Xu Hướng 2/2024 # Trường Cđsp Quảng Trị Mobile # Top 9 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Trường Cđsp Quảng Trị Mobile được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

TRIẾT LÝ Ở HIỀN GẶP LÀNH VÀ ƯỚC MƠ CÔNG LÝ CỦA NHÂN DÂN TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM

                                                                                                Lương Thị Tố Uyên

                                                                                                Khoa Xã hội

Trước hết, đây là niềm tin và mơ ước của nhân dân. Nó chi phối toàn bộ sự xây dựng và phát triển của các nhân vật chính diện, phản diện và lực lượng thần kì ở trong truyện cổ tích.

Đối với các nhân vật chính diện (Thạch Sanh, cô Tấm, người em trong truyện Cây Khế…) tác giả dân gian không chỉ dừng lại ở sự phản ánh và cảm thông đối với những đau khổ, đắng cay, oan ức của họ mà còn đặc biệt quan tâm, tìm cách, tìm đường giải thoát cho họ để họ được đền bù xứng đáng. Nhờ vậy mà nhiều nhân vật chính diện trong truyện cổ tích đã được đổi đời, được đền bù thích đáng làm cho cả người kể lẫn người nghe đều hả hê, sung sướng (Sọ Dừa thi đổ trạng nguyên và lấy được con gái phú ông, Tấm trở thành hoàng hậu, Thạch Sanh lấy công chúa và lên làm vua…).

Đối với các nhân vật phản diện (Lí Thông, mẹ con nhà Cám, người anh tham lam trong truyện Cây Khế…) thì tác giả dân gian không chỉ phản ánh, tố cáo, lên án sự tham lam, ích kỉ. độc ác, dã man của chúng mà còn tìm cách loại trừ, tiêu diệt chúng để cho những người lương thiện được sống yên vui. Vì thế hầu hết các nhân vạt phản diện trong truyện cổ tích đều dẫn đến kết cục bi thảm và bị trừng phạt thích đáng. Mức độ và hình thức thưởng phạt đối với các nhân vật chính diện và phản diện ở trong truyện cổ tích Việt được thực hiện có phân biệt, tương xứng với tài đức, tội trạng của từng nhân vật. Cô Tấm đẹp người, đẹp nết, chịu thương chịu khó, chịu nhiều thiệt thòi, được lấy vua trở thành hoàng hậu. Thạch Sanh có tài năng, mức độ, có nhiều công tích được lấy công chúa làm vua, Sọ Dừa thì đổ trạng. Người em (trong truyện Cây Khế) là người nghèo khổ, hiền lành, thật thà nhưng không có tài năng, công tích gì đặc biệt nên chỉ được Chim thần cho vàng (vừa đầy chiếc túi “ba gang”) để trở thành giàu có mà thôi. Đối với các nhân vật phản diện, sự trừng phạt cũng có sự phân biệt rỏ rệt. Lí Thông tham tài, tham sắc, tham danh vọng, địa vị, vong ân bội nghĩa, lợi dụng, lùa gạt, cướp công và hãm hại Thạch Sanh thì bị trời đánh hoá thành kiếp bọ hung, đời đời chui rúc nơi hôi hám. Người Anh (trong truyện Cây khế) ích kỉ, tham lam thì Chim thần cũng chỉ “chiều” theo tham vọng của hắn để cho hắn phải tự chuốc lấy cái chết nhục nhã mà thôi. Còn ở truyện Tám Cám thì sự trừng phạt nhân vật phản diện có phần đặc biệt so với nhiều truyện cổ tích khác. Và đây là một trong những chổ có vấn đề đã từng gây ra sự tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu. Người thì cho Tấm trừng trị mẹ con nhà Cám như thế là phải, là thích đáng. Người thì cho cách trả thù của Tấm  (giết Cám bằng nước sôi, rồi muối thành mắm…) như thế là quá quắt, trái với bản tính hiền lành vốn có của Tấm và cũng trái với truyền thống khoan dung, rộng lượng của dân tộc. Do đó có người đã đề nghị không nên đưa truyện Tấm Cám vào chương trình văn học dân gian trường phổ thông.

Quả thực cách trả thù của Tấm đối với mẹ con nhà Cám là rất đặc biệt, khác với thông lệ của truyện cổ tích. Thông thưòng trong truyện cổ tích, các nhân vật chính diện ít khi trực tiếp trả thù các nhân vật phản diện. Thạch Sanh hoàn toàn tha bổng cho mẹ con Lí Thông; người em trong truyện cây khế không hề phàn nàn, oán trách người anh tham lam; Sọ Dừa và vợ chàng cũng không hề đả động gì đến tội trạng của hai người chị gái (con phú ông)… việc trừng phạt các nhân vật phản diện trong truyện cổ tích phần lớn là do các lực lượng thần kì (Trời, Phật, Thần linh…) thực hiện, hoặc do bản thân các nhân vật tự chuốc lấy. Trái lại, ở truyện Tấm Cám, các tác giả dân gian đã để cho Tấm trực tiếp trả thù và trả thù một cách quyết liệt, dữ dội đối với mẹ con nhà Cám khiến cho tính cách của Tấm phát triển thành hai phần, hai giai đoạn khác nhau và đối lập nhau rõ rệt. Giai đoạn đầu khi còn sống (lúc còn ở nhà với dì ghẻ và Cám cũng như khi đã vào cung vua làm hoàng hậu) Tấm rất hiền lành, chịu thương, chịu khó, thậm chí rất yếu đuối (chỉ biết khóc mỗi khi gặp khó khăn) và nhẹ dạ, cả tin (nên bị Cám cướp giật liên tiếp: cướp giỏ cá, cướp quyêng đi trảy hội, cướp chồng…). Nhưng sau khi bị giết, trải qua nhiều kiếp (kiếp người, kiếp chim, kiếp xoan đào, kiếp khung cửi, kiếp thị) và trở lại làm người thì Tấm trở thành một người khác hẳn: đáo để, kiên quyết, chỉ tên vạch mặt kẻ thù đến nơi đến chốn và trừng trị chúng một cách không thương tiếc. Ở đây có sự kết hợp, hoà trộn giữa niềm tin và triết lí truyền thống “ở hiền gặp lành” của nhân dân và thuyết luân hồi, quả báo (“thiện giả thiện báo, ác giả ác báo”) của đạo Phật. Vì thế mà có hai cô Tấm khác nhau rõ rệt. Cô Tấm thứ nhất (từ đầu cho đến khi trở thành hoàng hậu) về cơ bản đồng dạng với các nhân vật chính diện khác của truyện cổ tích (cuộc đời cũng gồm hai phần:  phần hiện thực và phần ước mơ, phần tối tăm và phần tươi sáng). Cô Tấm thứ hai (từ khi trèo cau bị giết cho đến khi trở lại làm người trải qua nhiều kiếp khác nhau) chủ yếu là nhân vật của sự trả thù, báo ứng, không còn là nhân vật phổ biến, thông thường trong cổ tích nữa. Và đây chính là chỗ đặc biệt trong truyện Tấm Cám so với các truyện cổ tích khác. Với mức độ khác nhau, cả hai cô Tấm ấy đều phù hợp với triết lí “ở hiền gặp lành” và ước mơ công lí của nhân dân. Việc xây dựng cô Tấm thứ hai (hay giai đoạn thứ hai của nhân vật Tấm) cho thấy tác giả dân gian của truyện này có cái nhìn hiện thực xã hội rất sâu sắc và sự phản ánh ước mơ công lí của nhân dân rất triệt để.

Tác giả không bằng lòng kết thúc truyện một cách “có hậu” ở việc Tấm lấy được vua và trở thành hoàng hậu (mặc dù truyện đến đây đã khá dài và có đầy đủ các bước phát triển như nhiều truyện cổ tích thần kỳ khác).

Sự kiện bà hoàng hậu Tấm về nhà làm giỗ cha và bị mẹ con nhà Cám giết chết mở đầu cho phần thứ hai của truyện Tấm Cám, phản ánh sâu sắc và triệt để hơn xung đột quyền lợi trong xã hội phong kiến và khát vọng chính nghĩa thắng gian tà của nhân dân. Với phần thứ nhất truyện Tấm Cám chỉ mới nói được vấn đề “người hiền” có thể và cần phải được “gặp lành”. Với phần thứ hai, tác giả mới nói được rõ hơn, đầy đủ và sâu sắc hơn kinh nghiệm và lí tưởng sống của mình là: “người hiền” không dễ gì sống yên ổn với “điều lành” khi “kẻ ác” còn tồn tại, chưa bị loại bỏ.

