Xu Hướng 2/2023 # Trong Bài Thơ “Cảm Xúc”, Xuân Diệu Viết: “Là … Mến”. Còn Trong “Là Thi Sĩ”, Sóng Hồng Viết: “Là… Công Lí”. Hãy Bình Luận Về Hai Đoạn Thơ Trên Và Nêu Suy Nghĩ Của Anh (Chị) Về Thơ Ca Trong Cuộc Sống Hiện Nay # Top 6 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Trong Bài Thơ “Cảm Xúc”, Xuân Diệu Viết: “Là … Mến”. Còn Trong “Là Thi Sĩ”, Sóng Hồng Viết: “Là… Công Lí”. Hãy Bình Luận Về Hai Đoạn Thơ Trên Và Nêu Suy Nghĩ Của Anh (Chị) Về Thơ Ca Trong Cuộc Sống Hiện Nay # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Trong Bài Thơ “Cảm Xúc”, Xuân Diệu Viết: “Là … Mến”. Còn Trong “Là Thi Sĩ”, Sóng Hồng Viết: “Là… Công Lí”. Hãy Bình Luận Về Hai Đoạn Thơ Trên Và Nêu Suy Nghĩ Của Anh (Chị) Về Thơ Ca Trong Cuộc Sống Hiện Nay được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Đề bài:

Trong bài thơ “Cảm xúc”, Xuân Diệu viết:

“Là thi sĩ nghĩa là ru với gió Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây Để linh hồn ràng buộc bởi muốn dậy

Hay chia sẻ bởi muôn tình yêu mến”.

Còn trong “Là thi sĩ”, Sóng Hồng viết:

Trong bài thơ “Cảm xúc”, Xuân Diệu viết:

“Là thi sĩ nghĩa là ru với gió Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây Để linh hồn ràng buộc bởi muốn dậy Hay chia sẻ bởi muôn tình yêu mến”.

Còn trong “Là thi sĩ”, Sóng Hồng viết:

“Là thi sĩ nghĩa là hồn cao khiết Chí kiên cường sứ mệnh cao siêu Ca tự do, tiến bộ với tình yêu Yêu nhân loại, hòa bình, công lí”.

Đó là hai quan niệm, của hai nhà văn ở hai thời điểm khác nhau. Nó thể hiện quan niệm về thơ ca nói riêng cũng như văn học nghệ thuật nói chung.

“Cảm xúc” được trích ra từ tập – với lời đề tặng Thế Lữ – là bài thơ của nhà thơ Xuân Diệu, in trong tập thơ thứ nhất của ông: Tập Thơ Thơ. Cuối bài thơ không thấy tác giả ghi thời gian sáng tác nhưng vì đó là bài thơ đầu tiên của tập thơ bao gồm những bài thơ được sáng tác từ năm 1933 đến 1938 nên có thể bài thơ được sáng tác trong năm đầu của giai đoạn này. Năm 1942, tức khá lâu sau khi bài thơ “Cảm xúc” của Xuân Diệu ra đời, nhà thơ Sóng Hồng (tức Trường Chinh) trong bài thơ “Là thi sĩ” có nhắc lại những lời thơ của Xuân Diệu đồng thời đưa ra một quan niệm mới mẻ về thơ ca. Là một vị lãnh đạo cách mạng, là người có trách nhiệm phụ trách hoạt động thơ ca cách mạng, Sóng Hồng mong muốn qua bài thơ làm khơi dậy tinh thần hiện thực và làn sóng cách mạng trong thơ cũng như trong cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp và tay sai.

Những lời thơ của Xuân Diệu là lời thơ của một người yêu đời, yêu cuộc sống, đam mê, say sưa cuộc sống đến cuồng nhiệt, nó đòi hỏi sự hiến dấng một cách tuyệt đối tâm hồn của người thi sĩ cho thơ ca.

“Là thi sĩ nghĩa là ru với gió Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây Để linh hồn ràng buộc bởi muốn dây

Hay chia sẻ bởi trăm tình yêu mến”.

Ý tưởng về thơ ca của tác giả được phát biểu một cách chân thành và đầy hình ảnh. Con người đắm chìm vào trong thiên nhiên: với gió, với mây; chìm đắm trong những mối tình cảm say sưa, mê đắm. Xuân Diệu đã dùng một loạt những từ gợi hình tượng để diễn tả về mới quan hệ gắn bó ràng buộc đặc biệt đó. Là “ru”, là “vơ vẩn”, là “ràng buộc”, là “chia sẻ”… có nghĩa là mọi cảm xúc, tâm trạng tất cả đều hướng tới sự hòa nhập một cách hoàn toàn, một cách tuyệt đốì vào thiên nhiên, vào thế giới cảm xúc. Và chỉ khi đó, người ta mới có thể trở thành một thi sĩ thực thụ. Nói lên quan niệm của mình, nhà thơ đồng thời thể hiện quan niệm của mình về phạm vi đối tượng của thơ ca: đó chính là thiên nhiên, là đời sống tình cảm, cuộc sống của con người. Đó cũng chính là nội dung của thơ ca. Để nắm bắt được tất cả những điều đó, nhà thơ phải là người nhạy bén, nhạy cảm, tâm hồn phải như dây đàn, sẵn sàng rung lên những thanh âm trong trẻo khi bắt gặp bất cứ sự khơi nguồn cảm hứng nào từ cuộc sống. Với bốn câu thơ này, Xuân Diệu đã nói rất đúng đặc trưng của thơ ca: thơ ca là tiếng nói tình cảm mãnh liệt của con người, là sự phản ánh những nét đặc trưng, cô đọng nhất của cuộc sống qua cảm xúc chủ quan của nhà thơ. Với Xuân Diệu, nếu như không có những giây phút thăng hoa để “ru với gió”, “vơ vẩn cùng mây”,… thì sẽ không thể có thơ được. Người ta hoàn toàn có thể bắt gặp điều này trong thơ ca của các nhà thơ lãng mạn mà Xuân Diệu là một ví dụ điển hình. Trong “Thơ duyên”, Xuân Diệu đã tạo nên một bức tranh mà con người và thiên nhiên hòa hợp trong một mô’i duyên chan hòa, giao cảm tuyệt đẹp, một cặp vần, trong một bài thơ duyên:

“Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên Cây me ríu rít cặp chim chuyền Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá

Thu đến nơi nơi động tiếng huyền”

Để có được bức tranh ấy, dường như Xuân Diệu đã tách mình, cùng như tách tất cả những gì thuộc bài thơ đó ra một thế giới riêng, một cách tuyệt đối. Đôi bạn trẻ tuổi trong bài thơ, ban đầu là những người không quen biết, vậy mà khi hòa mình và vô hình chung trở thành tách mình ra khỏi cuộc sống vội vã bên ngoài đã trở thành một “cặp vần”. Nếu không phải đó là khoảnh khắc họ (hay chính nhà thơ) đang “ru với gió”, “vơ vẩn cùng mây”, ràng buộc hay chia sẻ bởi những mốì tình cảm nhẹ nhàng, trong sáng thì thử hỏi làm sao có thể có được nhưng vần thơ, có được bài thơ mang đến cho người ta nhiều mối duyên đến vậy?

“Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm Anh nhớ em, em hỡi! Không gì buồn bằng những buổi chiều êm Mà ánh sáng mờ dần cùng bóng tối Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối Đêm bâng khuâng đôi miếng lẩn trong cành Mây theo chim về dãy núi xa xanh Từng đoàn lớp nhịp nhàng và lặng lẽ Anh nhớ em

Không gian xám tưởng sắp tan thành lệ”.

Một chút hình ảnh của thời gian, tưởng chừng như chỉ thuộc về thiên nhiên nhưng lại có tác động rất lổn đến cảm xúc của con người. Nó là cái cớ để nhân vật trữ tình bày tỏ tình cảm của mình. Nhà thơ như chìm đắm hoàn toàn vào tâm trạng của riêng mình, vào trong bức tranh thiên nhiên buồn mà đẹp.

“Không có cánh như vẫn thèm bay bổng Đi trong sân mà nhớ chuyện trên trời Trút ngàn năm trong một phút chơi vơi

Những vần thơ trong bài “Cảm xúc” đã không chỉ nêu lên quan điểm nghệ thuật của Xuân Diệu mà còn là của các nhà thơ lãng mạn nói chung. Nó đề cao cái tôi cá nhân của người nghệ sĩ, cái tôi tự do hoàn toàn trong việc trải nghiệm và thể hiện cảm xúc. Đó là một quan niệm hoàn toàn mới mẻ so với nền thơ ca vốn chú trọng đến cái phi nga nhiều hơn là bản ngã trong văn học trung đại. Và thực tế thì, quan điểm nghệ thuật đó đã mang đến sự nở rộ của nền văn học Việt Nam với phong trào thơ Mới, đóng dấu bằng sự xuất hiện của hàng loạt các phong cách nghệ thuật mới mẻ, độc đáo như những gì Hoài Thanh đã từng nhận xét trong “Thi nhân Việt Nam”: “Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này. Chưa có bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mỏ như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên,… và thiết tha rạo rực băn khoăn như Xuân Diệu”. Giá trị của những tác phẩm văn học thời kỳ ấy, ngày hôm nay vẫn là những giá trị không thể phủ nhận. Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp ấy, cũng cần phải thây rằng trong quan niệm này còn thể hiện sự thoát ly cuộc sống. Cũng trong “Cảm xúc”, ở một đoạn khác, Xuân Diệu viết:

Ngắm phong cảnh giữa hai bề cỏ lá”

Người sống ở cuộc sống hiện tại nhưng lại luôn ngưỡng vọng tới những điều tận xa xôi. Thế Lữ trong “Cây đàn muôn điệu” cũng có nhưng vần thơ thoát ly như thế:

“Anh thường bảo tâm tình tôi thay đổi

Không chuyên tâm, không chủ nghĩa: nhưng cần chi

Tôi chỉ là một khách tình si

Ham vẻ đẹp muôn hình muôn thể”.

“Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh Một vì sao trơ trọi cuối trời xa Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh

Còn Chế Lan Viên thì đã có những lúc cảm thấy cô đơn và thèm muôn cảm giác cô độc đến cùng cực:

Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo”

“Nghệ thuật vị nghệ thuật”. Thoát li cuộc sống, tác giả nhấn mạnh đến sự ”hiến dâng” tâm hồn, cảm xúc của mình một cách tuyệt đối cho nghệ thuật thì mới có thể làm nên những bài thơ đích thực và người làm thơ đó mới trở thành thi sĩ nhưng như thế cũng đồng nghĩa với việc: người ta có thể bỏ qua hoặc lãng quên hiện thực. Trong hoàn cảnh đất nước đang nằm trong tay giặc, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đang đòi hỏi huy động sức mạnh của toàn dân tộc thì đây lại là một hạn chế. Nó đã không phát huy được sức mạnh của văn chương, như một thứ vũ khí đắc lực mà sau này như chính Hồ Chí Minh đã từng khẳng định.

“Là thi sĩ nghĩa là hồn cao khiết Chí kiên cường sứ mệnh cao siêu Ca tự do, tiến bộ với tình yêu

Khá lâu sau bài thơ của Xuân Diệu, cùng với những sự phát triển nhất định trong hoàn cảnh và quan niệm, Sóng Hồng, nhà thơ cách mạng đã đưa ra những quan niệm của mình về thơ ca và người nghệ sỹ:

Yêu nhân loại, hòa bình, công lí”.

