Xu Hướng 2/2023 # Trở Về Với Mẹ Ta Thôi – Đồng Đức Bốn – Hội Nhà Văn Hải Phòng – Văn Hải Phòng – Văn Thơ Hải Phòng – Văn Học Hải Phòng # Top 9 View | Kovit.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Trở Về Với Mẹ Ta Thôi – Đồng Đức Bốn – Hội Nhà Văn Hải Phòng – Văn Hải Phòng – Văn Thơ Hải Phòng – Văn Học Hải Phòng # Top 9 View

Bạn đang xem bài viết Trở Về Với Mẹ Ta Thôi – Đồng Đức Bốn – Hội Nhà Văn Hải Phòng – Văn Hải Phòng – Văn Thơ Hải Phòng – Văn Học Hải Phòng được cập nhật mới nhất trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Đồng Đức Bốn

Trở về với mẹ ta thôi

1

Cả đời ra bể vào ngòi Mẹ như cây lá giữa trời gió rung Cả đời buộc bụng thắt lưng Mẹ như tằm nhả bỗng dưng tơ vàng Đường đời còn rộng thênh thang Mà tóc mẹ đã bạc sang trắng trời Mẹ đau vẫn giữ tiếng cười Mẹ vui vẫn để một đời nhớ thương Bát cơm và nắng chan sương Đói no con mẹ xẻ nhường cho nhau Mẹ ra bới gió chân cầu Tìm câu hát đã từ lâu dập vùi.

2.

Chẳng ai biết đến mẹ tôi Bạc phơ mái tóc bên trời hoa mơ Còng lưng gánh chịu gió mưa Nát chân tìm cái chửa chưa có gì Cầm lòng bán cái vàng đi Để mua những cái nhiều khi không vàng.

3.

Mẹ mua lông vịt chè chai Trời trưa mưa nắng đôi vai lại gầy Xóm quê còn lắm bùn lầy Phố phường còn ít bóng cây che đường Lời rao chìm giữa gió sương Con nghe cách mấy thôi đường còn đau.

4.

Giữa khi cát bụi đầy trời Sao mẹ lại bỏ kiếp người lầm than Con vừa vượt núi băng ngàn Về nhà chỉ kịp đội tang ra đồng Trời hôm ấy chửa hết giông Đất hôm ấy chẳng còn bông lúa vàng Đưa mẹ lần cuối qua làng Ba hồn bảy vía con mang vào mồ Mẹ nằm như lúc còn thơ Mà con trước mẹ già nua thế này.

5.

Trở về với mẹ ta thôi Giữa bao la một khoảng trời đắng cay Mẹ không còn nữa để gầy Gió không còn nữa để say tóc buồn Người không còn dại để khôn Nhớ thương rồi cũng vùi chôn đất mềm Tôi còn nhớ hay đã quên Áo nâu mẹ vẫn bạc bên nắng chờ Nhuộm tôi hồng những câu thơ Tháng năm tạc giữa vết nhơ của trời Trở về với mẹ ta thôi Lỡ mai chết lại mồ côi dưới mồ.

Đồng Đức Bốn bắc cầu lục bát – Nguyễn Trọng tạo

Ngược lại, có người vẫn coi Đồng Đức Bốn là cây bút có tài, nhưng thơ Bốn thì họ chỉ coi là “thơ vàng mạ”, “thơ rỗng ruột”. Nguyễn Hòa nhận định: “Phải chăng sự dông dài của những câu thơ “rỗng ruột” là một trong những đặc điểm làm nên phong cách thơ Đồng Đức Bốn, và nếu trên đời có cái gọi là “y bát thơ lục bát” thì dường như nó đã bị trao nhầm chỗ” Còn thần đồng Trần Đăng Khoa trong một bài viết chưa/không công bố thì cho rằng: “Chỉ óng ánh trang kim, nhưng nhẹ tếch chẳng có gì. Gạt cái vỏ mạ vàng ra, bên trong chỉ luễnh loãng một chút sương khói”.

Vậy là thơ Đồng Đức Bốn được khen được chê rất khác nhau, thậm chí là hai thái cực, không cực nào chịu cực nào. Điều đó cũng làm khó cho Đồng Đức Bốn khi xin vào Hội Nhà Văn Việt Nam. Cả 3 lần bỏ phiếu cho Bốn ở Hội đồng Thơ chỉ đạt được tỉ lệ 4/9 phiếu. Tôi cũng ngồi trong Hội đồng Thơ mấy lần bỏ phiếu cho Bốn, phải an ủi anh qua điện thoại: Tại vì cái tên cậu là Bốn cho nên nó mới ám vào 4 phiếu, hay là đổi tên thành Đồng Đức Chín cho nó hên?

Là nói thế cho vui, chứ đọc thơ Đồng Đức Bốn thấy nhiều câu hay, mà chỉ hay ở lục bát. Lục bát là một thể thơ dân gian mà không học cũng làm được. Ai là người Việt Nam mà chả biết thơ lục bát nó thế, nó thế. Nó ngấm vào tâm hồn người Việt đến nỗi xuất khẩu cũng thành thơ lục bát. Ca dao hò vè diễn ca trường thiên hay hát dân ca và chèo đều sử dụng thể loại thế mạnh này. Và Đồng Đức Bốn thấm đẫm cái thể lục bát từ trong bụng mẹ, nên anh làm lục bát dễ như thò tay vào túi. Nhưng tại sao lục bát của Bốn có nhiều câu hay? Trước hết, anh có một khả năng thơ trời cho, nhưng không chỉ có vậy, Bốn cũng là người say thơ, mê thơ, và học tập được cái hay cái dở ở trong thơ người khác. Anh phân biệt được thơ dân gian với thơ bác học. Nghĩa là, anh có học (dù tự học), anh có tư duy thơ, mà tư duy thơ của anh cũng có cái sự độc đáo riêng. Đó là sự trống trải, dày vò, đau đớn của riêng anh. Đó là bi kịch của tinh thần lãng mạn trong tâm hồn anh. Đó là sự lắng lại sau ồn ào ảo tưởng của người thi sĩ trước miếng cơm manh áo, hiện thực hay phù phiếm trước cuộc đời. Và thơ đã cứu thoát anh vượt ra khỏi biển đắng cay và mộng mị. Nói là vượt ra, bởi anh đã đứng ra ngoài câu thơ để đọc lại đắng cay của đời mình:

Mải mê đuổi một con diều Củ khoai nướng để cả chiều thành than.

Câu lục bát này hay bởi nó chứa đựng triết lý “được-mất” một cách ngơ ngác và đau đớn. Tuy câu lục chỉ là tiền đề với một ngôn ngữ phẳng (đơn nghĩa) nhưng câu bát lại gợi lên được nhiều cảm giác của mất mát và tiếc nuối với những thi ảnh trùng điệp: củ khoai, nướng, (buổi) chiều, (tro) than… Nhưng cái hay của câu lục bát này càng có giá hơn khi nó được cộng hưởng với cái không gian đồng quê mùa đông có vẻ như bất an của câu luc bát mở ra bài thơ đầy gợi cảm: “Chăn trâu cắt cỏ trên đồng/ Rạ rơm thì ít, gió đông thì nhiều”. Bài thơ lục bát này gieo được ấn tượng khó quên cho người đọc chính là nhờ cái tâm trạng bất an được mất đó. Tuy vậy, câu thơ Rạ rơm thì ít, gió đông thì nhiều” khiến tôi nhớ đến một câu thơ của Hữu Thỉnh trước đó viết về người mẹ gánh rạ ngoài đồng. Cũng rạ, cũng gió đặt cạnh nhau mà câu thơ trở nên hay: Rạ chẳng nặng mà nặng nhiều vì gió. Nếu không biết câu thơ của Hữu Thỉnh thì chắc câu của Bốn sẽ là một bất ngờ thú vị nhờ một tiểu đối hơi bị chênh chao.