Nếu như ở phần thứ nhất kẻ cướp công của Tấm là Cám thì ở phần thứ hai, sự căm phẫn và trả thù của Tấm cũng chủ yếu hướng vào nhân vật Cám.

Sẽ là một thiếu sót đáng kể nếu không nói đến các nhân vật thần kì, siêu nhiên, khi bàn về triết lí “ở hiền gặp lành” và ước mơ công lí của nhân dân ở trong truyện cổ tích.

Khi khát vọng công lí và niềm tin “ở hiền gặp lành” chưa có điều kiện để thực hiện được nhiều trong đời sống thực tế, tác giả truyện cổ tích đã dùng các nhân vật thần kì, siêu nhiên để thực hiện ở trong trí tưởng tượng và bằng trí tưởng tượng.

Lực lượng thần kì, siêu nhiên ở trong truyện cổ tích Việt rất phong phú, đa dạng, bao gồm các nhân vật thần kì (như Tiên, Bụt, Thần linh, Diêm Vương), các con vật siêu nhiên (như Trăn Thần, Rắn Thần, Têy Tinh, Hồ Tinh…), các vật thiêng có phép lạ (như gậy Thần, Đàn Thần, Cung Thần, Niêu cơm Thần, chiếc áo tàng hình…).

Lực lượng nảy sinh ra từ nhiều nguồn gốc khác nhau, như quan niệm thần linh trong thần thoại, sự tín ngưỡng của nhân dân, ảnh hưởng của các tôn giáo (đạo Phật, đạo Lão…), nhưng đã được nhào nặn lại theo quan niệm và lí tưởng thẩm mĩ của tác giả truyện cổ tích. Vì thế lực lượng thần kì trong cổ tích không giống với các vị thần trong thần thoại và các tôn giáo đã sản sinh ra chúng. Lực lượng thần kì trong truyện cổ tích không phải là hiện thân của các lực lượng tự nhiên như các vị thần (Thần Mưa, Thần Gió…) trong thần thoại mà ít nhiều đều mang tính xã hội, tính giai cấp. Tiên, Phật (hay Bụt) trong truyện cổ tích chỉ giúp những người nghèo khổ, lương thiện (như Tấm, Thạch Sanh…) chứ không giúp kể ác (như Cám, Lí Thông…). Có khi nhân vật thần kì tỏ ra vô tư, trung lập, không thiên vị, nhưng cuối cùng vẫn gây ra những tác dụng ngược nhau đối với nhân vật chính diện và phản diện. Chẳng hạn con Chim thần trong truyện Cây khế đã nói với người em và người anh một câu như nhau (“Ăn một quả trả cục vàng – May túi ba gang mang đi mà đựng”) và đã đưa cả người anh lẫn người em đến đảo vàng ngoài biển xa. Nhưng sức Chim thần có giới hạn, nên không mang nỗi số vàng quá nhiều của người anh tham lam, khiến cho y pahỉ mất mạng. Cây đàn thần (trong truyện thạch Sanh) cũng chỉ phát huy được tác dụng kì diệu khi vào tay Thạch Sanh mà thôi (vua Thuỷ Tề có cây đàn thần mà vẫn phải chịu bó tay để cho yêu quái bắt Thái tử nhốt trong cũi sắt).

Phần lớn các lực lượng thần kì trong truyện cổ tích đều chỉ xuất hiện khi nhân vật chính diện gặp tai nạn, bế tắc, cần sự giúp đỡ. Nhưng cũng có khi bản thân nhân vật chính diện mang trong mình yếu tố thần kì (ví dụ Thạch Sanh, Sọ Dừa, người vợ Cóc trong truyện lấy vợ Cóc), Thạch Sanh là người nhưng có nguồn gốc siêu nhiên (là thái tử con Ngọc Hoàng, đàu thai vào nhà họ Thạch, năm 13 tuổi đã được Tiên ông dạy cho các phép võ nghệ thần thông). Sọ Dừa cũng có nguồn gốc phi thường (ẩn trong lốt sọ xấu xí, đáng sợ nhưng vốn là “người trời”, tài giỏi và chỉ một mình cô con út của phú ông sớm nhận ra điều kì diệu đó).

Thạch Sanh đã hoạt động trong một không gian rất rộng, bao gồm bốn cõi (từ”cõi trời” đầu thai vào nhà họ Thạch làm người hạ giới, rồi từ cõi trần, xuống hang động, từ hang động xuống thuỷ cung và cuối cùng mới trở lại trần gian).

Số lượng nhân vật trong truyện Thạch Sanh rất đông (trên 20 nhân vật và vật thần kì khác nhau), được phân làm hai tuyến (chính diện và phản diện). Ở mỗi tuyến đều có nhân vật là người và nhân vật siêu nhiên, kì ảo. Tuyến chính diện gồm các nhân vật là người (Thạch Sanh, công chúa, vua (cha của công chúa) và cha mẹ Thạch Sanh). Các nhân vật siêu nhiên (Ngọc Hoàng, Tiên Ông, vua Thuỷ Tề, Thái tử con vua Thuỷ Tề) và các nhân vật thần kì (Cung thần, Đàn thần, Niêu cơm thần). Tuyến nhân vật phản diện cũng bao gồm các nhân vật là người (Lí Thông, mẹ Lí Thông, Quân 18 nước chư hầu) và các quái vật thần kì (Trăn Tinh, Đại Bàng, Hồ TInh).

Thạch Sanh là nhân vật có nguồn góc siêu nhiên, là “con trời” nhưng đã đầu thai vào nhà họ Thạch và được trần gian hoá, xã hội hoá hoàn toàn (có cha mẹ, quê hương, có một cuộc đời phong phú với nhiều thân phận, công việc và kì tích khác nhau: trẻ mồ côi, người tiều phu, người ở dưới hình thức em nuôi, dũng sĩ diệt trừ yêu quái cứu người…).

      Có thể nói Thạch Sanh là con người đẹp nhất, phong phú và hoàn hảo nhất trong những nhân vật chính diện mà truyện cổ tích Việt Nam đã xây dựng.

                                                                                                Đông Hà, tháng 4/2013

Trường Cao Đẳng Sư Phạm Quảng Trị

TRIẾT LÝ Ở HIỀN GẶP LÀNH VÀ ƯỚC MƠ CÔNG LÝ CỦA NHÂN DÂN TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM

                                                                                                Lương Thị Tố Uyên

                                                                                                Khoa Xã hội

Trước hết, đây là niềm tin và mơ ước của nhân dân. Nó chi phối toàn bộ sự xây dựng và phát triển của các nhân vật chính diện, phản diện và lực lượng thần kì ở trong truyện cổ tích.

Đối với các nhân vật chính diện (Thạch Sanh, cô Tấm, người em trong truyện Cây Khế…) tác giả dân gian không chỉ dừng lại ở sự phản ánh và cảm thông đối với những đau khổ, đắng cay, oan ức của họ mà còn đặc biệt quan tâm, tìm cách, tìm đường giải thoát cho họ để họ được đền bù xứng đáng. Nhờ vậy mà nhiều nhân vật chính diện trong truyện cổ tích đã được đổi đời, được đền bù thích đáng làm cho cả người kể lẫn người nghe đều hả hê, sung sướng (Sọ Dừa thi đổ trạng nguyên và lấy được con gái phú ông, Tấm trở thành hoàng hậu, Thạch Sanh lấy công chúa và lên làm vua…).