Tìm ý thơ trên ngọn sóng Bạch – đằng,

“Là thi sĩ nghĩa là theo gió mới”

Để tâm hồn dào dạt với Chi – lăng,

(…) Là thi sĩ nghĩa là cao khúc họa Cuộc đấu tranh vĩ đại của hoàn cầu

Làm bất tử trận Đống – đa oanh liệt,

Chống hung tàn xâm lược khắp năm châu,

Trên trái đất dựng cao cờ dân chủ.

Dùng bút làm đòn chuyển xoay chế độ,

Mỗi vần thơ: bom đạn phá cường quyền,

Và lúc cần, quẳng bút lấy long tuyền”.

Quan điểm này của Sóng Hồng có ý nghĩa tác động, cổ vũ rất lớn đến cuộc đấu tranh của dân tộc và thái độ của người nghệ sĩ nhưng vẫn có điểm chưa toàn diện và đầy đủ. Nhà văn đã quá chú trọng đến tác đụng cổ vũ, tuyên truyền, lôi kéo, tác động đến nhận thức của thơ văn mà quên mất đặc trưng vốn có của thơ. Thơ là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc, là sự thăng hoa trong tâm hồn của con người, bởi vậy, bên cạnh những nội dung phản ánh hiện thực, nó còn phải là tiếng nói bộc lộc tình cảm đó. Và chỉ có như vật thì thơ mới thực sự trở về đúng với bản chất của nó, mới thực sự là những bài thơ đích thực. Tất nhiên cần phải hiểu nhà thơ Sóng Hồng viết về những điều đó với mục đích nhấn mạnh giá trị cổ vũ, tác động tinh thần của thơ ca để phục vụ chính trị, phục vụ cuộc kháng chiến và.đó là hai quan niệm của hai thời kỳ khác nhau, với tư tưởng khác nhau nhưng sự bổ sung giữa chúng sẽ làm nên một quan niệm hoàn chỉnh thể hiện bản chất của thơ ca: Thơ là tiếng nói tình cảm của người nghệ sĩ, là sự thăng hoa của cảm xúc nhưng thơ ca cũng cần phải đưa vào trong đó hiện thực cuộc sống với tất cả những bộn bề của nó. Phản ánh tất cả các khía cạnh của cuộc sống thông qua cảm xúc, tình cảm, đó mới chính là đặc trưng của thơ ca, là cái làm nên giá trị đích thực của thơ ca, nghệ thuật. Yêu cầu đó không chỉ đúng với thời điểm mà hai nhà nghệ sĩ của chúng ta đưa ra quan niệm của mình mà còn có ý nghĩa trong mọi thời đại.

“Là thi sĩ nghĩa là ru với gió Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây Để linh hồn ràng buộc với muốn dậy

Và như vậy, có lẽ nên kết hợp hai quan niệm của Xuân Diệu và Sóng Hồng để có một quan niệm hoàn chỉnh về thơ ca:

… nhưng “Thi sĩ cũng phải hồn cao khiết”…

Hay chia sẻ bởi muôn tình yêu mến”

Top 10 Bài Thơ Hay Nhất Trong Tập Thơ Nhật Ký Trong Tù

Người bạn tù thổi sáo

Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu,

Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu,

Muôn dặm quan hà, khôn xiết nỗi

Lên lầu, ai đó ngóng trông nhau

Đại ý :

Bài thơ miêu tả cảnh Bác Hồ đang bị giam cầm, nghe được tiếng sáo của mội người bạn tù, khiến cho nỗi nhớ quê hương càng trở nên da diết. Những ngày thơ ấu, những ngày tháng vô tư nơi quê nhà hiện lên.

Trung thu

Trung thu vành vạch mảnh gương thu

Sáng khắp nhân gian bạc một màu

Sum họp nhà ai ăn Tết đó

Chẳng quên trong ngục kẻ ăn sầu

Trung thu ta cũng Tết trong tù

Trăng gió đêm thu gợn vẻ sầu

Chẳng được tự do mà thưởng nguyệt

Lòng theo vời vợi mảnh trăng thu

Đại ý:

Miêu tả cảnh Người đón trung thu ở trong tù, một nơi đau khổ, chật hẹp không biết đến khi nào mời được tự do.

Bên ngoài, trăng vẫn tròn vành vạnh, nhà nhà vẫn đang đón tết trung thu. Một nỗi buồn, một “kẻ ăn sầu” như chợt lắng lại, bùi ngùi trước cảnh đoàn viên của mọi nhà. Nhưng Người vẫn luôn giữ cho mình một tinh thần lạc quan, vẫn đón Tết tù. Một cái tết trung thu đón bằng sự lạc quan ngay trong tâm hồn nhưng vẫn phảng phất nỗi buồn, phảng phất sự mong ngóng ngày tự do.

Cái cùm

Nghĩ việc trên đời kỳ lạ thật

Cùm chân sau trước cũng tranh nhau

Được cùm chân mới yên bề ngủ

Không được cùm chân biết ngủ đâu

Đại ý:

Bài thơ toát lên tinh thần lạc quan, cái nhìn dí dỏm của Người khi bị cùm chân nhưng vẫn có thể ngủ yên. Hoàn cảnh tù đày, đau đơn không khiến Người bi quan mà vẫn nhẹ nhàng, thanh thản. Với cách nói dí dỏm của người càng làm cho chúng ta khâm phục tinh thần của người.

