Xu Hướng 2/2024 # Truyện Cổ Tích Tấm Cám Bản Gốc # Top 9 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Truyện Cổ Tích Tấm Cám Bản Gốc được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Gửi đến độc giả: Đây là bản nguyên tác truyện cổ tích Tấm Cám, vì còn nhiều ý kiến trái chiều trong đoạn cuối của câu chuyện nên Đọc truyện cổ tích sẽ up cả bản mới đã chỉnh sửa lại phần kết và bản nguyên gốc. TẤM CÁM

Ngày xửa ngày xưa, có hai chị em cùng cha khác mẹ, chị tên là Tấm, em tên là Cám. Mẹ Tấm mất sớm, sau đó mấy năm cha Tấm cũng qua đời, Tấm ở với dì ghẻ là mẹ Cám. Bà mẹ kế này rất cay nghiệt, bắt Tấm phải làm hết mọi việc nặng nhọc từ việc nhà đến việc chăn trâu cắt cỏ. Trong khi đó Cám được nuông chiều không phải làm gì cả.

Một hôm bà ta cho hai chị em mỗi người một cái giỏ bảo ra đồng xúc tép, còn hứa “Hễ đứa nào bắt được đầy giỏ thì thưởng cho một cái yếm đỏ”. Ra đồng, Tấm chăm chỉ bắt được đầy giỏ, còn Cám thì mải chơi nên chẳng bắt được gì.

Thấy Tấm bắt được một giỏ đầy, Cám bảo chị :

– Chị Tấm ơi, chị Tấm! Đầu chị lấm, chị hụp cho sâu, kẻo về mẹ mắng.

Tin là thật, Tấm bèn xuống ao lội ra chỗ sâu tắm rửa. Cám thừa dịp trút hết tép của Tấm vào giỏ của mình rồi ba chân bốn cẳng về trước. Lúc Tấm bước lên chỉ còn giỏ không, bèn ngồi xuống bưng mặt khóc hu hu. Nghe tiếng khóc của Tấm, Bụt liền hiện lên hỏi :

– Làm sao con khóc ?

Tấm kể lể sự tình cho Bụt nghe, Bụt bảo:

– Thôi con hãy nín đi ! Con thử nhìn vào giỏ xem còn có gì nữa không?

Tấm nhìn vào giỏ rồi nói : – Chỉ còn một con cá bống.

– Con đem con cá bống ấy về thả xuống giếng mà nuôi. Mỗi bữa, đáng ăn ba bát thì con ăn hai còn một đem thả xuống cho bống. Mỗi lần cho ăn con nhớ gọi như thế này:

Bống bống bang bang Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người.

Không gọi đúng như thế thì nó không lên, con nhớ lấy !

Nói xong Bụt biến mất. Tấm theo lời Bụt thả bống xuống giếng. Rồi từ hôm ấy trở đi, cứ mỗi bữa ăn, Tấm đều để dành cơm, giấu đưa ra cho bống. Mỗi lần nghe Tấm gọi, bống lại ngoi lên mặt nước đớp những hạt cơm của Tấm ném xuống. Người và cá ngày một quen nhau, và bống ngày càng lớn lên trông thấy.

Truyện cổ tích Tấm Cám

Thấy Tấm sau mỗi bữa ăn thường mang cơm ra giếng, mụ dì ghẻ sinh nghi, bèn bảo Cám đi rình. Cám nấp ở bụi cây bên bờ giếng nghe Tấm gọi bống, bèn nhẩm lấy cho thuộc rồi về kể lại cho mẹ nghe. Tối hôm ấy mụ dì ghẻ lấy giọng ngọt ngào bảo với Tấm:

– Con ơi con! Làng đã bắt đầu cấm đồng rồi đấy. Mai con đi chăn trâu, phải chăn đồng xa, chớ chăn đồng nhà, làng bắt mất trâu.

Tấm vâng lời, sáng hôm sau đưa trâu đi ăn thật xa. Ở nhà, mẹ con Cám mang bát cơm ra giếng cũng gọi bống lên ăn y như Tấm gọi. Nghe lời gọi, bống ngoi lên mặt nước. Mẹ Cám đã chực sẵn, bắt lấy bống đem về nhà làm thịt.

Đến chiều Tấm dắt trâu về, sau khi ăn xong Tấm lại mang bát cơm để dành ra giếng, Tấm gọi nhưng chả thấy bống ngoi lên như mọi khi. Tấm gọi mãi, gọi mãi, cuối cùng chỉ thấy cục máu nổi lên mặt nước. Biết là có sự chẳng lành cho bống, Tấm òa lên khóc. Bụt lại hiện lên hỏi:

– Con làm sao lại khóc ?

Tấm kể sự tình cho Bụt nghe, Bụt bảo:

– Con bống của con, người ta đã ăn thịt mất rồi. Thôi con hãy nín đi ! Rồi về nhặt xương nó, kiếm bốn cái lọ bỏ vào, đem chôn xuống dưới bốn chân giường con nằm.

Tấm trở về theo lời Bụt đi tìm xương bống, nhưng tìm mãi các xó vườn góc sân mà không thấy đâu cả. Một con gà thấy thế, bảo Tấm :

– Cục ta cục tác ! Cho ta nắm thóc, ta bưới xương cho !

Tấm bốc nắm thóc ném cho gà. Gà chạy vào bếp bới một lúc thì thấy xương ngay. Tấm bèn nhặt lấy bỏ vào lọ và đem chôn dưới chân giường như lời bụt dặn.

Ít lâu sau nhà vua mở hội trong mấy đêm ngày. Già trẻ gái trai các làng đều nô nức đi xem, trên các nẻo đường, quần áo mớ ba mớ bẩy dập dìu tuôn về kinh như nước chảy. Hai mẹ con Cám cũng sắm sửa quần áo đẹp để đi trẩy hội. Thấy Tấm cũng muốn đi, mụ dì ghẻ nguýt dài, sau đó mụ lấy một đấu gạo trộn lẫn với một đấu thóc, bảo Tấm:

– Khi nào nhặt riêng gạo và thóc ra hai đấu thì mới được đi xem hội.

Nói đoạn, hai mẹ con quần áo xúng xính lên đường. Tấm tủi thân òa lên khóc. Bụt lại hiện lên hỏi:

– Làm sao con khóc?

Tấm chỉ vào cái thúng, thưa:

– Dì con bắt phải nhặt thóc ra thóc, gạo ra gạo, rồi mới được đi xem hội, lúc nhặt xong thì hội đã tan rồi còn gì mà xem.

Bụt bảo: – Con đừng khóc nữa. Con mang cái thúng đặt ra giữa sân, để ta sai chim sẻ xuống nhặt giúp.

– Nhưng ngộ nhỡ chim sẻ ăn mất thì khi về con vẫn cứ bị đòn.

– Con cứ bảo chúng nó thế này:

Ăn mất hạt nào thì tao đánh chết Rặt rặt (con chim sẻ) xuống nhặt cho tao

Thì chúng nó sẽ không ăn của con đâu.

Bụt vừa dứt lời, ở trên không có một đàn chim sẻ đáp xuống sân nhặt thóc ra một đằng, gạo ra một nẻo. Chúng nó lăng xăng ríu rít chỉ trong một lát đã làm xong, không suy suyển một hạt. Nhưng khi chim sẻ bay đi rồi, Tấm lại nức nở khóc. Bụt lại bảo:

– Con làm sao lại khóc?

– Con rách rưới quá, người ta không cho con vào xem hội.

Truyện cổ tích Tấm Cám

– Con hãy đào những cái lọ xương bống đã chôn ngày trước lên thì sẽ có đủ thứ cho con trẩy hội.

Tấm vâng lời, đi đào các lọ lên. Đào lọ thứ nhất lấy ra được một cái áo mớ ba, một cái áo xống lụa, một cái yếm lụa điều và một cái khăn nhiễu. Đào lọ thứ hai lấy ra được một đôi hài thêu. Đào lọ thứ ba thì thấy một con ngựa bé tí, nhưng vừa đặt con ngựa xuông đất bỗng chốc nó đã hí vang lên và biến thành ngựa thật. Đào đến lọ cuối cùng thì lấy ra được một bộ yên cương xinh xắn.

Truyện Cổ Tích: Tấm Cám (Bản Gốc)

TRUYỆN CỔ TÍCH TẤM CÁM

Mụ dì ghẻ này rất cay nghiệt. Ngày qua ngày bà ta bắt Tấm phải làm hết việc nhà cho đến mọi việc nặng nhọc: hết chăn trâu, cắt cỏ, gánh nước, đến thái khoai, vớt bèo, ban đêm lại còn xay lúa giã gạo mà không hết việc. Trong khi đó Cám được mẹ nuông chiều, suốt ngày rong chơi, không phải làm việc nặng.

Hôm nọ, bà ta đưa cho hai chị em mỗi người một cái giỏ bảo ra đồng xúc tép, và nói:

– Hễ đứa nào bắt được đầy giỏ tép thì ta sẽ thưởng cho một cái yếm đỏ.

– Chị Tấm ơi, chị Tấm! Đầu chị lấm bùn hết rồi kìa, chị mau đi hụp cho sâu gội đầu sạch sẽ, kẻo về mẹ mắng.

Tấm thật thà, tin là thật, bèn xuống ao lội ra chỗ sâu tắm gội. Cám thừa dịp trút hết tôm tép của Tấm vào giỏ của mình rồi ba chân bốn cẳng chạy về nhà trước. Tấm gội đầu xong, bước lên bờ thì thấy chỉ còn giỏ không, không dám về nhà vì sợ dì mắng, Tấm ngã quỵ xuống đất ngồi bưng mặt khóc nức nở.

Nghe tiếng khóc của Tấm, Bụt liền hiện lên hỏi:

– Vì sao con khóc?

Tấm kể lại hết sự tình cho Bụt nghe, Bụt bảo:

– Thôi con hãy nín đi! Con thử nhìn vào trong giỏ xem còn gì nữa không?

Tấm nhìn vào giỏ rồi nói:

– Dạ chỉ còn một con cá bống.

Bụt dặn dò Tấm:

– Con đem con cá bống ấy về thả xuống giếng mà nuôi. Mỗi bữa, con mang cho bống một ít cơm. Mỗi lần cho ăn con nhớ gọi thế này:

“Bống bống bang bang Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người.”

Không gọi đúng như thế thì nó không lên, con nhớ lấy!

Nói xong Bụt biến mất. Tấm về nhà làm theo lời dặn của Bụt, thả bống xuống giếng. Rồi từ hôm ấy trở đi, cứ mỗi bữa ăn, Tấm đều để dành cơm, giấu đem ra cho bống. Mỗi lần nghe Tấm gọi, bống lại ngoi lên mặt nước đớp từng hạt cơm mà Tấm ném xuống. Người và cá ngày một quen nhau, bống ngày càng lớn lên trông thấy.

Thấy Tấm thường mang cơm ra giếng, mụ dì ghẻ sinh nghi, bèn sai Cám đi rình. Cám nấp ở bụi cây gần bờ giếng nghe Tấm gọi bống, bèn nhẩm thuộc rồi về kể lại cho mẹ nghe. Tối hôm ấy mụ dì ghẻ lấy giọng ngọt ngào bảo với Tấm:

– Con ơi con! Làng đã bắt đầu cấm đồng rồi đấy. Mai con đi chăn trâu, phải chăn đồng xa, chớ chăn đồng nhà, làng bắt mất trâu.

Tấm vâng lời, sáng hôm sau đưa trâu đi ăn thật xa. Ở nhà, mẹ con Cám mang bát cơm ra giếng, cũng gọi y như Tấm gọi. Bống vừa ngoi lên mặt nước, mẹ Cám đã chực sẵn, bắt lấy bống đem về nhà làm thịt ăn.

Đến chiều Tấm dắt trâu về, sau khi ăn xong Tấm lại mang cơm ra giếng, Tấm gọi nhưng chả thấy bống ngoi lên như mọi khi. Tấm gọi mãi, gọi mãi, cuối cùng chỉ thấy một cục máu nổi lên mặt nước. Biết là có chuyện chẳng lành, Tấm òa lên khóc. Bụt lại hiện lên hỏi:

– Tại sao con lại khóc?

Tấm kể sự tình cho Bụt nghe, Bụt bảo:

– Con bống của con, người ta đã ăn thịt mất rồi. Thôi con hãy nín đi! Rồi về nhặt xương nó, kiếm 4 cái lọ bỏ vào, đem chôn xuống dưới 4 chân giường con nằm.

Tấm trở về theo lời Bụt đi tìm xương bống, nhưng tìm mãi các xó vườn góc sân mà không thấy đâu cả. Một con gà thấy thế, kêu lên:

– Cục ta cục tác! Cho ta nắm thóc, ta bới xương cho!

Tấm bốc nắm thóc ném cho gà. Gà chạy vào bếp bới một lúc thì thấy xương ngay. Tấm bèn nhặt lấy bỏ vào 4 cái lọ và đem chôn dưới chân giường như lời bụt dặn.