Đối với các nhân vật phản diện (Lí Thông, mẹ con nhà Cám, người anh tham lam trong truyện Cây Khế…) thì tác giả dân gian không chỉ phản ánh, tố cáo, lên án sự tham lam, ích kỉ. độc ác, dã man của chúng mà còn tìm cách loại trừ, tiêu diệt chúng để cho những người lương thiện được sống yên vui. Vì thế hầu hết các nhân vạt phản diện trong truyện cổ tích đều dẫn đến kết cục bi thảm và bị trừng phạt thích đáng. Mức độ và hình thức thưởng phạt đối với các nhân vật chính diện và phản diện ở trong truyện cổ tích Việt được thực hiện có phân biệt, tương xứng với tài đức, tội trạng của từng nhân vật. Cô Tấm đẹp người, đẹp nết, chịu thương chịu khó, chịu nhiều thiệt thòi, được lấy vua trở thành hoàng hậu. Thạch Sanh có tài năng, mức độ, có nhiều công tích được lấy công chúa làm vua, Sọ Dừa thì đổ trạng. Người em (trong truyện Cây Khế) là người nghèo khổ, hiền lành, thật thà nhưng không có tài năng, công tích gì đặc biệt nên chỉ được Chim thần cho vàng (vừa đầy chiếc túi “ba gang”) để trở thành giàu có mà thôi. Đối với các nhân vật phản diện, sự trừng phạt cũng có sự phân biệt rỏ rệt. Lí Thông tham tài, tham sắc, tham danh vọng, địa vị, vong ân bội nghĩa, lợi dụng, lùa gạt, cướp công và hãm hại Thạch Sanh thì bị trời đánh hoá thành kiếp bọ hung, đời đời chui rúc nơi hôi hám. Người Anh (trong truyện Cây khế) ích kỉ, tham lam thì Chim thần cũng chỉ “chiều” theo tham vọng của hắn để cho hắn phải tự chuốc lấy cái chết nhục nhã mà thôi. Còn ở truyện Tám Cám thì sự trừng phạt nhân vật phản diện có phần đặc biệt so với nhiều truyện cổ tích khác. Và đây là một trong những chổ có vấn đề đã từng gây ra sự tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu. Người thì cho Tấm trừng trị mẹ con nhà Cám như thế là phải, là thích đáng. Người thì cho cách trả thù của Tấm  (giết Cám bằng nước sôi, rồi muối thành mắm…) như thế là quá quắt, trái với bản tính hiền lành vốn có của Tấm và cũng trái với truyền thống khoan dung, rộng lượng của dân tộc. Do đó có người đã đề nghị không nên đưa truyện Tấm Cám vào chương trình văn học dân gian trường phổ thông.

Quả thực cách trả thù của Tấm đối với mẹ con nhà Cám là rất đặc biệt, khác với thông lệ của truyện cổ tích. Thông thưòng trong truyện cổ tích, các nhân vật chính diện ít khi trực tiếp trả thù các nhân vật phản diện. Thạch Sanh hoàn toàn tha bổng cho mẹ con Lí Thông; người em trong truyện cây khế không hề phàn nàn, oán trách người anh tham lam; Sọ Dừa và vợ chàng cũng không hề đả động gì đến tội trạng của hai người chị gái (con phú ông)… việc trừng phạt các nhân vật phản diện trong truyện cổ tích phần lớn là do các lực lượng thần kì (Trời, Phật, Thần linh…) thực hiện, hoặc do bản thân các nhân vật tự chuốc lấy. Trái lại, ở truyện Tấm Cám, các tác giả dân gian đã để cho Tấm trực tiếp trả thù và trả thù một cách quyết liệt, dữ dội đối với mẹ con nhà Cám khiến cho tính cách của Tấm phát triển thành hai phần, hai giai đoạn khác nhau và đối lập nhau rõ rệt. Giai đoạn đầu khi còn sống (lúc còn ở nhà với dì ghẻ và Cám cũng như khi đã vào cung vua làm hoàng hậu) Tấm rất hiền lành, chịu thương, chịu khó, thậm chí rất yếu đuối (chỉ biết khóc mỗi khi gặp khó khăn) và nhẹ dạ, cả tin (nên bị Cám cướp giật liên tiếp: cướp giỏ cá, cướp quyêng đi trảy hội, cướp chồng…). Nhưng sau khi bị giết, trải qua nhiều kiếp (kiếp người, kiếp chim, kiếp xoan đào, kiếp khung cửi, kiếp thị) và trở lại làm người thì Tấm trở thành một người khác hẳn: đáo để, kiên quyết, chỉ tên vạch mặt kẻ thù đến nơi đến chốn và trừng trị chúng một cách không thương tiếc. Ở đây có sự kết hợp, hoà trộn giữa niềm tin và triết lí truyền thống “ở hiền gặp lành” của nhân dân và thuyết luân hồi, quả báo (“thiện giả thiện báo, ác giả ác báo”) của đạo Phật. Vì thế mà có hai cô Tấm khác nhau rõ rệt. Cô Tấm thứ nhất (từ đầu cho đến khi trở thành hoàng hậu) về cơ bản đồng dạng với các nhân vật chính diện khác của truyện cổ tích (cuộc đời cũng gồm hai phần:  phần hiện thực và phần ước mơ, phần tối tăm và phần tươi sáng). Cô Tấm thứ hai (từ khi trèo cau bị giết cho đến khi trở lại làm người trải qua nhiều kiếp khác nhau) chủ yếu là nhân vật của sự trả thù, báo ứng, không còn là nhân vật phổ biến, thông thường trong cổ tích nữa. Và đây chính là chỗ đặc biệt trong truyện Tấm Cám so với các truyện cổ tích khác. Với mức độ khác nhau, cả hai cô Tấm ấy đều phù hợp với triết lí “ở hiền gặp lành” và ước mơ công lí của nhân dân. Việc xây dựng cô Tấm thứ hai (hay giai đoạn thứ hai của nhân vật Tấm) cho thấy tác giả dân gian của truyện này có cái nhìn hiện thực xã hội rất sâu sắc và sự phản ánh ước mơ công lí của nhân dân rất triệt để.

Tác giả không bằng lòng kết thúc truyện một cách “có hậu” ở việc Tấm lấy được vua và trở thành hoàng hậu (mặc dù truyện đến đây đã khá dài và có đầy đủ các bước phát triển như nhiều truyện cổ tích thần kỳ khác).

Sự kiện bà hoàng hậu Tấm về nhà làm giỗ cha và bị mẹ con nhà Cám giết chết mở đầu cho phần thứ hai của truyện Tấm Cám, phản ánh sâu sắc và triệt để hơn xung đột quyền lợi trong xã hội phong kiến và khát vọng chính nghĩa thắng gian tà của nhân dân. Với phần thứ nhất truyện Tấm Cám chỉ mới nói được vấn đề “người hiền” có thể và cần phải được “gặp lành”. Với phần thứ hai, tác giả mới nói được rõ hơn, đầy đủ và sâu sắc hơn kinh nghiệm và lí tưởng sống của mình là: “người hiền” không dễ gì sống yên ổn với “điều lành” khi “kẻ ác” còn tồn tại, chưa bị loại bỏ.

Nếu như ở phần thứ nhất kẻ cướp công của Tấm là Cám thì ở phần thứ hai, sự căm phẫn và trả thù của Tấm cũng chủ yếu hướng vào nhân vật Cám.

Sẽ là một thiếu sót đáng kể nếu không nói đến các nhân vật thần kì, siêu nhiên, khi bàn về triết lí “ở hiền gặp lành” và ước mơ công lí của nhân dân ở trong truyện cổ tích.

Khi khát vọng công lí và niềm tin “ở hiền gặp lành” chưa có điều kiện để thực hiện được nhiều trong đời sống thực tế, tác giả truyện cổ tích đã dùng các nhân vật thần kì, siêu nhiên để thực hiện ở trong trí tưởng tượng và bằng trí tưởng tượng.

Lực lượng thần kì, siêu nhiên ở trong truyện cổ tích Việt rất phong phú, đa dạng, bao gồm các nhân vật thần kì (như Tiên, Bụt, Thần linh, Diêm Vương), các con vật siêu nhiên (như Trăn Thần, Rắn Thần, Têy Tinh, Hồ Tinh…), các vật thiêng có phép lạ (như gậy Thần, Đàn Thần, Cung Thần, Niêu cơm Thần, chiếc áo tàng hình…).

Lực lượng nảy sinh ra từ nhiều nguồn gốc khác nhau, như quan niệm thần linh trong thần thoại, sự tín ngưỡng của nhân dân, ảnh hưởng của các tôn giáo (đạo Phật, đạo Lão…), nhưng đã được nhào nặn lại theo quan niệm và lí tưởng thẩm mĩ của tác giả truyện cổ tích. Vì thế lực lượng thần kì trong cổ tích không giống với các vị thần trong thần thoại và các tôn giáo đã sản sinh ra chúng. Lực lượng thần kì trong truyện cổ tích không phải là hiện thân của các lực lượng tự nhiên như các vị thần (Thần Mưa, Thần Gió…) trong thần thoại mà ít nhiều đều mang tính xã hội, tính giai cấp. Tiên, Phật (hay Bụt) trong truyện cổ tích chỉ giúp những người nghèo khổ, lương thiện (như Tấm, Thạch Sanh…) chứ không giúp kể ác (như Cám, Lí Thông…). Có khi nhân vật thần kì tỏ ra vô tư, trung lập, không thiên vị, nhưng cuối cùng vẫn gây ra những tác dụng ngược nhau đối với nhân vật chính diện và phản diện. Chẳng hạn con Chim thần trong truyện Cây khế đã nói với người em và người anh một câu như nhau (“Ăn một quả trả cục vàng – May túi ba gang mang đi mà đựng”) và đã đưa cả người anh lẫn người em đến đảo vàng ngoài biển xa. Nhưng sức Chim thần có giới hạn, nên không mang nỗi số vàng quá nhiều của người anh tham lam, khiến cho y pahỉ mất mạng. Cây đàn thần (trong truyện thạch Sanh) cũng chỉ phát huy được tác dụng kì diệu khi vào tay Thạch Sanh mà thôi (vua Thuỷ Tề có cây đàn thần mà vẫn phải chịu bó tay để cho yêu quái bắt Thái tử nhốt trong cũi sắt).