Tôi từng nghĩ, nghệ thuật khởi đầu từ bắt chước. Điều đó không sai. Trẻ em vẽ con ngựa là bắt chước con ngựa, nhưng vì nó thích quá cái móng thiếc dưới chân ngựa nên nó có thể vẽ cái móng thiếc to hơn bình thường. Khi nó vẽ cái sở thích độc đáo của nó, đó là nghệ thuật ấn tượng của riêng nó. Đồng Đức Bốn cũng như mọi người làm thơ lục bát, đều bắt chước thể lục bát. Không biết ai là người đầu tiên làm ra câu lục bát để cho Truyện Kiều làm nên đại thi hào Nguyễn Du? Ấy là Truyện Kiều đã nâng lục bát dân giã lên tầm bác học. Khi Nguyễn Bính viết: “Anh đi đấy, anh về đâu?/ Cánh buồm nâu/ cánh buồm nâu/ cánh buồm…” và Bùi Giáng viết: “Hỏi quê…rằng biển xanh dâu/ Hỏi tên…rằng mộng ban đầu đã xa” là họ đã tạo nên thi pháp mới cho lục bát. Đồng Đức Bốn cũng tiếp thu được cả tính dân giã và bác học của lục bát, nhưng tính dân giã trong anh thường lấn lướt tính bác học, bởi thế những bài thơ “tầm tầm” chiếm đa số. Cấu tứ bài thơ của anh lại thường bị cảm tính chi phối nên thường luễnh loãng (như Trần Đăng Khoa nhận xét), ít tạo nên những tứ thơ mạnh mẽ, cô đúc hay độc đáo. Điều này không thể so với Nguyễn Bính được, vì thơ Nguyễn Bính đậm hồn Việt nhưng cấu tứ lại hơi hướng phương Tây, rất chặt chẽ và bất ngờ. Chỉ với mấy con số chín trong Giấc mơ anh lái đò cũng đủ khiến ta sửng sốt khi tác giả buông ra câu lục bát: “Lang thang tôi dạm bán thuyền/ Có người trả chín quan tiền, lại thôi!”. Vì thế mà tôi khẳng định tài thơ của Bốn chính là nằm ở trong những câu lục bát tiêu biểu của anh, đó là những câu lục bát hay bất ngờ:

– Đời tôi mưa nắng ở đâu Bây giờ vuốt gió trên đầu tóc rơi.

– Đừng buông giọt mắt xuống sông Anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm

– Câu thơ nấp ở sân đình Nhuộm trăng trăng sáng, nhuộm tình tình đau

– Không em ra ngõ kéo diều Nào ngờ được mảnh trăng chiều trên tay, Luồn kim vào nhớ để may Chỉ yêu cứ đứt trên tay mình cầm.

– Không em từ bấy đến giờ Bàn tay vẫn héo như cờ chịu tang.

– Cầm lòng bán cái vàng đi

Để mua những cái nhiều khi không vàng

– Xong rồi chả biết đi đâu Xích-lô Bà Triệu ra cầu Chương Dương!

Từ những câu lục bát hay đó, có thể nhận ra một Đồng Đức Bốn đa cảm, giàu yêu thương và cũng lắm đau buồn. Có người trách thơ anh kém vui, nhưng tôi thấy nỗi buồn của anh dẫu cay đắng đến đâu cũng đều là nỗi buồn đẹp. Cái đẹp của thiên nhiên quê kiểng như ăn sâu vào anh, chìm đắm và anh không trôi đi được, không dứt ra được. Đối tượng thiên nhiên trong thơ anh quanh đi quẩn lại cũng chỉ có vầng trăng, cánh đồng, dòng sông, con đò, nhưng sao mà đẹp thế! Đẹp vì thiên nhiên ấy gắn với tình người. Hơn nữa, đó là tình người thi sĩ.

Tuy vậy, Đồng Đức Bốn cũng có những bài lục bát hay. Không nhiều, nhưng hay. Đó là bài Chăn trâu đốt lửa (tôi đã dẫn ở trên), bài Trở về với mẹ ta thôi và bài Vào chùa. Hầu như nhà thơ nào cũng làm thơ về mẹ, vì con ở trong mẹ từ khi còn là hạt bụi, một gắn bó đặc biệt hơn cả vô thức. Bài thơ của Đồng Đức Bốn viết về mẹ lại cũng trong một trạng huống đặc biệt, đó là khi mẹ bỗng trở về cát bụi. Nhưng sự gắn bó và tình yêu thương mẹ của Bốn thật là day dứt. Lời thơ viết về mẹ không thể làm dáng làm điệu mà chân thành mộc mạc đến tận cùng. Ba đoạn thơ đầu là viết về mẹ khi còn sống tảo tần cay đắng nuôi con, hai đoạn thơ sau là tâm trạng của con mất mẹ. Sự bùng nổ tình cảm của nhà thơ mất mẹ trong một cảnh ngộ thật đau lòng:

Con vừa vượt núi băng ngàn Về nhà chỉ kịp đội tang ra đồng Trời hôm ấy chửa hết giông Đất hôm ấy chẳng còn bông lúa vàng Đưa mẹ lần cuối qua làng Ba hồn bảy vía con mang vào mồ Mẹ nằm như lúc còn thơ Mà con trước mẹ già nua thế này.

Và tâm trạng nhà thơ lúc đó thật lạ lùng:

Mẹ không còn nữa để gầy Gió không còn nữa để say tóc buồn Người không còn dại để khôn Nhớ thương rồi cũng vùi chôn đất mềm

Đến câu kết thì thật bất ngờ và táo bạo:

Trở về với mẹ ta thôi Lỡ mai chết lại mồ côi dưới mồ.

Quan niệm “sống gửi chết về” bỗng dưng hiện lên trong câu thơ cuối như một cầu mong đươc về với mẹ, mãi làm lay động lòng người. Một bài thơ toàn bích.

Bài thơ Vào chùa chỉ bốn câu mà treo lên trước cuộc đời cả một câu hỏi lớn về tình thương đồng loại. Hai nhân vật sư và ăn mày, hai hướng đời và đạo. Nhưng cả hai đều sống bằng của bố thí. Vì thế mà cái cảnh diễn ra trước cửa chùa như báo trước một điều gì thật đáng lo ngại:

Đang trưa ăn mày vào chùa Sư ra cho một lá bùa rồi đi

Sư không sẻ chia cơm áo mà lại cho ăn mày “một lá bùa” rồi bỏ đi. Sao mà dửng dưng, sao mà chua chát thế. Ngòi bút Đồng Đức Bốn ở đây thật lạnh, nhưng rồi anh bỗng hiểu ra:

Cái triết lý “con ông sãi chùa lại quét lá đa” như thấp thoáng hiện lên trong bài thơ như một bất lực, hay là một câu hỏi về tình đồng loại không dễ trả lời. Cái tưng tửng “chết người” của nhà thơ chính là ở chỗ đó. Đó là cách nói tài hoa của Đồng Đức Bốn.

Có người cho đó là một bài thơ thiền. Tôi nghĩ không phải. Đâu phải cứ có sư thì ở đó có thơ thiền. Đồng Đức Bốn càng không phải là một nhà thơ mang tư tưởng thiền, anh chính là một nhà thơ hiện thực mang bi kịch lãng mạn. Vì vậy mà nhiều khi anh ngơ ngác trước những nghịch lý trớ trêu của cuộc đời. Và anh đã làm thơ, đặc biệt là thơ lục bát, gây được ấn tượng trong lòng bạn đọc. Có thể nói, Đồng Đức Bốn đã “bắc cầu lục bát” để đến với cuộc đời này.

Hà Nội, 4.5.2011

Nhớ Máu – Trần Mai Ninh – Hội Nhà Văn Hải Phòng – Văn Hải Phòng – Văn Thơ Hải Phòng – Văn Học Hải Phòng

Trần Mai Ninh

Nhớ máu

Ơ cái gió Tuy Hoà… Cái gió chuyên cần Và phóng túng. Gió đi ngang, đi dọc, Gió trẻ lại – lưng chừng Gió nghỉ, Gió cười, Gió reo lên lồng lộng.

Tôi đã thấy lòng tôi dậy Rồi đây Còn mấy bước tới Nha Trang – A, gần lắm! Ta gần máu, Ta gần người, Ta gần quyết liệt.

Ơi hỡi Nha Trang! Cái đô thành vĩ đại Biết bao người niệm đọc tên mi.

Và Khánh Hoà vĩ đại! Mắt ta căng lên Cả mặt Cả người, Cả hồn ta sát tới Nhìn mi! Ta có nhớ Những con người Đã bước vào bất tử! Ơ, những người! Đen như mực, đặc thành keo Tròn một củ Hay những người gầy sát lại Mặt rẹt một đường gươm Lạnh gáy, Lòng bàn tay Khắc ấn chuôi dao găm. Chân bọc sắt, Mắt khoét thủng đêm dày

Túi chứa cả Nha Trang… họ bước Vương Gia Ngại… Cung Giữ Nguyên Chút chít Hoàng Bá San… còn nữa!

