Xu Hướng 2/2023 # Trường Cđsp Quảng Trị Mobile # Top 9 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Trường Cđsp Quảng Trị Mobile # Top 9 View

Bạn đang xem bài viết Trường Cđsp Quảng Trị Mobile được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

TRIẾT LÝ Ở HIỀN GẶP LÀNH VÀ ƯỚC MƠ CÔNG LÝ CỦA NHÂN DÂN TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM

                                                                                                Lương Thị Tố Uyên

                                                                                                Khoa Xã hội

Trước hết, đây là niềm tin và mơ ước của nhân dân. Nó chi phối toàn bộ sự xây dựng và phát triển của các nhân vật chính diện, phản diện và lực lượng thần kì ở trong truyện cổ tích.

Đối với các nhân vật chính diện (Thạch Sanh, cô Tấm, người em trong truyện Cây Khế…) tác giả dân gian không chỉ dừng lại ở sự phản ánh và cảm thông đối với những đau khổ, đắng cay, oan ức của họ mà còn đặc biệt quan tâm, tìm cách, tìm đường giải thoát cho họ để họ được đền bù xứng đáng. Nhờ vậy mà nhiều nhân vật chính diện trong truyện cổ tích đã được đổi đời, được đền bù thích đáng làm cho cả người kể lẫn người nghe đều hả hê, sung sướng (Sọ Dừa thi đổ trạng nguyên và lấy được con gái phú ông, Tấm trở thành hoàng hậu, Thạch Sanh lấy công chúa và lên làm vua…).

Đối với các nhân vật phản diện (Lí Thông, mẹ con nhà Cám, người anh tham lam trong truyện Cây Khế…) thì tác giả dân gian không chỉ phản ánh, tố cáo, lên án sự tham lam, ích kỉ. độc ác, dã man của chúng mà còn tìm cách loại trừ, tiêu diệt chúng để cho những người lương thiện được sống yên vui. Vì thế hầu hết các nhân vạt phản diện trong truyện cổ tích đều dẫn đến kết cục bi thảm và bị trừng phạt thích đáng. Mức độ và hình thức thưởng phạt đối với các nhân vật chính diện và phản diện ở trong truyện cổ tích Việt được thực hiện có phân biệt, tương xứng với tài đức, tội trạng của từng nhân vật. Cô Tấm đẹp người, đẹp nết, chịu thương chịu khó, chịu nhiều thiệt thòi, được lấy vua trở thành hoàng hậu. Thạch Sanh có tài năng, mức độ, có nhiều công tích được lấy công chúa làm vua, Sọ Dừa thì đổ trạng. Người em (trong truyện Cây Khế) là người nghèo khổ, hiền lành, thật thà nhưng không có tài năng, công tích gì đặc biệt nên chỉ được Chim thần cho vàng (vừa đầy chiếc túi “ba gang”) để trở thành giàu có mà thôi. Đối với các nhân vật phản diện, sự trừng phạt cũng có sự phân biệt rỏ rệt. Lí Thông tham tài, tham sắc, tham danh vọng, địa vị, vong ân bội nghĩa, lợi dụng, lùa gạt, cướp công và hãm hại Thạch Sanh thì bị trời đánh hoá thành kiếp bọ hung, đời đời chui rúc nơi hôi hám. Người Anh (trong truyện Cây khế) ích kỉ, tham lam thì Chim thần cũng chỉ “chiều” theo tham vọng của hắn để cho hắn phải tự chuốc lấy cái chết nhục nhã mà thôi. Còn ở truyện Tám Cám thì sự trừng phạt nhân vật phản diện có phần đặc biệt so với nhiều truyện cổ tích khác. Và đây là một trong những chổ có vấn đề đã từng gây ra sự tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu. Người thì cho Tấm trừng trị mẹ con nhà Cám như thế là phải, là thích đáng. Người thì cho cách trả thù của Tấm  (giết Cám bằng nước sôi, rồi muối thành mắm…) như thế là quá quắt, trái với bản tính hiền lành vốn có của Tấm và cũng trái với truyền thống khoan dung, rộng lượng của dân tộc. Do đó có người đã đề nghị không nên đưa truyện Tấm Cám vào chương trình văn học dân gian trường phổ thông.

Quả thực cách trả thù của Tấm đối với mẹ con nhà Cám là rất đặc biệt, khác với thông lệ của truyện cổ tích. Thông thưòng trong truyện cổ tích, các nhân vật chính diện ít khi trực tiếp trả thù các nhân vật phản diện. Thạch Sanh hoàn toàn tha bổng cho mẹ con Lí Thông; người em trong truyện cây khế không hề phàn nàn, oán trách người anh tham lam; Sọ Dừa và vợ chàng cũng không hề đả động gì đến tội trạng của hai người chị gái (con phú ông)… việc trừng phạt các nhân vật phản diện trong truyện cổ tích phần lớn là do các lực lượng thần kì (Trời, Phật, Thần linh…) thực hiện, hoặc do bản thân các nhân vật tự chuốc lấy. Trái lại, ở truyện Tấm Cám, các tác giả dân gian đã để cho Tấm trực tiếp trả thù và trả thù một cách quyết liệt, dữ dội đối với mẹ con nhà Cám khiến cho tính cách của Tấm phát triển thành hai phần, hai giai đoạn khác nhau và đối lập nhau rõ rệt. Giai đoạn đầu khi còn sống (lúc còn ở nhà với dì ghẻ và Cám cũng như khi đã vào cung vua làm hoàng hậu) Tấm rất hiền lành, chịu thương, chịu khó, thậm chí rất yếu đuối (chỉ biết khóc mỗi khi gặp khó khăn) và nhẹ dạ, cả tin (nên bị Cám cướp giật liên tiếp: cướp giỏ cá, cướp quyêng đi trảy hội, cướp chồng…). Nhưng sau khi bị giết, trải qua nhiều kiếp (kiếp người, kiếp chim, kiếp xoan đào, kiếp khung cửi, kiếp thị) và trở lại làm người thì Tấm trở thành một người khác hẳn: đáo để, kiên quyết, chỉ tên vạch mặt kẻ thù đến nơi đến chốn và trừng trị chúng một cách không thương tiếc. Ở đây có sự kết hợp, hoà trộn giữa niềm tin và triết lí truyền thống “ở hiền gặp lành” của nhân dân và thuyết luân hồi, quả báo (“thiện giả thiện báo, ác giả ác báo”) của đạo Phật. Vì thế mà có hai cô Tấm khác nhau rõ rệt. Cô Tấm thứ nhất (từ đầu cho đến khi trở thành hoàng hậu) về cơ bản đồng dạng với các nhân vật chính diện khác của truyện cổ tích (cuộc đời cũng gồm hai phần:  phần hiện thực và phần ước mơ, phần tối tăm và phần tươi sáng). Cô Tấm thứ hai (từ khi trèo cau bị giết cho đến khi trở lại làm người trải qua nhiều kiếp khác nhau) chủ yếu là nhân vật của sự trả thù, báo ứng, không còn là nhân vật phổ biến, thông thường trong cổ tích nữa. Và đây chính là chỗ đặc biệt trong truyện Tấm Cám so với các truyện cổ tích khác. Với mức độ khác nhau, cả hai cô Tấm ấy đều phù hợp với triết lí “ở hiền gặp lành” và ước mơ công lí của nhân dân. Việc xây dựng cô Tấm thứ hai (hay giai đoạn thứ hai của nhân vật Tấm) cho thấy tác giả dân gian của truyện này có cái nhìn hiện thực xã hội rất sâu sắc và sự phản ánh ước mơ công lí của nhân dân rất triệt để.

Tác giả không bằng lòng kết thúc truyện một cách “có hậu” ở việc Tấm lấy được vua và trở thành hoàng hậu (mặc dù truyện đến đây đã khá dài và có đầy đủ các bước phát triển như nhiều truyện cổ tích thần kỳ khác).

