Tôi Viết Bài Thơ “Dặn Con”

Tản văn

Cuối năm 1990,“Mái nhà tôi chụm giữa dốc Bồ Hòn”, được UBND thị xã Hồng Gai bồi thường và cho di chuyển để mở rộng diện tích, tôi được mua một ô đất cạnh đường 18 (A) ở cuối phố Hạ Long, cách bến phà Hòn Gai 350 mét, cũng là nơi tôi ở hiện nay. Bà xã tôi lại nghỉ chữa bệnh, nên có mở trước cửa nhà ống mới xây, một quán nước, để có việc làm cho vui và thêm thu nhập. Vì trên đường huyết mạch của cả tỉnh, nên ngày nào cái quán nước của bà xã tôi (và cháu gái ngồi thay những ngày chủ nhật) cũng có dăm ba vị hành khất qua lại xin tiền. Điều ấy là bình thường. Tôi có dặn vợ con rằng, bất cứ người nào đã chìa tay ra xin tiền thì nhất thiết phải cho người ta để người ta không tủi thân, cũng chỉ từ 200 đến 500 đồng một lần mà thôi. Mình cố bớt ra một chút để giúp người khác. Lúc đó còn tiêu tiền trăm, nên 500 đồng đã là sang rồi.

Ngày 13-11-1991, tôi ngồi quán để tiếp mấy bạn thơ qua chơi, thì có một người hành khất đến, người này nói tiếng miền Trung, trạc 60 tuổi, quần áo bạc cũ nhưng không vá và cũng không đến nỗi “hôi hám úa tàn” như nhiều người hành khất khác. Tôi tặng ông 500 đồng và mời ông chén nước trà Thái như thường lệ. Các bạn tôi cũng tặng ông, người 200, người 500 đồng. Tôi mời đến lần thứ hai, thứ ba, ông mới uống chén trà. Bỗng ông hỏi tôi, rằng ông từ xa đến lần đầu, chưa biết thị xã này thế nào. Ông nhờ tôi chỉ cho ông chỗ nào có đông người và có lòng hảo tâm thì mách ông, để ông tìm đến cho nhanh hơn. Tôi nói ở đây, chỗ nào cũng có người hảo tâm, nhưng đông người thì ở những chỗ này, chỗ này… Ông bảo cho ông xin mảnh giấy và mượn cái bút để ghi. Tôi xé luôn 1 trang trong sổ nhận hàng của bà vợ tôi và đưa ông cái bút đã kẹp sẵn trong sổ. Ông ghi theo lời tôi và điều tôi rất kinh ngạc là ông ghi bằng chữ Hán, nét chữ khá đẹp và hào phóng. Tôi sợ quá, vì biết ông này có thể là bậc thầy mình. Bởi cả làng tôi chỉ có 1 người biết chữ Hán, đã bị đấu tố trong Cải cách ruộng đất. Tôi mời ông vào hẳn trong nhà uống nước, ông từ chối, tôi bèn rót ra 1 chén rượu trắng mời ông. Rụt rè mãi ông mới uống và uống, cũng như chén trà, ông uống cũng không cạn hết, tôi biết đây là phong thái của con nhà nòi rồi. Ông cảm ơn cả bà xã tôi, chào cả quán, rồi đi. Tôi xin tiễn ông một đoạn đường, chừng dăm chục mét, đến chỗ khuất, là gốc cây xà cừ phải 2 người ôm, cạnh nhà tù cũ của Pháp, tôi dúi cho ông tờ 5.000 đồng mà không nói gì. Ông nhìn tôi một lúc rồi cho tiền vào túi cũng không nói gì. Bỗng ông cúi xuống vái tôi một vái và thế là tôi bật khóc… “Ai biết cơ trời vần xoay…”. Câu thơ ấy đã đến với tôi ngay lúc ấy, là câu thơ xuất hiện sớm nhất. Tôi lặng lẽ về nhà, các bạn tôi thấy tôi đi, cũng đã đi ra bến phà cả rồi.