Phần lớn các lực lượng thần kì trong truyện cổ tích đều chỉ xuất hiện khi nhân vật chính diện gặp tai nạn, bế tắc, cần sự giúp đỡ. Nhưng cũng có khi bản thân nhân vật chính diện mang trong mình yếu tố thần kì (ví dụ Thạch Sanh, Sọ Dừa, người vợ Cóc trong truyện lấy vợ Cóc), Thạch Sanh là người nhưng có nguồn gốc siêu nhiên (là thái tử con Ngọc Hoàng, đàu thai vào nhà họ Thạch, năm 13 tuổi đã được Tiên ông dạy cho các phép võ nghệ thần thông). Sọ Dừa cũng có nguồn gốc phi thường (ẩn trong lốt sọ xấu xí, đáng sợ nhưng vốn là “người trời”, tài giỏi và chỉ một mình cô con út của phú ông sớm nhận ra điều kì diệu đó).

Thạch Sanh đã hoạt động trong một không gian rất rộng, bao gồm bốn cõi (từ”cõi trời” đầu thai vào nhà họ Thạch làm người hạ giới, rồi từ cõi trần, xuống hang động, từ hang động xuống thuỷ cung và cuối cùng mới trở lại trần gian).

Số lượng nhân vật trong truyện Thạch Sanh rất đông (trên 20 nhân vật và vật thần kì khác nhau), được phân làm hai tuyến (chính diện và phản diện). Ở mỗi tuyến đều có nhân vật là người và nhân vật siêu nhiên, kì ảo. Tuyến chính diện gồm các nhân vật là người (Thạch Sanh, công chúa, vua (cha của công chúa) và cha mẹ Thạch Sanh). Các nhân vật siêu nhiên (Ngọc Hoàng, Tiên Ông, vua Thuỷ Tề, Thái tử con vua Thuỷ Tề) và các nhân vật thần kì (Cung thần, Đàn thần, Niêu cơm thần). Tuyến nhân vật phản diện cũng bao gồm các nhân vật là người (Lí Thông, mẹ Lí Thông, Quân 18 nước chư hầu) và các quái vật thần kì (Trăn Tinh, Đại Bàng, Hồ TInh).

Thạch Sanh là nhân vật có nguồn góc siêu nhiên, là “con trời” nhưng đã đầu thai vào nhà họ Thạch và được trần gian hoá, xã hội hoá hoàn toàn (có cha mẹ, quê hương, có một cuộc đời phong phú với nhiều thân phận, công việc và kì tích khác nhau: trẻ mồ côi, người tiều phu, người ở dưới hình thức em nuôi, dũng sĩ diệt trừ yêu quái cứu người…).

      Có thể nói Thạch Sanh là con người đẹp nhất, phong phú và hoàn hảo nhất trong những nhân vật chính diện mà truyện cổ tích Việt Nam đã xây dựng.

                                                                                                Đông Hà, tháng 4/2013

Huỳnh Văn Hoa: Quảng Trị

Bài viết của nhà nghiên cứu Huỳnh Văn Hoa đã khắc họa cho chúng ta thấy được tâm thế của người lính Cụ Hồ trong những ngày chiến đấu tại Quảng Trị.

Là người sưu tập sách cũ, tôi đang giữ tập sách Những ngày dài trên quê hương in năm 1972, trong đó in các bài bút ký của nhà văn, ký giả chiến trường ở miền Nam như Dương Nghiễm Mậu, Đoàn Kế Tường, Huỳnh Văn Phú, Hồng Phúc, Người Xứ Huế, Phạm Văn Bình, Phan Nhật Nam, Phan Huy, Sao Bắc Đẩu, Vũ Hoàng. Họ cũng viết về năm tháng đó. Sách dày 300 trang, có hình ảnh.

Đã từ lâu

Tôi không còn nước mắt

Dù tôi vẩn khóc thầm

Trên những đồng lương bán mạng

Trên những nắm cơm lùa vội

Trên những bước chân súng đạn nặng nề

Ôi những giọt lệ khô

Khóc một đời buồn bã

Đã từ lâu

Tôi chán ngán cảnh ra đi

Mà sao vẫn phải tiếp tục lên đường

(tr. 232 – 234)

L.M.Q

XI.2012

 Quảng Trị nằm ở phía bắc kinh thành Huế. Mảnh đất này, do vị trí địa – chính trị nên luôn được nhà Nguyễn, bắt đầu từ Gia Long, đã quan tâm và cho xây thành đắp lũy. Thành cổ Quảng Trị xây theo kiểu Vauban, dạng hình vuông, bốn góc thành có 4 pháo đài canh giữ. Thành có các cửa: Tiền, Hậu Tả, Hữu, xây hình vòm cuốn, trên có vọng lâu. Bên ngoài thành là một hệ thống hào bao quanh, có độ sâu 3,2m, rộng 34,85m. Nội thành có nhiều công trình kiến trúc quan trọng, như hành cung, dinh tuần vũ, dinh án sát, dinh lãnh binh, ty phiên, ty niết, nhà kiểm học,…

Năm 1885, trên đường ra Tân Sở, vua Hàm Nghi đã dừng lại ở Thành cổ, kêu gọi các tầng lớp nhân dân, đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược.

Suốt gần 140 năm, kể từ 1809 đến Cách mạng tháng Tám 1945, Thành cổ Quảng Trị là trung tâm chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa của tỉnh Quảng Trị và là phên dậu phía bắc, bảo vệ kinh đô Phú Xuân.

Kháng chiến chống Pháp, nhất là kháng chiến chống Mỹ, Quảng Trị được xem là chiến trường dữ dội và khốc liệt nhất Đông Dương, nơi diễn ra nhiều cuộc đụng độ nảy lửa giữa ta và địch. Từ sau 1954, Quảng Trị là cửa tử đối với quân đội Mỹ. Đặc biệt, năm 1972, Thành cổ Quảng Trị với 81 ngày đêm rung chuyển đã để lại dấu ấn khó phai mờ trên nhiều phương  diện, trong đó có văn học nghệ thuật.

Quảng Trị với những địa danh như sông Bến Hải, cầu Hiền Lương, Đường Chín, Khe Sanh, Cam Lộ, Đông Hà, Ái Tử, Gio Linh, Cồn Tiên, Dốc Miếu, sông Thạch Hãn,… đã tạo nên một dòng sông thơ ca trong văn học hiện đại Việt Nam.

Con sông Bến Hải, nói như Nguyễn Tuân, sông tuyến đó là giới tuyến của hai bờ Nam – Bắc, hai miền phân ranh suốt 21 năm. Con sông đó đã trở thành biểu tượng của khát khao thống nhất đất nước và đã trở thành niềm thao thức nơi bao trái tim của nhiều văn nghệ sĩ.

Một ngày về lại cầu Hiền Lương, vẫn cây dương liễu vươn cao, vẫn cây bạch đàn bóng mát, vẫn đồng ruộng sum vầy, vẫn dòng sông chảy ngày đêm không nghỉ, chỉ có con đò cứ bến vắng, không còn lối sang ngang, xúc cảm giữa cảnh ấy, nhà thơ Tế Hanh viết:

Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị

Tận chân trời mây núi có chia đâu

(Nói chuyện với Hiền Lương)

Hiền Lương, nơi đó có bà mẹ chèo đò, đưa quân sang bên kia vĩ tuyến, đi qua những hố bom, đi qua những hàng cây cháy đen, qua “những nơi bến cũ đường xưa” trong Người mẹ của Nguyễn Đình Thi. Quảng Trị trong thơ Chế Lan Viên là những ngày, những đêm thương nhớ về một nơi sinh ra mình, nơi có mộ mẹ… Nam Hà có bài thơ dài “Chào đường chín anh hùng” nói về con đường của “máu đỏ phu làm đường… đã nhuộm thắm đồi chè, bãi sắn quê hương” và cả “tiếng hát của những người tù đi đày Pha Lan, Lao Bảo, vẫn còn nghe ngân vọng mãi giữa Trường Sơn”. Đường chín của “Ôi Cam Lộ, Gio Linh đói nghèo, ôi rừng thiêng Khe Sanh”, “đất đau thương sẽ là đất anh hùng”. Đó là:

Con đường của tâm hồn ta,

                                     ta nô nức đi giành cuộc sống

Con đường của cuộc đời ta,

                                       ta đi giành độc lập tự do

Con đường của thời đại ta,

                                      ta đi giành hạnh phúc ấm no

Con đường đi giữa tim ta,…

Một cách nhìn khác, trong Nước non ngàn dặm, Tố Hữu đã viết:

Xe lên đường 9 cheo leo

Hố bom đỏ mắt, trắng đèo bông lau

Cây khô, chết chẳng nghiêng đầu

Nghìn tay than cháy rạch màu trời xanh…

Vẫn là đường Chín, vẫn là con đường đầy những hoa lau trắng nhưng sự dữ dội và hủy hoại của chiến tranh đã khiến những cành cây khô, xương xẩu như hàng nghìn ngón tay, cháy đen thành than, rạch lên bầu trời xanh, vẽ nên một cảnh tượng đầy bi tráng của những ngày rực lửa của chiến trường Quảng Trị. Những câu thơ mang đậm tính tượng hình đã để lại nơi người đọc những ám ảnh khó phai về đường Chín – con đường máu, như cách gọi của số nhà quân sự thế kỷ XX.

Vũ Ngàn Chi, nhà thơ gắn liền đời mình với chiến trường Trị – Thiên, có tập thơ trữ tình mang tên Đêm Quảng Trị (NXB Văn nghệ Giải phóng, 1975).Tập thơ có 2 phần, phần I. Đất gọi, phần II. Sớm nay về. Những đia danh ghi dưới các bài thơ như: Hải Lăng, Xê-kôi, Hướng Hóa,… cho thấy sự gắn bó máu thịt của nhà thơ với Quảng Trị anh hùng:

Đêm Quảng Trị dắt ta vào trận đánh

Thủ pháo rung rung đầu kíp nụ xòe

Đêm kỳ diệu quen nhuộm màu đen nhánh

Đêm nghìn đời đất thánh vẫn trùm che

Ta nghe đêm nay đôi bờ sông Thạch Hãn

Rặng mít bên Cùa, dặm cát Phương Lang

Đêm Quảng trị giục canh gà gọi sáng

Cờ ta bay đỏ rực lũy tre làng…

Đọng trong tâm trí nhiều thế hệ, đó là 81 ngày đêm chiến đấu tại Thành cổ, từ 28-6 đến 16-9-1972. Ngày nay, cuộc chiến đã lùi vào quá khứ. Đất nước đã sang trang mới. Màu xanh đã phủ lên những hố bom xưa. Dòng Thạch Hãn đã trong xanh lại. Song, những vần thơ về Thành cổ, về Ngã ba Long Hưng vẫn gợi nên bao bùi ngùi, thương cảm. Số bom ném xuống Quảng Trị khoảng 328 nghìn tấn, tương đương với sức công phá của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ đã ném xuống Hiroshima, Nhật Bản (1945). Thị xã Quảng Trị là một đống gạch vụn. Nơi ấy, hàng nghìn người con ưu tú của Tổ quốc, tuổi mười tám đôi mươi đã ngã xuống, nằm lại trên các nẻo đường của Quảng Trị, của Thành cổ:

Đồng đội tôi nằm lại cả Binh đoàn

Đội ngũ chỉnh tề hàng ngang hàng dọc

(Đặng Trung Hội, Viết ở nghĩa trang Trường Sơn)

Dòng sông Thạch Hãn, nơi bao người chiến sĩ vĩnh viễn không về:

Đò xuôi Thạch Hãn ơi… chèo nhẹ

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm

Có tuổi hai mươi thành sóng nước

Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm

(Lê Bá Dương)

Nguyễn Đức Mậu, nhà thơ – chiến sĩ, có nhiều bài thơ về Quảng Trị, đó là: Đêm Thành cổ 1972, Tráng khúc Quảng Trị, Hoa lau đường Chín, Ở vùng quê Quảng Trị, Chép lại một chân dung,…Thơ ông chạm khắc chân dung người lính vào những thời điểm thử thách của cuộc đời, đó là cảnh:

Sau tiếng thét Bường lịm dần rồi tắt

Tôi gọi hoài tên nó, gọi tàn hơi

hoặc:

Mùi tóc cháy, mùi thịt da khét lẹt

Ngọn gió qua đồi hóa ngọn gió mồ côi

Khuôn mặt bạn cháy đen, chỉ còn đôi mắt nhìn tôi

không chịu khép

Như hai hốc đất sâu, hai vết thủng vòm trời…

Phạm Đình Lân có bài thơ Tấc đất Cổ thành khá cảm động. Về lại chiến trường xưa, nơi đồng đội yên nằm dưới cỏ, nơi “mỗi tấc đất là một cuộc đời có thật / Cho hôm nay tôi đến nghẹn ngào”:

Trời Quảng Trị trong xanh và lộng gió

Ru mãi bài ca Bất tử đến vô cùng.

Đoàn Xuân Hòa, người lính chiến đấu tại Quảng Trị, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, ghi lại một kỷ niệm cảm động, ngày ấy, giữa khói bom của trận đánh, “Em hát tặng tôi dưới tầm đạn pháo / Dìu dặt lời thương cởi áo cho nhau/ Gương mặt em đánh thức ánh trăng rằm”. Vậy mà, tiếng hát trong trẻo của người con gái tuổi mười tám, em đã không còn nữa trên đời:

Con chim họa mi ơi

Sao em không về với rặng tre ngà bên bờ Thạch Hãn

Bài hát ngày qua hát lại cho mình

Sao em không về với con đường lợp xanh bóng lá

In trong chiều kỷ niệm gót chân xinh…

(Vầng trăng thời gian đi qua)

Trong nhật ký Mãi mãi tuổi hai mươi, nơi trang cuối cùng, anh binh nhì Nguyễn Văn Thạc, đã ghi: “Kính chào hậu phương – Chào gia đình, và người tôi yêu. Đêm nay tôi đi-Nhất định có ngày trở về Thủ đô yêu quí của lòng tôi. 3-6-1972 – Ngã ba Đồng Lộc “.

Không. Không, anh không trở về Hà Nội nữa. Ngày 30-7-1972, anh hy sinh tại Thành cổ Quảng Trị, lúc tròn 20 tuổi. Những gì anh viết trong Lời mẹ dặn, về người mẹ của mình, chỉ là hoài niệm:

Này buổi sáng tinh sương, mẹ cựa mình thức suốt

Nổi lửa hồng gọi mặt trời lên…

Những vần thơ tặng Như Anh như Đêm trắng, Nhớ trường chỉ còn lại là những hồi ức xa xăm.

 Quảng Trị, mảnh đất cằn khô, hạnh phúc khó mỉm cười với con người. Nơi ấy, những ngọn gió Lào thổi suốt cả mùa hạ, thổi suốt một đời, đến nỗi Chế Lan Viên như gào lên:

Ôi gió Lào ơi!  ngươi đừng thổi nữa

Những ruộng đói mùa, những đồng đói cỏ

Những đồi sim không đủ quả nuôi người

Cuộc sống gian lao ít tiếng nói cười…

(Kết nạp Đảng trên quê mẹ)

Vậy mà, đó là nơi gửi về bao thương nhớ của những người con tha phương cầu thực. Mỗi khi bão gió, lũ lụt xô về miền Trung, đi qua các làng quê nghèo của Quảng Trị, đều gợi nên nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi nơi những đứa con xa quê. Tạ Nghi Lễ là một hồn thơ như thế.

Thơ Tạ Nghi Lễ là tiếng lòng của kẻ tha hương phương Nam, đau đáu, dằn vặt, xót xa khi nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn. Nhiều bài thơ không nén nỗi cảm xúc, “Có nơi mô như ở quê mình / Bưng bát cơm ăn sao đắng cả lòng / Có nơi mô như ở quê mình / Mẹ đợi con tóc hóa ngàn lau trắng / Có nơi mô như ở quê mình/Khúc ruột thắt giữa hai miền đất nước.(Quê mình). Quảng Trị trong thơ Tạ Nghi Lễ là khung trời thị xã yên bình, là kỉ niệm làng quê ngày thơ dại, là khói lửa chiến tranh, là món quê hương thèm đến nao lòng, là em cuối chân trời trôi dạt, là tiếng cầu kinh tha thiết, trầm buồn:

– Chiều thị xã, hương sầu đông thơm ngát

Tiếng ve khô, cong ngọn gió Nam Lào

– Tôi chú bé ngày xưa trọ học

Phượng rụng vai người xao xác mùa thi

(Về)

Có một bài thơ được Nguyễn Phú Yên phổ nhạc, Quang Linh hát và nhiều người yêu thich. Bài thơ có tên Chị ơi, sao nghẹn ngào, đau xót đến tận cùng như thế ở trên cuộc đời này ! Người chị ở quê. Tuổi bốn mươi mới in thiệp cưới. Thiệp cưới in xong, chưa kịp gửi về. Cơn lũ lớn đi qua. Khắc nghiệt thay, “Lũ cuốn trôi nhà và chị… chị ơi!”. Thế là hết. Màu trắng của mưa và màu trắng khăn tang:

Cha cố nuốt nước mắt vào trong,

không nói nên lời

Cả nhà phủ một màn mưa trắng

Mưa trắng trời hay trắng cả con tim?