Ít lâu sau nhà vua mở hội trong mấy đêm ngày. Trên các nẻo đường, già trẻ gái trai trong làng đều nô nức dập dìu tuôn về kinh như nước chảy. Hai mẹ con Cám cũng sắm sửa quần áo đẹp để đi trẩy hội. Thấy Tấm cũng muốn đi, mụ dì ghẻ nguýt dài, sau đó mụ lấy một đấu gạo trộn lẫn với một đấu thóc, bảo Tấm:

– Khi nào nhặt riêng gạo và thóc ra hai đấu thì mới được đi xem hội.

Nói đoạn, hai mẹ con Cám xúng xính vận quần áo đẹp lên đường đi trảy hội. Tấm tủi thân òa lên khóc. Bụt lại hiện lên hỏi:

– Tại sao con khóc?

Tấm chỉ vào cái thúng, thưa rằng:

– Thưa dì con bắt phải nhặt thóc ra thóc, gạo ra gạo, rồi mới được đi xem hội. Nhưng lúc nhặt xong thì hội đã tan mất rồi, chẳng còn gì để mà xem nữa ạ.

Bụt bảo: “Thôi con đừng khóc nữa. Con mang cái thúng đặt ra giữa sân, để ta sai chim sẻ xuống nhặt giúp cho.”

– Dạ… nhưng ngộ nhỡ chim sẻ ăn hết, thì khi về con sẽ bị đòn mất.

– Con cứ bảo chúng nó thế này:

“Rặt rặt (con chim sẻ) xuống nhặt cho tao Ăn mất hạt nào thì tao đánh cho Thì chúng nó sẽ không ăn của con đâu.”

Bụt vừa dứt lời, ở trên không có một đàn chim sẻ đáp xuống sân nhặt thóc ra một bên, gạo ra một bên. Chúng lăng xăng ríu rít, chỉ trong chốc lát đã nhặt xong, không vơi một hạt nào. Nhưng khi gạo đã nhặt xong, bầy chim sẻ bay đi rồi, Tấm lại nức nở khóc. Bụt lại hiện lên bảo:

– Nguyên do vì sao con lại khóc?

– Dạ nhìn con rách rưới quá, sợ rằng người ta không cho con vào xem hội.

– Con hãy đào những cái lọ xương bống đã chôn ngày trước lên thì sẽ có đủ những thứ con cần để con đi trẩy hội.

Tấm vâng lời, đi đào các lọ lên. Tấm đào lọ thứ nhất thấy toàn quần áo đẹp, lọ thứ hai lấy ra được một đôi hài thêu hoa, lọ thứ ba thì thấy có một con ngựa bé tí, nhưng vừa đặt con ngựa xuống đất bỗng chốc nó đã hí vang lên và biến thành ngựa thật. Đào đến lọ cuối cùng thì Tấm lấy ra được một bộ yên cương xinh xắn.

Tấm mừng quá vội tắm rửa rồi mặc quần áo mới vào. Trong phút chốc Tấm trở nên xinh đẹp, cưỡi lên lưng ngựa phóng như bay đến kinh thành. Nhưng khi ngựa phi qua một cây cầu đá để vào thành, chiếc hài của Tấm bỗng tuột khỏi chân rơi xuống nước, không kịp nhặt. Khi ngựa dừng lại ở trong hội, Tấm lấy khăn gói chiếc giầy còn lại rồi chen vào biển người.

Khi đoàn xa giá chở vua đi đến chân cầu. Hai con voi ngự dẫn đầu đoàn bỗng nhiên cắm ngà xuống đất kêu rống lên, không chịu đi qua cầu. Vua thấy vậy, bèn sai quân lính tìm kiếm xung quanh xem có gì lạ không, quân lính lập tức bủa vây tìm kiếm, phát hiện trên mặt nước có một chiếc hài thiêu hoa, họ liền vớt lên trình cho Vua xem. Vua ngắm nghía chiếc hài hồi lâu không chán và tấm tắc khen: “Chiếc hài này quả thật tinh xảo, lần đầu tiên Trẫm mới nhìn thấy một chiếc hài đẹp sắc xảo đến vậy! Người đi chiếc hài này chắc hẳn phải là trang tuyệt sắc”.

Vua liền truyền lệnh: mời tất cả những người con gái đi xem hội ướm thử hài, hễ ai đi vừa chiếc hài thì sẽ được vua lấy làm vợ.

Đám hội bỗng trở nên náo nhiệt, các bà, các cô chen nhau đến chỗ thử giầy. Nhưng chẳng có ai đi vừa cả. Mẹ con nhà Cám cũng vào ướm thử hài cầu may, nhưng không tài nào vừa được.

Khi mẹ con Cám vừa bước ra thì gặp Tấm, Cám ghé tai nói nhỏ với mẹ:

– Mẹ ơi, ai như chị Tấm cũng đi thử hài đấy!

Mụ dì ghẻ bĩu môi:

– Con nỡm, chuông khánh còn chẳng ăn ai nữa là mảnh chĩnh vứt ngoài bờ tre!

Đến lượt Tấm, khi nàng vừa đặt chân vào chiếc hài thì vừa như in. Nàng mở khăn lấy chiếc hài còn lại đi vào, 2 chiếc giống nhau như đúc. Bọn lính hầu vỗ tay hò reo vui mừng. Lập tức vua sai đoàn tuỳ tùng rước nàng vào cung. Tấm bước lên kiệu trước con mắt ngạc nhiên, ganh tỵ và hằn học của mẹ con Cám.

Tấm tuy sống sung sướng trong hoàng cung, nhưng vẫn không quên ngày giỗ cha. Nàng xin phép vua cho về thăm nhà và sửa soạn cỗ cúng cha giúp dì. Mẹ con Cám thấy Tấm trở về ngoài mặt thì ra vẻ mừng rỡ nhưng trong bụng lại ghen ghét đố kị, tìm cách hại nàng. Nghĩ ra được kế hay, mụ dì ghẻ bảo Tấm:

Tấm vâng lời trèo lên cây cau, trèo lên tới sát buồng cau, thì ở dưới đất, mẹ con Cám cầm dao đốn gốc. Thấy cây rung chuyển, Tấm hỏi:

– Dì làm gì dưới gốc thế?

– Gốc cau lắm kiến, dì đuổi kiến để nó khỏi lên đốt con.

Tấm chưa kịp xé buồng cau, thì cây cau đã đổ. Tấm ngã lộn cổ xuống ao chết. Mụ dì ghẻ vội lấy quần áo của Tấm mặc cho Cám và đưa Cám vào cung thay Tấm chăm sóc nhà vua. Vua nghe vậy trong bụng không vui, nhưng không nói lời nào.

Tấm chết hóa thành chim Vàng Anh bay về cung, thấy Cám đang giặt quần áo cho vua. Vàng Anh hót:

– Phơi áo chồng tao, phơi lao phơi sào, chớ phơi bờ rào, rách áo chồng tao.

Rồi chim Vàng Anh bay thẳng vào cung hót ríu rít rất vui tai. Vua đi đâu chim bay theo đó. Từ ngày Tấm mất, nhà Vua buồn lắm, lúc nào cũng nhớ đến Tấm. Thấy chim vàng anh quyến luyến theo mình không rời, vua thấy lạ bèn bảo:

– Vàng ảnh vàng anh, có phải vợ anh, chui vào tay áo.

Chim vàng anh lập tức bay lại đậu vào tay vua, rồi rúc vào tay áo. Vua yêu quý vàng anh đến quên ăn quên ngủ… Vua sai làm một cái lồng bằng vàng cho chim ở. Từ đó, ngày đêm vua chỉ mải mê với chim, không đoái hoài gì đến Cám.

Cám ghen tị với chim Vàng Anh vội về mách mẹ. Mẹ Cám xui Cám cứ bắt chim làm thịt ăn rồi kiếm điều nói dối vua. Trở về cung vua, Cám làm theo lời mẹ, nhân lúc Vua đi vắng, Cám bắt chim làm thịt nấu ăn rồi vứt lông chim ở ngoài vườn.

Thấy mất Vàng anh, vua hỏi, Cám đáp:

– Trong lúc bệ hạ đi vắng, Vàng Anh đã bị mèo vồ bắt mất rồi.

Vua nghe xong, không nói gì cả. Lặng người đi vì buồn.

Nơi vứt lông chim vàng anh bỗng mọc lên hai cây xoan đào, cành lá tươi tốt. Khi vua đi dạo vườn ngự, cành lá của chúng sà xuống che kín thành bóng, như hai cái lọng. Vua thấy cây rợp bóng mát, liền sai lính hầu mắc võng vào hai cây rồi nằm chơi hóng mát. Khi vua đi khỏi thì cành cây lại vươn thẳng trở lại. Kể từ đó, không ngày nào Vua không ra nằm hóng mát dưới hai cây xoan đào.

Cám biết chuyện, lại ghen tị với 2 cây xoan đào chạy về nhà mách mẹ. Mẹ nó bảo, cứ sai thợ chặt cây làm khung cửi rồi lại kiếm điều dối vua. Về đến cung, nhân một hôm gió bão, Cám sai thợ chặt cây xoan đào lấy gỗ đóng khung cửi. Thấy cây bị chặt, vua hỏi thì Cám đáp:

– Cây bị đổ vì bão, thiếp sai thợ chặt làm khung cửi để dệt áo cho bệ hạ.

Nhưng khi khung cửi đóng xong. Cám ngồi vào dệt lúc nào cũng nghe thấy tiếng khung cửi rủa mình:

“Cót ca cót két Tranh lấy chồng chị. Chị khoét mắt ra”

Thấy vậy Cám sợ hãi, vội về nhà mách mẹ. Mẹ nó bảo đốt quách khung cửi, rồi đem tro đi đổ cho rõ xa để được yên tâm. Về đến cung, Cám làm như lời mẹ nói. Nó đem tro đã đốt đi đổ ở lề đường cách xa hoàng cung.

Đống tro bên đường lại mọc lên một cây thị cao lớn, cành lá xum xuê. Đến mùa có quả, cây thị chỉ đậu được có một quả, nhưng mùi thơm ngát tỏa ra khắp nơi. Bà lão hàng nước gần đó có một hôm đi qua dưới gốc cây, ngửi thấy mùi thơm, ngẩng đầu nhìn lên thấy quả thị trên cành cao, bà bèn giơ bị ra mà rằng:

Bà lão vừa nói dứt lời, quả thị rụng ngay vào bị bà. Bà lão nâng niu quả thị đem về nhà cất trong buồng, thỉnh thoảng lại vào ngắm nhìn và ngửi mùi thơm.

Ngày nào bà lão cũng đi chợ sớm. Từ trong quả thị bỗng có một cô gái thân hình bé nhỏ như ngón tay bước ra, nhưng chỉ trong chớp mắt nàng đã biến thành Tấm. Tấm vừa bước ra đã cầm lấy chổi quét dọn nhà cửa sạch sẽ, rồi đi vo gạo thổi cơm, hái rau ở vườn nấu canh giúp bà lão hàng nước. Khi nghe thấy tiếng bà lão đi chợ về, Tấm lại thu mình bé nhỏ lại, rồi chui vào quả thị.

Lần nào đi chợ về, bà lão cũng thấy nhà cửa ngăn nắp, cơm ngon, canh ngọt sẵn sàng, thì lấy làm lạ lắm.

Một hôm bà lão giả vờ đi chợ, nhưng đến nửa đường lại lén quay về, rình ở bụi cây sau nhà. Trong lúc đó, Tấm từ quả thị bước ra rồi cũng làm việc như mọi ngày. Bà lão rón rén, bước lại nhìn vào khe cửa. Khi thấy cô gái xinh đẹp từ trong quả thị bước ra đang dọn dẹp nhà cửa thì bà mừng quá, bất thình lình xô cửa vào ôm choàng lấy Tấm và xé vụn vỏ thị.

Từ đó Tấm ở với bà hàng nước, hai người thương yêu nhau như hai mẹ con. Hàng ngày Tấm giúp bà lão các việc thổi cơm, nấu nước, gói bánh, têm trầu để cho bà bán hàng.

Một hôm vua xuất hành ra khỏi hoàng cung, Thấy có quán nước bên đường sạch sẽ, bèn ghé vào. Bà lão mang trầu, nước dâng lên vua. Thấy trầu têm cánh phượng, vua sực nhớ tới trầu vợ mình têm ngày trước cũng y như vậy, liền hỏi:

– Trầu này ai têm?

– Trầu này con gái lão têm – bà lão đáp.

– Con gái của bà đâu, gọi ra đây cho ta xem mặt.

Bà lão gọi Tấm ra. Tấm vừa xuất hiện, vua nhận ra ngay vợ mình ngày trước, có phần trẻ đẹp hơn xưa. Vua mừng quá, bảo bà lão hàng nước kể lại sự tình, rồi ra lệnh truyền cho quân hầu lập tức đưa kiệu rước Tấm về cung. Nhớ ơn bà lão hàng nước, vua cho đón cả bà vào cung để phụng dưỡng.

Mẹ con Cám thấy Tấm trở về được vua yêu thương như xưa, thì nó không khỏi sợ hãi. Hôm nọ, Cám bèn lân la gặp Tấm hỏi thăm dò:

– Chị Tấm ơi, chị Tấm! Chị làm thế nào mà đẹp thế?

Tấm không đáp, chỉ hỏi lại:

– Có muốn đẹp không để chị giúp!