Sự kiện bà hoàng hậu Tấm về nhà làm giỗ cha và bị mẹ con nhà Cám giết chết mở đầu cho phần thứ hai của truyện Tấm Cám, phản ánh sâu sắc và triệt để hơn xung đột quyền lợi trong xã hội phong kiến và khát vọng chính nghĩa thắng gian tà của nhân dân. Với phần thứ nhất truyện Tấm Cám chỉ mới nói được vấn đề “người hiền” có thể và cần phải được “gặp lành”. Với phần thứ hai, tác giả mới nói được rõ hơn, đầy đủ và sâu sắc hơn kinh nghiệm và lí tưởng sống của mình là: “người hiền” không dễ gì sống yên ổn với “điều lành” khi “kẻ ác” còn tồn tại, chưa bị loại bỏ.

Nếu như ở phần thứ nhất kẻ cướp công của Tấm là Cám thì ở phần thứ hai, sự căm phẫn và trả thù của Tấm cũng chủ yếu hướng vào nhân vật Cám.

Sẽ là một thiếu sót đáng kể nếu không nói đến các nhân vật thần kì, siêu nhiên, khi bàn về triết lí “ở hiền gặp lành” và ước mơ công lí của nhân dân ở trong truyện cổ tích.

Khi khát vọng công lí và niềm tin “ở hiền gặp lành” chưa có điều kiện để thực hiện được nhiều trong đời sống thực tế, tác giả truyện cổ tích đã dùng các nhân vật thần kì, siêu nhiên để thực hiện ở trong trí tưởng tượng và bằng trí tưởng tượng.

Lực lượng thần kì, siêu nhiên ở trong truyện cổ tích Việt rất phong phú, đa dạng, bao gồm các nhân vật thần kì (như Tiên, Bụt, Thần linh, Diêm Vương), các con vật siêu nhiên (như Trăn Thần, Rắn Thần, Têy Tinh, Hồ Tinh…), các vật thiêng có phép lạ (như gậy Thần, Đàn Thần, Cung Thần, Niêu cơm Thần, chiếc áo tàng hình…).

Lực lượng nảy sinh ra từ nhiều nguồn gốc khác nhau, như quan niệm thần linh trong thần thoại, sự tín ngưỡng của nhân dân, ảnh hưởng của các tôn giáo (đạo Phật, đạo Lão…), nhưng đã được nhào nặn lại theo quan niệm và lí tưởng thẩm mĩ của tác giả truyện cổ tích. Vì thế lực lượng thần kì trong cổ tích không giống với các vị thần trong thần thoại và các tôn giáo đã sản sinh ra chúng. Lực lượng thần kì trong truyện cổ tích không phải là hiện thân của các lực lượng tự nhiên như các vị thần (Thần Mưa, Thần Gió…) trong thần thoại mà ít nhiều đều mang tính xã hội, tính giai cấp. Tiên, Phật (hay Bụt) trong truyện cổ tích chỉ giúp những người nghèo khổ, lương thiện (như Tấm, Thạch Sanh…) chứ không giúp kể ác (như Cám, Lí Thông…). Có khi nhân vật thần kì tỏ ra vô tư, trung lập, không thiên vị, nhưng cuối cùng vẫn gây ra những tác dụng ngược nhau đối với nhân vật chính diện và phản diện. Chẳng hạn con Chim thần trong truyện Cây khế đã nói với người em và người anh một câu như nhau (“Ăn một quả trả cục vàng – May túi ba gang mang đi mà đựng”) và đã đưa cả người anh lẫn người em đến đảo vàng ngoài biển xa. Nhưng sức Chim thần có giới hạn, nên không mang nỗi số vàng quá nhiều của người anh tham lam, khiến cho y pahỉ mất mạng. Cây đàn thần (trong truyện thạch Sanh) cũng chỉ phát huy được tác dụng kì diệu khi vào tay Thạch Sanh mà thôi (vua Thuỷ Tề có cây đàn thần mà vẫn phải chịu bó tay để cho yêu quái bắt Thái tử nhốt trong cũi sắt).

Phần lớn các lực lượng thần kì trong truyện cổ tích đều chỉ xuất hiện khi nhân vật chính diện gặp tai nạn, bế tắc, cần sự giúp đỡ. Nhưng cũng có khi bản thân nhân vật chính diện mang trong mình yếu tố thần kì (ví dụ Thạch Sanh, Sọ Dừa, người vợ Cóc trong truyện lấy vợ Cóc), Thạch Sanh là người nhưng có nguồn gốc siêu nhiên (là thái tử con Ngọc Hoàng, đàu thai vào nhà họ Thạch, năm 13 tuổi đã được Tiên ông dạy cho các phép võ nghệ thần thông). Sọ Dừa cũng có nguồn gốc phi thường (ẩn trong lốt sọ xấu xí, đáng sợ nhưng vốn là “người trời”, tài giỏi và chỉ một mình cô con út của phú ông sớm nhận ra điều kì diệu đó).

Thạch Sanh đã hoạt động trong một không gian rất rộng, bao gồm bốn cõi (từ”cõi trời” đầu thai vào nhà họ Thạch làm người hạ giới, rồi từ cõi trần, xuống hang động, từ hang động xuống thuỷ cung và cuối cùng mới trở lại trần gian).

Số lượng nhân vật trong truyện Thạch Sanh rất đông (trên 20 nhân vật và vật thần kì khác nhau), được phân làm hai tuyến (chính diện và phản diện). Ở mỗi tuyến đều có nhân vật là người và nhân vật siêu nhiên, kì ảo. Tuyến chính diện gồm các nhân vật là người (Thạch Sanh, công chúa, vua (cha của công chúa) và cha mẹ Thạch Sanh). Các nhân vật siêu nhiên (Ngọc Hoàng, Tiên Ông, vua Thuỷ Tề, Thái tử con vua Thuỷ Tề) và các nhân vật thần kì (Cung thần, Đàn thần, Niêu cơm thần). Tuyến nhân vật phản diện cũng bao gồm các nhân vật là người (Lí Thông, mẹ Lí Thông, Quân 18 nước chư hầu) và các quái vật thần kì (Trăn Tinh, Đại Bàng, Hồ TInh).

Thạch Sanh là nhân vật có nguồn góc siêu nhiên, là “con trời” nhưng đã đầu thai vào nhà họ Thạch và được trần gian hoá, xã hội hoá hoàn toàn (có cha mẹ, quê hương, có một cuộc đời phong phú với nhiều thân phận, công việc và kì tích khác nhau: trẻ mồ côi, người tiều phu, người ở dưới hình thức em nuôi, dũng sĩ diệt trừ yêu quái cứu người…).

      Có thể nói Thạch Sanh là con người đẹp nhất, phong phú và hoàn hảo nhất trong những nhân vật chính diện mà truyện cổ tích Việt Nam đã xây dựng.