Em không về kịp nữa chị ơi!

Mưa trắng cả một trời Quảng Trị.

Nhiều bài thơ viết về Quảng Trị của Tạ Nghi Lễ được phổ nhạc, như Quê mình, Nhớ về Quảng Trị, Thị xã tôi về, Quảng Trị trong tôi, Quảng Trị, quê hương tôi,… được các ca sĩ Thu Hiền, Vân Khánh, Quang Linh, Thiên Bảo,Tú Anh,… thể hiện, làm nên một nét riêng, đậm đà, tha thiết, một tiếng lòng với vùng gió Lào cát trắng.

Quảng Trị, vẫn là nơi tha thiết đi về của bao tâm hồn, vẫn là nơi neo đợi những chờ mong, lưu luyến. Dòng sông thơ về Quảng Trị vẫn ngày đêm chảy giữa đôi bờ thương nhớ!

HUỲNH VĂN HOA

Chia sẻ liên kết này…

Quảng Trị Mai Linhnhững Bài Thơ Hay Về Quảng Trị 2014 Mới Nhất Không Thể Bỏ Lỡ

Mời bạn về thăm Quảng Trị tôi Hiền Lương xanh thẳm một chiếc nôi Ghi lòng gan dạ, lời chung thủy Xưa cắt hai ngả giờ một nơi

Bạn ơi ! Hãy về thăm quê tôi Cồn Tiên, Dốc Miếu lửa rực trời Chiến tranh thiêu rụi từng ngọn cỏ Giờ đỏ tươi màu, xanh nơi nơi

Thạch Hãn anh hùng đó bạn ơi Trong lòng sông nước nghĩa đầy vơi Các anh nằm xuống đời con trẻ Đất nước yên bình lệ tuôn rơi

Vĩnh Mốc địa đạo gần biển khơi Đón bao đoàn khách đến thăm chơi Sáng ngời tình nghĩa người với đất Ngôi nhà oanh liệt tránh đạn rơi

Bạn ơi ! Xin bạn chớ hợt hời Thành Cổ hiên ngang đẹp cho đời Tám mốt ngày đêm thêm nước mắt Xương máu xây thành nay dạo chơi

Nếu bạn về đây ghé những nơi Anh hùng liệt sỹ ấm quê tôi Trường Sơn, Đường Chín khắc trong dạ Ai lạ, ai quen cũng một nơi

Dạo bước về với chốn thảnh thơi Cửa Tùng, Cửa Việt đẹp tuyệt vời Bạn vượt biển xa ra Cồn Cỏ Đảo nhỏ quê mình chốn nghĩ ngơi…

Từ trên núi đẹp xuống biển khơi Đậm nghĩa anh hùng Quảng Trị tôi Bạn ơi ! Nhớ về thăm Quảng Trị Hương vị ngọt ngào mãi không vơi !

(Quảng Trị trong tôi – Lê Thị Xuân)

Những bài thơ hay về Quảng Trị mới nhất – 2

Anh sẽ về Quảng Trị quê ta Dẫu không phải sinh ra từ đó Tuổi hai mươi đã một thời gian khó Cảnh đói, nghèo, đạn nổ bom rơi

Nhớ quê mình anh sẽ phải về thôi Nhớ biển xanh, nhớ con thuyền, bến cá Nhớ cánh buồm xa khơi lộng gió Nhớ bạt ngàn cát trắng, dương xanh

Em có về Quảng Trị cùng anh Đến Vĩnh Linh tiêu chè xanh bát ngát Ra Cửa Tùng sẽ cùng nhau tắm mát Ngắm chiếc cầu mới bắc qua sông

Đến nơi này em thấy có tuyệt không Cảng Cửa Việt xưa nhấn chìm tàu Mĩ Mà hôm nay đông vui như thành thị Bãi tắm dài san sát những HoTel

Anh sẽ về Quảng Trị cùng em Qua Triệu Phong ghé vào thăm Thành Cổ Thắp nén nhang cho người nằm dưới cỏ Đứng lặng nhìn, nước mắt ngỡ trời mưa

Thạch Hãn giờ dòng chảy vẫn như xưa Hỏi bạn tôi có còn nguyên đáy nước Thả nến, thả hoa có ai nhận được Vết đạn bom thù nhức nhối con tim

Về Đông Hà, đến thị trấn Gio Linh Ngẫm tương lai dáng đi thành phố mới Cầu Hiền Lương bốn mùa nghe gió thổi Vẫn thì thầm lời sóng gọi bên tai

Anh sẽ về Quảng Trị cùng em Ăn mắm ruốc, nấu cơm khoai lẫn đỗ Biển và cát ngàn đời nay còn đó Khắc ghi chiến tích những ngày đã qua Một vùng thắm sắc cỏ hoa Vượt qua gian khổ, quê nhà đổi thay.

Dòng sông trong vắt nơi đây Bao hồn liệt sĩ những ngày chưa xa “Mùa hè đỏ lửa” đi qua Tên “Thành Cổ” hát bài ca “Thành Đồng” Nghẹn ngào vục nước dòng sông Nghe như máu chảy ròng ròng kẽ tay!

Nhẹ chân Thành Cổ hôm nay Xa quê mình Quảng Trị Mà triền miên Thao thức nỗi nhớ quê…

Mảnh đất nghèo bên nớ bên ni Ru các anh.. vỗ về… yên giấc ngủ Thạch Hãn, Cổ Thành 81 ngày đêm lửa đỏ Ai ngang qua không ngả mũ cúi đầu…

Đã qua rồi… Anh ở bên ni Hiền Lương đêm mong ngày đợi Em ở bên tê Bến Hải ngày đợi đêm trông Hai ta chung tắm một dòng Nước sông kia mát rượi … đôi lòng nóng ran…

Tháng 7 sẽ nhiều hơn các đoàn đến thăm Về nghĩa trang Trường Sơn, Cổ thành Quảng Trị Thắp nén hương thơm viếng các anh hùng, liệt sĩ Gạt nước mắt vào trong để nhìn kỹ những dòng tên…

Ơi quê mình chẳng thể nào quên Đất thép Vĩnh Linh … mẹ nuôi con trong lòng đất Bát nước chè xanh nặng tình người chân chất Quảng Trị mình giàu nhất những nghĩa trang…

“Có nơi mô như ở quê mình Nên ai đi xa cũng hoài nỗi nhớ” Tên núi tên sông , đồi cây, ngọn cỏ Máu các chị các anh nhuộm đỏ đất này

Trời vẫn xanh cao, đất vẫn dày Sống mặt tiền, chết cũng mặt tiền đấy Hãy dâng lên… những bông hoa vừa hái Và nghĩ nhiều đến nấm mộ vô danh..!

(Tháng 7 Quê mình – Thanh Bình)

Chùm thơ vui hay nhất về Quảng Trị – 5

LỜI QUÊ Tác giả: Hồ Vi

Mấy bửa ni rồi trời thiếu nắng Chừng chưa bưa lụt nước còn cao Khi hôm bộ đội hành quân tới Trấn thủ dầm phơi chật cả sào Mạ mi đem dủi ra ngoài rọng Kiếm ít đam cua ít của đồng Thêm đôi ba miếng anh em đỡ Của nhà quê kiểng buổi thu đông

Bớ anh nội vụ khoan đi chợ Xa ngái đàng trơn bấm cực chân Xuồng bên chị Mót buôn tơi nón Anh nhảy mà đi được đỡ chừng

Thương anh nỏ có, cầu anh mạnh Anh nện thằng Tây bể sọ dừa Thương anh cơ khổ mà nghèo quá Áo rơm lót ổ lạnh lùng khuya

CÓ BUI KHÔÔNG? Tác giả: Văn Quang

Khoeng tay, tréo cẳng, ả dòm ôông Mặt mụi tra khằng nỏ chộ dôông Tắn cắm sích mui còn méo miẹng Ròi bu ngá trôốc lại quào môông Bẻ bù lọi cuống hư diều trấy Dổ má đích cơn ngoẻo bộn vôồng Mệ mắng, de neng cười hả hả Eng coi dư ả có bui khôông?