Cám bằng lòng ngay. Tấm sai quân hầu đào một cái hố sâu và đun một nồi nước sôi. Tấm bảo Cám xuống hố rồi sai quân hầu dội nước sôi vào hố. Cám lăn ra chết tươi. Tấm sai đem xác Cám làm mắm bỏ vào chĩnh gửi cho mụ dì ghẻ, nói là quà của con gái mụ gửi biếu. Mẹ Cám tưởng thật, lấy mắm ra ăn, bữa nào cũng nức nở khen ngon. Ngày nọ, có một con quạ đen ở đâu bay đến đậu trên nóc nhà mụ kêu rằng:

– Ngon ngỏn ngòn ngon! Mẹ ăn thịt con, có còn xin miếng!

Mẹ Cám giận lắm, chửi mắng ầm ĩ rồi vác sào đuổi quạ. Nhưng đến ngày ăn gần hết, dòm vào chĩnh, mụ thấy đầu của con gái mình thì kinh hãi lăn đùng ra chết.

Tổng hợp và biên soạn: Thiên Hương

HỒI KẾT TẤM CÁM GÂY NHIỀU TRANH CÃI:

Đây là bản gốc truyện cổ tích Tấm Cám, mình vẫn giữ tình tiết Truyện nguyên bản. Chỉ điều chỉnh câu từ trong truyện lại theo văn phong của mình, mục đích để bạn đọc cảm nhận một cách sâu sắc nhất diễn biến cốt Truyện.

Ở hồi kết, có người cho rằng bản gốc này dã man quá, nên đã có phiên bản “Truyện cổ tích Tấm Cám bản mới” sửa lại nội dung hồi kết thay vì mẹ con Cám phải nhận lãnh cái chết bi thảm thành: mẹ con nhà Cám sợ hãi, xấu hổ quá nên trốn đi biệt tích.

Lại có ý kiến cho rằng:

“không hiểu rằng ngày xưa các cụ nhà ta, muốn chia sẻ gửi gắm cho chúng ta điều gì mà lại cho kết truyện Tấm cám nguyên bản ÁC DÃ MAN đến vậy?”

Khi đọc xong hồi kết truyện nguyên bản, không ít ý kiến trái chiều cho rằng cô Tấm có lòng dạ quá ác độc, dã man khi trả thù 2 mẹ con nhà Cám như thế???

Cá nhân mình nhận thấy: Trước đây, khi Tấm bị mẹ con nhà Cám ức hiếp, hà khắc, thậm chí đối xử thậm tệ hết lần này đến lần khác: mụ dì ghẻ bắt Tấm làm lụng nhiều việc nặng nhọc từ sáng đến tối, từ tối đến khuya vẫn chưa hết việc. Mụ trộn thóc lẫn gạo bắt Tấm lượm cả ngày để không kịp đi trẩy hội. Niềm vui duy nhất của Tấm khi đó là Bống, mụ dì ghẻ và Cám cũng nhẫn tâm giết Bống ăn thịt mà không chút thương xót… Nhưng mọi việc đó Tấm không mảy may ghi nhớ trong lòng, đều bỏ qua tất cả. Chứng tỏ sau khi làm vợ Vua, Tấm vẫn xin Vua cho về quê nhà phụ dì soạn cỗ cúng giỗ cha. Cũng bởi do tâm tính Tấm quá hiền lành, tốt bụng, còn nghe lời mụ trèo cây hái cau cúng giỗ cho cha, mới bị mụ ta hại mà chết.

Mẹ con nhà Cám ban đầu chỉ vì lòng dạ hẹp hòi, nhỏ nhen, sanh tâm đố kỵ với Tấm nên mới tìm mọi cách ức hiếp hà khắc cô. Nhưng tất cả những điều đó Tấm đều bỏ qua, không ghi nhớ đến, lại còn đối xử tốt với mụ ta. Chính từ lẽ đó, mới biến mụ ta trở thành kẻ hiểm độc, lòng lang dạ sói, giết người không gớm tay. Cám do ngày đêm kề cận, nên cũng tiêm nhiễm luôn thói độc ác, nham hiểm của mẹ nó.

Do đó, lòng tốt nên có giới hạn, việc nhỏ không răn, ắt hư việc lớn.

KẺ XẤU KHÔNG RĂN không sớm thì muộn cũng sẽ trở thành kẻ ĐẠI ÁC.

QUÁ TAM BA BẬN, TRỜI KHÔNG DUNG

Sau khi Tấm trèo cây cau bị mẹ con nhà Cám đốn cây mà chết. Đó là lần thứ nhất Tấm bị hại chết.

Khi Tấm từ kiếp người hoá thành kiếp chim Vàng Anh, lại tiếp tục bị mẹ con Cám giết chết. Đây là lần thứ 2 Tấm bị giết chết.

Tấm lại hoá kiếp thành Cây xoan đào, lại vẫn bị mẹ con nhà Cám lén sai người chặt cây mà chết. Đây là lần thứ 3 Tấm lại bị hại chết.

Tấm lại tiếp tục hoá thân thành Khung cửi, và lần này Tấm vẫn lại tiếp tục bị mẹ con nhà Cám hoả thiêu mà chết. Đây là lần thứ 4 Tấm bị bức chết.

Quy luật tự nhiên: LÀM XẤU PHẢI CHỊU PHẠT – GIẾT NGƯỜI PHẢI ĐỀN MẠNG!!!

Chúng ta đọc xong phần kết truyện, vội cho rằng Tấm quá dã man, độc ác! Nhưng có ai hiểu rằng Tấm đã bị mẹ con mụ dì ghẻ hại chết không chỉ một lần, mà đã chết tới 4 lần chưa???

Nhất quá tam:

phàm ở đời, việc gì cũng không nên quá nhiều lần.

Nhiều lắm là 3 lần trở lại.

Tha thứ kẻ lầm lỗi, chỉ nên tha ba lần. Nhưng nên nhớ riêng với sinh mạng, mỗi người chỉ có duy nhất một cái mạng mà thôi.

Ở đời thực, chúng ta chẳng có nhiều mạng như trong truyện để mà chết đâu. Tôi xin hỏi, với những ai cho rằng Tấm hành xử như vậy là quá dã man và độc ác. Nếu là bạn, khi chẳng may cha bạn, mẹ bạn, chị bạn, em bạn bị người khác bức chết, hại chết, bạn có nhất định nợ máu trả máu, quyết sống chết tìm kẻ đó trả thù hay không???

Đừng nói với tôi rằng sẽ không, vì chỉ có 3 nguyên nhân:

– Bạn không thương người đã mất – Bạn không có trái tim – Bạn quá hèn nhát

Nào là “Oan oan tương báo bao giờ mới dứt” điều này chỉ đúng khi cái ác đó không tổn hại đến sinh mạng kìa.

Còn “Nợ máu nhất định phải trả bằng máu”. Nếu không nỗi ám ảnh đó hằng đêm làm sao có thể nguôi được?

“Quân tử báo thù mười năm chưa muộn”. Có người hỏi rằng: đã là quân tử thì tại sao lại báo thù? Chuyện báo thù của người quân tử chính là được ví trong trường hợp này, khi nó mang “đẫm nợ máu”. Nên nhớ làm người nên Ân oán phân minh, ai có ơn đời đời ghi nhớ, ai gây oán “nợ máu không đội trời chung”.

LUẬN VIỆC TU HÀNH, Thái tử Tất đạt đa là một người rất từ bi, và có tấm lòng yêu thương đối với tất cả chúng sinh. Nhưng người anh họ của ông là vương tử Devadatta lại là một người có tâm địa độc ác, hẹp hòi, đã rất nhiều lần muốn ám hại thái tử. May mắn là những lần ấy Thái tử đều thoát được nguy hiểm, nhưng cũng chính vì sự tha thứ nhân nhượng hết lần này đến lần khác của ông mà không biết bao nhiêu người vô tội đã bị Devadatta hại chết. Chỉ đến lúc sắp chết thì Devadatta mới nhận ra tội ác của mình.

Điều tôi muốn nói ở đây chính là: lòng Từ bi của chúng ta nếu đặt sai người, sai chỗ thì chẳng khác nào vô tình chúng ta đã tiếp tay cho cái ác làm hại đến sinh mạng của kẻ khác. Trên đời này cũng sẽ có người như Devadatta, cho đến chết mới hối hận về việc làm của mình. Nhưng sự hối hận này đã quá muộn, nó không thể giúp cho những người bị hắn ta hại chết – sống lại được.

Tâm từ bi, là sẳn sàng tha thứ bỏ qua những lỗi lầm – khi những lỗi sai đó không gây tổn hại đến sinh mạng kẻ khác kìa. Còn đối với những kẻ thủ ác, lòng lang dạ sói, lúc nào cũng khát máu tươi, nhăm nhe uống máu đồng loại, lúc nào cũng thủ sẳn dao nhọn, chực chờ khi ta yếu thế, sơ hở để đâm ta một nhát chí mạng. Nếu ta tốt với những kẻ đó, chẳng khác nào đang đùa giỡn với sinh mạng chính mình, đồng loại mình. Tha mạng cho kẻ giết người, chính là đang tiếp tay cho nó giết thêm nhiều sinh linh khác.

Quay lại câu chuyện, Tấm đổ nước sôi giết, rồi làm mắm con Cám thực ra hành động này đúng là có dã man, có tàn ác. Nhưng, so với việc Tấm bị mẹ con Cám hại chết từ kiếp người, đến kiếp chim, kiếp cây, rồi kiếp đồ vật… hại đến thân xác Tấm bị đốt tan thành tro bụi. Thì cái kết của Mẹ con Cám bị như vậy là đáng lắm!!!

Cái ác cần phải diệt, ko thể dung dưỡng, dung dưỡng là tiếp tay cho nó!!!

Gặp Phật thì Tu! Gặp giặc phải đánh!

GIẶC ở đây chính là những kẻ không bằng loài cầm thú này.

Tóm lại, điều mà ông bà ta muốn gửi gắm qua câu chuyện này chính là: ở hiền thôi chưa đủ, đôi khi chưa chắc gặp lành nếu tốt nhầm kẻ xấu. Muốn tốt, cần phải Tốt đúng người, đúng việc. Thấy xấu phải răn, thấy sai phải sửa, thấy bất công phải lên tiếng, im lặng là tiếp tay cho nó lộng hành, giúp cho cái XẤU biến thành ÁC. Bụt cũng giống như người tốt, họ chỉ giúp ta được không quá đôi ba lần. Bụt chỉ giúp ta thoát cảnh bần cùng, nghèo khó nhưng không thể cứu mạng ta khi có hiểm nguy trước mắt, cũng không giúp ta tiêu diệt kẻ ác. Không ai khác chính bản thân chúng ta phải làm điều đó, phải biết tự bảo vệ chính mình, muốn giữ lấy hạnh phúc cho cuộc sống của mình thì hãy hành động, đừng chỉ biết ngồi đó khóc lóc và trông cậy vào ai đó đến giúp đỡ. Lòng tốt nên có giới hạn, đối với cái ÁC cần phải DIỆT!!!