Chiều tối

Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây nhè nhẹ giữa tầng không

Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết, lò than đã rực hồng

Đại ý:

Bài thơ miêu tả một khung cảnh thiên nhiên có xen lẫn hoạt động của con người vào làm toát lên sự yên bình, nhẹ nhàng đến lạ. Cánh chim của sự mệt mỏi lúc chiều tà, cánh chim bị đè nặng bởi một ngày làm việc mệt mỏi lại đối lập với sự nhẹ nhàng trôi, lướt băng qua mọi nẻo của tầng mây, Thật mộc mạc và giản dị làm sao! Hoạt động xay ngô tối của cô em xóm núi như là một điểm nhấn cho bức tranh để nó không vì quá yên lặng mà buồn, không vì quá thanh bình mà lặng lẽ. Thêm vào đó, một đốm lửa thôi nhưng nó lại như thắp sáng cả bức tranh với gam màu lạnh và trầm. Bài thơ vẫn toát lên cho thấy một nỗi buồn hiu quạnh, man mác của người con xa xứ, của một tâm hồn mong mỏi tự do và của một vĩ nhân yêu thiên nhiên, thiết tha được hòa mình vào đó.

Rụng mất một chiếc răng

Cứng rắn như anh khác thói thường

Phải đâu mềm tựa lưỡi không xương

Ngọt bùi cay đắng từng chia sẻ

Nay phải xa nhau, kẻ một đường

Đại ý:

Tự khuyên mình

Ví không có cảnh đông tàn

Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân

Nghĩ mình trong bước gian tuân

Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng

Đại ý:

Bài thơ cho thấy cách suy nghĩ tích cực, lạc quan trong mọi tình huống, coi đó như là cơ hội để rèn luyện bản thân nên càng có ý chí vượt qua. Nó cho thấy mọi thứ huy hoàng thành công đều xuất phát từ khổ đau. Đây là bài học cho tất cả chúng ta.

Buồn bực

Tráng sĩ đua nhau ra mặt trận

Hoàn cầu lửa bốc rực trời xanh

Trong ngục người nhàn nhàn quá đỗi

Chí cao mà chẳng đáng đồng chinh

Đại ý:

Bác Hồ liên tưởng đến các vị tráng sỹ ngày xưa hùng hồn ra trận để bảo vệ quê hương đất nước, từ đó cảm thấy khó chịu, bực bội trong người do mình đang phải chịu cảnh giam cầm không thể làm gì được.

Hoàng hôn

Gió sắc tựa gươm mài đá núi

Rét như dùi nhọn chích cành cây

Chùa xa chuông giục người nhanh bước

Trẻ dắt trâu về tiếng sáo bay

Đại ý:

Hồ Chí Minh miêu tả về cảnh hoàng hôn nơi rừng núi heo hút với gió sắc tựa gươm, với cái rét được ví như dùi nhọn chích cành cây. Sự khắc nghiệt ở nơi rừng núi làm nổi bật hơn những ngày tháng gian khổ, đầy khó khăn nguy hiểm mà Người đã phải chịu khi bị giam cầm ở đây. Nhưng hơn hết, Người vẫn chú ý đến tiếng chuông buổi hoàng hôn, vẫn thơ thẩn với tiếng sáo bay và trẻ dắt trâu về. Những cảnh tượng chỉ có trong trí tưởng tượng mà Người đã tự hình dung, nó yên bình, nó gắn với năm tháng tuổi thơ, gắn với tự do.

Nghe tiếng chày giã gạo

Gạo đem vào giã bao đau đớn

Gạo giã xong rồi trắng tựa bông

Sống trên đời người cũng vậy

Gian nan rèn luyện mới thành công

Đại ý:

Bài thơ nói về ý chí, sự kiên nhẫn của con người trước mọi hoàn cảnh khó khăn, thử thách của cuộc sống. Lúc gặp những khó khăn, ta sẽ trải qua những ngày tưởng chừng như không thể vươn dậy được, ta sẽ ngã gục và cảm thấy thế giới sụp đổ ngay chính trước mắt. Mọi con đường chẳng thể có lối ra, mọi cánh cửa tưởng chừng như khép lại. Nhưng ta đứng dậy, kiên nhẫn bước tiếp rồi mọi sự khó khăn sẽ được đền đáp xứng đáng, mọi cánh cửa sẽ lại mở ra và ta lại có lối đi riêng cho mình.

Không ngủ được

Một canh…hai canh…lại ba canh

Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng lành

Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt

Sao vàng năm cánh mộng hồn bay.

Đại ý:

Bài thơ miêu tả lại sự trằn trọc không ngủ được của Người do canh cánh nghĩ về đất nước. Thời gian cứ trôi dần mà vẫn không thể chợp mắt cho yên giấc. Khi vừa chợp mắt được, trong giấc mơ Người nhìn thấy sao vàng 5 cánh – một biểu tượng của tự do, của con đường chủ nghĩa xã hội. Nó là biểu tượng cho con đường mà dân tộc ta đang hướng đi theo, đang đấu tranh để giải phóng cho chính mình, cho quê hương cho đất nước. Kể cả lúc thức hay lúc ngủ tâm trí của người đều hướng về đất nước.

Ngoài top 10 bài thơ hay nhất trong tập thơ Nhật kí trong tù của Bác Hồ, hơn 100 bài thơ khác cũng để lại những giá trị riêng cho nền văn học nước nhà.

3.7

/

5

(

6

bình chọn

)

Đề Bài Trong Bài Thơ Một Khúc Ca Xu…

Tùy vào suy nghĩ của từng người mà “lẽ sống đẹp” được cảm nhận theo nhiều cách khác nhau, nhưng dù thế nào thì nó cũng mang một ý nghĩa tốt đẹp.