                                                                                                Đông Hà, tháng 4/2013

Quảng Trị Mai Linhnhững Bài Thơ Hay Về Quảng Trị 2014 Mới Nhất Không Thể Bỏ Lỡ

Mời bạn về thăm Quảng Trị tôi Hiền Lương xanh thẳm một chiếc nôi Ghi lòng gan dạ, lời chung thủy Xưa cắt hai ngả giờ một nơi

Bạn ơi ! Hãy về thăm quê tôi Cồn Tiên, Dốc Miếu lửa rực trời Chiến tranh thiêu rụi từng ngọn cỏ Giờ đỏ tươi màu, xanh nơi nơi

Thạch Hãn anh hùng đó bạn ơi Trong lòng sông nước nghĩa đầy vơi Các anh nằm xuống đời con trẻ Đất nước yên bình lệ tuôn rơi

Vĩnh Mốc địa đạo gần biển khơi Đón bao đoàn khách đến thăm chơi Sáng ngời tình nghĩa người với đất Ngôi nhà oanh liệt tránh đạn rơi

Bạn ơi ! Xin bạn chớ hợt hời Thành Cổ hiên ngang đẹp cho đời Tám mốt ngày đêm thêm nước mắt Xương máu xây thành nay dạo chơi

Nếu bạn về đây ghé những nơi Anh hùng liệt sỹ ấm quê tôi Trường Sơn, Đường Chín khắc trong dạ Ai lạ, ai quen cũng một nơi

Dạo bước về với chốn thảnh thơi Cửa Tùng, Cửa Việt đẹp tuyệt vời Bạn vượt biển xa ra Cồn Cỏ Đảo nhỏ quê mình chốn nghĩ ngơi…

Từ trên núi đẹp xuống biển khơi Đậm nghĩa anh hùng Quảng Trị tôi Bạn ơi ! Nhớ về thăm Quảng Trị Hương vị ngọt ngào mãi không vơi !

(Quảng Trị trong tôi – Lê Thị Xuân)

Những bài thơ hay về Quảng Trị mới nhất – 2

Anh sẽ về Quảng Trị quê ta Dẫu không phải sinh ra từ đó Tuổi hai mươi đã một thời gian khó Cảnh đói, nghèo, đạn nổ bom rơi

Nhớ quê mình anh sẽ phải về thôi Nhớ biển xanh, nhớ con thuyền, bến cá Nhớ cánh buồm xa khơi lộng gió Nhớ bạt ngàn cát trắng, dương xanh

Em có về Quảng Trị cùng anh Đến Vĩnh Linh tiêu chè xanh bát ngát Ra Cửa Tùng sẽ cùng nhau tắm mát Ngắm chiếc cầu mới bắc qua sông

Đến nơi này em thấy có tuyệt không Cảng Cửa Việt xưa nhấn chìm tàu Mĩ Mà hôm nay đông vui như thành thị Bãi tắm dài san sát những HoTel

Anh sẽ về Quảng Trị cùng em Qua Triệu Phong ghé vào thăm Thành Cổ Thắp nén nhang cho người nằm dưới cỏ Đứng lặng nhìn, nước mắt ngỡ trời mưa

Thạch Hãn giờ dòng chảy vẫn như xưa Hỏi bạn tôi có còn nguyên đáy nước Thả nến, thả hoa có ai nhận được Vết đạn bom thù nhức nhối con tim

Về Đông Hà, đến thị trấn Gio Linh Ngẫm tương lai dáng đi thành phố mới Cầu Hiền Lương bốn mùa nghe gió thổi Vẫn thì thầm lời sóng gọi bên tai

Anh sẽ về Quảng Trị cùng em Ăn mắm ruốc, nấu cơm khoai lẫn đỗ Biển và cát ngàn đời nay còn đó Khắc ghi chiến tích những ngày đã qua Một vùng thắm sắc cỏ hoa Vượt qua gian khổ, quê nhà đổi thay.

Dòng sông trong vắt nơi đây Bao hồn liệt sĩ những ngày chưa xa “Mùa hè đỏ lửa” đi qua Tên “Thành Cổ” hát bài ca “Thành Đồng” Nghẹn ngào vục nước dòng sông Nghe như máu chảy ròng ròng kẽ tay!

Nhẹ chân Thành Cổ hôm nay Xa quê mình Quảng Trị Mà triền miên Thao thức nỗi nhớ quê…

Mảnh đất nghèo bên nớ bên ni Ru các anh.. vỗ về… yên giấc ngủ Thạch Hãn, Cổ Thành 81 ngày đêm lửa đỏ Ai ngang qua không ngả mũ cúi đầu…

Đã qua rồi… Anh ở bên ni Hiền Lương đêm mong ngày đợi Em ở bên tê Bến Hải ngày đợi đêm trông Hai ta chung tắm một dòng Nước sông kia mát rượi … đôi lòng nóng ran…

Tháng 7 sẽ nhiều hơn các đoàn đến thăm Về nghĩa trang Trường Sơn, Cổ thành Quảng Trị Thắp nén hương thơm viếng các anh hùng, liệt sĩ Gạt nước mắt vào trong để nhìn kỹ những dòng tên…

Ơi quê mình chẳng thể nào quên Đất thép Vĩnh Linh … mẹ nuôi con trong lòng đất Bát nước chè xanh nặng tình người chân chất Quảng Trị mình giàu nhất những nghĩa trang…

“Có nơi mô như ở quê mình Nên ai đi xa cũng hoài nỗi nhớ” Tên núi tên sông , đồi cây, ngọn cỏ Máu các chị các anh nhuộm đỏ đất này

Trời vẫn xanh cao, đất vẫn dày Sống mặt tiền, chết cũng mặt tiền đấy Hãy dâng lên… những bông hoa vừa hái Và nghĩ nhiều đến nấm mộ vô danh..!

(Tháng 7 Quê mình – Thanh Bình)

Chùm thơ vui hay nhất về Quảng Trị – 5

LỜI QUÊ Tác giả: Hồ Vi

Mấy bửa ni rồi trời thiếu nắng Chừng chưa bưa lụt nước còn cao Khi hôm bộ đội hành quân tới Trấn thủ dầm phơi chật cả sào Mạ mi đem dủi ra ngoài rọng Kiếm ít đam cua ít của đồng Thêm đôi ba miếng anh em đỡ Của nhà quê kiểng buổi thu đông

Bớ anh nội vụ khoan đi chợ Xa ngái đàng trơn bấm cực chân Xuồng bên chị Mót buôn tơi nón Anh nhảy mà đi được đỡ chừng

Thương anh nỏ có, cầu anh mạnh Anh nện thằng Tây bể sọ dừa Thương anh cơ khổ mà nghèo quá Áo rơm lót ổ lạnh lùng khuya

CÓ BUI KHÔÔNG? Tác giả: Văn Quang

Khoeng tay, tréo cẳng, ả dòm ôông Mặt mụi tra khằng nỏ chộ dôông Tắn cắm sích mui còn méo miẹng Ròi bu ngá trôốc lại quào môông Bẻ bù lọi cuống hư diều trấy Dổ má đích cơn ngoẻo bộn vôồng Mệ mắng, de neng cười hả hả Eng coi dư ả có bui khôông?

THƠ GIỌNG QUẢNG TRỊ

Tác giả: Văn Viết Đế (Họa lại bài thơ vui tiếng Quảng Trị của ông Hoàng Hữu Nhất Nguyên) Phận tui xui rủi lấy lầm ôông Biết rứa chẳng thèm cấy với dôông Ăn uống nỏ hề cơm thịt cá Áo quần vài bộ vá vai môông Dà cựa mọt ăn kêu cọt kẹt Ngoài cươi mối dũi chạy từng vôồng Sòn sòn năm một con chục đứa Cực rứa trời cao có thấu khôông?

THƠ VUI GIỌNG QUẢNG TRỊ

Tác giả: Phan Văn Lộc (Họa lại bài thơ vui tiếng Quảng Trị của ông Hoàng Hữu Nhất Nguyên)

Môốc trọ hết rồi ơi mấy ôông Răng còn cấy cấy với dôông dôông Thịt thà lép kép mồm som sém Neeng cỏ lung lay nỏ dám môông Ngá mẹng xúm chắc moi bớ hớ Coi chừng má bị chảy thành vôồng Mấy o Hoàng NGuyễn về tra tội Thì cứ một mạch nói nói khôông

TIẾNG QUÊ Tác giả: Xuân Yên

“Eng đi mô rứa” tiếng quê sơ “Ngoài nớ, trong ni” – chẳng bỏ “mô” Khi gặp tiếng chào nghe mát rọt Lúc cười giọng nói thoảng hương thơ! Vầng trăng Quảng Trị thời vang bóng Bằng hữu Sài Thành dạ ngóng thư Ô – Rí hai châu ngời sử sách Đậm tình luân lý thuở hoang sơ.