Ngày xửa ngày xưa, có hai chị em cùng cha khác mẹ, gần trạc tuổi nhau. Tấm là con vợ cả. Cám là con vợ lẻ. Mẹ Tấm mất từ hồi Tấm còn bé, mấy năm sau đó cha Tấm cũng qua đời. Tấm ở với dì ghẻ là mẹ Cám.Mụ dì ghẻ này rất cay nghiệt. Ngày qua ngày bà ta bắt Tấm phải làm hết việc nhà cho đến mọi việc nặng nhọc: hết chăn trâu, cắt cỏ, gánh nước, đến thái khoai, vớt bèo, ban đêm lại còn xay lúa giã gạo mà không hết việc. Trong khi đó Cám được mẹ nuông chiều, suốt ngày rong chơi, không phải làm việc nặng.Hôm nọ, bà ta đưa cho hai chị em mỗi người một cái giỏ bảo ra đồng xúc tép, và nói:- Hễ đứa nào bắt được đầy giỏ tép thì ta sẽ thưởng cho một cái yếm đỏ. Tấm vốn chăm chỉ và quen mò cua bắt ốc nên chỉ một buổi là bắt được đầy giỏ vừa cá, vừa tôm, vừa tép. Cám thì đủng đỉnh lội chơi hết ruộng nọ đến ruộng kia, mãi đến chiều vẫn không được gì, thấy giỏ của Tấm đã đầy, Cám nghĩ ra một kế liền bảo chị:- Chị Tấm ơi, chị Tấm! Đầu chị lấm bùn hết rồi kìa, chị mau đi hụp cho sâu gội đầu sạch sẽ, kẻo về mẹ mắng.Tấm thật thà, tin là thật, bèn xuống ao lội ra chỗ sâu tắm gội. Cám thừa dịp trút hết tôm tép của Tấm vào giỏ của mình rồi ba chân bốn cẳng chạy về nhà trước. Tấm gội đầu xong, bước lên bờ thì thấy chỉ còn giỏ không, không dám về nhà vì sợ dì mắng, Tấm ngã quỵ xuống đất ngồi bưng mặt khóc nức nở.Nghe tiếng khóc của Tấm, Bụt liền hiện lên hỏi:- Vì sao con khóc?Tấm kể lại hết sự tình cho Bụt nghe, Bụt bảo:– Thôi con hãy nín đi! Con thử nhìn vào trong giỏ xem còn gì nữa không?Tấm nhìn vào giỏ rồi nói:– Dạ chỉ còn một con cá bống.Bụt dặn dò Tấm:– Con đem con cá bống ấy về thả xuống giếng mà nuôi. Mỗi bữa, con mang cho bống một ít cơm. Mỗi lần cho ăn con nhớ gọi thế này:”Bống bống bang bangLên ăn cơm vàng cơm bạc nhà taChớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người.”Không gọi đúng như thế thì nó không lên, con nhớ lấy!Nói xong Bụt biến mất. Tấm về nhà làm theo lời dặn của Bụt, thả bống xuống giếng. Rồi từ hôm ấy trở đi, cứ mỗi bữa ăn, Tấm đều để dành cơm, giấu đem ra cho bống. Mỗi lần nghe Tấm gọi, bống lại ngoi lên mặt nước đớp từng hạt cơm mà Tấm ném xuống. Người và cá ngày một quen nhau, bống ngày càng lớn lên trông thấy.Thấy Tấm thường mang cơm ra giếng, mụ dì ghẻ sinh nghi, bèn sai Cám đi rình. Cám nấp ở bụi cây gần bờ giếng nghe Tấm gọi bống, bèn nhẩm thuộc rồi về kể lại cho mẹ nghe. Tối hôm ấy mụ dì ghẻ lấy giọng ngọt ngào bảo với Tấm:- Con ơi con! Làng đã bắt đầu cấm đồng rồi đấy. Mai con đi chăn trâu, phải chăn đồng xa, chớ chăn đồng nhà, làng bắt mất trâu.Tấm vâng lời, sáng hôm sau đưa trâu đi ăn thật xa. Ở nhà, mẹ con Cám mang bát cơm ra giếng, cũng gọi y như Tấm gọi. Bống vừa ngoi lên mặt nước, mẹ Cám đã chực sẵn, bắt lấy bống đem về nhà làm thịt ăn.Đến chiều Tấm dắt trâu về, sau khi ăn xong Tấm lại mang cơm ra giếng, Tấm gọi nhưng chả thấy bống ngoi lên như mọi khi. Tấm gọi mãi, gọi mãi, cuối cùng chỉ thấy một cục máu nổi lên mặt nước. Biết là có chuyện chẳng lành, Tấm òa lên khóc. Bụt lại hiện lên hỏi:– Tại sao con lại khóc?Tấm kể sự tình cho Bụt nghe, Bụt bảo:– Con bống của con, người ta đã ăn thịt mất rồi. Thôi con hãy nín đi! Rồi về nhặt xương nó, kiếm 4 cái lọ bỏ vào, đem chôn xuống dưới 4 chân giường con nằm.Tấm trở về theo lời Bụt đi tìm xương bống, nhưng tìm mãi các xó vườn góc sân mà không thấy đâu cả. Một con gà thấy thế, kêu lên:– Cục ta cục tác! Cho ta nắm thóc, ta bới xương cho!Tấm bốc nắm thóc ném cho gà. Gà chạy vào bếp bới một lúc thì thấy xương ngay. Tấm bèn nhặt lấy bỏ vào 4 cái lọ và đem chôn dưới chân giường như lời bụt dặn.Ít lâu sau nhà vua mở hội trong mấy đêm ngày. Trên các nẻo đường, già trẻ gái trai trong làng đều nô nức dập dìu tuôn về kinh như nước chảy. Hai mẹ con Cám cũng sắm sửa quần áo đẹp để đi trẩy hội. Thấy Tấm cũng muốn đi, mụ dì ghẻ nguýt dài, sau đó mụ lấy một đấu gạo trộn lẫn với một đấu thóc, bảo Tấm:- Khi nào nhặt riêng gạo và thóc ra hai đấu thì mới được đi xem hội.Nói đoạn, hai mẹ con Cám xúng xính vận quần áo đẹp lên đường đi trảy hội. Tấm tủi thân òa lên khóc. Bụt lại hiện lên hỏi:- Tại sao con khóc?Tấm chỉ vào cái thúng, thưa rằng:- Thưa dì con bắt phải nhặt thóc ra thóc, gạo ra gạo, rồi mới được đi xem hội. Nhưng lúc nhặt xong thì hội đã tan mất rồi, chẳng còn gì để mà xem nữa ạ.Bụt bảo: “Thôi con đừng khóc nữa. Con mang cái thúng đặt ra giữa sân, để ta sai chim sẻ xuống nhặt giúp cho.”- Dạ… nhưng ngộ nhỡ chim sẻ ăn hết, thì khi về con sẽ bị đòn mất.- Con cứ bảo chúng nó thế này:”Rặt rặt (con chim sẻ) xuống nhặt cho taoĂn mất hạt nào thì tao đánh choThì chúng nó sẽ không ăn của con đâu.”Bụt vừa dứt lời, ở trên không có một đàn chim sẻ đáp xuống sân nhặt thóc ra một bên, gạo ra một bên. Chúng lăng xăng ríu rít, chỉ trong chốc lát đã nhặt xong, không vơi một hạt nào. Nhưng khi gạo đã nhặt xong, bầy chim sẻ bay đi rồi, Tấm lại nức nở khóc. Bụt lại hiện lên bảo:– Nguyên do vì sao con lại khóc?– Dạ nhìn con rách rưới quá, sợ rằng người ta không cho con vào xem hội.– Con hãy đào những cái lọ xương bống đã chôn ngày trước lên thì sẽ có đủ những thứ con cần để con đi trẩy hội.Tấm vâng lời, đi đào các lọ lên. Tấm đào lọ thứ nhất thấy toàn quần áo đẹp, lọ thứ hai lấy ra được một đôi hài thêu hoa, lọ thứ ba thì thấy có một con ngựa bé tí, nhưng vừa đặt con ngựa xuống đất bỗng chốc nó đã hí vang lên và biến thành ngựa thật. Đào đến lọ cuối cùng thì Tấm lấy ra được một bộ yên cương xinh xắn.Tấm mừng quá vội tắm rửa rồi mặc quần áo mới vào. Trong phút chốc Tấm trở nên xinh đẹp, cưỡi lên lưng ngựa phóng như bay đến kinh thành. Nhưng khi ngựa phi qua một cây cầu đá để vào thành, chiếc hài của Tấm bỗng tuột khỏi chân rơi xuống nước, không kịp nhặt. Khi ngựa dừng lại ở trong hội, Tấm lấy khăn gói chiếc giầy còn lại rồi chen vào biển người.Khi đoàn xa giá chở vua đi đến chân cầu. Hai con voi ngự dẫn đầu đoàn bỗng nhiên cắm ngà xuống đất kêu rống lên, không chịu đi qua cầu. Vua thấy vậy, bèn sai quân lính tìm kiếm xung quanh xem có gì lạ không, quân lính lập tức bủa vây tìm kiếm, phát hiện trên mặt nước có một chiếc hài thiêu hoa, họ liền vớt lên trình cho Vua xem. Vua ngắm nghía chiếc hài hồi lâu không chán và tấm tắc khen: “Chiếc hài này quả thật tinh xảo, lần đầu tiên Trẫm mới nhìn thấy một chiếc hài đẹp sắc xảo đến vậy! Người đi chiếc hài này chắc hẳn phải là trang tuyệt sắc”.Vua liền truyền lệnh: mời tất cả những người con gái đi xem hội ướm thử hài, hễ ai đi vừa chiếc hài thì sẽ được vua lấy làm vợ.Đám hội bỗng trở nên náo nhiệt, các bà, các cô chen nhau đến chỗ thử giầy. Nhưng chẳng có ai đi vừa cả. Mẹ con nhà Cám cũng vào ướm thử hài cầu may, nhưng không tài nào vừa được.Khi mẹ con Cám vừa bước ra thì gặp Tấm, Cám ghé tai nói nhỏ với mẹ:– Mẹ ơi, ai như chị Tấm cũng đi thử hài đấy!Mụ dì ghẻ bĩu môi:– Con nỡm, chuông khánh còn chẳng ăn ai nữa là mảnh chĩnh vứt ngoài bờ tre!Đến lượt Tấm, khi nàng vừa đặt chân vào chiếc hài thì vừa như in. Nàng mở khăn lấy chiếc hài còn lại đi vào, 2 chiếc giống nhau như đúc. Bọn lính hầu vỗ tay hò reo vui mừng. Lập tức vua sai đoàn tuỳ tùng rước nàng vào cung. Tấm bước lên kiệu trước con mắt ngạc nhiên, ganh tỵ và hằn học của mẹ con Cám.Tấm tuy sống sung sướng trong hoàng cung, nhưng vẫn không quên ngày giỗ cha. Nàng xin phép vua cho về thăm nhà và sửa soạn cỗ cúng cha giúp dì. Mẹ con Cám thấy Tấm trở về ngoài mặt thì ra vẻ mừng rỡ nhưng trong bụng lại ghen ghét đố kị, tìm cách hại nàng. Nghĩ ra được kế hay, mụ dì ghẻ bảo Tấm: – Cha con rất thích ăn cau têm trầu. Để tỏ lòng hiếu thảo với cha, con hãy trèo lên cây cau sau nhà hái một buồng cau to nhất để cúng cha.Tấm vâng lời trèo lên cây cau, trèo lên tới sát buồng cau, thì ở dưới đất, mẹ con Cám cầm dao đốn gốc. Thấy cây rung chuyển, Tấm hỏi:- Dì làm gì dưới gốc thế?- Gốc cau lắm kiến, dì đuổi kiến để nó khỏi lên đốt con.Tấm chưa kịp xé buồng cau, thì cây cau đã đổ. Tấm ngã lộn cổ xuống ao chết. Mụ dì ghẻ vội lấy quần áo của Tấm mặc cho Cám và đưa Cám vào cung thay Tấm chăm sóc nhà vua. Vua nghe vậy trong bụng không vui, nhưng không nói lời nào.Tấm chết hóa thành chim Vàng Anh bay về cung, thấy Cám đang giặt quần áo cho vua. Vàng Anh hót:- Phơi áo chồng tao, phơi lao phơi sào, chớ phơi bờ rào, rách áo chồng tao.Rồi chim Vàng Anh bay thẳng vào cung hót ríu rít rất vui tai. Vua đi đâu chim bay theo đó. Từ ngày Tấm mất, nhà Vua buồn lắm, lúc nào cũng nhớ đến Tấm. Thấy chim vàng anh quyến luyến theo mình không rời, vua thấy lạ bèn bảo:- Vàng ảnh vàng anh, có phải vợ anh, chui vào tay áo.Chim vàng anh lập tức bay lại đậu vào tay vua, rồi rúc vào tay áo. Vua yêu quý vàng anh đến quên ăn quên ngủ… Vua sai làm một cái lồng bằng vàng cho chim ở. Từ đó, ngày đêm vua chỉ mải mê với chim, không đoái hoài gì đến Cám.Cám ghen tị với chim Vàng Anh vội về mách mẹ. Mẹ Cám xui Cám cứ bắt chim làm thịt ăn rồi kiếm điều nói dối vua. Trở về cung vua, Cám làm theo lời mẹ, nhân lúc Vua đi vắng, Cám bắt chim làm thịt nấu ăn rồi vứt lông chim ở ngoài vườn.Thấy mất Vàng anh, vua hỏi, Cám đáp:- Trong lúc bệ hạ đi vắng, Vàng Anh đã bị mèo vồ bắt mất rồi.Vua nghe xong, không nói gì cả. Lặng người đi vì buồn.Nơi vứt lông chim vàng anh bỗng mọc lên hai cây xoan đào, cành lá tươi tốt. Khi vua đi dạo vườn ngự, cành lá của chúng sà xuống che kín thành bóng, như hai cái lọng. Vua thấy cây rợp bóng mát, liền sai lính hầu mắc võng vào hai cây rồi nằm chơi hóng mát. Khi vua đi khỏi thì cành cây lại vươn thẳng trở lại. Kể từ đó, không ngày nào Vua không ra nằm hóng mát dưới hai cây xoan đào.Cám biết chuyện, lại ghen tị với 2 cây xoan đào chạy về nhà mách mẹ. Mẹ nó bảo, cứ sai thợ chặt cây làm khung cửi rồi lại kiếm điều dối vua. Về đến cung, nhân một hôm gió bão, Cám sai thợ chặt cây xoan đào lấy gỗ đóng khung cửi. Thấy cây bị chặt, vua hỏi thì Cám đáp:- Cây bị đổ vì bão, thiếp sai thợ chặt làm khung cửi để dệt áo cho bệ hạ.Nhưng khi khung cửi đóng xong. Cám ngồi vào dệt lúc nào cũng nghe thấy tiếng khung cửi rủa mình:”Cót ca cót kétTranh lấy chồng chị.Chị khoét mắt ra”Thấy vậy Cám sợ hãi, vội về nhà mách mẹ. Mẹ nó bảo đốt quách khung cửi, rồi đem tro đi đổ cho rõ xa để được yên tâm. Về đến cung, Cám làm như lời mẹ nói. Nó đem tro đã đốt đi đổ ở lề đường cách xa hoàng cung.Đống tro bên đường lại mọc lên một cây thị cao lớn, cành lá xum xuê. Đến mùa có quả, cây thị chỉ đậu được có một quả, nhưng mùi thơm ngát tỏa ra khắp nơi. Bà lão hàng nước gần đó có một hôm đi qua dưới gốc cây, ngửi thấy mùi thơm, ngẩng đầu nhìn lên thấy quả thị trên cành cao, bà bèn giơ bị ra mà rằng: – Thị ơi, thị à, thị rơi bị bà, bà để bà ngửi chứ bà không ăn.Bà lão vừa nói dứt lời, quả thị rụng ngay vào bị bà. Bà lão nâng niu quả thị đem về nhà cất trong buồng, thỉnh thoảng lại vào ngắm nhìn và ngửi mùi thơm.Ngày nào bà lão cũng đi chợ sớm. Từ trong quả thị bỗng có một cô gái thân hình bé nhỏ như ngón tay bước ra, nhưng chỉ trong chớp mắt nàng đã biến thành Tấm. Tấm vừa bước ra đã cầm lấy chổi quét dọn nhà cửa sạch sẽ, rồi đi vo gạo thổi cơm, hái rau ở vườn nấu canh giúp bà lão hàng nước. Khi nghe thấy tiếng bà lão đi chợ về, Tấm lại thu mình bé nhỏ lại, rồi chui vào quả thị.Lần nào đi chợ về, bà lão cũng thấy nhà cửa ngăn nắp, cơm ngon, canh ngọt sẵn sàng, thì lấy làm lạ lắm.Một hôm bà lão giả vờ đi chợ, nhưng đến nửa đường lại lén quay về, rình ở bụi cây sau nhà. Trong lúc đó, Tấm từ quả thị bước ra rồi cũng làm việc như mọi ngày. Bà lão rón rén, bước lại nhìn vào khe cửa. Khi thấy cô gái xinh đẹp từ trong quả thị bước ra đang dọn dẹp nhà cửa thì bà mừng quá, bất thình lình xô cửa vào ôm choàng lấy Tấm và xé vụn vỏ thị.Từ đó Tấm ở với bà hàng nước, hai người thương yêu nhau như hai mẹ con. Hàng ngày Tấm giúp bà lão các việc thổi cơm, nấu nước, gói bánh, têm trầu để cho bà bán hàng.Một hôm vua xuất hành ra khỏi hoàng cung, Thấy có quán nước bên đường sạch sẽ, bèn ghé vào. Bà lão mang trầu, nước dâng lên vua. Thấy trầu têm cánh phượng, vua sực nhớ tới trầu vợ mình têm ngày trước cũng y như vậy, liền hỏi:- Trầu này ai têm?- Trầu này con gái lão têm – bà lão đáp.- Con gái của bà đâu, gọi ra đây cho ta xem mặt.Bà lão gọi Tấm ra. Tấm vừa xuất hiện, vua nhận ra ngay vợ mình ngày trước, có phần trẻ đẹp hơn xưa. Vua mừng quá, bảo bà lão hàng nước kể lại sự tình, rồi ra lệnh truyền cho quân hầu lập tức đưa kiệu rước Tấm về cung. Nhớ ơn bà lão hàng nước, vua cho đón cả bà vào cung để phụng dưỡng.Mẹ con Cám thấy Tấm trở về được vua yêu thương như xưa, thì nó không khỏi sợ hãi. Hôm nọ, Cám bèn lân la gặp Tấm hỏi thăm dò:– Chị Tấm ơi, chị Tấm! Chị làm thế nào mà đẹp thế?Tấm không đáp, chỉ hỏi lại:– Có muốn đẹp không để chị giúp!Cám bằng lòng ngay. Tấm sai quân hầu đào một cái hố sâu và đun một nồi nước sôi. Tấm bảo Cám xuống hố rồi sai quân hầu dội nước sôi vào hố. Cám lăn ra chết tươi. Tấm sai đem xác Cám làm mắm bỏ vào chĩnh gửi cho mụ dì ghẻ, nói là quà của con gái mụ gửi biếu. Mẹ Cám tưởng thật, lấy mắm ra ăn, bữa nào cũng nức nở khen ngon. Ngày nọ, có một con quạ đen ở đâu bay đến đậu trên nóc nhà mụ kêu rằng:– Ngon ngỏn ngòn ngon! Mẹ ăn thịt con, có còn xin miếng!Mẹ Cám giận lắm, chửi mắng ầm ĩ rồi vác sào đuổi quạ. Nhưng đến ngày ăn gần hết, dòm vào chĩnh, mụ thấy đầu của con gái mình thì kinh hãi lăn đùng ra chết.Đây là bản gốc truyện cổ tích Tấm Cám, mình vẫn giữ tình tiết Truyện nguyên bản. Chỉ điều chỉnh câu từ trong truyện lại theo văn phong của mình, mục đích để bạn đọc cảm nhận một cách sâu sắc nhất diễn biến cốt Truyện.Ở hồi kết, có người cho rằng bản gốc này dã man quá, nên đã có phiên bản “Truyện cổ tích Tấm Cám bản mới” sửa lại nội dung hồi kết thay vì mẹ con Cám phải nhận lãnh cái chết bi thảm thành: mẹ con nhà Cám sợ hãi, xấu hổ quá nên trốn đi biệt tích.Khi đọc xong hồi kết truyện nguyên bản, không ít ý kiến trái chiều cho rằng cô Tấm có lòng dạ quá ác độc, dã man khi trả thù 2 mẹ con nhà Cám như thế???Trước đây, khi Tấm bị mẹ con nhà Cám ức hiếp, hà khắc, thậm chí đối xử thậm tệ hết lần này đến lần khác: mụ dì ghẻ bắt Tấm làm lụng nhiều việc nặng nhọc từ sáng đến tối, từ tối đến khuya vẫn chưa hết việc. Mụ trộn thóc lẫn gạo bắt Tấm lượm cả ngày để không kịp đi trẩy hội. Niềm vui duy nhất của Tấm khi đó là Bống, mụ dì ghẻ và Cám cũng nhẫn tâm giết Bống ăn thịt mà không chút thương xót… Nhưng mọi việc đó Tấm không mảy may ghi nhớ trong lòng, đều bỏ qua tất cả. Chứng tỏ sau khi làm vợ Vua, Tấm vẫn xin Vua cho về quê nhà phụ dì soạn cỗ cúng giỗ cha. Cũng bởi do tâm tính Tấm quá hiền lành, tốt bụng, còn nghe lời mụ trèo cây hái cau cúng giỗ cho cha, mới bị mụ ta hại mà chết.Do đó, lòng tốt nên có giới hạn, việc nhỏ không răn, ắt hư việc lớn.không sớm thì muộn cũng sẽ trở thành kẻSau khi Tấm trèo cây cau bị mẹ con nhà Cám đốn cây mà chết. Đó là lần thứ nhất Tấm bị hại chết.Khi Tấm từ kiếp người hoá thành kiếp chim Vàng Anh, lại tiếp tục bị mẹ con Cám giết chết. Đây là lần thứ 2 Tấm bị giết chết.Tấm lại hoá kiếp thành Cây xoan đào, lại vẫn bị mẹ con nhà Cám lén sai người chặt cây mà chết. Đây là lần thứ 3 Tấm lại bị hại chết.Tấm lại tiếp tục hoá thân thành Khung cửi, và lần này Tấm vẫn lại tiếp tục bị mẹ con nhà Cám hoả thiêu mà chết. Đây là lần thứ 4 Tấm bị bức chết.Quy luật tự nhiên:Nhất quá tam:Tha thứ kẻ lầm lỗi, chỉ nên tha ba lần. Nhưng nên nhớ riêng với sinh mạng, mỗi người chỉ có duy nhất một cái mạng mà thôi.Ở đời thực, chúng ta chẳng có nhiều mạng như trong truyện để mà chết đâu. Tôi xin hỏi, với những ai cho rằng Tấm hành xử như vậy là quá dã man và độc ác. Nếu là bạn, khi chẳng may cha bạn, mẹ bạn, chị bạn, em bạn bị người khác bức chết, hại chết, bạn có nhất định nợ máu trả máu, quyết sống chết tìm kẻ đó trả thù hay không???Đừng nói với tôi rằng sẽ không, vì chỉ có 3 nguyên nhân:- Bạn không thương người đã mất- Bạn không có trái tim- Bạn quá hèn nhátNào làđiều này chỉ đúng khi cái ác đó không tổn hại đến sinh mạng kìa.Còn. Nếu không nỗi ám ảnh đó hằng đêm làm sao có thể nguôi được?. Có người hỏi rằng: đã là quân tử thì tại sao lại báo thù? Chuyện báo thù của người quân tử chính là được ví trong trường hợp này, khi nó mang “đẫm nợ máu”. Nên nhớ làm người nên Ân oán phân minh, ai có ơn đời đời ghi nhớ, ai gây oán “nợ máu không đội trời chung”.Điều tôi muốn nói ở đây chính là: lòng Từ bi của chúng ta nếu đặt sai người, sai chỗ thì chẳng khác nào vô tình chúng ta đã tiếp tay cho cái ác làm hại đến sinh mạng của kẻ khác. Trên đời này cũng sẽ có người như Devadatta, cho đến chết mới hối hận về việc làm của mình. Nhưng sự hối hận này đã quá muộn, nó không thể giúp cho những người bị hắn ta hại chết – sống lại được.Tâm từ bi, là sẳn sàng tha thứ bỏ qua những lỗi lầm – khi những lỗi sai đó không gây tổn hại đến sinh mạng kẻ khác kìa. Còn đối với những kẻ thủ ác, lòng lang dạ sói, lúc nào cũng khát máu tươi, nhăm nhe uống máu đồng loại, lúc nào cũng thủ sẳn dao nhọn, chực chờ khi ta yếu thế, sơ hở để đâm ta một nhát chí mạng. Nếu ta tốt với những kẻ đó, chẳng khác nào đang đùa giỡn với sinh mạng chính mình, đồng loại mình. Tha mạng cho kẻ giết người, chính là đang tiếp tay cho nó giết thêm nhiều sinh linh khác.Quay lại câu chuyện, Tấm đổ nước sôi giết, rồi làm mắm con Cám thực ra hành động này đúng là có dã man, có tàn ác. Nhưng, so với việc Tấm bị mẹ con Cám hại chết từ kiếp người, đến kiếp chim, kiếp cây, rồi kiếp đồ vật… hại đến thân xác Tấm bị đốt tan thành tro bụi. Thì cái kết của Mẹ con Cám bị như vậy là đáng lắm!!!Cái ác cần phải diệt, ko thể dung dưỡng, dung dưỡng là tiếp tay cho nó!!!ở đây chính là những kẻ không bằng loài cầm thú này.