Sống đẹp là sống có mục đích, sống có tình cảm, có lí tưởng, sống vì mọi người,…Sống đẹp là mang lại niềm vui cho người khác mà không phải vì một lợi ích cá nhân nào, cũng không phải để mọi người chú ý khen ngợi. Sống như thế chỉ với một mục đích sống tốt đẹp, giúp ích cho đời mang lại niềm vui cho mọi người. Trong kho tàng ca dao – tục ngữ, cha ông ta từng thiết tha sống đẹp. Đến thời đại chúng ta, Tố Hữu cũng tha thiết kêu gọi bằng câu thơ “Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình?” Hay như Nguyễn Thanh Hải đã từng muốn” làm con chim hót/ làm cành hoa/ nhập vào hòa ca” để rồi trở thành ” một nốt trầm” cho bản nhạc cuộc đời thêm”xao xuyến”.      Giống như Nguyễn Hữu Ân – chàng trai vào đời bằng nghĩa cử đẹp như trang cổ tích, đã dùng gần hết “chiếc bánh thời gian” của mình để thăm nom, chăm sóc cho những bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối; hay một em học sinh vùng núi hằng ngày cõng bạn bị cụt hai chân đến trường ròng rã bao năm liền… Không chỉ có vậy, ta còn thấy nó qua những câu chuyện phương Đông trong “nhị thập tứ hiếu”,… Nhưng ngày nay không ít người chỉ biết sống cho riêng mình, không cần quan tâm đến mọi người, thậm chí họ còn sẵn sàng chà đạp lên cuộc sống của người khác để kiếm lợi ích cho bản thân mình. Đó là một trong những quan niệm sai lầm về lối sống, đó là một lối sống ích kỉ và nhỏ nhen, nếu như không sớm khắc phục thì hậu quả sẽ không tốt cho thế hệ con cháu sau này, nó biến mọi người trở nên vô cảm và khi đó cuộc sống sẽ rất tẻ nhạt, buồn chán… Để cho xã hội tốt đẹp hơn, trước hết ta phải làm đẹp con người đã, làm đẹp ở đây không phải là đi thẩm mĩ để đẹp dung nhan mà là làm đẹp nhân cách con người. Ta phải rèn luyện tính tự lập hòa đồng biết yêu thương, giúp đỡ những người xung quanh mình dù đó là một việc làm rất nhỏ. Suy nghĩ trong từng lời nói, cử chỉ sẽ giúp ta rèn luyện phẩm chất tốt đẹp hơn.      Sống đẹp là một chuẩn mực cao nhất trong nhân cách con người, câu thơ của Tố Hữu và Nguyễn Thanh Hải có tác dụng gợi mở, nhắc nhở chung cho mọi người đặc biệt là thế hệ trẻ hiện nay phải biết giữ gìn truyền thống tốt đẹp cùa dân tộc như lá lành đùm lá rách”, “Nhường cơm sẻ áo”, cùng nâng đỡ tâm hồn, nhân cách của nhau để cuộc sống ý nghĩa hơn, góp phần xây dựng một đất nước văn minh giàu đẹp.

Cô Gái Trong Bài Thơ “Núi Đôi”

Ông Trịnh Khanh và vợ, bà Phan Thị Khuyến trong ngày mừng thọ 70 tuổi.

Năm ấy, Ban liên lạc cựu chiến binh Trung đoàn 238 (Quân khu Việt Bắc) tổ chức buổi gặp mặt gia đình 81 chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trong thời kỳ chống Pháp tại Núi Đôi, xã Phù Linh (Sóc Sơn, Hà Nội)). Một cụ già gần 90 tuổi, râu tóc bạc phơ, nắm tay một ông lão hơn 70 tuổi, giơ lên cao, rồi dõng dạc tuyên bố: Đây là đồng chí Trịnh Khanh, chồng của nữ liệt sĩ Trần Thị Bắc và cũng là chàng trai nguyên mẫu trong bài thơ “Núi Đôi” nổi tiếng của Vũ Cao…

Năm ấy, Ban liên lạc cựu chiến binh Trung đoàn 238 (Quân khu Việt Bắc) tổ chức buổi gặp mặt gia đình 81 chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trong thời kỳ chống Pháp tại Núi Đôi, xã Phù Linh (Sóc Sơn, Hà Nội)). Một cụ già gần 90 tuổi, râu tóc bạc phơ, nắm tay một ông lão hơn 70 tuổi, giơ lên cao, rồi dõng dạc tuyên bố: Đây là đồng chí Trịnh Khanh, chồng của nữ liệt sĩ Trần Thị Bắc và cũng là chàng trai nguyên mẫu trong bài thơ “Núi Đôi” nổi tiếng của Vũ Cao…

…Năm 1947, vừa tròn 17 tuổi, Trịnh Khanh xung phong vào bộ đội, trở thành chiến sĩ đại đội Trần Quốc Tuấn, đóng quân tại xã Bắc Sơn (Sóc Sơn). Một hôm, chiến sĩ Trần Nhu (biệt danh là Nhu bẻm mép), quê ở Hà Tây, nét mặt hớn hở đến gặp Khanh, bảo:

– Cậu có một cô gái đồng hương tên là Bắc rất xinh, hiện đang theo học tại lớp y tá. Nếu muốn “cưa” thì bọn mình sẽ giúp.

Nói vui thế nhưng phải đến gần hai năm sau, Khanh mới gặp lại Bắc khi cô tiếp tục theo học lớp y tá của tỉnh Vĩnh Phúc. Họ hẹn ước khi nào thắng trận ở Bắc Hồng (Đông Anh) sẽ về tổ chức đám cưới. Cuối năm 1953, trước lúc bước vào trận đánh tiêu diệt quân địch càn quét ở xã Bắc Hồng (Đông Anh), chính trị viên Nguyễn Viết Bát ghé sát tai Khanh nói: “Đánh xong trận này, tớ sẽ giải quyết cho cậu nghỉ ba ngày ra vùng tự do để cưới vợ”. Vốn đã từng làm công tác văn thư ở đại đội chuyên “nói có sách, mách có chứng”, Khanh liền rút giấy bút ở trong túi ra và tự tay thảo vội bức “công văn” ngắn gọn: “… Đại đội Trần Quốc Tuấn đồng ý giải quyết cho đồng chí Trịnh Khanh về quê tổ chức lễ cưới với cô Trần Thị Bắc, đề nghị gia đình và chính quyền địa phương tạo điều kiện giúp đỡ đồng chí Khanh hoàn thành nhiệm vụ. Ký tên…”. Thảo xong bức thư, Khanh đưa ngay cho chính trị viên duyệt và được anh cầm bút ký liền. Không ngờ, sau trận đánh ấy, anh Bát đã hy sinh.