RĂNG NỎ VỀ QUẢNG TRỊ Tác giả: Võ Mẹo

Eng nhớ về thăm mấy đứa ni Tàu xe cũng dễ, khó khăn chi Bon bon mấy chốc mơ màng ngủ Dừng lại dăm lần tiếp tục đi Dà cửa đầu đây nóc đỏ thắm Roọng vườn bát ngát ló xanh rì Bạn bè xa ngái về thăm lại

Văn Học Dân Gian Quảng Trị

Quảng Trị là một vùng đất giàu có vốn văn hoá phi vật thể, trong đó văn học dân gian có vị trí hết sức đặc biệt. Văn học dân gian Quảng Trị là sản phẩm chứng tỏ sức sống mãnh liệt của dòng văn học truyền khẩu.

Xét giá trị nội dung và nghệ thuật, văn học dân gian Quảng Trị có những nét riêng, đóng góp cho văn học dân gian Việt Nam thêm phần phong phú. Văn học dân gian bao gồm nhiều thể loại (huyền thoại, huyền tích, tục ngữ, câu đố, truyện cười, tuồng hài…) song phong phú,đa dạng và giàu màu sắc địa phương và có thể phân thành 4 mảng chính là ca dao-dân ca, Tục ngữ-câu đố, Truyền thuyết-cổ tích-truyện trạng, hò vè.

Ca dao- dân ca của bất cứ miền nào trước hết cũng là tiếng ca của nghĩa tình, tiếng nói của yêu thương. Trong sinh hoạt gia đình, làng xã, lúc làm việc cũng như lúc nghỉ ngơi, khi tiếng nói của con tim đã đã ở cung bậc cao nhất, người lao dộng dùng lời ca để bày tỏ tâm tình trước cảnh vật, trước những biến diễn của cuộc đời và trao đổi tâm tình với nhau. Tính trữ tình, bởi vậy thấm đượm trong nội dung lẫn âm điệu của các khúc hát dân gian. Một chút buồn thoáng qua của con người trước cảnh vật:

Chim kêu ghềnh đá gẫm thân thêm buồn

Một tình cảm thành kính dâng lên cha mẹ:

Tôm rằn bóc vỏ bỏ đuôi Gạo de An Cựu mà nuôi mẹ già

Việc tìm kế sinh nhai nhưng người Quảng Trị luôn nhớ về quá khứ, nào công cha, nghĩa mẹ vô bờ bến, tình nghĩa vợ chồng keo sơn, gán bó dù sông cạn đá mòn:

Mẹ thương con qua cầu Ái Tử Vợ trông chồng lên núi Vọng Phu Một mai bóng xế trăng lu Con ve kêu mùa hạ biết mấy thu gặp chàng

Tất cả những biểu hiện khác nhau của mối quan hệ giữa con người với con người, tất cả những cung bậc phong phú, đa dạng, tinh tế của tình cảm con người, ca dao – dân ca đã “thấu đến chân tơ kẻ tóc” (chữ dùng của Xuân Diệu) và đã nói bằng một tiếng nói đằm thắm, sâu lắng, thiết tha. Tình cảm ấy mở rộng ra, nâng lên thành tình cảm đối với quê hương đất nước, thành tình cảm giai cấp, nghĩa đồng bào, và sau này trong thời đại mới là nghĩa quân dân, tình dân đối với Cách mạng, với Đảng, với Bác Hồ và tình nam Bắc ruột thịt. Những biểu hiện khác nhau ấy của tình riêng, nghĩa chung trong ca dao – dân ca miền nào cũng có. Vấn đề đặt ra là cần tìm ra những sắc thái riêng. “Những óng ánh riêng” trong cách biểu đạt tình cảm của ca dao dân ca mỗi miền.

Tiếp xúc với ca dao – dân ca Bình Trị Thiên, ta thấy có nhiều cách biểu đạt khác nhau về những khía cạnh tinh tế, phức tạp của tình cảm con người. Có bài ca dao hết sức mộc mạc, mộc mạc như là lời ăn tiếng nói hàng ngày, diễn đạt một tiếng long cũng hết sức giản dị, chân thực:

Đôi ta thương chắc mần ri Bọ mẹ mần rứa, eng thì mần răng?

Có trường hợp là một tiếng nói mạnh mẽ, quyết liệt đấu tranh cho một nguyện vọng, một ước mơ một sự trọn vẹn của nghĩa tình.

Thiếp thương chàng gươm vàng không sợ Súng bắn chin, mười lần duyên nợ không buông. Chẳng thà chịu tiếng cho luôn Gươm trường kề cổ không buông nghĩa chàng.

Song nhìn chung tiếng trong ca dao-dân ca Bình Trị Thiên, dù mỗi vùng sắc thái có khác nhau vẫn là tiếng nói đằm thắm giàu ân nghĩa chứ không thiên về rắn rỏi, mạnh mẽ, quyết liệt hoặc quá mộc mạc, trần tục…Cách diễn đạt lại thường nhẹ nhàng, bóng bẩy, có sự trau chuốt, gia công tỷ mỉ trong việc dùng chữ, đặt câu (sắc thái này thể hiện rất rõ trong ca dao dân ca vùng Huế -Thừa Thiên)

Kháng chiến chống ngoại xâm là một nội dung khá quan trọng. Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, ca dao dân ca Quảng Trị vẫn không ngừng phát triển để đáp ứng yêu cầu của thời đại. Cuộc kháng chiến chống Pháp đã vẽ nên những trang sử oai hùng của dân tộc, cho Quảng Trị mà các địa danh Triệu Sơn, Ba Lòng, Như Lệ là những nơi tiêu biểu cho phong trào kháng Pháp. Những nơi khác cũng đã từng in dấu chiến tranh tàn phá như dãy Trường Sơn, sông Thạch Hãn, Bích La Đông, An Hoà, Đại Hào, Phương Ngạn:

Ai về Bích La Đông khỏi lòng đau xót ruột Ai về An Hoà khỏi hậm hực thù Tây Mồ mả cha ông hắn cho xe xới, xe cày Bao nhiêu oan hồn nước mắt nghĩ lại trăm đắng nghìn cay căm thù.

Cần ghi nhận là dân ca cũng theo thời sự mà chuyển biến, phát triển. Chiến đấu để thống nhất, để được sống tự do, độc lập trên quê hương là niềm tin mãnh liệt của người dân Quảng Trị thể hiện rõ từ thời kháng chiến chống Pháp đến thời chống Mỹ. Ca dao dân ca Quảng Trị đã phản ánh một cách sinh động ý chí và tâm tình thiết tha ấy.

Như vậy, sự thêm bớt chữ trong các câu ca dao Quảng Trị là không có quy tắc mà hoàn toàn tuỳ theo cảm hứng của người hò, sao cho tròn ý nghĩa là được. Sự hợp vần trong các dao thường thay đổi, hết gieo vần lưng lại gieo vần chân, như quy luật hợp vần của thể lục bát và song thất lục bát, nhưng một số ít câu ca dao của Quảng Trị lại có lối gieo ở vần chân.

Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao Quảng Trị cũng khá phong phú. Ta sẽ gặp ở đây những loại từ đối nghĩa, đối ý trong dân ca đối đáp: – Bánh cả mâm răng gọi là bánh ít Trầu cả chợ răng nói trầu không Trai nam nhơn đối đặng sẽ làm chồng nữ nhi – Chuối không qua Tây răng gọi là chuối sứ ? Cây không biết chữ răng gọi là thông ? Nam nhơn đà đối đặng quyết làm chồng nữ nhi Trong lời hò đối đáp, lối ứng xử thật thông minh: Ngồi buồn nói chuyện trên non Một trăm thứ cá có con không thằng Khi chọc ghẹo nhau vẫn giữ lối văn nhã: Em mở khuôn ra cho anh đúc lấy lượng vàng Hoạ may may hoạ thiếp với chàng dùng chung – Anh về thưa với hai họ rõ ràng

Mời thân nhân lại, em mở khuôn vàng cho coi

Quảng Trị là vùng đất thành lập sau khi nước ta đã định hình hàng nghìn năm trước. Văn học dân gian vùng này là sản phẩm của những con người có gốc từ Thanh Nghệ truyền vào. Qua cuộc sống chung với dân bản địa ở vùng đất mới, dần dần con người ở đây mới tạo được một phong cách riêng. Sự giao lưu văn hoá thế tất phải xảy ra. Ca dao là thể loại để lại những dấu vết rõ rệt trong ngôn ngữ văn học

TỤC NGỮ – CÂU ĐỐ

Tục ngữ và câu đố là hai thể loại suy lý phổ biến ở Quảng Trị . Cũng như ở các nơi khác, tục ngữ Quảng Trị được phân làm hai tiểu loại: Các câu phản ánh kinh nghiệm của nhân dân về thời tiết và sản xuất. Các câu phản ánh kinh nghiệm của nhân dân về đời sống xã hội. Đây là phần quan trọng nhất là mọi người cần quan tâm khi viết về đề tài ca dao- tục ngữ

Nhìn chung, kinh nghiệm của nhân dân ở đau cũng tương tự như nhau. Ở Quảng Trị có những câu tục ngữ phản ánh kinh nghiệm của nhân dân về thời tiết như sau: Chớp ngã Cồn Tiên; Mưa liền một trộ; hoặc: Sấm Đầu mâu không cầu cũng đến.

Lại có những câu đề cập đến sản vật đặc biệt của từng địa phương. Chính qua những câu tục ngữ này, chúng ta lại càng hiểu sâu sắc hơn văn hoá vật chất của vùng đất Quảng Trị:

-Nem chợ Sãi, vải La Vang -Khoai quán Ngang, dầu tràm Đại Nại -Gạo Phước Điền, chiêng Sắc Tứ – Khoai từ Trà Bát, quạt chợ Sông -Cá bống Bích La, gà Trại Lộc…

Kinh nghiệm về đời sống xã hội có những câu thật xác đáng và thực tế:

-Chạy lóc xóc không bằng góc vườn -Nhiều nghề cá trê húp nác(nước)

Người miền núi cũng bày tỏ kinh nghiệm của họ:

– Đừng mau phai như hoa Toang-a-rát – Đừng chóng bạc như vôi – Xách bầu phải xem quai – Địu con phải xem vải buộc – Làm cỏ phải xem cán nắm

Về hình thức nghệ thuật, các câu tục ngữ ở Quảng Trị thường hợp vần theo lối yêu vận chứ không theo lối cước vận.

Câu đố Quảng Trị có thể phân thành những tiểu loại:

-Về những bộ phận cơ thể của con người -Về những hoạt động của con người -Về các con vật -Về các loại cây trái -Về các sự vật hiện tượng khác.

Qua những câu đố ấy, ta thấy được sự tinh vi trong những nhận xét về sự vật, con vật sống cạnh người, như đố về con gà trống:

Đầu rồng, đuôi phụng cánh tiên Ngày năm bảy mụ tối ngủ riêng một mình. Hoặc con chó : Khen ai nho nhỏ Mắt tỏ như gương Tối trời như mực Biết người thương ra chào

Có nhiều khi sự liên tưởng vô cùng sâu sắc. Đố về cau, trầu, vôi có câu:

Hai cây cao đã nên cao Một người dưới rào xa đã nên xa Ba người họp lại một nhà Kết duyên phu phụ duyên đà mặn duyên

Có thể nói sự thông minh dí dỏm, óc nhận xét tinh vi của người Quảng Trị đều được thể hiện trong câu đố:

Da non mà bọc lấy xương Lửa cháy trên đầu chúa chẳng thương Đêm năm canh tiêu hao mình thiếp Nghĩ đến đoạn trường nước mắt nhỏ sa ( Cây đèn sáp) Một mẹ sinh đặng ngàn con Trai có gái có , tài khôn rõ ràng Mặt trời đã xế vàng vàng Con xa ngái mẹ lại càng thương thay Cách nhau đã bốn năm ngày Con lại gặp mẹ mừng thay là mừng (Phiên chợ Cam Lộ)

Một số câu đố khác theo lối “đố tục giảng thanh” cũng thường được nhân dân Quảng Trị vận dụng để sáng tác.

Các truyền thuyết về đền- tháp- miếu- chùa như “Sự tích tháp Dương Lệ và tháp Trung Đan”, ” Đề Tương Hầu”, ” Miếu Tương Nghè”…đã vẽ lại một giai đoạn lịch sử lâu đời lúc thần linh còn ngự trị khá sâu sắc trong tư tưởng của nhân dân.. Qua các truyền thuyết đó, ta thấy được lòng tôn trọng văn hoá, biết ơn những vị có công với đất nước, quê hương

Truyện cổ tích lại mang một nội dung khác. Đó là những chuyện phản ánh tâm tư, nguyện vọng của con người, đề cập đến những tình cảm riêng tư trong sinh hoạt cá nhân, gia đình và xã hội. Hệ tư tưởng nho giáo có ảnh hưởng sâu sắc trong các truyện cổ. Nhiều truyện nêu bật các đức tính chung thủy, hiền hậu, đảm đang, cần kiệm. Truyện” Vác mía tìm dâu”, “Tình mẹ con” có mục đích khuyến dụ thanh niên nam nữ giữ gìn và phát triển những đức tính ấy để bảo vệ tình cảm, đạo đức trong cuộc sống gia đình. Truyện” Vợ làm quan cho chồng” đề cao người vợ khôn ngoan cũng là truyện có khuynh hướng đạo lý… Có thể nói các truyện cổ tích dân tộc kinh tại vùng đất Quảng trị dù phương thức diễn đạt khác nhau, có truyện mang tính thần kỳ, có truyện mang tính khôi hài… nhưng nhìn chung xu hướng trong các truyện cổ là đe cao đạo lý làm người.

So với truyện cổ dân tộc kinh thì truyện cổ miền núi Quảng Trị phong phú hơn. Một số truyện cổ tích có tính suy nguyên luận như ” Sự tích sao hôm sao mai” (taôi), ” Tình nghĩa gà vịt” (Vân kiều)…phản ánh sinh hoạt xã hội, có mục đích khuyến giáo đạo lý làm người, đề cao sự chung thuỷ, phê phán những hạng xảo trá, lừa đảo trong quan hệ gia đình, xã hội. Truyện cổ tích thần kỳ miền núi khá hấp dẫn ở những yếu tố người thần, vật thần. Truyện “Con voi thần” hấp dẫn ở nội dung độc đáo, thể hiện sự chất phác cùng sự dung dị trong nếp sống, nếp nghĩ của dân tộc miền núi.

Trong kho tàng truyện kể Quảng Trị, truyện cười cũng chiếm số lượng lớn và vô cùng phong phú. Đặc biệt vùng đất Như Lệ khô cằn lại tập hợp một khối lượng truyện cười đáng kể. Đáng chú ý hơn cả là Chuyện Trạng Vĩnh Hoàng . Nghệ thuật kể truyện Trạng Vĩnh Hoàng tuy cũng dùng biện pháp khoa trương, phóng đại, nhưng dựa trên cơ sở hiện thực như chuyện “Trâu đen trâu bạc” là để phóng đại dưa hấu ở Vĩnh Hoàng, chuyện “Mắc cọp mà cày” là để phóng đại việc người Vĩnh Hoàng ngày trước đi cày rất sớm và vùng này cũng nổi tiếng có nhiều cọp như ở Thuỷ Ba. Về phương thức phóng đại, người Vĩnh Hoàng không dùng lối trực tiếp mà diễn tả bằng lối gián tiếp. Để chỉ quả dưa khổng lồ, họ không so sánh quả dưa đó với vật thể nào mà diễn đạt một cách thông minh hơn: dưa mà đạn bắn vào mắc kẹt không ra được, cả đàn quạ chui vào ruột khoét dưa ăn, rồi mang cả dưa lẫn quạ bay lên cao.