Truyện Cổ Tích Tấm Cám

Giới thiệu truyện cổ tích Tấm Cám

Truyện cổ tích Tấm Cám đã rất quen thuộc với nhiều người từ thủa còn nằm trong nôi, phản ánh mong ước thiết tha của nhân dân thời xưa: “Ở hiền gặp lành”. Câu chuyện ngợi ca sức sống bất diệt và sự trỗi dậy mạnh mẽ của con người trước sự vùi dập của cái ác, đồng thời thể hiện niềm tin của nhân dân vào công lí và chính nghĩa.

Hiện nay trên internet có khá nhiều phiên bản khác nhau, Thế giới cổ tích xin giới thiệu bản kể có từ khá lâu, được trích nguồn trong “Văn học trích giảng lớp 7 – phổ thông” – năm 1973 của Đỗ Thận. Bản kể này được xem là gắn liền với tuổi thơ của rất nhiều thế hệ.

Lưu ý khi kể chuyện Tấm Cám

Do đối tượng độc giả của Thế giới cổ tích hướng đến là các bạn nhỏ, nên chúng tôi có sự sàng lọc kỹ lưỡng. Ở phần cuối của truyện cổ tích Tấm Cám không phải là một cái kết đầy “kinh dị” như trong phiên bản gốc.

Có thế vẫn còn nhiều ý kiến, quan điểm và tranh luận khác nhau về vấn đề này, nhưng những người biên tập của Thế giới cổ tích đã rất cân nhắc khi lựa chọn đoạn kết như vậy.

Tấm và Cám là hai chị em cùng cha khác mẹ. Tấm là con vợ cả, Cám là con vợ lẽ. Bố mất rồi, Tấm phải ở với dì ghẻ[1] là mẹ đẻ ra Cám.

Một hôm, dì ghẻ đưa cho hai chị em mỗi người một cái giỏ và bảo đi bắt tôm bắt tép. Mụ hứa rằng: “Đứa nào bắt được nhiều thì tao cho một cái yếm đỏ”.

Tấm và Cám cùng mang giỏ ra đồng. Tấm bắt được nhiều. Cám bắt được ít, Cám bảo chị:

Tấm tưởng thật, hụp xuống. Cám ở trên bờ trút lấy tôm tép của Tấm vào giỏ mình, rồi mang về trước. Tấm lên dòm vào giỏ, thấy mất cả, mới khóc hu hu, Bụt[2] hiện lên rồi hỏi: “Làm sao con khóc?” Tấm kể hết sự tình cho Bụt nghe rồi lại khóc, Bụt bảo Tấm nhìn xem trong giỏ còn gì không? Thì ra còn lại một con cá bống. Bụt liền bảo Tấm đem cá bống về thả xuống giếng nuôi, và dặn mỗi ngày cho ăn hai lần, mỗi lần một bát cơm. Khi cho bống ăn, phải gọi:

“Bống bống bang bang, Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta, Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa[3] nhà người”.