Cả một đàn chó ghẻ Sủa lau nhau Và lần lượt theo nhau Chết không ngáp!

Dao găm để gáy, Súng màng tang

Ồng ộc xối đầy đường máu chó. Chúng nó rú. Cả trại giặc kinh hoàng. Quy-lát khua lắc cắc Giày đinh xôn xao Còi và kèn… Cả trại giặc bạt hồn, bạt vía… Chạy lung tung -Sớm mai xét và bắt Thiết giáp cam nhông Rầm rập nối đuôi nhau Và đêm khuya: lại chết Chồn Pháp, chó Việt gian Ằng ặc máu

Mắt ta căng lên Cả mặt Cả người Cả hồn ta sát tới Biết bao người Sống lẩn lút nhưng ngang tàng Bên lưng giặc! Vẫn tổ chức, vẫn tuyên truyền Hoặc giao thông hay liên lạc Rải giấy Treo cờ Hay gồng vai tiếp tế Từ bình minh cho tới trăng tàn Đúc bê tông bên mặt trận Và thì thào cùng du kích đi lên… Cả ngàn chiến sĩ Cả ngàn con bạc, con vàng Của Tổ quốc! Sống…trong đáy âm thầm Mà nắm chắc tối cao vinh dự Quắc mắt nhìn vào thăm thẳm tương lai Vững tin tưởng nơi oai hùng Và chiến thắng Câu Việt Nam: dân tộc!

Cờ đã nâng cao Màu đỏ máu Với sao vàng tung rực rỡ! Mặt hoàn cầu đã họp những tia xanh Trán nhíu lại Chú ý nhìn châu Á phía Đông Nam

Ta quyết thắng! Việt Nam rồi đứng dậy Sáng vô chừng Rất tươi đẹp với Nha Trang và Nam Bộ Phan Thiết, Phan Rang, Đà Lạt Máu chan hòa trên góc cạnh kim cương Các anh hùng tay hạ súng trường Rồi khẽ vuốt mồ hôi và máu Họ cười vang rung lớp lớp tinh cầu!

Kết thúc đêm 9-11-1946 tại Tuy Hoà

Trần mai Ninh và bài thơ “Nhớ máu” – Thanh Thảo

Kết thúc đêm 9/11/1946 tại Tuy Hòa, thời điểm cuối mùa mưa miền Trung, lòng người Việt Nam yêu nước suốt dải đất đòn gánh này chợt rung lên vì một ngọn gió lạ, một ngọn gió đầy phấn khích cuộn lên giữa thời điểm căng như dây đàn trước lệnh Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ơ cái gió Tuy Hòa… Cái gió chuyên cần Và phóng túng. Gió đi ngang, đi dọc, Gió trẻ lại lưng chừng Gió nghĩ, Gió cười, Gió reo lên lồng lộn” Trần Mai Ninh đấy! Và bắt đầu từ ngọn gió dữ dội ấy, thơ Việt hiện đại có thêm một nhà thơ, một bài thơ bất tử: bài Nhớ máu. Hãy đọc lại bài thơ này với niềm đam mê, với tình yêu, và chúng ta sẽ thấy, cái nhịp thơ Nhớ máu ấy chính là nhịp rock, một loại hard rock mà ngay tới bây giờ cũng chưa dễ thưởng thức được trọn vẹn. Thơ bắt đầu từ ngôn ngữ, nhưng trên cả ngôn ngữ, siêu-ngôn-ngữ chính là nhịp thơ, chứ không phải vần thơ. Nhịp thơ đẩy bài thơ vọt lên phía trước, ấn vào vô thức người đọc, khuấy động tận đáy sâu tâm cảm người đọc. Đã nhiều năm tôi đọc Nhớ máu, ở nhiều hoàn cảnh và tâm trạng khác nhau, và sau cùng, cái “ấn” vào tôi sâu nhất vẫn là nhịp (rhythm), cái nhịp kỳ lạ của bài thơ này: “- A, gần lắm! Ta gần máu, Ta gần người, Ta gần quyết liệt. Ơ hỡi, Nha Trang! Cái đô thành vĩ đại” Bạn có nghe nhịp rốc-cứng, metal-rock trong những dòng thơ gằn xuống, thở trào lên, lay giật, xối xả, cuống quít ấy không? Một ca sĩ hard-rock sẽ phải toát đầm đìa mồ hôi khi thể hiện một khúc rock như thế này. Và đó chính là hạnh phúc của Thơ, cái hạnh phúc thường hiếm hoi, kén chọn, quay quắt, cái hạnh phúc không bao giờ cho không bất cứ nhà thơ nào mà không đòi phải trả giá. Trần Mai Ninh đã phải trả giá bằng chính cuộc đời mình cho bài thơ Nhớ máu. Giống như Lorca khi viết bài thơ định mệnh Bi ca cho Ignacio Sanchez Mezias ông đã kêu lên: “Tôi không muốn nhìn thấy máu”, thì đó chính là máu của ông, máu của một nhà thơ Tây Ban Nha vĩ đại. Trần Mai Ninh đã “nhớ máu”, và đó cũng là máu của chính ông, một nhà thơ Việt Nam quyết tử. Không chỉ “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, mà còn quyết tử cho Thơ, cho sự đổi mới toàn diện Thơ: “Mắt ta căng lên Cả mặt Cả người, Cả hồn ta sát tới” Đó là phút giây của xuất thần, của vô thức, của trào dâng, Thơ vọt ra như máu xối – máu của người yêu nước quyết tử, máu của nhà thơ tự do cả thân xác lẫn tâm hồn. “Ơ, những người! – Đen như mực, đặc thành keo – Tròn một củ – Những người gầy sắt lại – Mặt rẹt một đường gươm – Lạnh gáy…”. Họ là những chiến binh của nhân dân, một nhân dân dữ dội, quật khởi, bừng ngộ, xứng đáng với một Tổ quốc mới. Tôi nghĩ, nếu không có những phút xuất thần dâng hiến trọn vẹn ấy nơi mỗi người chiến sĩ, mỗi người lính bình thường, thì chúng ta lấy đâu ra chiến thắng sau cùng? Và không có những bài thơ hy sinh toàn diện cho Thơ như bài Nhớ máu, thì lấy đâu ra thơ Việt hiện đại với những bước đi khó nhọc, khổ nạn nhưng chưa bao giờ chịu lùi: “Dao găm để gáy Súng màng tang Chúng nó rú Cả trại giặc kinh hoàng Quy-lát khua lắc cắc Giầy đinh xôn xao Còi và kèn…” Cứ như bạn đang coi một trường đoạn “hot” (nóng) nhất trong phim hành động! Thơ có thể hóa thân không chỉ vào âm nhạc, hội họa, điêu khắc, mà cả vào điện ảnh nữa! Và những montage dứt điểm trong bài Nhớ máu là những montage mà một đạo diễn điện ảnh mạnh tay nghề có thể thưởng thức sâu sắc. “Quắc mắt nhìn vào thăm thẳm tương lai” Trần Mai Ninh có thể thấy bài thơ của mình ròng ròng nơi “tối cao vinh dự”. Nơi ấy, chắc chắn không phải là một giải thưởng, dù là giải thưởng to đến đâu! Nơi ấy, là hồn dân tộc, là khí huyết bừng bừng của những người yêu nước trung trực, là nơi “Việt Nam rồi đứng dậy – Sáng vô chừng!”.