Tôi lên gác ghi luôn bài thơ đó, dường như đã có sẵn ở trong lòng mình, chỉ chừng non 10 phút là xong. Cho đến bây giờ, bài thơ vẫn “nguyên xi” như bản thảo ban đầu, không hề chữa một chữ nào. Bài thơ được biết đến rộng rãi là khi nó được chọn là 1 trong 100 bài thơ hay của thế kỉ XX và lại được Đài Truyền hình Việt Nam truyền hình trực tiếp trong Ngày thơ Việt Nam, tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Thăng Long – Hà Nội. Vài năm gần đây, bài thơ đã được chọn làm đề thi giỏi văn lớp 9 của nhiều tỉnh thành trong cả nước. Theo yêu cầu của Bảo tàng tỉnh Hải Dương, bài thơ đã được tác giả chép tay để trưng bày. Và từ dịp Tết Bính Thân đến nay, bài thơ được giới thiệu và phát nhiều lần trong chương trình Gala Tử Tế của Đài Truyền hình Việt Nam.

Trần Nhuận MinhTuần Báo Văn Nghệ chúng tôi số 396

DẶN CON

Chẳng ai muốn làm hành khấtTội trời đày ở nhân gianCon không được cười giễu họDù họ hôi hám úa tàn

Nhà mình sát đường, họ đếnCó cho thì có là baoCon không bao giờ được hỏiQuê hương họ ở nơi nào

Con chó nhà mình rất hưCứ thấy ăn mày là cắnCon phải răn dạy nó điNếu không thì con đem bán

Mình tạm gọi là no ấmAi biết cơ trời vần xoayLòng tốt gửi vào thiên hạBiết đâu nuôi bố sau này…

Cửa Lục Thủy, 13-11-1991

Viết Đoạn Văn Nghị Luận 200 Chữ Suy Nghĩ Về Ý Nghĩa Bài Thơ “Dặn Con” Của Trần Nhuận Minh

Viết đoạn văn nghị luận 200 chữ suy nghĩ về ý nghĩa bài thơ “Dặn con” của Trần Nhuận Minh

Dặn con của Trần Nhuận Minh là một bài thơ thấm thía bởi đề cập đến một cách ứng xử rất mực chân tình, nhân văn trong cuộc sống. Bài thơ là lời dặn dò chân thành, thiết tha của người cha đối với con. Người cha mong muốn biết cảm thương, đồng cảm, chia sẻ và tôn trọng những người khó khăn hơn mình, tránh thái độ kì thị, khinh miệt, thương hại; biết sống một cách khoan dung và nhân ái. Khi biết yêu thương, đồng cảm và sẻ chia sẽ giúp làm giảm bớt khó khăn về vật chất, cũng như giảm bớt cả những tổn thương về tinh thần cho những người vốn đã bất hạnh đau khổ. Đó là biểu hiện của tình thương, tình người. Cái sâu sắc của người cha khi dạy con là lòng nhân ái. Ý nghĩa bài thơ nhắc nhở ta về lối sống, thái độ sống cao đẹp trong cuộc đời. Thế nhưng, trong cuộc sống, vẫn còn có những con người sống ích kỉ, lạnh lùng, vô cảm; thiếu sự nhân văn trong cư xử với người khác. Những người như thế thật đáng chê trách. Hiểu đực tâm sự của người cha đã gửi gắm trong bài thơ, chúng ta cần tự nhìn nhận đánh giá lại bản thân mình qua hành vi ứng xử với người bất hạnh xung quanh; cần điều chỉnh cách sống, cách ứng xử để thể hiện là một người có văn hóa; chú ý đến việc hoàn thiện nhân cách và vun đắp vẻ đẹp tình người cho tâm hồn. Cuộc sống có thể sẽ khó khăn hơn nếu chúng ta biết yêu thương, chia sẻ nhưng nhất định sẽ tốt đẹp và hạnh phúc hơn.

Đến Với Bài Thơ Hay: Dặn Con

Chẳng ai muốn làm hành khấtTội trời đày ở nhân gianCon không được cười giễu họDù họ hôi hám úa tàn Nhà mình sát đường họ đếnCó cho thì có là bao

Con không bao giờ được hỏiQuê hương họ ở nơi nào Con chó nhà mình rất hưCứ  thấy ăn mày là cắnCon phải răn dạy nó điNếu không thì con đem bán Mình tạm gọi là no ấmAi biết cơ trời vần xoaLòng tốt gửi vào thiên hạBiết đâu nuôi bố sau này ../.

(Trần Nhuận Minh)

Với bài thơ Dặn con của nhà thơ Trần Nhuận Minh thì việc dạy con chỉ thông qua lời dặn dò giản đơn nhưng cũng hết sức sâu sắc và có ý nghĩa.