Tấm nghe lời Bụt dặn, đem bống về nuôi. Cứ đến bữa cơm thì hớt một bát, giấu vào thùng gánh nước, mang ra cho bống. Nghe lời gọi dịu dàng của Tấm, bống lại ngoi lên mặt nước ăn cơm. Ít lâu sau, mụ dì ghẻ biết liền sai Cám đi rình. Cám đi rình xem hết đầu đuôi, học lỏm được câu gọi bống, rồi về mách mẹ. Một hôm, mụ dì ghẻ lừa bảo Tấm:

Tấm tưởng thật, nghe lời dì ghẻ, hôm sau dắt trâu đi chăn ở cánh đồng xa làng. Thừa dịp đó, mẹ con Cám đem cơm ra giếng, đổ xuống và cũng lặp lại câu mà Tấm thuoèng nói khi gọi bống. Bống cũng bơi lên mặt nước, thì bị mẹ con Cám bắt lấy mang về làm thịt ăn.

Đến bữa cơm, sau khi ăn xong, theo lệ thường, Tấm mang thùng đi gánh nước và đem cơm cho bống. Nhưng bận này, gọi mãi không thấy bống đâu mà chỉ có một cục máu nổi lên. Thấy vậy Tấm ngồi khóc hu hu. Bụt hiện lên hỏi: “Làm sao con khóc?” Tấm thưa lại sự việc xảy ra. Bụt liền bảo: “Người ta đã bắt bống của con ăn thịt mất rồi. Con về nhà nhặt xương nó, mua lấy bốn cía lọ bỏ vào đấy rồi đem chôn xuống bốn chân giường con nằm”.

Tấm nghe lời Bụt, về nhà tìm xương bống; tìm mãi không thấy. Bỗng có một con gà trông gáy lên rằng:

Tấm lấy nắm thóc ném cho gà. Gà bới một chỗ thì thấy ngay xương cá, Tấm vội nhặt lấy, cho vào bốn cái lọ và chôn xuống chân giường.

Được ít lâu, nhà vua mở hội[4]. Hai mẹ con Cám sắm sửa quàn lành áo tốt đi xem hội. Mụ dì ghẻ không muốn cho Tấm đi, liền trộn một đấu thóc với một đấu gạo, bắt Tấm ngồi nhặt kỳ xong mới được đi. Tấm ở nhà tủi thân lại ngồi khóc. Bụt lại hiện lên hỏi. Tấm kể đầu đuôi câu chuyện, Bụt liền bảo: “Để ta cho một đàn chim sẻ xuống nhặt giúp cho con”. Tấm sợ chim ăn mất thóc gạo, sẽ phải đòn. Bụt biết ý, nói: “Rồi ta cấm chim không cho nó ăn thóc gạo của con. Con đừng sợ”.

Đàn chim sẻ sà xuống nhặt, chỉ nháy mắt là xong. Nhưng Tấm ngồi vào xó nhà, lại khóc. Bụt lại hỏi: “Làm sao con khóc?” Tấm thưa: “Con không có quần áo đẹp để mặc đi xem hội”. Bụt bảo: “Con đi đào những lọ chôn ở chân giường lên, muốn có quần áo đẹp như thế nào cũng có”. Tấm vui mừng đào các lọ lên, quả nhiên thấy chẳng những là có quần áo đẹp mà còn có cả một đôi giày thêu kim cương[5], một con ngựa hồng rất đẹp. Tấm mừng quá, thắng bộ[6] vào, đi giày, cưỡi ngựa ra xem hội.

Từ đằng xa, Cám trông thấy Tấm ăn mặc đẹp đẽ, vội mách mẹ. Mụ dì ghẻ không tin, nói: “Con Tấm nhà mà mà thắng bộ như thế à? Nó đương ngồi nhặt thóc, còn lâu!”.

Lúc Tấm đi qua bờ hồ, vô ý sẩy chân, đánh rơi một chiếc giày xuống nước. Vừa lúc ấy, voi nhà vua đi qua, bỗng dừng lại kêu rầm rĩ. Vua sai lính lội xuống hồ xem có gì cản trở. Quân lính xuống hồ mò, tìm một lúc, vớt được một chiếc giày đàn bà thêu rất xinh, liền đưa lên trình vua. Vua ra lệnh truyền tin cho tất cả đàn bà, con gái, ai đi xem hội mà ướm[7] giày vừa chân thì vua lấy làm vợ. Các cô thi nhau ướm thủ. Chẳng ai đi vừa cả. Mãi sau đến lượt Tấm, thì giày với chân vừa như in. Vua mừng lắm, sai thị vệ lấy kiệu rước nàng về cung.

Đến ngày giỗ bố, Tấm về nhà làm giỗ. Mụ dì ghẻ lập tâm giết Tấm, bèn sai Tấm trèo lên hái cau để mang cúng bố. Tấm trèo lên gần tới ngọn, mụ ở dưới đẵn gốc cây. Thấy động, Tấm vội hỏi: “Dì làm gì ở dưới ấy thế?” Mụ liền nói dối: “Dì đuổi kiến cho con đấy” và cứ tiếp tục chặt. Tấm đang hái cau thì cây đổ, Tấm ngã xuống ao cạnh đấy, chết đuối. Mụ dì ghẻ vội lấy quần áo đẹp của Tấm mặc vào cho Cám và đưa Cám bào cung[8] thế chị.

Tấm chết hóa ra con vàng anh, bay đến đậu ở vườn nhà vua. Thấy Cám đang giặt quần áo cho vua, chim vàng anh liền hót:

Đến lúc Cám đem phơi, chim vàng anh lại hót:

Vua nghe thấy tiếng chim hót, lạ lắm, bèn nói với chim:

Vàng anh nghe thấy thế, tức khắc bay bào tay áo vua. Từ đó, vua thả chim vào một cái lồng sơn son thiếp vàng, hằng ngày vui chơi với chim, không đoái hoài gì đến Cám nữa.

Cám tức lắm, vội về nhà kể cho mẹ nghe. Mẹ nó xui bắt chim làm thịt ăn. Cám liền về cung sai lính giết chim ăn, rồi vứt lông ra vườn. Lông chim lại hóa ra hai cây xoan đào tươi tốt. Vua thấy cây đẹp, lấy làm thích, sai mắc võng đào[9] để nằm chơi hóng mát.

Cám lại về mách mẹ. Theo lời mẹ xui, Cám lại bắt lính đẵn hai cây xoan xuống, lấy gỗ đóng khung cửi. Nhưng cứ mỗi lần Cám ngồi vào dệt vải thì cái khung cửi lại kêu lên:

Cám sợ quá về nhà mách mẹ, mẹ lại xui sai lính đốt khung cửi đi, rồi đổ tro ra đường cái. Không ngờ đám tro lại hóa ra một cây thị xanh tươi, cây thị chỉ có một quả thật to, thơm nức.

Một hôm, có bà lão hàng nước qua đấy thấy quả thị liền nói:

Bà lão vừa dứt lời, quả thị rụng ngay vào bị. Bà vội vàng mang về nhà, để ở đầu giường, lấy làm quí lắm. Ngày nào bào lão cũng phải đi chợ mua hàng về bán. Cứ mỗi lần ở chợ về, bà lão đều ngạc nhiên, vì thấy có sẵn cơm canh để phần tươm tất, lại có cả chậu nước nữa… Cửa nhà rất sạch sẽ, gọn gàng.

Bà rắp tâm[10] rình xem. Một hôm, đi chợ được nửa đường, bà liền quay trở lại. Gần đến nhà, bà rón rén tới sát của, nhìn qua khe liếp[11], thấy một cô gái đẹp như tiên đang làm bếp. Bà lão mừng quá, chạy vào ôm chầm lấy. Vì lộ cơ[12], cô tiên không biến đi được nữa.

Bà lão tìm quả thị, thì chỉ thấy còn cái vỏ, liền xé vụn ra rồi giấu đi.

Từ bấy giờ, hai người sống với nhau và thương yêu nhau như hai mẹ con.

Một hôm, vua ra hồ dạo chơi, qua hàng nước, thấy có một bà lão phúc hậu, liền ghé vào. Vua bỗng nhìn thấy những miếng trầu têm rất khéo và đẹp, giống như những miếng trầu trước Tấm vẫn têm. Vua mới hỏi bà lão: “Trầu này ai têm?”. Bà lão bảo chính tay bà têm. Nhưng vua gặng hỏi[13] mãi, bà đành thú thật là con gái bà têm. Vua ước ao được xem mặt. Bà lão gọi con gái ra, thì chính là Tấm. Được gặp vợ, vua mừng rỡ, sai quân lính rước về cung.

Về đến cung, Tấm kể rõ sự tình cho nhà vua nghe, nhà vua tức giận sai người đem mẹ con Cám lên xử tội, nhưng Tấm thương cảm, xin nhà vua tha cho họ. Nhà vua truyền chỉ đuổi mẹ con Cám ra ngoài cung. Vừa ra khỏi thành, giông tố ập đến, mẹ con Cám bị sét đánh chết giữa đồng.[14]

Theo bản của Đỗ Thận Nguồn: Văn học trích giảng lớp 7 – phổ thông (1973)

Chú thích trong truyện cổ tích Tấm Cám

Dì ghẻ: cũng là mẹ ghẻ, mẹ kế, tức là người vợ sau của cha kế tiếp người vợ cả đã chết.

Bụt: tức Phật. Theo trí tưởng tượng của người đời xưa, Bụt thường hiện lên để giúp đỡ người tốt gặp phải hoạn nạn.

Cháo hoa: cháo trắng, nấu toàn bằng gạo, hạt gạo nở to ra.

Mở hội: ý nói tổ chức ngày hội vui.

Kim cương: một thứ đá quí, rất cứng và trong suốt, thường dùng làm đồ trang sức… Giày thêu kim cương: giày có đính các hạt kim cương lóng lánh trông rất đẹp.

Thắng bộ vào: ý nói diện quần áo đẹp.

Ướm: thử xem có vừa không.

Cung: chỉ nơi ở của vua, còn gọi là cung cấm, cung điện.

Võng đào: cũng nói võng điều, võng màu đỏ. Đời trước vua quan mới được dùng võng đào.

Rắp tâm: có ý định, lập tâm.

Liếp: phên đan bằng nứa hay tre.

Lộ cơ: ý nói lộ bị mật

Gặng hỏi: cũng nói hỏi gặng, hỏi đi hỏi lại cho kỳ được.

Để phù hợp với lứa tuổi độc giả, Ban Biên tập Thế giới cổ tích đã thay đổi lại nội dung đoạn kết.

Soạn bài Tấm Cám lớp 10

Truyện cổ tích Tấm Cám từ lâu đã được đưa vào giảng dạy trong sách giáo khoa ngữ văn lớp 10, tập 1. Đây là vừa là truyện cổ tích thần kỳ, vừa là truyện cổ tích thế sự tiêu biểu và đặc sắc trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Cũng như phần lớn các truyện cổ tích thế sự khác, Tấm Cám đề cao công lí đồng thời là điều mong ước thiết tha của nhân dân lao động thời xưa trong mối quan hệ xã hội là: “Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác”.

“Mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời dì ghẻ lại thương con chồng.”

Về hình thức nghệ thuật, truyện Tấm Cám mang nhiều hình ảnh, chi tiết ý vị, đậm đà màu sắc dân tộc và dân gian: từ hình ảnh các loài vật gần gữi như con cá bống nuôi trong giếng, con gà mái bới xương, đàn chim sẻ nhặt thóc, con voi của nhà vua, con chim vàng anh biết nói… cho tới hình ảnh các loài cây cối quen thuộc như cây cau trong vườn nhà Tấm, cây xoan đào trong cung vua, cây thị bên bờ đường, quả thị của bà lão hàng nước… và cả những hình ảnh các đồ vật hàng ngày như chiếc giỏ xúc tép của Tấm, chiếc khung cửi bằng gỗ xoan đào, cái võng của nhà vua, miếng trầu têm cánh phượng của bà lão hàng nước, và đặc biệt là chiếc giày nạm kim cương xinh đẹp của Tấm, v.v… Tất cả với những hình ảnh đầy ý vị đó đều gắn bó rất mật thiết với từng bước phát triển số phận của Tấm – nhân vật trung tâm trong truyện, và đều để lại cho mọi người những ấn tượng sâu sắc, kì thú, khó có thể quên được.

Ngoài ra, những lời ăn tiếng nói có vần điệu của người và nhận vật trong truyện (gà, chim, khung cửi, quạ…) theo phong cách dân gian lại tạo cho câu chuyện một không khí giao cảm hài hòa giữa thế giới tự nhiên và con người trong thời cổ xưa, do đó có sức lôi cuốn lạ thường đối với người nghe truyện.

Phân tích nhân vật tấm trong truyện Tấm Cám

Mụ dì ghẻ: Cách bóc lột của mụ (dùng cái yếm đỏ để dử Tấm). Lòng độc địa nham hiểm của mụ (bắt bống của Tấm: bống tượng trưng cho cái gì? Lấy rựa đẵn gốc cau, để cho con mình thay Tấm làm Hoàng hậu, giết chim vàng anh, chặt cây xoan đào, đốt khung cửi, kỳ tiêu diệt được Tấm mới thôi).