Truyện Trạng Vĩnh Hoàng đã nêu bật được bản sắc độc đáo của con người Việt Nam ở Vĩnh Hoàng. Tuy là truyện Trạng nhưng vẫn có một giá trị hiện thực. Đây không phải là những truyện bông lơn, nói láo một cách hời hợt dễ dãi mà xây dựng từ những thành quả lao động và chiến đấu. Giá trị ấy cần phải được khẳng định khi xét đến mối tương quan của nó với các loại truyện khác như Trạng Quỳnh, Trạng Lợn…

HÒ VÈ

Hò địch vận ở Như Lệ vốn là biến điệu của hò mái nhì nhưng vang xa như tiếng ngân vút cao mạnh mẽ phát ra từ con tim yêu nước nồng nàn. Tiếng hò Như Lệ là nét độc đáo trong dân ca kháng chiến Quảng Trị, nó đã phát huy tác dụng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Trong thời kỳ chống Mỹ, tiếng hò kháng chiến lại được dịp vang xa. Nhiều câu hò hai bên bờ sông Bến Hải nói lên niềm ước vọng đất nước thống nhất. Chính ở vùng này đã hình thành nên một bộ phận văn học dân gian mang những đặc điểm riêng của một vùng đất bị chia cắt.

Sông Hiền Lương bên bồi, bên lở Cầu Hiền Lương bên nhớ bên thương Bao giờ giặc Mỹ hết phương Bắc Nam sum họp con đường vô ra.

Vè là một thể loại kể chuyện bằng văn vần phổ biến ở Quảng Trị, phát triển mạnh vào thế kĩ XIX. Vè Quảng Trị cũng như các nơi khác, phần lớn là những bài có dung lượng vừa phải được sáng tác theo thể lục bát, hoặc tứ tự, song thất lục bát. Một số bài nổi bật với nội dung mang tính xã hội sâu sắc. Đó là loại vè thế sự. Vè “Mẹ Hẹ” là một sáng tác độc đáo. Hình thức sáng tác gần như lối thoại kịch với lời đối đáp của hai nhân vật: cô Hẹ và quan huyện. Nội dung bài vè kể lại câu chuyện cô Hẹ vào tuổi xuân tình phơi phới đã bị quan huyện lừa phỉnh. Sau khi để lại một bầu thai cho cô Hẹ, quan huyện ấy đã tàn nhẫn đuổi cô Hẹ ra khỏi nhà. Cô Hẹ nuốt hận trở về nhà mẹ. Sau khi sinh nở, thấy cô vẫn còn xuân sắc, quan huyện lại giở trò tán tỉnh. Cô đã vạch trần thói bạc tình, bạc nghĩa của tên quan này bằng một ngôn ngữ cay chua, mang sắc thái địa phương đậm đà mà không phải bài vè nào cũng thể hiện được.

Xoay quanh thể loại này có những giai thoại mà mỗi khi quây quần bên ấm chè xanh hoặc đôi phút giải lao nơi đồng áng thường được người dân truyền tụng. Chuyện ông Bộ ở làng Gia Độ và O Thơi ở làng Xuân Thành là một trong số đó. Ông Bộ là người nho nhã, có vốn nho học. Tuy đã có gia đình nhưng lại rất say mê hò hát. Còn O Thơi là một gái chưa chồng, tài sắc vào đám nhất vùng thời ấy. Một hôm, gặp O Thơi quang gánh di chợ qua cánh đồng giáp hai làng, ông Bộ nổi hứng cất câu hò:

“Buôn bán chi chi rày lời mai lỗ, vất quách thúng rỗ theo anh. Một mai công toại danh thành, ta ngồi chung kiệu hành đó đây”

Không hề chần chừ nghĩ ngợi lâu, O Thơi cất giọng hò đối lại ngay lập tức:

“Chữ thánh hiền dược mấy pho mấy bộ, dám huênh hoang xuất lộ vi hành? Một mai đỗ đạt thành danh, đã có O Tam thể nó đợi anh kết nguyền”

Ông Bộ đỏ mặt vì câu hò cay độc. Ai đời đường là một đấng trượng phu ra rứa lại cho rằng chỉ có con mèo tam thể mới lấy anh!

Vẫn cái máu mê gái lại mê hò, một hôm vợ ông Bộ chuyển bụng sắp sinh, nhà lại hết dầu, vợ ông bảo ông xuống chợ mua dầu. Vừa ra đến đầu ngõ gặp cô Thơi đang đang mò cá. Hai người đối đáp đến nổi quên cả mặt trời đã xuống núi. Bỗng ông Bộ cất lên một câu hò trêu chọc rằng:

“Cảm thương cho Em sớm thì lăn đồng cạn, chiều lại lặn đồng sâu. Con tôm con tép liệu được mấy đồng xu”.

O Thơi hò đáp lại:

“Chứ làm ra năm trự mười đồng, trước ngon cơm anh sau lành áo mẹ để tỏ tấm lòng nàng dâu”.

Cũng cần đề cập thêm một nội dung khác cũng khá phong phú của vè Quảng Trị, đó là vè kháng chiến. Cuộc kháng chiến chống ngoại xâm kéo dài bao nhiêu năm trên đất Quảng Trị khô cằn là đề tài cho hàng trăm bài vè phản ánh những nỗi khổ cực của người dân trong cuộc chiến tranh xâm lược, nêu bật tinh thần chiến đấu ngoan cường của nhân dân ở một vùng đất có truyền thống đấu tranh.

Bao năm tháng qua, văn học dân gian Quảng Trị đã sống cùng nhịp sống của dân tộc bằng tiếng nói hồn hậu, trung thực của mình, ngân vang bằng giọng hò thiết tha, trìu mến thân thương cho đến ngày nay.

Nguồn Internet

Đề Thi Học Kì 1 Môn Ngữ Văn Lớp 10 Quảng Trị

Đề thi kết thúc học kì 1 môn Ngữ văn lớp 10. Đề đọc hiểu :Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh.quan niệm sống Nhàn và vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài thơ Nhàn

PHẦN ĐỌC – HIỂU (3 điểm)Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi: ” … Buổi ấy, có bao nhiêu những loài trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian, Chúa đều sức thu lấy, không thiếu một thứ gì. Có khi lấy cả cây đa to, cành lá rườm rà, từ bên bắc chở qua sông đem về. Nó giống như một cây cổ thụ mọc trên đầu non hốc đá, rễ dài đến vài trượng, phải một cơ binh mới khiêng nổi, lại bốn người đi kèm, đều cầm gươm, đánh thanh la đốc thúc quân lính khiêng đi cho đều tay. Trong phủ, tùy chỗ, điểm xuyết bày vẽ ra hình núi non bộ trông như bến bể đầu non.(…).Bọn hoạn quan cung giám lại thường nhờ gió bẻ măng, ra ngoài dọa dẫm. Họ dò xem nhà nào có chậu hoa cây cảnh, chim tốt khướu hay, thì biên ngay hai chữ “phụng thủ” vào. Đêm đến, các cậu trèo qua tường thành lẻn ra, sai tay chân đem lính đến lấy phăng đi, rồi buộc cho tội đem giấu vật cung phụng để dọa lấy tiền…”(Trích “Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh” sách Ngữ văn 9, tập 2) Câu 1.(1,0 điểm) Xác định nội dung của đoạn văn trên? Câu 2.(1,0 điểm) Tìm những từ ngữ, chi tiết chỉ thói lộng quyền, vơ vét của cải của nhân dân và cảnh sống giả dối trong phủ Chúa? Câu 3. Viết đoạn văn từ 7-10 dòng trình bày suy nghĩ của em về thói lộng quyền, sự giả dối trong phủ Chúa, từ đó cho biết thái độ của tác giả và bài học cho bản thân rút ra từ lối sống phù phiếm trong phủ Chúa? (1,0 điểm)PHẦN LÀM VĂN (7 điểm) Phân tích quan niệm sống Nhàn và vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài thơ Nhàn? Từ bài thơ em có suy nghĩ gì về việc lựa chọn lối sống hiện nay?