Có  lẽ có rất nhiều điều để Trần Nhuận Minh truyền đạt cho con nhưng trước hết ông đã dạy cho con về lòng yêu thương con người, đó là hạt nhân cơ bản, cốt lõi, bài học mà ở bất kỳ nơi đâu, bất kỳ thời đại nào con người ta cũng cần phải có. Đặc biệt là trong bối cảnh xã hội hiện nay, nhiều người chỉ chú trọng của cải vật chất, coi trọng đồng tiền mà quên đi nhiều thứ. Trong đó có tình yêu thương con người, đồng loại một thứ tình cảm thiêng liêng quý báu nhưng ngày càng phai nhạt.

Cả  bài thơ chỉ là lời dặn dò của người cha, lời dặn ấy chính là bài học mà người cha chỉ cho đứa con thấy những việc cần làm, nên làm, những điều cần tránh, không nên làm.

Mở  đầu bài thơ, người bố đưa ra một nhận định về cuộc đời, lẽ đời. Từ đó người bố tạo cơ sở đưa đứa con vào những suy ngẫm, để từ những suy ngẫm đó mà con sẽ  hành động đúng theo những lời bố dặn.

Chẳng ai muốn làm hành khất

Tội trời đày ở nhân gian

Nhà thơ đã khéo léo đưa ra việc có người hành khất đến nhà, lý do cũng đơn giản là  vì nhà mình sát đường họ đến. Nhằm mục đích giáo dục con không được có thái  độ giễu cợt, xúc phạm họ. Vì trên đời này không ai muốn mình phải làm hành khất, không ai muốn ngửa tay ra xin từng miếng ăn, từng đồng tiền của người khác. Bản thân họ cũng đau xót, tủi hổ và nhục nhã lắm chứ!

Mà đã là người hành khất thì việc họ sẽ  hôi hám, úa tàn! cũng là điều dễ hiểu. Nếu là mình trong hoàn cảnh ấy thì cũng thế thôi. Cho nên con phải cảm thông cho họ.

Do vậy ăn mày có đến, dù ít dù nhiều con phải cho họ, và con không được hỏi gốc tích, quê hương. Con hỏi kỹ về họ có  nghĩa là con đang chọc vào nỗi đau, làm thức dậy những quá khứ buồn, những tổn thất, mất mát lớn lao không thể nào bù đắp được.

Người cha thật tinh tế, quan sát kỹ mọi điều và căn dặn thêm đứa con của mình:

Con chó  nhà mình rất hư

Cứ  thấy ăn mày là cắn

Dặn con về lòng thương người, người bố nói đến con chó, một con vật nuôi thân thuộc trong chính ngôi nhà của mình. Để đứa con thấy rằng: con chó thấy người ăn mày rách rưới, dơ bẩn vào nhà là cắn. Những hành động ấy của con chó là không thể chấp nhận được, nó không được có thái độ hung hăng và khinh người như vậy. Con phải răn dạy nó, nếu nó không bỏ được cái tật đó thì con hãy bán nó đi. Dẫu biết rằng chó là một con vật nuôi nhưng khi nó được nuôi trong gia đình này thì buộc nó cũng phải sống tình nghĩa, biết yêu thương và không được có thái độ không tốt như thế.

Một cách giáo dục con nhẹ nhàng nhưng đầy ý  nghĩa. Con nên nhớ rằng: việc cho người hành khất là một việc làm tuỳ tâm, một sự giúp  đỡ nhỏ nhoi, không ràng buộc. Nhưng như thế  không có nghĩa là khi cho họ rồi con sẽ  có thái độ không tốt hoặc buộc họ phải mang ơn. Bởi trong thực tế cuộc đời này, nhiều người có thái độ khinh bỉ, xúc phạm và rất coi thường người hành khất. Có người cho người hành khất như là việc bố thí, có người coi đó là việc cực chẳng đã phải làm chứ họ chẳng rung động thông cảm, có người lấy đó làm một việc làm lớn lao mà người nhận phải mang ân huệ. Làm như thế thì không nên!

