, nghe! Hết ba năm không thấy tôi trở về ấy là tôi đã bỏ xác quê người. Nàng cứ việc đi lấy chồng khác.

Người vợ khóc lóc thảm thiết như đứng trước cảnh tang tóc thực sự. Nhưng không biết làm thế nào cả, nàng đành phải để chồng ra đi.

Sau khi tiễn chồng, người đàn bà kiếm được việc làm ở một nhà kia. Nhà họ không giàu gì nhưng thương cảnh ngộ nàng, có ý giúp đỡ cho qua những ngày thảm đạm. ở đây, người đàn bà kiếm mỗi ngày hai bữa, trong đó có một bữa cháo bữa khoai. Nhờ lanh lẹn và xinh xắn nên nàng lấy được cảm tình của chủ. Nhưng hình dáng người chồng thân yêu không bao giờ phai nhạt trong tâm trí nàng.

Thời gian trôi nhanh như nước chảy. Người ta đã bớt nhắc đến trận đói khốc liệt vừa qua. Nàng thì ngày ngày hồi hộp chờ đợi chồng. Nhưng cây bưởi trước sân đã ba lần trổ hoa mà chồng nàng vẫn không thấy tăm dạng.

Giữa lúc ấy người chủ đã từng bao bọc nàng trong lúc đói, vừa chết vợ. Sẵn có tình cảm với nàng, người ấy ngỏ ý muốn được nối duyên cùng nàng. Nhưng người ấy đâu có hiểu được lòng của người thiếu phụ. Câu trả lời của nàng là:

– Chồng tôi hẹn tôi trong ba năm sẽ về. Đến bây giờ tôi mới tin là chồng tôi đã chết. Vậy cho tôi để tang chồng trong ba năm cho trọn đạo.

Ba năm nữa lại trôi qua một cách chóng vánh. Không tin tức cũng chẳng có một lời đồn về người chồng. Hàng ngày, những buổi chiều tà, nàng vẫn đăm đăm nhìn bóng người đi lại trên con đường cái quan. Và rồi nàng khóc cạn cả nước mắt. Người đàn ông kia giục nàng quyết định:

– Một là chồng nàng đã chết, hai là còn sống nhưng đã lập gia đình khác ở một nơi xa xôi hẻo lánh. Đằng nào nàng cũng khó mong tái hợp. Âu là cùng tôi lập một gia đình mới. Sức của tôi và của của tôi đủ bảo đảm cho nàng sung sướng trọn đời.

Nàng sửa lại vành khăn trắng đã ngả màu, cảm ơn hậu tình của anh ta và xin rốn chờ cho một năm nữa. Một năm nữa lại trôi qua không mang lại một tin tức gì mới mẻ. Lần này nàng mới tin là chồng mình chết thật. Sau một bữa rượu cúng chồng và đãi họ hàng làng xóm, nàng đến ở cùng người chồng mới.

* * *

Đột nhiên sau đó ba tháng, người chồng cũ xách khăn gói trở về quê hương. Chàng không có vẻ gì khấm khá hơn trước. Chàng chỉ ôm một hy vọng là được gặp lại người vợ yêu. Nhưng vườn cũ nay đã thuộc về chủ mới. Chàng lẩm bẩm: – “Thế là hết. Bởi số cả!”.

Việc người đàn ông đột ngột trở về làm cho mọi người ngơ ngác. Nhất là đôi Vợ chồng mới cưới không còn biết ăn nói làm sao bây giờ. Người đàn bà xấu hổ không dám gặp mặt. Nhưng người chồng cũ đã tìm đến họ và an ủi họ.

– Tôi đi vắng lâu quá. Cái đó hoàn toàn là lỗi ở tôi. Nàng xử sự như thế rất đúng. Tôi chỉ cần về gặp nàng một chút. Thế là đủ. Bây giờ tôi sẽ đi khỏi nơi này mãi mãi.

Mặc dầu người vợ nài nỉ hết sức, mặc dầu người chồng mới xin trả lại vợ, nhưng chàng nhất quyết dứt áo ra đi. Chàng không nỡ phá hạnh phúc của họ. Mà chàng cũng không có gan đi đâu xa vì không thể quên được vợ cũ. Băn khoăn dằn vặt hành hạ tâm trí chàng. Đầu óc rối như mớ bòng bong. Chàng nghĩ đến cái chết và trong một lúc cuồng loạn, chàng tự treo cổ lên cây đa đầu làng.

Cái chết kinh khủng đó như một tiếng sét nổ vào đầu người đàn bà. Nàng cảm thấy chính mình là thủ phạm gây ra cái chết của người chồng cũ. Tại sao ta chờ chồng được bảy năm trời mà không ráng chờ thêm ít lâu nữa? Tại sao thấy chồng trở về, ta không dám giáp mặt? Nàng không tự chủ được nữa. Tất cả những câu hỏi như lên án một cách âm thầm nhưng kịch liệt trong đầu óc nàng.

Thế rồi buổi sáng hôm sau, trong khi người ta sắp sửa cất đám người đàn ông bạc mệnh thì người ta lại hoảng hốt kéo nhau đi vớt tử thi người đàn bà dưới cái ao bên cạnh nhà.

Người chồng mới sau khi làm ma cho vợ, trở nên như người mất trí. Hai cái chết đánh mạnh vào đầu óc mọi người, riêng đối với chàng chưa bao giờ có một sự xúc động dữ dội đến như thế. Chàng luôn miệng kêu to: – “Tại sao ta cố ý cướp vợ của người khác!”. Rồi một hôm, sau khi đem hết gia sản chia cho họ hàng và cúng vào chùa, chàng uống thuốc độc tự tử.

Lúc xuống đến thế giới bên kia, cả ba người đều được đưa tới trước tòa án của Diêm vương để định công luận tội. Tất cả mọi người một khi đã đến đây đều phải khai rõ sự thật.

Theo lời khai của người chồng cũ thì chàng không thể nào xa lìa vợ cũ. Chàng sở dĩ chết ở làng là chỉ mong luôn luôn được gần gũi nàng. Người chồng mới cũng khai rằng chàng có cảm tình rất sâu xa đối với người vợ mới mặc dầu mới chính thức lấy nhau chỉ có ba tháng. Khi Diêm vương hỏi tình của chàng đối với người vợ cũ như thế nào thì chàng giơ ngón tay so sánh rằng một bên mười, một bên chưa được một. Đến lượt người đàn bà thì nàng thú thật rằng cái tình của nàng đối với chồng cũ choán một chỗ rộng rãi trong lòng mình, đồng thời đối với người chồng mới, nàng cũng không thể nào quên được tình cảm nồng nhiệt của chàng.

Diêm vương ngồi nghe rất cảm động. Những người như thế này cũng thật hiếm có. Cần phải làm cho bộ ba ấy sống gần nhau mãi mãi. Sau một hồi lâu suy nghĩ, Diêm vương cho ba người hóa thành ba ông đầu rau để cho họ khỏi lìa nhau và để cho ngọn lửa luôn luôn đốt nóng tình yêu của họ. Đồng thời, vua còn phong cho họ chức Táo quân trông nom từng bếp một, nghĩa là từng gia đình một trên trần thế.

Cập nhật thông tin chi tiết về Truyền Thuyết Ông Hoàng Mười; Ông Hoàng Bảy trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!