. -Hết-

Họ và tên học sinh……………………………………………….Lớp…………….

Số báo danh…………………………………………………..Phòng thi…………

Chữ kí của người coi kiểm tra………………………………………………….

PHẦN ĐỌC – HIỂU (3 điểm)Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi:“Những lúc rảnh rỗi, anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc…Không bao lâu sau, cây lược được hoàn thành. Cây lược dài độ hơn một tấc, bề ngang độ ba phân rưỡi, cây lược cho con gái, cây lược dùng để chải mái tóc dài, cây lược chỉ có một hàng răng thưa. Trên sống lưng được khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò lưng, tẩn mẩn khắc từng nét: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”. Cây lược ngà ấy chưa chải được mái tóc của con, nhưng nó như gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh. Những đêm nhớ con, anh ít nhớ đến nỗi hối hận đánh con, nhớ con, anh lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm mượt. Có cây lược, anh càng mong gặp lại con. Nhưng rồi một chuyện không may xảy ra. Một ngày cuối năm năm mươi tám- năm đó ta chưa võ trang – trong một trận càn lớn của quân Mĩ – ngụy, anh Sáu bị hi sinh. Anh bị viên đạn của Mĩ bắn vào ngực. Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức trăng trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được, anh đưa vào túi, móc cây lược, đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu…Cho đến bây giờ, thỉnh thoảng tôi cứ nhớ lại đôi mắt của anh…”(Trích “Chiếc lược ngà” -Nguyễn Quang Sáng, SGK Ngữ Văn 9, tập 2) Câu 1.(1,0 điểm) Em hãy xác định nội dung của đoạn văn trên? Câu 2.(1,0 điểm) Tìm những từ ngữ, chi tiết thể hiện tình cảm yêu thương của anh Sáu đối với con gái? Câu 3 Từ tình cảm yêu thương sâu nặng của ông Sáu dành cho cô con gái bé trong đoạn trích trên, em hãy viết đoạn văn từ 7-10 dòng trình bày suy nghĩ của mình về tình cảm cha – con? (1,0 điểm)PHẦN LÀM VĂN Phân tích quan niệm sống Nhàn và vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài thơ Nhàn? Từ bài thơ em có suy nghĩ gì về việc lựa chọn lối sống hiện nay?

. -Hết-

Họ và tên học sinh……………………………………………….Lớp…………….

Số báo danh…………………………………………………..Phòng thi…………

Chữ kí của người coi kiểm tra………………………………………………….

Bản quyền bài viết này thuộc về https://vanhay.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

Phần đọc hiểu

1

Nội dung đoạn văn: Tái hiện lại việc Chúa Trịnh lộng quyền,vơ vét của cải trong dân khiến đời sống nhân dân lầm than, cơ cực. Song hành với đó là bọn thái giám lộng hành, giả dối trong phủ Chúa.

2

Những từ ngữ, chi tiết cho thấy Chúa Trịnh lộng quyền, vơ vét của cải trong nhân dân và cảnh sống giả dối trong phủ Chúa: có bao nhiêu những loài trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian, Chúa đều sức thu lấy, không thiếu một thứ gì; Có khi lấy cả cây đa to, cành lá rườm rà, từ bên bắc chở qua sông đem về; Bọn hoạn quan cung giám lại thường nhờ gió bẻ măng, ra ngoài dọa dẫm, các cậu trèo qua tường thành lẻn ra, sai tay chân đem lính đến lấy phăng đi, rồi buộc cho tội đem giấu vật cung phụng để dọa lấy tiền.

3

– Yêu cầu: Diễn đạt mạch lạc, chặt chẽ, văn viết có cảm xúc, có thể gồm các ý cơ bản: Viết đoạn văn suy nghĩ của em về thói lộng quyền, sự giả dối trong phủ Chúa, từ đó cho biết thái độ của tác giả qua đoạn văn trên. +Khẳng định: đoạn văn miêu tả về thói lộng quyền, sự giả dối trong phủ Chúa. +Biểu hiện: có bao nhiêu những loài trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian, Chúa đều sức thu lấy, không thiếu một thứ gì; Bọn hoạn quan cung giám lại thường nhờ gió bẻ măng, ra ngoài dọa dẫm. +Thái độ của tác giả: phê phán lối sống xa hoa, truỵ lạc khiến nhân dân lầm tha, cơ cực. + Bài học rút ra: Từ cuộc sống xa hoa đó, biết được hiện thực cuộc sống đương thời nhiễu nhương, phức tạp, xã hội dưới quyền cai trị của Chúa Trịnh trở nên nhố nhăng, hỗn loạn. Cảm nhận được một giai đoạn lịch sử nhố nhăng, xa hoa, lãng phí để biết cách sống tiết kiệm cho bản thân.

Làm văn

– Yêu cầu kĩ năng: – + Học sinh biết cách làm bài văn nghị luận. – + Bài làm có bố cục chặt chẽ, rõ ràng, hoàn chỉnh; kết cấu hợp lí – + Hành văn mạch lạc, trôi chảy; diễn đạt trong sáng; không mắc lỗi diễn đạt, ngữ pháp, dùng từ, đặt câu. – Yêu cầu kiến thức: Học sinh có thể làm theo hiều cách khác nhnhau, so nhưng phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:

– Giới thiệu về tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm, và tác phẩm Nhàn.–Giới thiệu về vấn đề cần nghị luận.

a. Quan niệm sống Nhàn: + Nhàn hạ ở công việc: Công việc nhà nông: ” Một mai, một cuốc, một cần câu”: số từ “một” + danh từ “mai, cuốc, cần câu”à Câu thơ tái hiện chân dung Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên là một lão nông tri điền chất phác. +Nhàn hạ ở tâm trí : Thảnh thơi, ung dung , mặc kệ những thú vui của người đời. +Lối sống: hoà hợp với thiên nhiên, thuận theo tự nhiên. Mùa nào thức nấy: thu ăn măng trúc, đông ăn giá, xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.b. Vẻ đẹp nhân cách: + Tự nhận mình dại nhường khôn cho kẻ khác, quan niệm dại – khôn là cách nói ý vị, thâm trầm, tự tin, vẻ đẹp nhân cách trí tuệ thoát khỏi vòng lợi danh cuộc đời. àBPNT: đối lập Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng có thời gian sống và làm quan trong triều đình, vì thế ông quá hiểu chốn quan trường đầy mưu mẹo, lừa lọc, vì vậy ông gán cho nó là chốn “lao xao”, còn nơi “vắng vẻ” là nơi ông ở ẩn, là Bạch Vân am nơi ông mở lớp dạy học, lấy đó làm thú vui của đời mình. +Quan niệm về danh lợi: Mượn điển tích Thuần Vu Phần để nói về phú quý tựa giấc mộng, tựa chiêm bao như áng mây trắng trôi bồng bềnh giữa cuộc đời, tất cả đều hư vô. c. Bài học rút ra: Lựa chọn lối sống Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ phù hợp với thời đại ông đang sống với mục đích giữ gìn nhân cách, đạo đức của một nhà Nho. Ta học được ở tác giả việc giữ gìn môi trường tự nhiên đang sinh sống qua cách lựa chọn lối sống phù hợp với thiên nhiên, thuận theo tự nhiên. Tuy nhiên lối sống Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm không còn phù hợp với lối sống hiện đại, thời đại chúng ta hiện nay cần những con người thức thời, năng động, biết nắm bắt cơ hội để phát triển bản thân.