Tấm: Tính cách hiền lành, chất phác, cần cù, nhẫn nại, yêu lao động, luôn luôn chịu đựng và hy vọng. Tấm đối với bà lão hàng nước, Tấm đối với chồng như thế nào?

Cám: Đại diện cho nhân vật phản diện, ghen ăn tức ở. Là chi em cùng cha khác mẹ, nhưng Cám đã dùng những thủ đoạn nào với Tấm?

Bụt: Bụt tượng trưng cho cái gì? Trong chuyện đời xưa, tại sao thường có sự can thiệp của Trời, Phật, Bụt?

Ông vua: Quan niệm của nông dân trong thời phong kiến đối với vua như thế nào? Tại sao? Tác phong của nhà vua trong truyện (vào quan uống nước, ăn trầu, lập hoàng hậu bất cứ với người giai cấp nào).

Những nhân vật phụ: Gà, Quạ cũng đứng về phe chính nghĩa.

Bố cục khi soạn bài Tấm Cám

Câu chuyện có thể chia làm 4 đoạn chính với nội dung cụ thể như sau:

Đoạn 1: Mẹ con Cám dối trá, cướp công của Tấm

Đoạn này bước đầu giới thiệu với chúng ta các nhân vật chính trong truyện (Tấm, Cám, mụ dì ghẻ và ông Bụt) trong cuộc tranh chấp đầu tiên mở đầu cho mối mâu thuẫn sẽ ngày càng phát triển gay gắt, quyết liệt trong các đoạn sau.

Đoạn 2: Tấm đi dự hội đánh rơi chiếc giày đẹp, được nhà vua kén làm vợ.

Ở đoạn này, kịch tính bắt đầu phát triển cao hơn, dồn dập hơn, chủ yếu qua hai tình tiết chính: một là việc Bụt tận tình giúp đỡ cho Tấm đi dự hội của nhà vua mở, hai là việc Tấm đánh rơi chiếc giày đẹp, là đầu mối cho toàn bộ diễn biến câu chuyện đầy kịch tính và đầy yếu tố kì lạ về sau.

Đoạn 3: Mẹ con Cám gian ác, nham hiểm, quyết tâm hãm Tấm để cướp đoạt hạnh phúc của Tấm.

Trọng tâm của truyện cổ tích Tấm Cám là ở đoạn này. Tình tiết của câu chuyện diễn biến mỗi lúc một phức tạp, sôi nổi, kịch tính của truyện cũng phát triển ngày càng cao hơn, thể hiện cuộc xung đột diễn ra hết sức gay gắt giữa một bên là mrj con mụ dì ghẻ quyết “hủy diệt” cuộc sống của Tấm để cướp đoạt bằng được hạnh phúc của nàng, và một bên là Tấm chống cự lại quyết liệt dã tâm nham hiểm của hai người họ (“Kẽo cà kẽo kẹt, lấy tranh chồng chị, chị khoét mắt ra”…); dù phải “hóa kiếp” tới bốn lần thành chim muông, cây cỏ, cuối cùng Tấm vẫn hiện trở lại thành người để giành lại quyền sống và quyền hưởng hạnh phúc.

Đoạn 4: Mẹ con Cám bị trừng phạt đích đáng.

Tấm hiện hình trở lại thành người và lại được vua đón về cung. Nhưng vẫn còn Cám – đứa em cùng cha khác mẹ hết sức bất nhân bất nghĩa, vẫn còn mụ dì ghẻ cực kì độc ác, nham hiểm; nghĩa là vẫn còn mâu thuẫn và mâu thuẫn càng phát triển lên tới đỉnh cao. Sau bốn lần thất bại liên tiếp, liệu Tấm sẽ đối xử với mẹ con Cám như thế nào? Trừng trị hay khoan dung?

Tìm Hiểu Văn Bản: Tấm Cám (Truyện Cổ Tích)

– Truyện cổ tích là những tác phẩm tự sự dân gian mà cốt truyện và hình tượng được hư cấu có chủ định, kể về số phận những con người bình thường trong xã hội có giai cấp, thể hiện tinh thần nhân đạo và lạc quan của nhân dân lao động.

– Truyện cổ tích được chia thành ba loại: cổ tích về loài vật, cổ tích sinh hoạt và cổ tích thần kì. Trong đó, truyện cổ tích thần kì là phong phú nhất và chiếm số lượng nhiều nhất.

b. Đặc trưng của truyện cổ tích thần kì

– Sự tham gia của yếu tố thần kì là khá phổ biến (tiên, bụt, sự biến hoá thần kì, những vật có phép màu…).

– Kết cấu tương đối thống nhất: Dạng kết cấu phổ biến là nhân vật chính trải qua những phiêu lưu, hoạn nạn, thử thách, cuối cùng đạt được ý nguyện của mình.

– Nhân vật chính phần lớn là những con người bình thường.

– Mâu thuẫn, xung đột gia đình và xã hội được thể hiện dưới dạng khái quát: đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu, giữa cái thiện và cái ác.

– Tấm Cám là một truyện cổ tích đặc sắc trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Câu chuyện này được truyền miệng từ bao đời nay, là kết quả của quá trình sáng tác tập thể, gắn bó mật thiết với các sinh hoạt tinh thần trong đời sống cộng đồng.

– Văn bản Tấm Cám đưa vào SGK được chọn từ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập 4, của Nguyễn Đổng Chi, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1975.

– Tấm Cảm là một tác phẩm tự sự. Đây là câu chuyện về cuộc đời Tấm – cô gái mồ côi cả cha lẫn mẹ, sống với mẹ con người dì ghẻ độc ác, trải qua nhiều nỗi khổ, Tấm đã tìm thấy hạnh phúc và đấu tranh quyết liệt đến cùng để giành lại cuộc sống, giữ gìn được hạnh phúc.

– Theo hệ thống thể loại văn học dân gian thì Tấm Cám thuộc loại truyện cổ tích thần kì. Truyện cổ tích có nguồn gốc xa xưa được phát triển trong xã hội có giai cấp cùng với sự xuất hiện chế độ tư hữu tư sản, chế độ gia đình phụ quyền thời cổ.

– Kiểu truyện Tấm Cám rất phổ biến ở nhiều dân tộc khác nhau trên thế giới: Cô bé lọ lem (Pháp), Chiếc hài cườm pha lê (Đức),… và có những điểm chung về nội dung như:

+ Phản ánh số phận của những con người nhỏ bé, bất hạnh.

+ Thể hiện ước mơ về sự công bằng, dân chủ, hạnh phúc.

Tấm và Cám là hai chị em cùng cha khác mẹ. Cha mẹ mất sớm, Tấm ở với dì ghẻ là mẹ của Cám. Một lần, khi đi bắt tôm tép ngoài đồng, Cám đã lừa Tấm, trút hết tép vào giỏ của mình. Tấm khóc, Bụt hiện lên bảo Tấm mang con bống còn sót lại trong giỏ về nuôi ở giếng. Mẹ con Cám biết chuyện, lừa Tấm bắt bống giết thịt. Mất bống, Tấm ngồi khóc thì Bụt lại hiện ra và bảo Tấm hãy nhặt lấy xương bống bỏ vào bốn lọ chôn ở bốn chân giường. Ít lâu sau, nhà vua mở hội. Dì ghẻ lấy gạo trộn lẫn với thóc, bắt Tấm ở nhà nhặt rồi cùng Cám đi trảy hội. Tấm ngồi khóc một mình, Bụt lại hiện ra và sai đàn chim sẻ xuống nhặt giúp, lại bảo Tấm đào các lọ chôn ở chân giường lên để có đủ mọi thứ để đi trảy hội. Trên đường trảy hội, khi phóng ngựa qua chỗ lội Tấm đánh rơi một chiếc giày mà không kịp nhặt. Nhà vua đi qua nhặt được chiếc giày xinh xắn liền ra hạ lệnh để tất cả đàn bà con gái đi xem hội ướm thử, ai đi vừa thì sẽ lấy làm vợ. Tất cả không ai ngoài Tấm đi vừa chiếc giày rồi được rước vào cung làm vợ vua.

Ngày giỗ cha, Tấm về nhà, mẹ con Cám ghen ghét bày mưu để Tấm trèo cau rồi chặt gốc, giết chết Tấm. Cám vào cung thay Tấm. Tấm chết hoá thành chim vàng anh quấn quýt bên vua, Cám bắt chim làm thịt vứt lông chim ra vườn. Lông chim hoá ra hai cây xoan đào, vua thấy đẹp bèn sai mắc võng nằm chơi hóng mát hằng ngày, Cám sai chặt hai cây xoan đào làm khung cửi. Cám ngồi dệt, từ khung cửi phát ra tiếng oán trách. Cám đem đốt khung cửi, vứt tro ra xa hoàng cung. Từ đống tro mọc lên cây thị, đến mùa thị chỉ ra một quả và được bà lão hàng nước đem về. Hàng ngày, khi bà lão đi vắng, Tấm từ trong quả thị chui ra giúp bà mọi việc trong nhà xong lại chui trở vào. Bà lão rình biết được bèn ôm choàng lấy Tấm, nhận làm con. Một hôm vua đi chơi qua, ghé vào quán nước của bà lão, nhận ra Tấm và đón nàng về cung. Thấy Tấm ngày càng xinh đẹp, Cám hỏi, Tấm lừa Cám tự đào hố rồi sai đổ nước sôi. Cám chết, Tấm đem xác làm mắm và gửi về cho dì ghẻ. Mụ dì ghẻ ăn đến khi mắm gần hết thì thấy đầu lâu con gái, mụ lăn đùng ra chết.

– Phần 1: từ đầu đến “đẹp thế”: Thân phận của Tấm – cô gái mồ côi và con đường đến với hạnh phúc.

– Phần 2: từ “Vào cung vua” đến hết: Cuộc đấu tranh quyết liệt của Tấm để giành lại sự sống và hạnh phúc.

– Mâu thuẫn giữa Tấm và mẹ con Cám phản ánh mâu thuẫn trong gia đình phụ quyền thời cổ nói riêng; mâu thuẫn giữa lao động và bóc lột, giữa thiện và ác trong xã hội nói chung.

+ Tấm đại diện cho loại nhân vật mồ côi (mẹ Tấm chết từ hồi Tấm mới biết đi; sau đó ít năm người cha cũng chết): chăm chỉ, hiền lành, đôn hậu (mải miết bắt được đầy giỏ tâm tép không quản trời nắng, bớt phần ăn dành nuôi bống, cho trâu đi ăn thật xa,…)

+ Mẹ con người dì ghẻ là hiện thân của cái ác: Cám lừa gạt chị xuống tắm, trút hết tôm tép của Tấm vào giỏi của mình để giành chiếc yếm đỏ; mẹ con Cám rắp tâm lừa Tấm đi chăn trâu đồng xa để tiện bề bắt con cá bống – nguồn vui duy nhất của Tấm; trắng trợn trộn một đấu thóc vào một đấu gạo để bắt Tấm ngồi nhặt, không được đi hội do nhà vua mở;…

– Mâu thuẫn từ chỗ xoay quanh quyền lợi vật chất và tinh thần trong cuộc sống gia đình thường ngày (dì ghẻ – con chồng) đến mức biến thành xung đột về quyền lợi xã hội.

– Mâu thuẫn phát triển ngày càng gay gắt, không thể dung hòa, buộc phải giải quyết: Mọi đau khổ, tủi cực của Tấm đều bắt nguồn từ mẹ con Cám. Cô gái Tấm mồ côi chỉ biết khóc khi lừa gạt, bị tước đoạt đến cả những niềm vui bé nhỏ nhất. Trong truyện này, cũng như hầu hết các truyện cổ tích khác, nhờ sự can thiệp của các yếu tố kì ảo, xung đột thiện – ác cũng được giải quyết theo hướng: dù khó khăn đến đâu, dù lâu hay chóng thì cái thiện cuối cùng cũng thắng cái ác.

– Tấm có được hạnh phúc nhờ có sự giúp đỡ của Bụt. Cách giải quyết mâu thuẫn như vậy thể hiện ước mơ của người lao động, niềm tin của họ về lẽ công bằng mà trong đời sống thực còn quá mong manh và hầu như khó có thể thực hiện được.

+ Tấm bị Cám lừa nên không được thưởng chiếc yếm đỏ, chỉ biết khóc – Bụt xuất hiện an ủi cô, bày cho cô cách nuôi bống để làm bầu bạn.

+ Tấm bị mất cá bống – được gà tìm xương, được Bụt cho hi vọng đổi đời.

+ Tấm không được đi hội – Bụt cho chim sẻ xuống giúp nhặt thóc ra khỏi gạo, đưa Tấm đến đỉnh cao hạnh phúc: gặp vua và trở thành hoàng hậu.

– Tấm trở thành hoàng hậu nhưng cái ác vẫn đeo bám, vẫn tìm cách chiếm đoạt tất cả những gì Tấm có được, muốn tiêu diệt Tấm đến cùng. Khác với phần đầu câu chuyện, ở phần hai, cuộc đấu tranh giữa Tấm và mẹ con Cám hết sức quyết liệt nhưng ta không thấy Tấm khóc, cũng không thấy nhân vật Bụt xuất hiện; chỉ thấy sau mỗi lần hóa thân: chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửu, quả thị – một cô Tấm ngày càng mạnh mẽ, quyết liệt sống dậy, trở lại cuộc đời để đòi quyền được sống, đòi lại hạnh phúc đã bị Cám cướp mất.