Kỷ niệm ngày Thương binh-liệt sĩ 27/7 Thanh Thảo

Danh Nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm Và Văn Bản Thơ Nôm – Hội Nhà Văn Hải Phòng – Văn Hải Phòng – Văn Thơ Hải Phòng – Văn Học Hải Phòng

PGS.TS. Trịnh Khắc Mạnh

(Viện Nghiên cứu Hán Nôm- Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam)

1. Danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm

Từ năm 1542 đến năm 1585, Nguyễn Bỉnh Khiêm nghỉ hưu tại quê nhà, tuy ông đã về nghỉ, nhưng vua nhà Mạc vẫn sai người đến hỏi quốc sự và thăng ông làm Thượng thư Bộ Lại, tước Trình Tuyên hầu, rồi Trình quốc công. Theo Đại Nam nhất thống chí大南一統志 “Họ Mạc từng đem việc nước hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông đáp rằng: Sau này nếu có sự biến, thì Cao Bằng tuy nhỏ cũng giữ được vài đời. Sau quả như lời nói của ông”(2). Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy làm quan cho nhà Mạc, và khi cáo quan vẫn giúp nhà Mạc; nhưng với tinh thần nhập thế của một nhà Nho tinh đời, ông không ngần ngại bày kế sách cho cả vua Lê, chúa Trịnh và cả chúa Nguyễn. Nguyễn Bỉnh Khiêm bình thản nhìn sự đời thay đổi, chữ “trung” của ông được cắt nghĩa trong bài Trung Tân quán bi ký中津館碑記 như sau “Quán dựng xong, đề biển là Quán Trung Tân. Có người hỏi: lấy tên quán như vậy ý nghĩa thế nào? Ta trả lời rằng: trung nghĩa là trung chính vậy. Giữ được toàn vẹn tính thiện của mình là trung vậy, không giữ toàn vẹn được tính thiện của mình thì không phải là trung vậy. Tân tức là bến vậy. Biết chỗ dừng đó là đúng bến, không biết chỗ dừng thì là lạc bến vậy. Tên gọi của quán này đại thể là như thế. Như trung với vua, hiếu với cha mẹ, thân ái với anh em, hòa hợp vợ chồng, tín với bạn bè, đó là trung vậy. Đối diện với của cải mà không tham, thấy lợi mà không tranh giành, vui với điều thiện mà bao dung được người, lấy tình thực mà ứng đãi với mọi vật, đó cũng là trung vậy”(3). Như vậy đủ biết, Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà Nho, luôn ý thức về “tam cương ngũ thường” của Nho giáo, nhưng ông không phải là người cố chấp, ngu trung. Lòng trung của Nguyễn Bỉnh Khiêm được thể hiện là giữ vẹn điều thiện và lấy tình thực mà ứng đãi. Như vậy, việc Nguyễn Bỉnh Khiêm bày kế sách cho vua Lê, chúa Trịnh, chúa Nguyễn là chí thiện và chí thành vậy. Theo Đại Nam nhất thống chí “Vua Lê Trung Tông (1549 – 1557) không có con nối ngôi, đại thần bàn định xem nên lập ai, nhưng chưa quyết được, mới sai người đến hỏi (Nguyễn Bỉnh Khiêm). Ông không đáp và bảo người nhà rằng: Năm nay đã mất mùa, sao không mau tìm thóc giống cũ mà đem gieo trồng cho kịp thời vụ. Bề tôi nhà Lê suy ý lời nói ấy, bèn quyết kế rước lập vua Anh Tông”(4). Rồi việc “Khi Trịnh Tùng lăng loàn, có dị chí, ngầm sai người hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm về số phận nhà Lê còn dài ngắn như thế nào? Ông không đáp bỏ ra chùa chơi, giả bộ giận các nhà sư bất cẩn, trách mắng rằng: Ngạn ngữ có câu “thờ Phật ăn oản, không biết thờ Phật thì mong gì được ăn oản”. Trịnh Tùng nghe nói mới thôi không cướp ngôi nhà Lê nữa”. Hay như việc “Đức Thái tổ Hoàng đế triều ta (Nguyễn Hoàng) luôn bị họ Trịnh chèn ép bức bách, muốn dời đi nơi khác, đã sai người đến hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông trả lời: Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân (nghĩa là: Một dải núi ngang có thể dung thân muôn đời được). Sau bản triều xây dựng cơ nghiệp ở miền Nam, lời ông quả ứng nghiệm”(5). Như vậy, rõ ràng Nguyễn Bỉnh Khiêm rất tinh thông lý học, biết xem kham dư, dự đoán tương lai “Sứ nhà Thanh là Chu Xán từng khen rằng: Ở nước An Nam, giỏi lý học có ông Trình Tuyền (Nguyễn Bỉnh Khiêm)”(6). Cũng nhiều ý kiến cho rằng, những “mách nước” của Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ là giai thoại, truyền thuyết; nhưng trên thực tế những giai thoại, truyền thuyết ấy được khá nhiều tư liệu ghi. Ngay cả sử liệu như Đại Nam thực lục大南實錄 do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn cũng ghi việc Nguyễn Bỉnh Khiêm “mách nước” cho Nguyễn Hoàng mở về phương Nam: “Đến khoảng năm Thuận Bình đời Lê Trung Tông, do quân công được tiến phong Đoan quận công. Bấy giờ Hữu tướng triều Lê là Trịnh Kiểm (bấy giờ xưng là Lượng quốc công) cầm giữ binh quyền, chuyên chế mọi việc. Tả tướng là Lãng quận công Uông (con trưởng Triệu Tổ) bị Kiểm hãm hại. Kiểm lại thấy chúa công danh ngày càng cao nên rất ghét. Chúa thấy thế, trong lòng áy náy không yên, cùng bàn mưu với Nguyễn Ư Dĩ rồi cáo bệnh, cốt giữ mình kín đáo để họ Trịnh hết ngờ. Chúa nghe tiếng Nguyễn Bỉnh Khiêm (người làng Trung Am, xứ Hải Dương, đỗ Trạng nguyên triều Mạc, làm đến chức Thái bảo về trí sĩ) giỏi nghề thuật số, nên ngầm sai người tới hỏi. Bỉnh Khiêm nhìn núi non bộ trước sân ngâm lớn rằng : “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”. Sứ giả đem câu ấy về thuật lại. Chúa hiểu ý”(7).

Nguyễn Bỉnh Khiêm hưởng thượng thọ 95 tuổi, trong đó có 84 năm nằm gọn ở thế kỷ XVI và sống ở nơi quê hương mình. Như chúng ta đã biết, trước Nguyễn Bỉnh Khiêm và cùng thời với Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhiều người đi thi đỗ đạt rồi làm quan, khi bất đắc chí hay vì lý do nào đó cáo quan về ở ẩn, các ông thường chọn một nơi nào đó mà mình ưa thích để ở. Còn Nguyễn Bỉnh Khiêm từ lúc thiếu thời, khi trưởng thành, lúc nghỉ hưu luôn gắn bó với làng quê Trung Am nhỏ bé. Đây là một điều đặc biệt ở con người Nguyễn Bỉnh Khiêm, và cũng bởi ông tinh thông lý học, nên đã chọn được đắc địa đó là nơi chôn rau cắt rốn – làng quê Trung Am.

Chúng ta hãy hình dung làng quê Trung Am xinh đẹp qua một đoạn văn trích trong bài Trung Tân quán bi ký của Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Mùa thu năm Nhâm Dần, tôi bỏ việc quan về nghỉ ở làng, bèn mời các vị cao niên trong làng cùng đi dạo ở bến Trung Tân, trong xa phía đông là biển; nhìn phía tây là kênh; ngắm phía nam là dòng Liêm Khê, nào là Trung Am, Bích Động trước sau kế tiếp; cúi nhìn phía bắc là Tuyết Giang, nào chợ Hàn, đò Nhật ôm bên tả hữu. Một con đường lớn chạy ngang ở giữa, ngựa xe tấp nập, chẳng biết là dài đến mấy ngàn dặm vậy. Nhân đó quay lại nói với các kỳ lão: các cầu Nghênh Phong, Trường Xuân trước đây các vị đã sửa dựng, đẹp thì cũng là đẹp rồi, nhưng chưa có chỗ đất nào đẹp như chỗ này”(8). Cách đây hơn bốn trăm năm, cái làng quê Trung Am bé nhỏ ấy đã đẹp đến thế. Trong nhiều bài thơ chữ Hán, chữ Nôm, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã miêu tả phong cảnh quê ông rất lãng mạn, nên thơ và thật hữu tình, là vùng đất địa linh mà ai ai cũng muốn đến tham quan. Trong bài thơ Trung Tân ngụ hứng中津寓興, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã viết địa thế của quán Trung Tân thật tao nhã của một miền quê vùng gần biển:

Phiên âm:

Nhân thôn quán tây nam,

Giang thủy quán tây bắc.

Trung hữu bán mẫu viên,

Viên hữu Vân am trắc.

Luân chuyển trần bất đáo,

Hoa trúc thủ tự thực…

Nghĩa là:

Làng xóm ở phía tây nam quán,

Sông ngòi ở mạn tây bắc quán.