THƠ GIỌNG QUẢNG TRỊ

Tác giả: Văn Viết Đế (Họa lại bài thơ vui tiếng Quảng Trị của ông Hoàng Hữu Nhất Nguyên) Phận tui xui rủi lấy lầm ôông Biết rứa chẳng thèm cấy với dôông Ăn uống nỏ hề cơm thịt cá Áo quần vài bộ vá vai môông Dà cựa mọt ăn kêu cọt kẹt Ngoài cươi mối dũi chạy từng vôồng Sòn sòn năm một con chục đứa Cực rứa trời cao có thấu khôông?

THƠ VUI GIỌNG QUẢNG TRỊ

Tác giả: Phan Văn Lộc (Họa lại bài thơ vui tiếng Quảng Trị của ông Hoàng Hữu Nhất Nguyên)

Môốc trọ hết rồi ơi mấy ôông Răng còn cấy cấy với dôông dôông Thịt thà lép kép mồm som sém Neeng cỏ lung lay nỏ dám môông Ngá mẹng xúm chắc moi bớ hớ Coi chừng má bị chảy thành vôồng Mấy o Hoàng NGuyễn về tra tội Thì cứ một mạch nói nói khôông

TIẾNG QUÊ Tác giả: Xuân Yên

“Eng đi mô rứa” tiếng quê sơ “Ngoài nớ, trong ni” – chẳng bỏ “mô” Khi gặp tiếng chào nghe mát rọt Lúc cười giọng nói thoảng hương thơ! Vầng trăng Quảng Trị thời vang bóng Bằng hữu Sài Thành dạ ngóng thư Ô – Rí hai châu ngời sử sách Đậm tình luân lý thuở hoang sơ.

RĂNG NỎ VỀ QUẢNG TRỊ Tác giả: Võ Mẹo

Eng nhớ về thăm mấy đứa ni Tàu xe cũng dễ, khó khăn chi Bon bon mấy chốc mơ màng ngủ Dừng lại dăm lần tiếp tục đi Dà cửa đầu đây nóc đỏ thắm Roọng vườn bát ngát ló xanh rì Bạn bè xa ngái về thăm lại

Quảng Trị Trong Thơ Chế Lan Viên

HUỲNH VĂN HOA

Có thể nói rằng , trong thơ ca hiện đại Việt Nam, ít có nhà thơ nào đưa hình ảnh quê hương vào thơ ca của mình một cách tha thiết, đau đáu như Chế Lan Viên. Suốt nhiều trang viết, cả văn cũng như thơ, đất và người Quảng Trị thường xuyên đi và về trong các sáng tác của Chế Lan Viên, làm nên một không gian nghệ thuật đặc sắc.

Chế Lan Viên quê ở làng An Xuân, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Song, từ lúc lớn lên, học hành, ông lại gắn bó đặc biệt với Bình Định.Vùng đất của nhiều tháp Chàm đã tạo nên một Điêu tàn, tập thơ ” đột ngột xuất hiện ra giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh dị. Nó dựng lên một thế giới đầy sọ dừa, xương máu, cùng yêu ma… Giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế kỷ hai mươi, nó đứng sững như một cái tháp Chàm, chắc chắn và lẻ loi, bí mật “ ( Chế Lan Viên, Điêu tàn-Tác phẩm và dư luận, NXB Văn học, 2002, trang 149, 153 ). Chỉ từ khi tham gia kháng chiến chống Pháp, dấu chân của ông in đậm suốt cả vùng từ Thanh-Nghệ-Tĩnh đến Bình-Trị-Thiên , nhất là quê mẹ Quảng Trị. Quảng Trị, cả hai cuộc kháng chiến, đều ác liệt và dữ dội. Vùng quê nghèo khổ, lam lũ , gió Lào và cát trắng, hình ảnh mẹ tảo tần khuya sớm với ” đá sỏi, cây cằn ” luôn luôn trở về trong tâm trí nhà thơ:

Ôi gió Lào ơi ! Ngươi đừng thổi nữa

Những ruộng đói mùa, những đồng đói cỏ Những đồi sim không đủ quả nuôi người Cuộc sống gian lao ít tiếng nói cười Chỉ tiếng gió mù trời chen tiếng súng..

Quảng Trị, ấy là trại tù Lao Bảo, nơi giam cầm biết bao chiến sĩ cách mạng. Quảng Trị, nơi ” những đồi tranh ăn độc gió Lào “. Quảng Tri, nơi ” con chim bỏ trời quê ta đi xứ khác”, nơi ” đất không nuôi nổi người, người không nuôi nổi đất “.

Tháng 7-1949, tại Tà Cơn, đường Chín, gần quê nhà, ông được kết nạp vào Đảng. Sau này, bài thơ Kết nạp Đảng trên quê mẹ là lấy từ cảnh và người của quê hương. Bài thơ dài đến 61 dòng, đầy da diết và nhớ thương nặng trĩu , thiêng liêng và xúc động giữa những hình ảnh Quê hương – Mẹ – Đảng lồng vào nhau. Bài thơ có những dòng, những câu nói về mẹ đầy cảm động :

Từ buổi dạy con lòng thương ghét ban đầu

Tự quê mẹ nghèo, tự đời mẹ khổ Tự giọt lệ khóc tù đi biệt xứ Tự nắm cơm khô đưa cán bộ thoát làng Tự tiếng thét căm thù vì giặc giã, vua quan… Là tiếng quê hương ấm lành Quảng Trị …

Trong bài Gửi trạng Thông họ Hoàng, một bài thơ viết cho Hoàng Trung Thông, Chế Lan Viên ghi:

Quảng Trị vốn là quê mẹ

Gió Lào râm ran… Tôi khóc oe oe trong gió Lào rách xé…

Nhiều cơn gió Lào thổi dọc suốt con đường thơ của Chế Lan Viên. Nhiều cảnh đời cơ cực , đói nghèo, ” cuộc sống xưa như nước chảy mất dòng/ Không ai thương như cỏ nội giữa đồng “,…ám ảnh mãi trong nhiều trang viết của Chế Lan Viên. Trước 1945, sự tàn tạ của bao tháp cổ Bình Định trong những chiều thẫm máu hồng, những đêm mờ sương lạnh của dòng sông Linh hư ảo, …đã để lại nơi nhà thơ những dấu ấn siêu hình, những phù chú ngôn ngữ. Sau này, qua bao nẻo đường kháng chiến của Khu Bốn, của chiến trường Trị Thiên, sự gắn bó máu thịt với đất và người của quê hương, nhà thơ càng hiểu và yêu thêm quê mẹ Quảng Trị.

Trong tuyển tập Thơ văn chọn lọc, do Sở Văn hóa-Thông tin Nghĩa Binh, in năm 1992, Chế Lan Viên đã viết :

” Quê cha mẹ tôi ở ngoài Quảng Trị…Cha mẹ tôi sinh ra và lớn lên trong gió Lào và khoai sắn Bình-Trị-Thiên. Ký ức tôi ngược thời gian , thì nó vẫn đi về qua lại thường xuyên giữa các đồi sim mua Quảng Trị và góc thành Bình Định này. Ngỡ như tính cách tâm hồn và bút pháp thơ tôi đều bắt nguồn từ hai nơi ấy. Tôi làm thơ lúc 12, 13 tuổi ở huyện lỵ An Nhơn . Lủi thủi làm và cũng không ý thức đó là thơ. Ký những cái tên chỉ địa danh ngoài Quảng Trị : Mai Lĩnh, Thạch Hãn, Thạch Mai”.

Như vậy đã rõ, sự nghiệp văn chương của Chế Lan Viên có sự thấm đẫm, chuyển hóa và bắt nguồn từ quê hương Quảng Trị. Quảng Trị có khi hiện diện bằng tên đất tên người, có khi lặn sâu vào hình tượng người mẹ khổ nghèo trong các bài văn, bài thơ của Chế Lan Viên .