– Các yếu tối kì ảo ở phần hai không thay thế Tấm trong cuộc đấu tranh quyết liệt với mẹ con Cám, dường như nó là nơi Tấm hóa thân để trở lại đối đầu với kẻ ác, để giành lại hạnh phúc của mình. Lại một lần nữa, người đọc cảm nhận được quan niệm giản dị, thực tế về hạnh phúc của người lao động: người tốt phải tự mình tiêu diệt cái ác, giành lại hạnh phúc; hạnh phúc chỉ có thể có ở cuộc đời thực, chỉ trọn vẹn khi không còn cái ác, khi cái ác đã bị tiêu diệt đến cùng. Sự hóa thân của Tấm không hẳn là do ảnh hưởng của thuyết luân hồi của nhà Phật; nếu có chăng, tác giả dân gian chỉ mượn cái vỏ ngoài để thể hiện ước mơ, tinh thần lạc quan của người lao động mà thôi.

– Chi tiết Tấm ẩn mình trong quả thị và từ quả thị bước ra, trở lại làm người là một chi tiết có giá trị thẩm mĩ cao. Ý nghĩa cổ xưa nhất của nó là một quan niệm của tác giả dân gian (Sọ Dừa là một cục thịt biết lăn tròn, biến thành chàng trai khôi ngô tuấn tú – trong truyện Sọ Dừa; người đẹp từ trong tranh bước ra – trong truyện Tú Uyên – Giáng Kiều; cô gái mang lốt cóc xấu xí bẩn thỉu trở thành người, lấy được người chồng dũng cảm, đẹp đẽ – truyện Lấy vợ cóc;…). Sau này, một lớp nghĩa mới mang tính hiện đại hơn được gửi gắm ở chi tiết biến hóa cuối cùng của Tấm, đó là nội dung tốt đẹp thường được ẩn dưới một hình thức bình thường, thậm chí xấu xí.

– Kết thúc truyện cổ tích Tấm Cám là kết thúc có hậu: mẹ con Cám bị trừng phạt thích đáng; cô Tấm mồ côi bị đọa đày sau bao lần chết đi sống lại cuối cùng vẫn gặp được nhà vua, vẫn là hoàng hậu bên những người dân hiền lành tử tế.

– Trong sự trở về của Tấm có vai trò của miếng trầu têm cánh phượng, một hình ảnh quen thuộc trong đời sống văn hóa Việt Nam, trong lễ tết, cưới hỏi của người Việt. Và ở đây, trong sự hội ngộ của nhà vua với người vợ khéo léo, đảm đang của mình, miếng trầu têm cánh phượng lại có mặt, như một sự nhận viết thiêng liêng mang đậm dấu ấn dân tộc Việt, càng tôn thêm giá trị nhân văn của câu chuyện.

Sự biến hóa của Tấm thể hiện sức sống, sức trỗi dậy mãnh liệt của con người trước sự vùi dập của kẻ ác. Đây là sức mạnh của cái thiện chiến thắng cái ác qua cuộc đấu tranh không khoan nhượng đến cùng. Chiến thắng ấy thể hiện niềm tin của nhân dân về sự chiến thắng của cái thiện với cái ác, tinh thần lạc quan và ước mơ về một xã hội công bằng.

– Cốt truyện li kì, hấp dẫn với những mâu thuẫn, xung đột ngày càng quyết liệt.

– Xây dựng nhân vật theo hai tuyến đối lập.

– Sử dụng các yếu tố, chi tiết tưởng tượng kì ảo

Phân Tích Truyện Cổ Tích Tấm Cám

1. Truyện cổ tích Tấm Cám có thể chia làm hai phần lớn. Phần 1: Thân phận của Tấm và con đường đến với hạnh phúc của cô. Phần 2: Cuộc đấu tranh để giành và giữ hạnh phúc của Tấm. Hoặc có thể chia thành bốn phần nhỏ như sau:

– Phần 1 (Từ đầu đến “vào một việc gì”): Ở với dì ghẻ và Cám, Tấm bị hành hạ nhưng vẫn nuôi hi vọng.

– Phần 2 (Từ “Được ít lâu” đến “mà đẹp thế”): Vận may đến với Tấm khi Tấm thử vừa chiếc giày thêu, được làm hoàng hậu.

– Phần 3 (Từ “Vào cung vua” đến “thật xa cung vua”): Tấm bị hại, bị cướp mất chồng phải hóa thân vào chim vàng oanh, cây xoan đào, khung dệt cửi song vẫn không ngừng tố cáo kẻ ác.

– Phần 4 (Từ “Ớ đống tro” đến hết): Tấm hóa thân vào quả thị, về với bà lão, gặp lại nhà vua, tìm cách giết Cám và mụ dì ghẻ.

3. Từ mở đầu đến kết thúc truyện, thái độ phản kháng của Tấm đối với hành vi tàn ác của mẹ con Cám ngày càng tiến triển. Nếu như ở phần 1, thái độ của Tấm là cam chịu và than khóc, thì ở phần 3 và 4, thái độ của Tấm là ăn miếng trả miếng, đấu tranh quyết liệt cho đến lúc tiêu diệt được kẻ ác. Tất nhiên Tấm phải dựa vào các yếu tô’ kì ảo như Bụt và phép luân hồi của Bụt. Song Tấm vẫn còn dựa vào con người nữa như bà lão bán nước và ông vua yêu vợ. Sự trở về với cuộc đời của Tấm ở cuối truyện nói lên quan niệm nhân hậu của nhân dân: Nhân dân không muôn kẻ mồ côi bất hạnh như Tấm chịu mãi thiệt thòi.

4. Truyện Tấm Cám phản ánh ước mơ về một cuộc sống công bằng trong xã hội, về quan niệm “ở hiền gặp lành”. Người hiếu hạnh đẹp nết, đẹp người phải được hạnh phúc. Kẻ ác phải bị trừng trị.

5. Truyện Tấm Cám là truyện cổ tích thần kì vì có nhiều chi tiết kì ảo như: Bụt hiện lên, cá bống nghe được tiếng người; xương bống đem chôn cho trang phục đẹp; chim giúp Tấm nhặt gạo, nhặt thóc; chiếc giày thêu hoa giúp Tấm nên duyên. Rồi tiếp đó là bôn cuộc hóa thân mà cuộc hóa thân nào cũng ấn tượng cả: hóa thân thành chim vàng anh biêt hót véo von, hóa thân thành cây xoan đào để vua mắc võng, hóa thân khung cửi dệt cảnh cáo kẻ cướp chồng, hóa thân trong quả thị chờ ngày hội ngộ. Ngay chi tiết tắm nước sôi để nước da trở nên trắng đẹp mà Cám ngờ nghệch thực hiện cũng là một chi tiết thần kì, bởi nếu chỉ tinh ý một chút thì đời nào Cám lại thực hiện cuộc tự sát chóng vánh ấy.

5. Truyện Tấm Cám có chi tiết mời trầu đức vua, nhờ miếng trầu cánh phượng têm khéo, đức vua nhận ra vợ mình. Đây quả là một hội ngộ thú vị bởi miếng trầu là biểu hiện văn hóa giao tiếp của người Việt. Gặp nhau “Miếng trầu là đầu câu chuyện”, mời trầu là tiết mục giao duyên. Cho nên trong bài ca dao gặp hai anh đi câu thạch bàn, cô gái đã không nhận trầu vì “Thưa rằng bác mẹ em răn – Làm thân con gái chớ ăn trầu người”.

Có phải duyên nhau thì thắm lại,

Đừng xanh như lá bạc như vôi.

Cho đến xã hội hiện đại, trai gái lấy nhau vẫn có sự hiện diện của miếng trầu kết gắn lứa đôi.

Một số câu ca dao có miếng trầu (dẫn theo Vũ Ngọc Phan và Nguyễn Xuân Kính):

– Ba đồng một mớ trầu cay,

Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không.

– Từ ngày ăn phải miếng trầu,

Miệng thơm môi đỏ dạ sầu đăm chiêu.

– Trầu xanh, cau trắng, chay vàng,

Cơi trầu bịt bạc thiếp chàng ăn chung.

Trầu xanh, cau trắng, chay hồng,

Vôi pha với nghĩa, thuốc nồng với duyên.

– Gặp nhau đưa một miếng trầu,

Chẳng ăn cầm lấy cho nhau bằng lòng.

Tấm Cám (Truyện Cổ Tích)

Hướng dẫn học bài

Câu 1:

Diễn biến của truyện có thể chia thành hai giai đoạn:

– Từ đoạn truyện về chiếc yếm đỏ đến đoạn truyện Tấm đi xem hội phản ánh mâu thuẫn xoay quanh những quyền lợi về vật chất và tinh thần trong cuộc sống hàng ngày.

Diễn biến của cốt truyện cho ta hình dung về xu hướng phát triển của hai tuyến nhân vật:

– Tuyến mẹ con Cám: càng ngày càng tỏ ra độc ác hơn, tàn nhẫn hơn.

– Tuyến nhân vật Tấm, từ những hành động và phản ứng yếu ớt, cô đã trở nên quyết liệt và chủ động hơn để đòi lại hạnh phúc đích thực của mình.

Câu 2:

Tấm sau khi chết đã hóa thân trở đi trở lại thành: chim vàng anh – hai cây xoan đào – khung cửi – quả thị, nghĩa là đều hóa thành vật. Sự hóa thân thần kì này phản ánh một quan niệm của dân gian xưa: quan niệm đồng nhất giữa người và vật. Cả bốn hình thức biến hóa này đều cho thấy vẻ đẹp về phẩm chất của nhân vật vẫn không thay đổi: bình dị và sáng trong. Bốn lần biến hóa còn cho thấy sự biến chuyển trong ý thức đấu tranh của nhân vật.

Ví dụ: Khi là chim vàng anh, nhìn thấy Cám đang giặt áo, chim nhắc nhở: ” Phơi áo chồng tao, phơi lao phơi sào, chớ phơi bờ rào, rách áo chồng tao “. Nhưng khi chiếc khung cửi lên lời, lại là lời đe dọa:

C ó t ca , c ó t k é t L ấ y tranh ch ồ ng ch ị Ch ị kho é t m ắ t ra

Có thể nói ý nghĩa chung nhất của quá trình biến hóa ấy là thể hiện sức sống mãnh liệt của Tấm. Sức sống ấy không thể bị tiêu diệt bởi bất cứ một thế lực nào. Và nó chính là nguyên nhân quan trọng nhất tạo nên chiến thắng cuối cùng của nhân vật.

Câu 3:

Mâu thuẫn giữa Tấm và Cám là mâu thuẫn gay gắt, một mất một còn, không thể hóa giải được. Mẹ con Cám hết lần này đến lần khác hại Tấm, quyết tâm tiêu diệt Tấm đến cùng. Do đó, Tấm chỉ có hai sự lựa chọn, hoặc là Tấm sống (thì Cám phải chết), hoặc là Tấm chết. Bởi thế, hành động Tấm giết Cám không phải chỉ là vấn đề trả thù mà còn là vấn đề sinh tồn. Để bảo vệ tính mạng và hạnh phúc của mình, Tấm chỉ có một chọn lựa duy nhất là phải giết Cám. Hành động trả thù của Tấm thể hiện quan điểm của nhân dân: ” ác giả ác báo “.

Câu 4: Bản chất của mâu thuẫn và xung đột trong truyện Tấm Cám.

Mâu thuẫn và xung đột trong truyện cổ tích này trước hết là mâu thuẫn và xung đột trong gia đình phụ quyền thời cổ đại (mâu thuẫn dì ghẻ mâu thuẫn con chồng). Nguyên nhân bắt nguồn từ việc kế thừa tài sản và hưởng những quyền lợi vật chất của các thành viên (con cái) trong gia đình. Truyện cũng thấp thoáng xuất hiện những mâu thuẫn xã hội (về quyền lợi và địa vị) nhưng không phải là chủ đạo. ý nghĩa chung nhất của tác phẩm toát lên từ mâu thuẫn giữa cái thiện và cái ác. Đó là cuộc đấu tranh giữa người lương thiện và những kẻ bất lương.

Luyện tập

Những đặc trưng của thể loại truyện cổ tích thần kì được biểu hiện trong Tấm Cám:

Cốt truyện có sự tham gia của nhiều yếu tố thần kì: nhân vật Bụt, xương cá bống và những lần biến hóa của nhân dân chính.

Về kết cấu, truyện có dạng: nhân vật chính phải trải qua nhiều hoạn nạn cuối cùng mới được hưởng hạnh phúc. Đây là một trong những kiểu kết cấu khá phổ biến của loại truyện cổ tích thần kì.

Truyện phản ánh những xung đột trong xã hội thời kì đã có sự phân chia giai cấp.

Kết thúc truyện có hậu mang tính nhân đạo và lạc quan.

Cập nhật thông tin chi tiết về Truyện Cổ Tích Tấm Cám Bản Gốc trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!