Vốn là người từng trải người bố đã nghĩ  rất thấu đáo và sâu sắc mọi điều. Hiện tại người bố nhận thấy “Mình tạm gọi là no ấm”. Nghĩa là dù sao gia đình mình vẫn còn quá ấm cúng và hạnh phúc so với nhiều gia đình, nhiều hoàn cảnh, nhiều mảnh đời bất hạnh cần sự cưu mang, sẻ chia giúp đỡ của cộng đồng. Nhưng biết đâu được cơ trời vần xoay, một ngày nào đó bố cũng trở thành người hành khất! Cho nên việc con làm bây giờ đó là việc tu nhân tích đức, một việc làm hết sức có ý nghĩa. Và rồi một ngày nào đó nhỡ bố có là người hành khất thì người ta sẽ giúp bố, biết đâu!

     Cái hay của bài thơ có lẽ nằm ở  khổ thơ cuối này. Nó có ý nghĩa như sự giải thích rõ thêm vì sao đứa con phải làm những điều bố dặn. Nếu mở đầu bài thơ “Chẳng ai muốn làm hành khất” thì đến cuối bài Trần Nhuận Minh lại nói “Ai biết cơ trời vần xoay”- Nghĩa là ai cũng có thể trở thành hành khất, kể cả bố đây!

Lời dặn con hết sức giản dị, nhưng cũng hàm chứa những ẩn ý sâu xa. Người bố không chỉ dặn đứa con của mình mà qua đó ông đã đánh thức lòng trắc ẩn, sự yêu thương sẻ chia, khơi dậy lòng tốt, tấm lòng từ thiện của nhiều người. Để rồi họ nhận ra rằng việc giúp đỡ người bất hạnh, người hành khất, những người có hoàn cảnh không may … đó chính là việc nghĩa mà họ cần phải nên làm, dù rằng đây là hành động không ai bắt buộc chỉ là tuỳ tâm, tuỳ thích!

Của cho ấy là của gửi, ta cho người hành khất tức là ta đã gửi lòng tốt vào trong thiên hạ. Rồi biết đâu, cuộc đời thăng trầm, dâu bể,  một ngày nào đó mỗi người trong chúng ta ai cũng có thể trở thành hành khất . Khi ấy người ta cũng sẽ đối xử tốt như ta đã đối xử, giúp đỡ những người hành khất năm nào!

Với những từ ngữ, câu chữ mộc mạc, giản dị, cái nhìn tinh tế và những trải nghiệm về đời sống. Trần Nhuận Minh đã đem đến cho công chúng một bài thơ hay, một bài học đạo đức có ý nghĩa. Để con khôn lớn thành người có nhiều điều mà người bố phải dạy cho con. Nhưng cái quan trọng trước tiên nhất đó là dạy con lòng yêu thương con người. Lời dặn con của nhà thơ cũng chính là điều mà các bậc làm cha làm mẹ cần phải dạy cho con mình.

Nguyễn Văn Hoà, tapchihuongviet.eu

Giáo viên Trường phổ thông cấp 2-3 Xuân Phước,huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên

Ý Nghĩa Nhan Đề Của Bài Thơ Khi Con Tu Hú

Khi con tu hú bài thơ của tác giả Tố Hữu sáng tác trong thời gian bị cầm tù, vì sao tác giả đặt nhan đề như vậy ? Ý nghĩa nhan đề Khi con tu hú? Tóm tắt nội dung của bài thơ chính xác ngay sau đây.

Tố Hữu (1920 – 2002) tên khai sinh Nguyễn Kim Thành, sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo ở tỉnh Thừa Thiên – Huế. Ông giác ngộ và đi theo cách mạng từ khá sớm và giữ nhiều chức vụ sau cách mạng tháng Tám. Trong quá trình tham gia cách mạng ông đã từng bị bắt và vượt ngục. Về sự nghiệp sáng tác, Tố Hữu tham gia và học làm thơ khi mới 7 tuổi. Những tập thơ đầu tiên được sáng tác vào những năm 1937 – 1938. Ông được coi là lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Được giác ngộ và đi theo lí tưởng cách mạng từ sớm, nên thơ ca của ông luôn có sự hài hòa và thống nhất với cuộc đời cách mạng. Những vần thơ dung dị, chân thật và cảm động về lí tưởng, về Bác có thể coi là những vần thơ hay nhất. Một số tập thơ tiêu biểu phải kể đến như: Từ ấy (1937 – 1946); Việt Bắc (1946 – 1954); Gió lộng; Ra trận; Máu và hoa…