Giữa có nửa mẫu vườn,

Cạnh vườn có am Bạch Vân.

Bụi xe chẳng bén tới,

Hoa, trúc tự tay trồng… (9)

Trong bài Hạ cảnh 夏景, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã miêu tả đôi nét về cảnh quan của quán Trung Tân vào ngày mùa hạ sao mà đẹp đẽ nên thơ, phong cảnh hữu tình làm sao:

Phiên âm:

Nhật trường Tân quán tiểu song minh,

Phong nạp hà hương viễn ích thanh.

Vô hạn ngâm tình thùy hội đắc,

Tịch dương lâu thượng vãn thiền thanh.

Nghĩa là:

Ngày dài ở quán Trung Tân, cửa sổ nhỏ sáng sủa, Gió đượm hương sen, càng xa càng thơm mát. Tình thơ vô hạn, ai là người hiểu được, Chiều tà ở trên lầu, tiếng ve ngân vang.

Hay trong một khổ bài thơ Tức sự 息事, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã miêu tả làng quê Trung Am thật thanh bình và rất lãng mạn:

Phiên âm:

Tá tiểu trì viên bạng Tuyết khê, Xuân thâm cổ mộc tự thành khê. Giang thiêm tình thái thiên hoa túy, Bích nhiễu hàn khê vạn trúc đê…

Nghĩa là:

Nhờ vào mảnh vườn, cái ao nhỏ bên cạnh sông Tuyết, Xuân muộn hàng cây cổ thụ tự thành hàng lối. Vẻ quang tạnh làm đẹp sông nước, ngàn đóa hoa say, Màu biếc vây quanh khe mát, muôn khóm trúc rủ…

Chính nơi đây, trên miền quê thơ mộng này, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cùng mọi người trong làng xây dựng am Bạch Vân, quán Trung Tân; tạo nên một thú quê thanh đạm mà ông hằng yêu mến:

Ba gian am quán lòng hằng mến, Đòi chốn sơn hà mặt đã quen. Thanh vắng thú quê dầu nấn ná, Dữ lành miệng thế mặc chê khen. (Thơ chữ Nôm – bài 8)

Một địa thế có phong cảnh tuyệt vời như vậy, ắt hẳn cuộc sống nơi đây cũng phong lưu phồn thịnh, con người nơi đây cũng nồng ấm tình quê. Trong bài Nhân thôn 閒村, Nguyên Bỉnh Khiêm đã miêu tả:

Phiên âm:

Tổng tổng lâm lâm sinh chí phồn, Sở cư xứ xứ hữu hương thôn. Hào hoa hấp nhĩ tỷ lân hội, Nhân hậu y nhiên mỹ tục tồn. Tác tức tư đào Nghiêu nhật nguyệt, Âu ca cộng lạc Thuấn kiền khôn…

Nghĩa là:

Nườm nượp xum xuê sinh sản ra rất đông đúc, Nơi nơi có người ở là có xóm làng. Hào hoa tụ hội, xóm giềng kề bên nhau, Lòng người nhân hậu vẫn thế, phong tục tốt đẹp còn nguyên.

Làm việc nghỉ ngơi thoải mái với những ngày tháng đời vua Nghiêu,

Cùng ca hát vui chung trong trời đất thời vua Thuấn (ý là thời thịnh trị)…

Và trong bài Ngụ hứng, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng viết:

Phiên âm:

Bán y thô thị bán nhân hương, Trung hữu trì viên nhất mẫu cường. Am quán trường nhàn xuân bất lão, Giang san nhập họa bút sinh hương…

Nghĩa là:

Nửa dựa vào chợ quê, nửa dựa vào xóm làng, Trong đó có ao, có vườn khoảng hơn một mẫu. Chốn am quán mãi mãi thư nhàn, xuân không già, Non sông đưa vào tranh vẽ, bút thêm hương sắc…

Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn có một tấm lòng yêu quê và làng quê Trung Am nhỏ bé ấy đã hun đúc nên con người Nguyễn Bỉnh Khiêm, tâm hồn Nguyễn Bỉnh Khiêm và nhân cách Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hình ảnh quê hương đẹp đẽ như tranh vẽ, gấm thêu luôn lắng đọng trong tâm hồn và trong thơ, văn Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Giang sơn tám bức như tranh vẽ Phong cảnh tư mùa ấy gấm thêu. (Thơ chữ Nôm)

Hay trong bài Ngụ hứng, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã vẽ một bức tranh tuyệt tác quê mình:

Phiên âm:

Giang quán đăng lâm nhật hướng tà, Thừa nhàn bả tửu thính ngư ca. Bán thiên lương đệ thanh phong hảo, Lưỡng ngạn tình thiêm lục thụ đa. Hứng kịch dã tình thiên ái cúc,…

Nghĩa là:

Ở quán lên ngắm cảnh bên sông khi mặt trời tà, Lúc nhàn cầm chén rượu nghe tiếng hát làng chài. Từ lưng trời, hơi lạnh đưa lại luồng gió mát, Hai bờ sông, trời quang cây xanh nảy nở. Cảm hứng trào dâng, tình quê ưa riêng hoa cúc,…

Như vậy, cách chúng ta khoảng hơn 500 năm, làng quê Trung Am đã được mô tả khá nhiều trong các bài thơ, bài văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm với những nét đẹp văn hóa truyền thống. Qua thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, ngày nay chúng ta hoàn toàn có thể thấy được làng quê Trung Am nhỏ bé bên bờ sông Thái Bình xưa kia, đã là một nơi thắng địa, một khu di tích văn hóa và xã hội có cuộc sống sinh hoạt phồn thịnh ở vào thế kỷ XVI. Chính cái làng quê Trung Am này, đã tạo nên nhân cách con người Nguyễn Bỉnh Khiêm, là nguồn cảm hứng vô tận tạo nên cốt cách trong thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm và tạo nên những thi phẩm của ông.

2. Trước tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nguyễn Bỉnh Khiêm không những tinh thông lý học, mà còn có tài văn chương lỗi lạc; thơ văn của ông luôn được hậu thế ngợi ca. Nhận xét về thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vũ Khâm Lân (1703-?) trong Bạch Vân Am cư sỹ Nguyễn công Văn Đạt phả ký viết: “Văn chương Tiên sinh rất tự nhiên, không cần điêu luyện, giản dị mà lưu loát, thanh đạm mà nhiều ý vị, câu nào cũng có quan hệ đến sự dạy đời”(10). Còn Phan Huy Chú (1782 – 1840) nhận xét về thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm như sau: “Đại để là thanh tao, tiếu sái, hồn hậu, phong nhã, có ý thú tự nhiên… Lời và ý đều nhẹ nhàng nhàn nhã, có thể thấy được chí không thích làm quan”(11). Thơ, văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được chính tác giả đề tựa: “Tôi lúc nhỏ được gia đình dạy dỗ, lớn lên đứng vào hàng sĩ phu, đến khi về già thích nhàn tảng ẩn dật, vui cảnh non nước, vụng về làm thơ. Tuy vậy cái bệnh ham thơ lâu ngày tích lại chưa chừa được, mỗi khi thư thả lại nảy hứng ngâm vịnh… thảnh thảnh ghi lại thành thơ nói về chí, tất thảy được ngàn bài, biên tập thành sách, tự đặt là Bạch Vân Am thi tập”(12). Thế hệ sau ghi chép về tình hình thơ, văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm như sau:

Vũ Khâm Lân (1703-?), trong Bạch Vân Am cư sỹ Nguyễn công Văn Đạt phả kýghi: “Riêng về thơ phú quốc ngữ, tiên sinh cũng soạn rất nhiều, trước đã xếp thành một tập gọi tên là Bạch Vân thi tập, tất cả đến hơn ngàn bài, ngày nay sót lại độ hơn một trăm, và một thiên Trung tâm quán phú, còn thì thất lạc cả”(13).

Lê Quí Đôn (1726 – 1784), trong Đại Việt thông sử mục Nghệ văn chí ghi: “Bạch Vân Am tập: ? quyển, lại 1 bộ … quyển. Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn, tự đề tựa, tổng cộng có 1.000 bài thơ, một bộ không có lời tựa, vả lại so về thơ với nguyên văn chỉ có một phần mười, đây hẳn do người đời sau soạn, nhưng không biết tên, họ. Bạch Vân quốc ngữ thi: 2 quyển, Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn”(14).