Ít lâu sau, Khanh xin phép thăm gia đình. Bắc xem lá thư có chữ ký của chính trị viên Nguyễn Viết Bát, cô im lặng không nói, mà hai hàng nước mắt cứ trào ra… Họ quyết định xin phép gia đình làm đám cưới. Nhưng khi bàn công việc cụ thể thì cả hai đứa đều khóc, vì hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, chẳng có điều kiện để mua kẹo bánh, thuốc, nước mời bạn bè. Bắc đành trở lại vùng địch hậu gặp mẹ và thật bất ngờ, ngay hôm sau mẹ Bắc đã quẩy đôi quang gánh nặng, một bên là cậu em út, một bên là bánh kẹo lên vùng tự do Hồng Kỳ để làm lễ cưới cho con. Đêm tân hôn, vợ chồng Khanh được mọi người chuẩn bị cho một ổ rơm lót đệm lá chuối khô trong một túp lều nhỏ trên sườn đồi. Hai ngày sau, hai người lại phải chia tay nhau. Ngờ đâu đó là cuộc chia ly vĩnh viễn…

Ba tháng sau ngày cưới, Khanh nhận được ba lá thư của vợ nhắn đã gửi cho anh chiếc đồng hồ và chiếc áo len. Niềm vui vừa thoảng qua thì anh lại nhận thư của gia đình báo tin vợ đã anh dũng hy sinh khi đang làm nhiệm vụ đưa đoàn cán bộ từ vùng địch hậu Lương Châu ra “vành đai trắng” Phù Linh. Cô đi trước để thăm dò, vừa đến chân Núi Đôi, không may rơi vào ổ phục kích của địch. Chúng bắt và bịt miệng cô lại với mưu đồ sẽ phục để “cất vó” toàn bộ số cán bộ đi sau. “Quyết không để cán bộ của ta sa vào tay giặc” – nghĩ vậy, Bắc đã chống cự quyết liệt, bất thình lình, cô lao vào tên quan Pháp, dùng hết sức bình sinh đạp vào chỗ hiểm của hắn. Bị đòn đau bất ngờ, tên quan Pháp kêu rống lên như con bò bị chọc tiết. Tên lính đứng cạnh đó vội dùng súng xả trọn một băng vào ngực cô. Thấy động, đoàn cán bộ của ta đã rút lui an toàn…

Một chiều đông năm 1955, một anh bộ đội về bên gò cầu Cồn. Người em họ của liệt sĩ Trần Thị Bắc nhận ra anh rể của mình đã òa lên khóc: “Chị Bắc nát ngực, máu đọng khô, nhiều viên đạn còn nằm trong đó”.

Sau này, mặc dù chỉ được nghe kể về tình yêu đôi lứa của anh bộ đội với nữ liệt sĩ Núi Đôi, nhà thơ Vũ Cao đã viết nên bài thơ “Núi Đôi” nổi tiếng.

Còn một chi tiết cảm động nữa, đó là vào cuối năm 1957, cả ba người mẹ là mẹ đẻ của nữ liệt sĩ Trần Thị Bắc, mẹ đẻ và mẹ nuôi của Trịnh Khanh đã đến thôn Hậu Dưỡng, xã Kim Chung (Đông Anh) để hỏi vợ cho ông là bà Phan Thị Khuyến. Sau này, dù ở xa nhưng hằng năm, cứ đến ngày giỗ, tết, bà Khuyến lại cùng các con về thắp hương cho người nữ liệt sĩ Núi Đôi…

Bài và ảnh: NGÔ VĂN HỌC

T Quang Dũng Viết Trong Bài Thơ Tây…

Đường lên Tây Bắc vút xa mờ. Đường lên Tây Bắc mây trắng bồng bềnh như mơ… Gặp lại dấu chân cha ông, gặp lại chín năm gian khổ”. Những giai điệu trong bài hát Hành quân lên Tây Bắc của nhạc sĩ Nguyễn An Thuyên đã hơn một lần đưa ta ngược về thời gian, vượt qua khoảng cách không gian về với núi rừng Tây Bắc của một thời đạn lửa. Giữa rất nhiều tác phẩm văn chương nói chung và văn học thời kì kháng chiến chống Pháp nói riêng in đậm dấu ấn vùng cao Tây Bắc, Tây Tiến của Quang Dũng là bài thơ có vị trí đặc biệt. Đọc Tây Tiến người ta không chỉ thấy hiện lên sừng sững bức tượng đài người lính mà còn ấn tượng sâu sắc về bức tranh thiên nhiên miền Tây Bắc hùng vĩ, hoang sơ nhưng không kém phần thơ mộng, lãng mạn.

Tây Tiến (1948) là nét son đẹp nhất trong đời thơ Quang Dũng. Bài thơ hiện ra như một sự hoà điệu đẹp đẽ giữa thơ – nhạc – hoạ.

Cả Tây Tiến là một nỗi nhớ khôn nguôi của nhà thơ về một vùng đất một thời trận mạc. Vậy nên, khi nhắc đến địa danh này, ta nhận thấy những kí ức của quá khứ hiện về thật tươi nguyên, nó chen lấn thực tại, tạo nên độ nhoè giữa hai không gian: không gian hiện tại và không gian hồi tưởng. Bởi thế, dù lạ lẫm, qua hồn thơ và nỗi nhớ Quang Dũng, các địa danh ấy xâm chiếm cõi nhở người đọc, giúp họ yên tâm cùng “Quang Dũng -trôi’ về một vùng đất đẹp đẽ, dữ dội và mộng mơ, đằm thắm.