“Khi con tu hú” là một trong số những tác phẩm tiêu biểu trong tập thơ “Từ ấy” của tác giả. Tháng 4 -1939, trên bước đường hoạt động cách mạng, Tố Hữu bị địch bắt và giam cầm tại nhà lao tỉnh Thừa Thiên – Huế. Trong thời gian bị giam cầm, Tố Hữu đã viết nên bài thơ này (tháng 7 – 1939), khi đó ông mới 19 tuổi. Đây được coi là tiếng lòng của chàng thanh niên 19 tuổi mang trong mình niềm say mê lí tưởng, tha thiết yêu đời. Dù bị giam cầm, tách biệt với thế giới bên ngoài vẫn hăng hái hoạt động,một lòng vì lý tưởng cao cả.

Bố cục bài thơ

Bài thơ “Khi con tu hú” được chia làm hai phần chính:

Phần 1: 6 câu đầu – Đây là bức tranh mùa hè sôi động

Các hình ảnh báo hiệu bức tranh mùa hè sôi động: hình ảnh “Lúa chiêm đang chín”, “Trái cây vườn râm”, “Tiếng ve, bắp rây”, “Nắng đào”, “Tiếng sáo diều”… Kết hợp với không gian cao rộng, khoáng đạt với đầy đủ các âm thanh, màu sắc nhộn nhịp.

Phần 2: 4 câu còn lại – Khắc họa tâm trạng của người chiến sĩ cách mạng khi bị giam cầm

Tâm trạng ngột ngạt, uất ức đau khổ khiến nhà thơ có hành động như muốn “đập tan phòng” để đến với thế giới tự do ngoài kia.

Ý nghĩa nhan đề bài thơ

“Khi con tu hú” là một vế trong câu thơ đầu tiên. Đối với mỗi tuổi thơ chúng ta, không ai còn xa lạ với tiếng chim tu hú kêu mỗi dịp hè về. Chim tu hú kêu là lúc bầy chim ùa về trong nỗi nhớ của nhà thơ.

Nhan đề bài thơ “Khi con tu hú” chỉ gồm cụm từ của một loài chim nhưng nó gợi lại nhiều cảm xúc. Tiếng chim cất lên khiến cho nhân vật trữ tình thức tỉnh trong không gian chật hẹp kia. Chỉ với một âm thanh thôi lại như chính tiếng lòng của tác giả. Tiếng chim tu hú gọi bầy ráo rác cũng chính là tiếng gọi của cách mạng, của cuộc sống tự do ngoài kia. Chính tiếng chim đó càng khiến cho người chiến sỹ đang trong ngục tù bỗng cảm thấy khao khát sự tự do, khát vọng sống đối lập với hiện thực phũ phàng.

Tóm tắt nội dung bài Khi con tu hú

Nhà thơ Tố Hữu sáng tác khi đang ở trong tù giam chật hẹp, ngột ngạt, khi ông nghe thấy tiếng chim tu hú cũng có nghĩa là mùa hè đang đến gần. Chính điều đó khơi mạch cảm xúc và càng làm cho người cách mạng cảm thấy tù túng, chật hẹp, cô đơn và mong muốn thoát ra khỏi cảnh ngục tù để được tự do, khao khát bay nhảy.

Tiếng tu hú gọi nhớ mùa hè như thôi thúc tác giả hồi tưởng kỉ niệm và khát vọng cháy bỏng thoát khỏi cảnh giam cầm, thoát khỏi hiện thực tối tăm mà mình đang đối mặt.

Chính tiếng tu hú gọi hè là yếu tố rất quan trọng và đóng góp vào sự thành công của bài thơ.

Đặc sắc trong nghệ thuật

Không chỉ thành công với nội dung cách mạng, “Khi con tu hú” còn chạm đến cảm xúc của người đọc với những đặc sắc nghệ thuật của nó. Thể thơ lục bát quen thuộc tạo cảm giác ngân nga mà chân tình, dễ đi vào lòng người. Bài thơ cho ta thấy nghệ thuật đỉnh cao trong miêu tả và trí tưởng tượng giàu cảm xúc của nhà thơ. Theo đó cả một bầu trời thiên nhiên hiện ra trước mắt người đọc, bỏ qua hoàn cảnh chật hẹp nơi chốn lao tù. Cách kể chuyện sinh động, uyển chuyển thay đổi mọi góc nhìn của nhà thơ khiến cho người đọc như đắm chìm vào bức tranh sôi động ngoài kia.