Phan Huy Chú (1782 – 1840), trong Lịch triều hiến chương loại chí mục Văn tịch chí ghi: “Bạch Vân Am tập, 10 quyển. Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn, một nghìn bài thơ… Bạch Vân quốc ngữ thi: 2 quyển, Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn”(15).

Trần Văn Giáp (1902 – 1973), trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm nhận xét về thơ, văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm như sau: “Về thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm thì thơ chữ Hán được tập hợp trong Bạch Vân Am tập, và thơ chữ Nôm được tập hợp trong Bạch Vân quốc ngữ thi. Không thấy bản in tập thơ chữ Nôm, có lẽ đương thời cũng như về sau thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm chưa từng được khắc ván in. Vì vậy, rải rác trong nhiều tập sao chép thấy có thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhưng số bài nhiều ít không giống nhau, tam sao thất bản, lẫn lộn thơ người nọ với thơ người kia cũng nhiều”(16).

Hiện nay thơ, văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm lưu giữ ở nhiều nơi, ở đây chúng tôi xin nêu những văn bản hiện đang lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Thư viện Quốc gia Việt Nam

Tại kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, gồm có các văn bản:

– Bạch Vân Am thi tập白雲庵詩集, ký hiệu A.2256, thơ chữ Hán, 260 trang, sách chúng tôi các nhà nghiên cứu, đây là bản in đầu triều Nguyễn. Nội dung sách gồm, Bạch vân am thi tập tự白雲庵詩集序 (bài tựa do Nguyễn Bỉnh Khiêm viết), Bạch Vân am sự tích白雲庵事跡 (viết về hành trạng của Nguyễn Bỉnh Khiêm), tiếp là phần chép thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm. Phần chép thơ văn chia là 2 làm quyển, Quyển 11 và Quyển 12, tổng cộng có 626 bài, trong đó có 3 bài ký văn xuôi. Theo Trần Văn Giáp, phần thơ văn chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm trong bộ sách có tên chung là Danh thi hợp tuyển名詩合選, do viên Trấn thủ Hải Dương là Trần Công Hiến biên tập và đưa in năm Gia Long thứ 13 (1814)(17).

– Bạch Vân Am thi tập quyển thập nhất白雲庵詩集卷十一, ký hiệu A.1350, 134 trang, sách in, thơ chữ Hán. Nội dung có Bạch vân am thi tập tự, Bạch Vân am sự tích và Quyển 11, giống như phần Quyển 11 của bản ký hiệu A. 2256.

– Bạch Vân tiên sinh thi tập 白雲先生詩集, ký hiệu VHv.2615, thơ chữ Hán, sách chép tay, 142 trang, ghi niên đại năm Đinh Mùi niên hiệu Duy Tân thứ 1 (1904). Chữ Hán, chép không đều, có thể do nhiều người sao chép.

– Bạch Vân Am thi văn tập 白雲庵詩文集, A.296/1 -2, sách chép tay, thơ chữ Hán, 582 trang.

– Bạch Vân Am thi tập tịnh tự白雲庵詩集並序, ký hiệu VHv.144, thơ chữ Hán, sao vào tháng giêng năm Mậu Thìn niên hiệu Tự Đức (1868), 172 trang.

– Bạch Vân tiên sinh thi tập hạ白雲先生詩集下, ký hiệu VHv188, sách chép tay, thơ chữ Hán, 114 trang.

– Bạch Vân Am tiên sinh Trạng nguyên Trình quốc công thi tập tịnh tự白雲庵先生狀元程國公詩集並序, ký hiệu VHv.850, sách chép tay, thơ chữ Hán, 114 trang.

– Bạch Vân Am thi tập 白雲庵詩集,ký hiệu VHv.1794, sách chép tay, thơ chữ Hán, 240 trang.

– Bạch Vân Am tiên sinh Trạng nguyên Trình quốc công thi tập tiền tự白雲庵先生狀元程國公詩集前序, ký hiệu VHv. 2081, sách chép tay, thơ chữ Hán, 172 trang.

– Bạch Vân Am thi tập白雲庵詩集, ký hiệu VHv.1453/ 1-2, sách chép tay, thơ chữ Hán, 426 trang.

– Bạch Vân Am thi tập白雲庵詩集, ký hiệu A.2591, sách chép tay, thơ chữ Hán, 68 trang.

– Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập 程國公阮秉謙詩集, ký hiệu AB.635, sách chép tay, thơ chữ Hán, 75 trang.

– Trạng nguyên Trình Quốc công sấm ký狀元程國公讖記, ký hiệu AB.345, sách chép tay, chữ Nôm, 33 trang.

– Trình Quốc công Bạch Vân Am thi tập 程國公白雲庵詩集, ký hiệu AB.309, sách chép tay, 100 bài thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, 98 trang

– Bạch Vân Am thi tập 程國公白雲庵詩集, ký hiệu AB.157, sách chép tay, 100 bài thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, 44 trang.

– Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập 程國公阮秉謙詩集, ký hiệu AB.635, sách chép tay, 100 bài thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm và hơn 70 bài thơ Nôm tồn nghi là của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

– Bạch Vân Am cư sĩ Nguyễn Trình Quốc công sấm ký 白雲庵居士阮程國公讖記, ký hiệu VNb.3, sách chép tay bằng bút sắt trên giấy học sinh, 25 trang. Một số bài thơ và câu sấm, tương truyền là do Nguyễn Bỉnh soạn.

– Sấm ký bí truyền 讖記祕傳, ký hiệu VHv.2261, sách chép tay, chữ Nôm, 34 trang. Những câu sấm, tương truyền là do Nguyễn Bỉnh soạn.

– Trình Quốc công sấm ký 程國公讖記, ký hiệu AB.345, sách chép tay, chữ Nôm, 33 trang. Những câu sấm, tương truyền là do Nguyễn Bỉnh soạn.

– Trình tiên sinh quốc ngữ 程先生國語, ký hiệu AB.444,sách chép tay, chữ Nôm, 22 trang. Nhưng ghi chép hương ước, không phải thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

– Tam giáo tượng minh bi三教像銘碑, N04662.

Ngoài ra, thơ, văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm có trong các sách lưu giữu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm: Danh thi hợp tuyển名詩合選, Địa học trích anh地學摘英, Hàn các tùng đàm翰閣叢談, Nhất tích thiên văn gia truyền一蹟天文家傳, Quách thị gia tàng郭氏家藏, Quảng lãm danh ngôn tập lục廣覽名言集錄, Quảng Ngãi tỉnh nữ học trường 廣義省女學場, Thi sao詩抄, Thi văn tạp ký nội phụ Hán tự đối liên tế văn trướng văn詩文雜記內附漢字對聯祭文帳文, Thiên gia thi tập天家詩集, Thiên Nam ngữ lục ngoại kỷ天南語錄外紀, Tiên chính cách ngôn先正格言, Toàn Việt thi lục全越詩錄, Trần vương truyện khảo陳王傳考, Việt Nam sơn hà hải động thưởng vịnh越南山河海峒賞詠, Việt thi tục biên越詩續編, Việt tuý tham khảo 越粹參考, v.v…

Tại Thư viện Quốc gia Việt Nam có 4 bản thơ, văn Nguyễn Bỉnh Khiêm:

– Bạch Vân Am thi tập白雲庵詩集, với 03 ký hiệu R.2017, R.1917, R.1718 ; trong đó bản ký hiệu R.2017 trùng với bản A.2256 của Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

– Bạch Vân Am tiên sinh白雲庵先生, ký hiệu R.101, sách chép tay, thơ chữ Hán, 75 trang.

Như vậy, có thể thấy thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm lưu truyền đến nay chép trong nhiều văn bản; khi nghiên cứu, biên dịch và giới thiệu thơ văn của ông, một yêu cầu đặt ra là công tác văn bản học phải đặt ra đầu tiên. Đây thực sự là việc làm khó khăn, chả thế mà đã có nhiều công trình nghiên cứu, biên dịch và giới thiệu thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm mà số lượng thơ văn của ông, nhất là số bài thơ Nôm đã chưa có được tiếng nói chung.

Văn bản thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Hiện trong kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm có 3 văn bản chép thơ Nom của Nguyễn Bỉnh Khiêm: Trình Quốc công Bạch Vân Am thi tập 程國公白雲庵詩集, ký hiệu AB.309; Bạch Vân Am thi tập 程國公白雲庵詩集, ký hiệu AB.157 và Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập 程國公阮秉謙詩集, ký hiệu AB.635.