Bao trùm nền cảnh Tây Bắc là vẻ hùng vĩ dữ dội, hiểm trở. Hình ảnh đoàn quân Tây Tiến như mờ ảo, ẩn hiện trong sương khói. Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi. Những bản mường xa lạ được nhắc đến với bao kỉ niệm yêu thương.

Quang Dũng là một trong những nhà thơ đã dùng thơ để gợi nhớ trong hồn người những địa danh, những tên làng, tên bản, tên núi, tên sông của

quê hương đất nước vối bao ý vị đậm đà. Ông không trao nỗi nhớ của mình những địa chỉ “vu vơ”, ông điểm danh từng tên cụ thể: sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch… và sự mặt của các địa danh này lập tức gợi ra ý niệm về sự cách trở, hoang sơ. Những địa danh đã gắn bó vơi đầy với tác giả và đi sâu vào tâm thức nhà thơ. Đoàn quân Tây Tiến hành quân trong biển sương mù dày đặc, trong màn đêm hơi núi, gió rét căm căm của chốn “thâm sơn cùng cốc”. Sương lấp đường đi, lấp dáng người trong mờ mịt. Những nẻo đường hành quân chiến đấu như kéo dài vô tận:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Ba câu thơ là một minh chứng tiêu biểu cho quan niệm “thi trung hữu hoạ”, bởi những hình ảnh trong bức tranh thơ này được vẽ lên bằng những đường nét có sức khái quát lớn và mang tính đặc trưng cao. Nó đã gây được ấn tượng mạnh mẽ và gợi ra trong tâm trí người đọc vẻ đẹp trùng điệp, hoang vu, hiểm trở của núi rừng Tây Bắc. Cao hơn những màn sương che lấp bóng dáng đoàn quân đang vượt dốc, vây bọc lấy những bản làng trong hơi lạnh là những đỉnh núi gập ghềnh, hiểm trở cao ngàn thước có mây phủ kín bốn mùa. Lên tới đỉnh, đầu người lính và mũi súng tưởng như chạm vào trời cao: “súng ngửi trời’

Dưới chân họ lại là những vực sâu thăm thẳm ngàn thước. Câu thơ như được ngắt làm đôi, vẽ ra hai chặng của con đường hành quân, diễn tả rất đạt sự chênh vênh, cheo leo của đèo và dốc giữa lưng chừng núi. Với câu thơ có nhịp điệu bẻ đôi đột ngột trong sự đối lập tương phản, người đọc có thể hình dung dốc lên cao rồi đổ xuống gần như thẳng đứng. Nhìn lên cao thì hun hút không cùng, nhìn xuống thì sâu thăm thẳm đến chóng mặt. Những hình ảnh thơ giàu chất nhạc, chất hoạ đã gợi tả một Tây Bắc

hùng vĩ dữ dội hiểm trở để gợi nhớ một thời Tây Tiến đầy gian khổ, gian khổ đến nỗi:

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời!”.

Gian khổ tưởng như đã vượt lên trên giới hạn chịu đựng của con người. Những tên địa danh không gần gũi dân dã như thôn Đoài thôn Đông trong thơ Nguyễn Bính mà vô cùng xa lạ với người đọc nhưng chính những địa danh ấy đã liên tiếp vẽ lên con đường Tây Tiến một thời như khắc như tạc vào tâm trí người đọc núi non gập ghềnh hiểm trở miền Tây Bắc.

Miền Tây còn là nơi ngự trị của vẻ âm u, hoang dã, là nơi đầy những thử thách ghê gớm đặt ra cho con người. Nó không chỉ được mở ra theo chiều không gian với mà còn được khám phá ở chiều thời gian với những đe dọa khủng khiếp luôn luôn rình rập;

Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

“Chiều chiều” và “đêm đêm” – những khoảng thời gian gợi nỗi buồn trong lòng người thì chỉ nghe thấy tiếng cọp trêu người và tiếng thác sông Mã gầm thét. Điều đó càng gợi sự hoang sơ âm u của núi rừng Tây Bắc. Nghệ thuật phối thanh trắc: “Mường Hịch – cọp trêu người” hai dấu nặng liền kề gợi cái nặng nề như bước chân thú dữ đang rình rập đe dọa con người. Rừng già miền Tây Bắc hoang sơ âm u bí ẩn luôn là thử thách với người chiến sĩ trên con đường hành quân.

Vượt qua vẻ hùng vĩ dữ dội, vượt lên trên sự hoang sơ khắc nghiệt của rừng núi Tây Bắc, người đại đội trưởng binh đoàn Tây Tiến khi xưa nhớ về chốn cũ còn ghi tạc trong mình về một miền Tây thơ mộng và lãng mạn:

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Hình ảnh nhân hoá “hoa về” gợi nhiều liên tưởng: có thể là hoa nở trong đêm sương, có thể “hoa” là ngọn đuốc trong đêm hành quân, cũng cỏ thê hiêu là bóng dáng người đẹp… “Đêm hơi” tái hiện không gian núi rừng huyền ảo thơ mộng trong màn sương mỏng manh bồng bềnh. Câu thơ phối nhiều thanh bằng gợi cảm giác như sương như hương, như hoa, như hôn người. Hình ảnh hoa về là hình ảnh đa nghĩa, là điểm sáng làm rõ vẻ đẹp tâm hồn người lính, xua đi những mệt mỏi trên con đường hành quân.