Đặc biệt là cách xây dựng nghệ thuật âm thanh kết hợp với tạo hình không gian đa dạng. Có thể nói tiếng chim tu hú là nút điểm làm nên thành công cho toàn bài thơ. Ngoài ra còn kể đến các biện pháp tu từ được nhà thơ sử dụng một cách linh hoạt trong toàn bộ bài thơ.

Dặn Con (Thơ Di Chúc Của Nguyễn Khôi)

N guyễn K hôi tôi năm nay (79 xuân ta), già yếu, ốm đau,tuổi cao nhất họ nội tộc ở làng, con trai lấy vợ Tây, làm ăn sinh sống ở nước ngoài, đại dương cách trở… phòng khi đột quỵ “ra đi” bất ngờ, nên có đôi vần gọi là “Di chúc dặn con”…

Bài thơ đã được in ở trang 161/ tập 4 CỔ PHÁP CỐ SỰ – nxb Văn hóa Thông tin…có cái thú vị là: Bài thơ đã được 1 thầy Tiến sĩ Luật/ giảng viên Đại học lấy làm “dẫn chứng ” được coi là khá sinh động và đầy đủ về “Di chúc / Luật thừa kế” ở Việt Nam hiện nay, rất có tính t hời sự (có lẽ do cái DUYÊN: N guyễn K hôi là chuyên viên cao cấp công tác 15 năm ở Văn phòng Quốc Hội (cơ quan lập pháp) và lại là Nhà Thơ/ Nhà Văn nên đã thể hiện bản “Thơ di chúc” gói gọn bằng 19 câu lục bát để dễ nhớ,dễ thuộc..)

– Bài thơ đã được Xuất bản, công bố trên nhiều trang Web trong và ngoài nước…như vậy là Bản quyền thuộc về t ác giả (theo đúng Luật).

– Tuy nhiên về mặt “pháp lý” thì b ài thơ chưa đủ tư cách pháp lý khi đưa ra t òa án làm căn cứ vì chưa được c ơ quan có thẩm quyền công nhận b ài thơ có giá trị p háp lý để các c on buộc phải thực hiện sau khi b ố chết (nếu có tranh chấp). Bài thơ chỉ có giá trị về mặt “đạo đức”/ truyền thống d ân tộc và chỉ để t òa “tham khảo” khi có tranh tụng mà thôi.

N guyễn K hôi xin đăng lại b ài thơ để các Bạn thơ đọc cho vui (cười mũi Nhà thơ lẩm cẩm) và ai thích thì cũng coi là một “tham khảo” khi viết d i chúc

Sau một ngày tối mắt với những công việc ở một công ty doanh nghiệp tư nhân, về căn gác trọ chật hẹp, khi mở mail đọc bài thơ DẶN CON (Thơ Di Chúc) của bác Nguyễn Khôi, tự nhiên thấy trong mình tan biến hết mệt mỏi và trong lòng lại còn cảm thấy nhẹ nhõm vui vui. Đọc di chúc mà lại vui vui, liệu có phải là vô cảm?

Không, hoàn toàn không, vì chính Lời thưa mở đầu, bác Nguyễn Khôi cũng đã nói :” Nguyễn Khôi xin đăng lại Bài thơ để các Bạn thơ đọc cho vui (cười mũi Nhà thơ lẩm cẩm) và ai thích thì cũng coi là một “tham khảo” khi viết Di chúc ”

Nhưng không phải tôi vui vui chỉ vì lời thưa trước hóm hỉnh ấy của một ông già 79 tuổi khi công bố cho bạn bè bài thơ di chúc của mình mà tôi vui vui còn vì thấy trong danh sách mail có hàng chục tên bè bạn, hầu hết đều là các bác đã có tuổi hoặc đều đã đang tuổi trung niên và hết thảy đều có danh vọng, có cả tên tôi, một cô gái mới chỉ đáng tuổi con cháu bác. Điều ấy có nghĩa là bác Nguyễn Khôi không coi tôi là bạn mà gần gụi hơn, thân thiết hơn, coi như con cháu trong nhà.

Nhưng tôi vui vui trên hết chính vì những câu chữ trong bài thơ di chúc . Không chỉ như tác giả nói chỉ gói gọn bằng 19 câu lục bát để dễ nhớ, dễ thuộc mà 19 câu thơ ấy đã thể hiện một cách nhìn đầy cao đẹp của một bậc cây cao bóng cả về đạo lý và văn hóa trong tình cảnh suy thoái đạo đức trong xã hội hiện nay.