Trong đó 02 bản Trình Quốc công Bạch Vân Am thi tập 程國公白雲庵詩集, ký hiệu AB.309 và Bạch Vân Am thi tập 程國公白雲庵詩集, ký hiệu AB.157 đều thống nhất chép 100 bài thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bản Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập 程國公阮秉謙詩集, ký hiệu AB.635, chép 100 bài thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm và hơn 50 bài thơ Nôm tồn nghi là của Nguyễn Bỉnh Khiêm. So sánh 100 bài thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong 3 thi tập nêu trên, Phạm Văn Ánh nhận xét “về cơ bản đều giống nhau, thậm chí giống cả trật tự các bài (trừ một vài trường hợp không đáng kể)”(18). Có lẽ do ấn tượng về lời nhận xét của Vũ Khâm Lân “tất cả đến hơn ngàn bài, ngày nay sót lại độ hơn một trăm”, nên người sưu tập sau này đã dừng lại ở con số 100 là đáng tin cậy. Còn hơn 70 bài thơ Nôm tồn nghi là của Nguyễn Bỉnh Khiêm chép trong Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập 程國公阮秉謙詩集, ký hiệu AB.635, hiện cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Trong bản AB.635, từ tờ 19b chép thêm các phần: 1/ Trình Trạng nguyên hựu thi nhất thủ程狀元又詩一首, nhưng lại chép 2 bài thơ Nôm. 2/ Trình công ngâm thi程公吟詩, chép 51 bài thơ Nôm đều không đề tên bài, trong đó bài số 15 trùng với bài số 51. 3/ Từ tờ 29b, chép tiếp 21 bài thơ Nôm đều có đầu đề. 4/ Từ tờ 33b, chép 9 bài thơ văn chữ Nôm và chữ Hán, trong đó có 3 bài thơ Nôm và 6 bài thơ văn chữ Hán.

Khi khảo về 21 bài thơ Nôm chép từ tờ 29b – tờ 33a trong bản AB.635, Nguyễn Tá Nhí cho rằng “21 bài thơ Nôm có đầu đề này rất có thể không phải của Nguyễn Bỉnh Khiêm … 21 bài thơ này được ghi đầy đủ trong tác phẩm Sô Nghiêu đối thoại (bản ký hiệu AB.469) in năm Cảnh Hưng thứ 41 (1780) của An Lạc cư sỹ”(19). Hay như 3 bài thơ Nôm chép ở phần cuối bản AB.635 cũng không phải thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Như vậy thơ Nôm cho là của Nguyễn Bỉnh Khiêm từ các nguồn tư liệu là 153 bài, nhưng các nhà nghiên cứu như Bùi Duy Tân, Bùi Văn Nguyên, v.v… cho rằng có khoảng 30 bài trùng nhau giữa thơ Nôm Nguyễn Trãi và thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bùi Duy Tân nhận xét: “Phần chắc là 2 bản thơ Nôm của hai đại gia (Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm) đều là những bản sao đi chép lại ở thời sau, từ sau khi nguyễn Bỉnh Khiêm qua đời 1585 đến trước khi bản Phúc Khê được in 1868, quãng ba bốn trăm năm, quá nhiều thời gian để hai tập thơ (Quốc âm thi tập và Bạch Vân Am thi tập) có thể lẫn lộn vào nhau”(20).

Còn như, theo ghi chép của Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú và Trần Văn Giáp; Nguyễn Bỉnh Khiêm có Bạch Vân quốc ngữ thi, hiện trong kho sách Hán Nôm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Thư viện Quốc gia Việt Nam không thấy có sách này, mà ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm có Trình tiên sinh quốc ngữ 程先生國語, ký hiệu AB.444,sách chép tay, chữ Nôm, 22 trang. Nhưng ghi chép hương ước, không phải thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm từ trước đến nay đã có nhiều bản phiên âm. Từ năm 1930, Sở Cuồng Lê Dư trong Quốc học từng san, tập 1 đã phiên âm giới thiệu 96 bài thơ Nôm. Sau này, nhiều nhà nghiên cứu như Trần Trung Viên, Hoàng Xuân Hãn, Paul Schneider, v.v… cũng phiên âm, giới thiệu thơ, văn Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nhưng đem lại những dấu ấn về việc phiên âm và giới thiệu thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm phải kể đến các công trình:

– Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1983, do Đinh Gia Khánh chủ biên, Hồ Như Sơn phiên âm giới thiệu phần thơ Nôm đã tuyển chọn 161 bài thơ Nôm.

– Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1989, do Bùi Văn Nguyên phiên âm giới thiệu 177 bài thơ Nôm.

– Tổng tập văn học Nôm Việt Nam, Tập 1, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008, Nguyễn Tá Nhí chủ biên, phần thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm (Bạch Vân quốc ngữ thi) đã phiên âm giới thiệu 176 bài thơ Nôm.

– Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm tổng tập, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2014, phần khảo thơ Nôm do Phạm Văn Ánh thực hiện, giới thiệu 152 bài thơ Nôm.

Như vậy, thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có nhiều nhà nghiên cứu phiên âm giới thiệu, số lượng bài thơ không thống nhất. Về 100 bài thơ là thống nhất, còn số lượng hơn 100 thì chưa được thống nhất. Chúng tôi biết rằng vấn đề văn bản học trong các tác phẩm thơ Nôm như Quốc âm thi tập國音詩集 của Nguyễn Trãi (1380-1442), Hồng Đức quốc âm thi tập洪德國音詩集 của Lê Thánh Tông và các tác giả khác trong Hội Tao đàn, Bạch Vân Am thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm, v.v… là rất khó khăn; nhưng giới nghiên cứu Hán Nôm và nghiên cứu văn học không nên để mãi tình trạng nhầm lẫn và khi công bố ghi là tạm thời chấp nhận như hiện nay. Chúng ta đã có những nhà nghiên cứu tiến hành minh định thơ Nôm Nguyễn Trãi và thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm, dựa trên cơ sở về phong cách thơ, hay ngữ âm lịch sử, v.v… như Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Tài Cấn, Nguyễn Văn Hiệp; bước đầu đã có những căn cứ để biện minh về hơn 30 bài thơ trùng lặp của hai đại thi hào, thiết nghĩ trong tương lai khi làm lại thơ chữ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm thì nên giải quyết các bài thơ trùng lặp này.

Lời kết

Chữ Nôm ra đời có ý nghĩa hết sức lớn lao, đánh dấu bước phát triển của nền văn hóa dân tộc, ý thức tự cường và khẳng định vai trò, địa vị của tiếng Việt. Như mọi người đều biết, tiếng Việt của chúng ta rất giàu hình ảnh, là tiếng nói của nhân dân, là lời văn trong sáng của các nhà ngoại giao và là ngôn ngữ cảm xúc văn học trong các sáng tác của các nhà thơ, nhà văn và là kho tàng ca dao trong sáng tác văn học dân gian. Tiếng Việt của chúng ta giàu tình cảm, nhiều màu sắc và âm điệu, phản ánh tâm hồn trong sáng và cốt cách vĩ đại của nhân dân Việt Nam trải hàng ngàn năm lịch sử.