Bài thơ dài 10 khổ, theo thể thơ 5 chữ, có tên Quê mẹ thật cảm động . Bài thơ như một tổng kết của những chặng đường kháng chiến, gắn liền với quê hương, với mẹ. Bao kỉ niệm đầy cảm động của ” ngày con đi kháng chiến” :

Đất cát lại gió Lào Vẫn mít và sắn ấy Đây quê mẹ rồi sao Bước chân con dừng lại Nhớ ngày con ra đi Chim trong vườn gáy mãi…

Người mẹ ấy, mỗi lần ra vườn hái lá, nấu bát canh, lại nhớ đến con . Ngày con ra đi, ” mẹ bảo đùm ớt theo / mua gì giờ cũng hiếm” . Nơi xa, người con nhớ về căn nhà tranh gió thốc vào mỗi khi gió Lào , gió nam ào ào thổi qua . Những rặng tre gầy guộc những vườn sắn lao xao, lưng mẹ còng theo năm tháng …trở thành những hình ảnh khó quên trong thơ Chế Lan Viên.

Ngũ tuyệt về mẹ cũng là một bài thơ viết theo kiểu như thế. Hình ảnh của bờ sông ngày mẹ tiễn con đi.Tiếng súng nổ qua hai mươi năm trời vẫn còn âm vọng.. Ngỡ như mới hôm nào , ” giã mẹ ra đi kháng chiến bốn phương trời ” vậy mà, chao ôi, mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm xa mẹ. ” 1972 Quảng Trị giải phóng , tôi về thăm quê mẹ.. Đường vào phần mộ mẹ tôi đầy mìn, nên tôi đành chịu, quay vào làng, tìm những người thân “ ( Nghĩ cạnh dòng thơ, NXB Văn học, Hà Nôi, 1981, trang 279 ) .

Trong tập thơ Hoa trên đá ( NXB Văn học , Hà Nội 1984 ), Chế Lan Viên viết bài thơ Mồ mẹ :

Nấm mộ rìa làng. Mẹ đấy chăng ? Một đời xa mẹ mới về thăm Nhớ bên đồn địch, con rời mẹ Nay đốt tuần hương chỗ mẹ nằm.

Quảng Trị bạt ngàn những rừng lau trắng, nhất là đường lên Lao Bảo. Hoa lau đường 9 , con đường gắn với chiến công và máu. Đó là , ” hoa lau đường máu “, như cách gọi của ông.

Trắng hoa lau như một màu tang: Giá được màu hoa tím/ Hẳn hồn nhẹ đau hơn.

Chế Lan Viên là nhà thơ yêu quê hương Quảng Trị của mình bằng tất cả sự rung động tế vi của một tâm hồn nghệ sĩ, trở thành một trong những nhà thơ hiện đại Việt Nam gắn bó máu thịt với vùng gió Lào cát trắng, cằn khô nhưng thắm thiết nghĩa tình này.

Đà Nẵng, tháng 12 năm 2009

HUỲNH VĂN HOA

Mục Đồng @ 04:59 10/07/2010 Số lượt xem: 6266

Chuyện Trạng Vĩnh Hoàng Quảng Trị

Dùng tre làm… bút vẽ

Sau những câu chuyện cười rôm rả ở làng Huỳnh Công, chị Hoàng Dạ Hương, Trưởng ban Văn hóa xã Vĩnh Tú nét mặt bỗng nhiên nặng trĩu khi kể đến nghệ nhân cuối cùng của làng còn vẽ được tranh trạng. Đó là ông Trần Hữu Chư, năm nay đã bước qua tuổi lục tuần, trong khi người kế tục thì không có, tranh không bán mà chỉ vẽ cho vui vậy, ngộ nhỡ không may ông Chư mất đi thì không có ai truyền dạy lại cái tinh túy của văn hóa làng Huỳnh Công thì thật đáng buồn.

Nhắc đến ông Chư, chị Hương không giấu nổi xúc động bảo: “Chị chỉ tiếc là không thể giúp cho ông Chư nhiều hơn, ngoài việc mua mấy lọ mực của học sinh hay vẽ đến biếu, cũng không mua được cho ông một giá vẽ cho đàng hoàng. Ông ấy thường vẽ tranh trạng bằng niềm say mê hiếm có. Vì không có tiền mua giá vẽ nên ông thường vẽ vào mặt sau của những tờ lịch khổ lớn. Vẽ xong, cái thì ép dưới mặt bàn, cái thì treo lên tường, cái thì treo đầu giường. Treo chật chỗ rồi ông lại dồn thành tệp đem vào buồng cất, mỗi khi có đám trẻ trong làng đến chơi ông lại lấy đưa cho mỗi đứa một tờ chơi”.

Nghe kể là vậy, nhưng khi gặp ông Chư chúng tôi mới cảm phục lòng đam mê của người họa sĩ nông dân. Không có bút “xịn” như những họa sĩ thực thụ, ông dùng dao chặt một cành tre cạnh nhà, vót nhọn một đầu sau đó dùng sống dao đập toét đầu nhọn ra làm “bút lông” để vẽ. Ông lôi trong nhà ra hộp mực được chị Hương tặng từ lâu ra vẽ. Ông dè sẻn từng giọt mực đến mức không để một giọt mực nào rơi ra ngoài, khi nhấc đầu bút tre lên khỏi lọ mực thì gõ nhẹ để đảm bảo mực không bị rơi thành giọt xuống đất, không phung phí mực vào những bức vẽ thường tình…

Ông Chư cho biết: “Tui thích vẽ từ nhỏ, nhưng mà hồi đó gia đình không có tiền cho đi học vẽ. Khi vào chiến trường, hễ lúc nào rảnh tay tui lại vẽ trạng để tự thưởng lãm. Những bức vẽ đó rồi cũng theo bom đạn mà rách nát hết, mà mình cũng chỉ ngắm thỏa thuê lúc đó được chứ không thể mang theo. Bây giờ hòa bình rồi, hễ có thời gian là tui lại hòa mình vào những bức tranh trạng, đó là niềm đam mê luôn thường trực trong người, rất khó bỏ”.

Không những vẽ trạng giỏi, ông Chư còn kể chuyện trạng cũng thuộc hàng đỉnh cao, ông có thể thuộc hàng trăm chuyện kể dân gian truyền miệng từ cổ chí kim của làng Huỳnh Công. Mỗi khi có người bảo ông kể chuyện bất kỳ thời kỳ nào thì ngay lập tức ông có thể kể xuyên ngày đêm không mệt mỏi.

Rồi những chuyện trạng, chuyện nói phét đó được ông Chư trực quan hóa bằng cách vẽ tranh dựa theo chuyện. Cứ như thế, mỗi bức tranh là một câu chuyện, mỗi bức tranh là một niềm day dứt với tranh trạng, với truyền thống trăm năm nói phét trăm năm của làng Huỳnh Công.

Dẫn chúng tôi vào “phòng tranh” bất đắc dĩ, ông Chư lôi là một tệp tranh dày bằng cả gang tay tập hợp những bức họa đặc biệt rồi “kể chuyện theo tranh”. Bức tranh đầu tiên mà ông giới thiệu có tên “bắt hổ đi cày”.

Một bức họa khác vẽ một cụ già đi săn trâu rừng, mặc dù bị trâu húc lòi ruột nhưng vẫn một tay dùng giáo đâm chết trâu dữ, ý nói rằng người dân Huỳnh Công Có lòng dũng cảm khó ai địch lại. Hay một chuyện khác nói về một người thanh niên sức khoẻ phi thường, khi thấy hai con trâu đực mộng húc nhau mãi không thôi, người thanh niên liền đến bên dùng hai tay túm đuôi hai con trâu nhấc bổng lên quẳng xuống sông. Dựa theo chuyện này ông Chư lại có tranh “chàng trai túm đuôi trâu”. Một bức tranh khác vẽ một ông lão bế con trâu đực mộng xuống sông đi tắm thể hiện sức khoẻ phi thường…

Theo ông Chư thì từ trước đến nay ông đã vẽ bao nhiêu bức tranh trạng giờ không nhớ rõ, cách đây mấy tháng, chính quyền địa phương đến nhà ông xin lại mấy bức tranh rồi đem treo ở nhà văn hóa thôn để khách thập phương có dịp ghé qua thì thưởng lãm. Từ đó đến nay, không thấy có người nào đến xin tranh nữa.

“Tui vẽ tranh xong để ngắm, ai thích thì cho họ chơi. Tui định đem tranh đi ép plastic nhưng mà chưa có tiền. Bọn trẻ bây giờ không thấy có đứa nào muốn học vẽ tranh như tôi, bởi chúng không đam mê, hơn thế nữa là không kiếm ra tiền nhờ vẽ trạng nên không theo”. Ông Trần Hữu Chư

[nguon Nguồn: xaluan.com[/nguon]

Cập nhật thông tin chi tiết về Trường Cđsp Quảng Trị Mobile trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!