Và vì vậy, tôi đọc Dặn Con của bác Nguyễn Khôi trong tâm trạng đã hóa thân thành một đứa con cháu bác.

Câu thơ mở đầu Dặn Con không phải là một lời dặn dò mà là một lời cầu xin:

Nhưng mà tôi sẽ chết than ôi!

Phải đấy, điếu văn dài dòng với cả suối ngôn từ hoa mỹ mà làm gì. Công lớn nhất của bố trong cuộc đời này là cùng mẹ nuôi dạy các con thành người với đúng nghĩa con người. Vì vậy chỉ cần đôi lờiđiếu văn để tiễn bố ra đi, làm cho vong linh bố được thanh thoát.

Trời đất hương hoa, người ta cơm gạo. Chết là về với Đất Trời, nôm na là về với cát bụi, ngọn nguồn là về với Tổ tiên. Vậy thì vài thẻ hương, vài vòng hoa cho bố là đủ chứ đừng hãnh tiến đua đời như tang ma đình đám của bao nhà khác. Quan tài trạm trổ rồng phượng rườm rà, với hàng trăm vòng hoa được “tháp tùng” cũng chừng ấy xe bốn bánh, có hàng dãy xe biển số xanh, biển số đỏ, tiền vàng mã rải kín đường và ầm ỹ nhạc lễ bởi đội kèn đồng hay băng dàn nhạc với những nhạc cụ hiện đại saxophone, guitare điện, organ, violon…, những thứ ấy bày biện ra trong đám ma chỉ tổ cho thiên hạ chê cười về sự lố lăng.

Các con hãy ngẫm xem: Biết bao chiến sĩ đã bỏ mình vì đất nước hiện giờ còn chưa tìm thấy hài cốt nói chi đến mộ phần. Ấy là đời thực ở nước ta còn đời ảo trong văn học Thế giới thì như các con đã biết, Giăng Vangiăng là một con người chân chính vĩ đại, một con người cao cả của tình yêu thương nhưng khi chết đi, mộ ông cũng chỉ là một phiến đá dài và hẹp che vừa vặn tầm vóc một con người. Phiến đá không khắc tên ai và rồi cũng chẳng thoát khỏi lở lói thời vì gian vì meo mốc. Vì rêu và phân chim gậm nhấm.

Bố sao dám sánh với các anh hùng chiến sĩ vô danh. Bố sao bằng Giang Vangiang cao thượng chân chính nên “Bao giờ bố chết”, được về nằm bên nơi ông bà ở quê nhà là bố đã được ngậm cười nơi chín suối rồi.

Giờ , còn một điều xin thương chót:

Thiết tưởng lời dặn này chẳng có điều gì phải cắt nghĩa thêm: Mấy tập thơ văn, cửa nhà đất của cha ông để lại, một chút của riêng bố mẹ tích cóp dành dụm. Một đời người, bố chỉ có thế thôi nhưng phải kể chi ly rành rọt bởi vì nó phải được như Luật định. Chỉ có sống theo Luật định, con người mới có văn hóa, có kỷ cương, trách nhiệm và xã hội mới văn minh.

Các con thấy đấy, bố chỉ xin thương hai điều như thế, không đủ một nửa số trên năm đầu ngón tay.

Bài thơ kết thúc bằng khổ thơ với mấy câu rất ung dung tự tại:

Phải là một con người đã sống trọn đời mình với một cách sống giản đơn mà cao đẹp: “chăm lo cần kiệm bắc cầu mưu sinh”. Phải là người hiểu sâu sắc quy luật của tạo hóa: người chết đơn giản như đêm nối tiếp ngày, mới có được ” Đôi lời nhỏ nhẹ dặn con…” như vậy.

Đọc Dặn Con của bác Nguyễn Khôi, tôi không thể không nhớ đến bài thơDi Chúc của cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến đã có từ trăm năm trước. Hai nhà thơ sinh cách nhau trên một trăm năm, hai bài thơ ra đời cũng cách nhau trên một trăm năm nhưng lại gặp nhau ở nhiều điểm.