-Bài thơ tiêu biểu cho quan niệm sống Nhàn và vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm. – Bài thơ đã để lại ấn tượng đẹp trong lòng người đọc về một nhận cách lớn, một lối sống bình dị, thanh cao của Bạch Vân cư sĩ. – Biểu điểm: – + Điểm khá, giỏi: Đáp ứng đầy đủ tất cả các yêu cầu về kĩ năng và kiến thức. Hành văn mạch lạc, diễn đạt trong sáng. Có thể mắc một vài lỗi nhỏ nhưng không ảnh hưởng đến bài làm – + Điểm trung bình: Đáp ứng được khoảng 2/3 yêu cầu kiến thức. Hành văn chưa thật mạch lạc; mắc một vài lỗi về diễn đạt, ngữ pháp, dùng từ, chính tả – + Điểm yếu: Trình bày thiếu ý, sơ sài, chưa đáp ứng các yêu cầu kiến thức. Hành văn lủng củng, mắc nhiều lỗi diễn đạt, ngữ pháp, dùng từ, chính tả – + Điểm kém: Hoàn toàn lạc đề hoặc không làm được gì.

– Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt được cả yêu cầu về kĩ năng và kiến thức.– Giáo viên mạnh dạn cho điểm tối đa đối với các bài viết sáng tạo, chú ý đến diễn đạt, hành văn, trau chuốt trong dùng từ, đặt câu, trình bày đẹp, khoa học ….

Phần đọc hiểu

1

Nội dung đoạn văn: tình cảm yêu thương con gái của ông Sáu được thể hiện qua sự tỉ mẩn, cẩn thận của ông khi làm chiếc lược cho con gái.

2

Những từ ngữ, chi tiết thể hiện tình cảm yêu thương của anh Sáu đối với con gái: anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc; Trên sống lưng được khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò lưng, tẩn mẩn khắc từng nét: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”; Những đêm nhớ con, anh ít nhớ đến nỗi hối hận đánh con, nhớ con, anh lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm mượt. Có cây lược, anh càng mong gặp lại con.

3

-Yêu cầu: Diễn đạt mạch lạc, chặt chẽ, văn viết có cảm xúc, có thể gồm các ý cơ bản: Viết đoạn văn suy nghĩ của em về thói lộng quyền, sự giả dối trong phủ Chúa, từ đó cho biết thái độ của tác giả qua đoạn văn trên. Viết đoạn văn thể hiện suy nghĩ về tình cảm cha – con: +Khẳng định: Đó là tình cảm cao quý, thiêng liêng: tình cha – con. +Biểu hiện: Yêu thương, chăm sóc, ân cần chu đáo trong những hoạt động nhỏ nhặt. +Thái độ: Tình cha con phải được nâng niu, trân trọng, giữ gìn. +Bài học rút ra: Trong cuộc sống, tình cha con có sức mạnh nâng đỡ con người vượt qua những khó khăn, thử thách, giúp con người vững tin, an lòng tiến lên phía trước.

Làm văn

– Yêu cầu kĩ năng: – + Học sinh biết cách làm bài văn nghị luận. – + Bài làm có bố cục chặt chẽ, rõ ràng, hoàn chỉnh; kết cấu hợp lí – + Hành văn mạch lạc, trôi chảy; diễn đạt trong sáng; không mắc lỗi diễn đạt, ngữ pháp, dùng từ, đặt câu. – Yêu cầu kiến thức: Học sinh có thể làm theo hiều cách khác nhnhau, so nhưng phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:

– Giới thiệu về tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm, và tác phẩm Nhàn.–Giới thiệu về vấn đề cần nghị luận.

a. Quan niệm sống Nhàn: + Nhàn hạ ở công việc: Công việc nhà nông: ” Một mai, một cuốc, một cần câu”: số từ “một” + danh từ “mai, cuốc, cần câu”à Câu thơ tái hiện chân dung Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên là một lão nông tri điền chất phác. +Nhàn hạ ở tâm trí : Thảnh thơi, ung dung , mặc kệ những thú vui của người đời. +Lối sống: hoà hợp với thiên nhiên, thuận theo tự nhiên. Mùa nào thức nấy: thu ăn măng trúc, đông ăn giá, xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.b. Vẻ đẹp nhân cách: + Tự nhận mình dại nhường khôn cho kẻ khác, quan niệm dại – khôn là cách nói ý vị, thâm trầm, tự tin, vẻ đẹp nhân cách trí tuệ thoát khỏi vòng lợi danh cuộc đời. àBPNT: đối lập Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng có thời gian sống và làm quan trong triều đình, vì thế ông quá hiểu chốn quan trường đầy mưu mẹo, lừa lọc, vì vậy ông gán cho nó là chốn “lao xao”, còn nơi “vắng vẻ” là nơi ông ở ẩn, là Bạch Vân am nơi ông mở lớp dạy học, lấy đó làm thú vui của đời mình. +Quan niệm về danh lợi: Mượn điển tích Thuần Vu Phần để nói về phú quý tựa giấc mộng, tựa chiêm bao như áng mây trắng trôi bồng bềnh giữa cuộc đời, tất cả đều hư vô. c. Bài học rút ra: Lựa chọn lối sống Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ phù hợp với thời đại ông đang sống với mục đích giữ gìn nhân cách, đạo đức của một nhà Nho. Ta học được ở tác giả việc giữ gìn môi trường tự nhiên đang sinh sống qua cách lựa chọn lối sống phù hợp với thiên nhiên, thuận theo tự nhiên. Tuy nhiên lối sống Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm không còn phù hợp với lối sống hiện đại, thời đại chúng ta hiện nay cần những con người thức thời, năng động, biết nắm bắt cơ hội để phát triển bản thân.

-Bài thơ tiêu biểu cho quan niệm sống Nhàn và vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm. – Bài thơ đã để lại ấn tượng đẹp trong lòng người đọc về một nhận cách lớn, một lối sống bình dị, thanh cao của Bạch Vân cư sĩ. – Biểu điểm: – + Điểm khá, giỏi: Đáp ứng đầy đủ tất cả các yêu cầu về kĩ năng và kiến thức. Hành văn mạch lạc, diễn đạt trong sáng. Có thể mắc một vài lỗi nhỏ nhưng không ảnh hưởng đến bài làm – + Điểm trung bình: Đáp ứng được khoảng 2/3 yêu cầu kiến thức. Hành văn chưa thật mạch lạc; mắc một vài lỗi về diễn đạt, ngữ pháp, dùng từ, chính tả – + Điểm yếu: Trình bày thiếu ý, sơ sài, chưa đáp ứng các yêu cầu kiến thức. Hành văn lủng củng, mắc nhiều lỗi diễn đạt, ngữ pháp, dùng từ, chính tả – + Điểm kém: Hoàn toàn lạc đề hoặc không làm được gì.

– Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt được cả yêu cầu về kĩ năng và kiến thức.– Giáo viên mạnh dạn cho điểm tối đa đối với các bài viết sáng tạo, chú ý đến diễn đạt, hành văn, trau chuốt trong dùng từ, đặt câu, trình bày đẹp, khoa học ….

Bộ đề thi học kì Ngữ văn 10

Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về bài thơ Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm : Nhàn

Cập nhật thông tin chi tiết về Trường Cđsp Quảng Trị Mobile trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!