Chữ Nôm ra đời, đã đáp ứng được phần nào nhu cầu phát triển của nền văn hóa dân tộc, giai đoạn nước Đại Việt vững bước trong kỷ nguyên độc lập, tự chủ và thống nhất. Ở thời nhà Lý, chữ Nôm xuất hiện trong các văn bản chỉ đơn thuần là những từ ghi tên người hay tên đất; nhưng sang thời nhà Trần thì đã phát triển thịnh hành và bắt đầu dùng trong ghi chép trước thuật để tạo nên văn học chữ Nôm. Theo các tài liệu đã công bố, chúng ta còn lưu giữ được một số văn bản được coi là văn học chữ Nôm ở vào thời kỳ này. Trước hết phải kể đến Cư trần lạc đạo phú居塵樂道賦 và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca得趣林泉成道歌 của vua Trần Nhân Tông (1258 – 1308), tổ thứ nhất của phái Thiền tông Trúc Lâm; tiếp đến là Hoa Yên tự phú花煙寺賦 của Lý Đạo Tái (1254 – 1334), đạo hiệu là Huyền Quang, tổ thứ ba của phái Thiền tông Trúc Lâm. Sau này Quốc âm thi tập, Hồng Đức quốc âm thi tập, Bạch Vân Am thi tập, Ngự đề Thiên hòa doanh bách vịnh御提天和營百詠 gồm của Trịnh Căn (1633 – 1709), Càn nguyên ngự chế thi tập 乾元御制詩集của Trịnh Doanh (? – 1767), Thiên Nam ngữ lục天南語錄 (khuyết danh), Thiên Nam minh giám天南明鋻 (khuyết danh), Chinh phụ ngâm khúc征父吟曲của Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748) và của Phan Huy Ích (1750 – 1822),Ai tư vãn哀思晚 của Lê Ngọc Hân (thế kỷ XVIII), Đoạn trường tân thanh 斷腸新聲 của Nguyễn Du (1765 – 1820), Hoa tiêntruyện 花仙傳 của Nguyễn Huy Tự (1743 – 1790 Lục Vân Tiên 蓼雲仙của Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888), v.v… đã nói lên sức sống mãnh liệt, một bước tiến mới của ngôn ngữ dân tộc trong sáng tác văn học nghệ thuật và khẳng định vai trò của văn học chữ Nôm trong nền văn học trung đại Việt Nam.

——————————-

Chú thích:

1. Trịnh Khắc Mạnh: Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2012, tr. 30.

2. Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí (bản dịch), Tập 2, Nxb. Lao Động – Trung tâm Văn hóa Đông Tây, tr. 1274.

3.Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm tổng tập, Nxb.Văn học, Hà Nội, 2014, tr.124-125.

4,5,6. Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí (bản dịch), Tập 2, sđd, tr. 1274.

7. Đại Nam thực lục, tập 3 (bản dịch), Nxb. Giáo dục, 2001, tr.29.

8. Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm tổng tập, Nxb.Văn học, Hà Nội, 2014, tr.124.

9. Các bản dịch thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm dẫn trong bài này đều theo Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1983.

10. Nguyễn Bỉnh Khiêm về tác gia và tác phẩm, Trần Thị Băng Thanh – Vũ Thanh (tuyển chọn và giới thiệu), Nxb. Giáo dục, 2001, tr. 632.

11. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Văn tịch chí (bản dịch), Tập III, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 127 – 130.

12. Tổng tập văn học Nôm Việt Nam, Nguyễn Tá Nhí (chủ biên), Tập 1, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 643.

13. Nguyễn Bỉnh Khiêm về tác gia và tác phẩm, Trần Thị Băng Thanh – Vũ Thanh (tuyển chọn và giới thiệu), sđd, tr. 632.

14. Lê Quí Đôn: Đại Việt thông sử (bản dịch), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978, tr.109.

15. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Văn tịch chí (bản dịch), Tập III, sđd, tr. 127 – 130.

16, 17. Trần Văn Giáp: Tác phẩm được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003, tr. 901.

18. Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm tổng tập, sđd, tr.100.

19. Tổng tập văn học Nôm Việt Nam, Nguyễn Tá Nhí (chủ biên), Tập 1, sđd, tr. 646.

20. Bùi Duy Tân: Khảo và luận một số thể loại tác gia – tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001, tr. 220 – 221.

—————————–

Tài liệu tham khảo:

– Di sản Hán Nôm Việt Nam-Thư mục đề yếu, Trần Nghĩa-François Gros đồng chủ biên, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993.

– Nguyễn Tài Cẩn: Một số vấn đề về chữ Nôm, Nxb. Đại học & Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1985.

– Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Võ Quang Nhơn, Mai Cao Chương và Nguyễn Lộc: Văn học Việt Namtừ thế kỷ X đến năm 1945 (ba tập), Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2000-2002 (tái bản).

– Trịnh Khắc Mạnh: “Chữ Nôm và nền văn học Nôm”, Tạp chí Hán Nôm, số 6/2004.

– Tổng tập văn học Việt Nam (nhiều tập), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000.

Sự Tích Đền Bà Đế Hải Phòng

Mời các bạn và các em đọc Sự tích Đền Bà Đế ở Đồ Sơn, Hải Phòng trong kho tàng truyện dân gian Việt Nam, truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử. SỰ TÍCH ĐỀN BÀ ĐẾ

Ngày xưa, dưới triều Lê, vào thời Trịnh Nguyễn phân tranh nam bắc, giặc giã nổi lên tứ tung trong nước. Ở làng Đỗ Hải sát ven bờ biển miền Bắc thuyền bọn cướp bể Tàu ô thường hay ra vào đánh phá.

Một hôm, một chiếc thuyền trận lớn từ phía tây nam dong buồm thẳng vào vịnh Hạ Long, ngang đầu làng Đỗ Hải thì rẽ lái vào bờ, tìm đến chỗ vắng vẻ mà thả neo. Trên thuyền lớn ròng xuống một chiếc ghe nhỏ cho một vị tướng trẻ tuổi cùng năm người lính hộ vệ lên bờ.

Trên cánh đồng cỏ cạnh bãi bể, một cô gái đang cắt cỏ hát nghêu ngao. Vị tướng lắng nghe tiếng hát ngọt ngào hướng đi về phía ấy. Người con gái quê ngửng đầu lên, ngạc nhiên, sợ hãi thấy quan quân trước mắt vứt liềm toan bỏ chạy. Vị tướng gọi lại cho biết mình là một hoàng tử họ chúa Trịnh đi tuần ngoài biển ghé qua đây, muốn vào làng. Cô gái cắt cỏ nghe nói trở nên bạo dạn, dẫn đường đi trước. Qua đỉnh một ngọn đồi nhìn ra khắp vùng, hoàng tử dừng chân dưới gốc cổ thụ im mát, ra dấu cho đám tùy tùng lui. Còn lại một mình với cô gái quê da thịt dậy thì, hoàng tử kéo tay ôm choàng lấy vào lòng. Cô gái cố vùng vẫy gỡ ra song hai cánh tay khỏe mạnh càng siết chặt lại. Rồi chiếc áo gấm hoàng bào phủ lên lớp vải nâu sồng. Đến lúc cô gái quê mở mắt ra thì vị hoàng tử đã đâu mất, thấy bên cạnh mình một nén vàng óng ánh trên cỏ. Nàng đưa mắt nhìn ra phía biển, thấy chiếc thuyền buồm đã chạy xa phía Hạ Long, chỉ còn một chấm trắng trên nền trời. Tổn thương cả thể xác lẫn tâm hồn, nàng ứa nước mắt cầm nén vàng lên rồi mạnh tay quẳng vào bụi.

Từ ngày đó, cô gái cắt cỏ mất cả giọng hát hồn nhiên. Ba tháng sau, một hôm đội cỏ về nhà, nàng bỗng thấy hoa mắt, trời đất như sụp đổ, ngã lịm trên đường làng. Bụng nàng cứ lớn dần, bà mẹ nghi ngờ tra hỏi, nàng tình thật kể lại việc đã qua.

Bà mẹ không ngớt lời chửi mắng, nguyền rủa và đánh đập cô gái chửa hoang, rồi báo tin xấu hổ cho chồng hay. Để tránh tiếng nhục nhã với làng nước và khỏi phải phạt vạ, cả gia đình gồm ông bà nội, cha mẹ và cô chú, bà bác họp lại để xử tội đứa con gái bất hạnh. Muốn ém nhẹm tiếng xấu cho dòng họ, mọi người đồng ý bắt nàng thả trôi sông.

Nàng bị đưa xuống ghe, trói tay chân lại, buộc đá vào cổ, rồi chở ra ngoài khơi, ẩy xuống biển. Khi quẳng nàng xuống biển, lạ thay người con gái chửa hoang đeo nặng trĩu đá vẫn trồi lên mặt nước. Người ta phải lấy sào nhận xuống một hồi xác mới chịu chìm.

Song từ đó, ghe thuyền qua lại vùng này thấy cô gái thường hiển hiện trên sóng nước làm nhiều việc linh ứng. Dân chúng miền duyên hải lấy làm sợ hãi, dựng miếu thờ ở ngọn đồi trông ra biển, gọi là đền Bà Đế ngày nay hãy còn dấu tích.

Cập nhật thông tin chi tiết về Trở Về Với Mẹ Ta Thôi – Đồng Đức Bốn – Hội Nhà Văn Hải Phòng – Văn Hải Phòng – Văn Thơ Hải Phòng – Văn Học Hải Phòng trên website Kovit.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!