Nếu nhà thơ đương đại Nguyễn Khôi dặn con, khi mình chết tang lễ chỉ gọn nhẹ đời thường như kể trên thì nhà thơ lớn của dân tộc, Nguyễn Khuyến cũng di chúc:

Nếu nhà thơ đương đại Nguyễn Khôi dặn con: ” Người thân xúm xít thật đông/ Vài ba giọt lệ ấm trong tiếng cười ” thì nhà thơ lớn của dân tộc Nguyễn Khuyến cũng di chúc gần như thế:

Đúng là kẻ sĩ chân chính thì thời nào cũng vậy.

Tuy nhiên, vẫn có một khoảng khác biệt. Ấy là khi cụ Tam Nguyên Yên Đổ nhắc các con phải nhớ:

Than ôi, cả bài Di Chúc toát lên một mong muốn đời thường: thanh liêm trong sạch trước thời thế và cuộc đời đầy chán ngán. Khi chết đưa ma, không cho viết văn tế, câu đối, minh tinh, thần chủ…nhưng lại bắt rước đầu tiên cờ biển vua ban ngày trước và làm xao động đường thôn lối xóm bởi bọn thợ kèn đi theo linh cữu mỗi bên dăm người. Phải chăng cụ Tam Nguyên Yên Đổ chưa thoát được cái vòng kim cô của ý thức hệ trung quân?

Và cũng có một điểm chưa rõ ở bác Khôi. Ấy là khi cụ Tam Nguyên Yên Đổ nêu cách đề mộ chí rõ ràng để muốn mình quên mình đi, muốn cuộc đời quên mình đi, quên một con người không có gì đáng khen ngợi, thờ cúng:

Không rõ bác Nguyễn Khôi có muốn bia mộ và đề mộ chí rõ ràng hay không? Vì bác Nguyễn Khôi không chỉ là nhà thơ mà một thời còn là “chuyên viên cao cấp Văn phòng Quốc Hội”. Nên tôi e rằng, không rành rõ như cụ Tam, nếu tôi thực là con cháu bác cũng khó bề khi thực hiện di chúc!

Loài người hẳn đã có hàng triệu lời di chúc. Có những bản di chúc cho thấy ý nguyện tốt đẹp của nhiều người như di chúc của Beethoven, Alfred Nobel, Tôn Trung sơn hay Hồ Chí Minh…Có những di chúc có tính cách lập dị của một số người nổi tiếng như những ca sĩ, người mẫu hay những người giàu có. Và có cả những di chúc cho thấy ý nguyện tàn bạo ác nhân như di chúc của trùm khủng bố Bin Laden…Riêng ở Anh quốc và xứ Wales. Gần đây người ta đã chụp lại được 41 triệu bản di chúc chép tay. Nội trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất, người ta mới sưu tầm cũng đã được 280 nghìn bản di chúc của các chiến sĩ trận vong. Nhưng có thể nói, không dễ gì tìm được một vài bản di chúc bằng thơ.

Vì vậy bài Dặn Con (Thơ Di chúc) lục bát của bác Nguyễn Khôi là một bản di chúc đặc sắc, rất xứng đáng được xếp bên cạnh bài thơ Di Chúc nức danh của cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến, nguyên tác chữ Hán đã được dịch rất thanh thoát ra thể thơ song thất lục bát phổ biến cả trăm năm nay trong lòng dân ta.

Mặc dù trong Lời Thưa, bác Nguyễn Khôi có nói: “Nguyễn Khôi tôi năm nay (79 xuân ta), già yếu, ốm đau,tuổi cao nhất họ nội tộc ở làng”. Nhưng đọc 19 câu thơ di chúc Dặn Con của bác, ta thấy 19 lời thơ rất hay toát lên những tình cảm sâu sắc, đẹp nhất chung nhất về đạo lý của người Việt chúng ta. Những tình cảm ấy được thể hiện bằng một lý trí rất sáng suốt. Vì vậy tôi tin rằng, cái ngày “Bao giờ bố chết” sẽ còn lâu mới đến với tác giảDặn Con.

Với niềm tin ấy, tôi mong mỏi và kính chúc bác Nguyễn Khôi sống lâu trăm tuổi để viết thêm nữa nhiều bài thơ hay và đẹp cho đời!

Một tối lún phún hạt mưa rơi ngoài phố

– © Tác giả giữ bản quyền.

– Vui lòng ghi rõ nguồn chúng tôi khi trích đăng lại. .