Giữa mạch thơ khắc hoạ tập trung cái dữ dội tột đỉnh của thiên nhiên miền Tây, Quang Dũng đã thả một câu thơ toàn thanh bằng với nhạc điệu lâng lâng, mênh mang thể hiện ánh mắt nhìn vô cùng bay bổng của người lính Tây Tiến:

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

“Mưa xa khơi” là hình ảnh tả thực những cơn mưa xối xả nơi núi rừng Tây Bắc bằng cách lấy mưa biển tả mưa rừng. Câu thơ còn như tiếng thở phào nhẹ nhõm của người lính sau khi vượt qua bao đèo cao suối sâu, tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ra xa, qua một không gian mù mịt sương rừng mưa núi thấy thấp thoáng những ngôi nhà như những cánh buồm bồng bềnh trên biển khơi, trong một “đêm hơi” mơ hồ huyền ảo… gợi một niềm đầm ấm thân mật trong lòng người. Câu thơ như một gam màu lạnh giữa những gam màu nóng làm dịu lại cả đoạn thơ.

Những địa danh “Mường Lát”, “Pha Luông” đọc lên nghe êm dịu phù hợp với nét thơ mộng của cảnh không gian được mỏ rộng ra bát ngát vừa cao rộng vừa xa vừa mờ như một bức tranh thuỷ mặc. Thiên nhiên Tây Bắc là vậy, hùng vĩ hiểm trở nhưng cũng rất đỗi trữ tình lãng mạn, để lại dấu ấn khó phai trong ký ức người lính Tây Tiến.

Bốn câu sau của đoạn thơ thứ hai về bức tranh sông nước miền Tây là nét vẽ hoàn chỉnh về thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ và thơ mộng:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Cảnh vật Tây Bắc trong bốn câu thơ này cũng vẫn được dệt nên bằng cảm xúc hồi tưởng, là sự tiếp nối của cái nỗi “nhớ chơi vơi” ở phần đầu bài thơ, là sự tiếp theo của nỗi nhớ “hội đuốc hoa” ở bốn câu trước, cảnh Tây Bắc ở đây là một buổi chiều Châu Mộc được giăng mắc bởi một màn sương mờ, có dòng sông đôi bờ lặng lẽ, hoang dã như đôi bờ tiền sử, như một miền cổ tích. Một lần nữa, hình ảnh sương khói lại xuất hiện trở thành không gian đặc trưng về Tây Tiến trong nỗi nhớ, trở thành thời gian của hoài niệm đẹp đẽ, mờ ảo của sương khói miền Tây Bắc. Cũng giống như Chế Lan Viên khi nhớ về Tây Bắc:

Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương

Người và cảnh hòa quyện với nhau tạo nên một vẻ đẹp vừa có hồn vừa man mác, xa xăm. Bởi nhớ cảnh núi rừng miền Tây trong buổi chiều sương nhưng là nhớ tới hồn lau. Hình ảnh hồn lau đầy thơ mộng là một nét đẹp của chiều sương Châu Mộc. Mùa xuân hoa lau nở tím rừng, sang thu hoa lau nở trắng rừng. Hoa lau, cờ lau phất phơ, lá lau kêu xào xạc trong gió thu. Câu thơ “Cỏ thấy hồn lau nẻo bến bờ” đúng là câu thơ mang đậm chất tâm hồn thi nhân” (GS. Phan Cự Đệ). Rồi, trên cái nền của dòng sông đậm sắc màu cổ tích và huyền thoại ấy, nổi bật lên hình dáng thướt tha, uyển chuyển của cô gái vùng cao trên chiếc thuyền “độc mộc” cùng cái tình tứ “đong đưa” làm duyên của những bông hoa bên dòng nước lũ.

Những câu thơ chỉ gợi không tả cũng đủ sức vẽ lên một bức tranh Tây Tiến sống động huyền ảo. Cả núi rừng khi thì thấp thoáng trong màn sương lạnh, khi thì ẩn hiện trong cơn mưa xa khơi, lúc lại chìm trong màn sương như thực như mộng. Những nét chấm phá rất mảnh rất nhẹ nhưng sống động cho thấy vẻ đẹp tâm hồn tinh tế nhạy cảm của người lính bất chấp hiện thực khốc liệt của chiến tranh, người lính Tây Tiến vẫn mở lòng cảm nhận nâng niu những nét đẹp riêng của núi rừng. Đằng sau những câu thơ giàu chất nhạc, chất họa là tấm lòng Quang Dũng gắn bó yêu thương tha thiết với cuộc sống con người miền Tây.

Thiên nhiên trong cái nhìn của người chiến sĩ Tây Tiến giống như một tác phẩm hội hoạ tuyệt vời. Những nét vẽ táo bạo khoẻ khoắn, ngôn ngữ gân guốc ở đoạn đầu khi phác hoạ núi cao rừng thẳm dữ dội kết hợp với những nét vẽ thật nhẹ nhàng, ngôn ngữ mềm mại, nhịp thơ êm ả thơ mộng khi tả cảnh sông nước miền Tây. Và trên hết, thiên nhiên Tây Bắc chính là phông nền để người lính Tây Tiến hiện lên như những người anh hùng phi thường của sử thi thời chống Pháp. Đó chính là cái tài hoa của ngòi bút Quang Dũng.

Sáu mươi sáu năm đã trôi qua, bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng đã vượt qua sự thử thách khắc nghiệt của thời gian mà đứng vững, đi vào lòng người vì những rung động, của tác giả không chỉ về đoàn quân Tây Tiến mà còn về bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp – vẻ đẹp hùng vĩ, hoang sơ và thơ mộng của một miền Tổ quốc. Độc giả ngày càng có vốn văn hoá sâu rộng, tâm hồn ngày càng tinh tế, đa dạng hơn ắt là sẽ càng cảm và yêu mến Tây Tiến.

Cập nhật thông tin chi tiết về Trong Bài Thơ “Cảm Xúc”, Xuân Diệu Viết: “Là … Mến”. Còn Trong “Là Thi Sĩ”, Sóng Hồng Viết: “Là… Công Lí”. Hãy Bình Luận Về Hai Đoạn Thơ Trên Và Nêu Suy Nghĩ Của Anh (Chị) Về Thơ Ca Trong Cuộc Sống Hiện Nay trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!