Soạn Bài: Sông Núi Nước Nam

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả

Lý Thường Kiệt (1019 – 1105) là một danh tướng nổi tiếng đời nhà Lý có công lớn trong việc đánh bại quân nhà Tống vào năm 1075 – 1077. Ông được cho là người đã viết ra bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc (Nam quốc sơn hà).

Ông cũng là vị tướng nổi tiếng nằm trong số 14 vị anh hùng dân tộc tiêu biểu nhất trong lịch sử Việt Nam.

2. Tác phẩm

* Xuất xứ: Sông núi nước Nam là bài thơ nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc. Bài thơ được cho là thơ thần, do thần đọc giúp Lê Hoàn chống quân Tống vào năm 981 và Lý Thường Kiệt chống quân Tống vào năm 1077.

* Thể thơ: Văn bản Sông núi nước Nam được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Đây là một trong hai thể thơ rất phổ biến ở đời Đường (thất ngôn tứ tuyệt và thất ngôn bát cú), được du nhập sang nước ta và cũng trở thành một thể thơ phổ biến của văn học trung đại.

Quy định về thanh điệu, vần luật trong thơ thất ngôn tứ tuyệt rất chặt chẽ, tuy nhiên chỉ cần lưu ý sự hiệp vần ở chữ thứ bảy trong các câu 1,2,4 (cũng có khi là 2,4).

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Căn cứ vào lời giới thiệu sơ lược về thơ thất ngôn tứ tuyệt ở chú thích, bài thơ Sông núi nước Nam được làm theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt đường luật (có 4 câu, mỗi câu có 7 chữ, gieo vần ở chữ cuối của câu thứ 1,2.4).

Câu 2:

* Sông núi nước Nam được coi như là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta được viết bằng thơ. Tuyên ngôn độc lập chính là lời tuyên bố về chủ quyền đất nước và khẳng định không một thế lực nào được phép xâm phạm vào quyền độc lập ấy.

* Nội dung chính của Tuyên ngôn độc lập trong bài thơ Sông núi nước Nam là:

Khẳng định chủ quyền, nước Nam là của người Nam (hai câu đầu)

Kẻ thù không được phép xâm phạm, nếu xâm phạm thì sẽ phải chuốc lấy bại vong.

Câu 3:

Sông núi nước Nam là một bài thơ thiên về sự biểu ý (bày tỏ ý kiến), nội dung đó được thể hiện theo bố cục:

Hai câu đầu: khẳng định nước Nam là của người Nam, điều này đã được “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” nên không có bất kỳ thế lực nào được phép xâm phạm.

Hai câu sau: Quyết tâm bảo vệ chủ quyền, nếu có ai xâm phạm, chắc chắn kẻ đó sẽ bị bại vong.

Bố cục và cách biểu ý đó rất rõ và chặt chẽ, lời nói chắc nịch dứt khoát theo mạch ý, khiến cho những luận cứ đưa ra đều hết sức thuyết phục.

Câu 4:

Ngoài biểu ý, Sông núi nước Nam vì là một bài thơ nên vẫn có biểu cảm (bày tỏ cảm xúc). Tuy nhiên, tác giả lại không bộc lộ rõ cảm xúc một cách trực tiếp mà ẩn kín vào bên trong. Chính vì thế, người đọc cần phải nghiền ngẫm mới thấy được tình cảm yêu nước mãnh liệt của tác giả được thể hiện trong bài thơ. Hay nói cách khác, nếu không có tình cảm thì tác giả sẽ không thể viết ra được những dòng thơ đầy chí khí như vậy.

Câu 5:

Qua các cụm từ “tiệt nhiên” (rõ ràng, dứt khoát như thế, không thể khác), “định phận tại thiên thư” (định phận tại sách trời”, “hành khan thủ bại hư” (Chắc chắn sẽ nhận lấy thất bại), chúng ta thấy giọng điệu của bài thơ là giọng điệu đanh thép, hào hùng.

Theo chúng tôi

Soạn Bài Sông Núi Nước Nam

I. Tìm hiểu chung 1. Tác giả

– Bài thơ dù cho chưa rõ tác giả thực sự là ai nhưng qua những lời kể lại thì có thể là lời thơ của Lý Thường Kiệt (1019 – 1105).

Lý Thường Kiệt (1019 – 1105)

– Ông là một danh tướng lừng lẫy trong lịch sử, một hoạn quan thời Lý và có công đánh bại quân Tống xâm lăng (1075 – 1077).

2. Tác phẩm a. Hoàn cảnh sáng tác

– Có truyền thuyết kể lại, trong đó có truyền thuyết: Năm 1077, quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy xâm lược nước ta. Vua Lý Nhân Tông đã chỉ định Lý Thường Kiệt đem lính chặn bọn giặc ở tuyến sông Như Nguyệt, vào đêm nọ, quân sĩ nghe trong đền thờ anh em Trương Hống và Trương Hát cất lên tiếng ngâm bài thơ này.

– “Nam Quốc Sơn Hà” được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta.

Bài thơ Sông núi nước Nam

b. Bố cục

– Phần 1 (Hai câu đầu): Khẳng định chủ quyền lãnh thổ đã được phân định rõ ràng.

– Phần 2 (Hai câu cuối): Khẳng định sự quyết tâm chống lại kẻ thù.

II. Soạn bài Sông núi nước Nam chi tiết Câu 1 (trang 64 sgk ngữ văn 7 tập 1):

Qua bài Sông núi nước Nam nhận diện thể thơ thất ngôn tứ tuyệt về số câu, cách hiệp vần, số chữ trong câu.

– Bài thơ Nam quốc sơn hà được tác giả viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt với 4 câu và 7 chữ:

+ Các câu 1, 2 và 4 hoặc chỉ có câu 2 và 4 là hiệp vần với nhau ở chữ cuối.

Câu 2 (trang 64 sgk ngữ văn 7 tập 1):

Sông núi nước Nam được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta. Vậy thế nào là một bản tuyên ngôn độc lập? Nêu nội dung tuyên ngôn độc lập trong bài thơ này?

Bài thơ Sông núi nước Nam được xem là bản “Tuyên ngôn Độc lập” đầu tiên của dân tộc:

– Khẳng định tuyệt đối với các quốc gia là nước Nam chúng ta có chủ quyền riêng biệt và có hoàng đế đứng đầu trị vì dân tộc.

– Ranh giới lãnh thổ, địa phận nước Nam đã được ghi nhận rõ ràng ở “sách trời” mà không ai có thể chối cãi được.

– Nêu cao sự quyết tâm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, kẻ thù nào tới xâm phạm sẽ bị đánh cho tơi bời.

Câu 3 (trang 64 sgk ngữ văn 7 tập 1):

Sông núi nước Nam là một bài thơ thiên về sự biểu ý (bày tỏ ý kiến). Nội dung biểu ý đó đã được tác giả thể hiện theo bố cục như thế nào và nhận xét về điều đó.

Soạn bài Sông núi nước Nam thấy được sự thiên về biểu ý:

– Hai câu đầu: Khẳng định tuyệt đối chủ quyền toàn vẹn, sự độc lập, tự chủ của dân tộc:

+ Nước Nam hoàn toàn có lãnh thổ riêng, đất Nam đã có vua Nam ở

+ Phân giới lãnh thổ của người Nam đã được quy định rành rành ở sách trời, điều này đã là chân lý không thể chối cãi được

– Hai câu cuối: Khẳng định quyết tâm đứng lên bảo vệ dân tộc trước kẻ thù

+ Tác giả đã khẳng khái chỉ rõ những kẻ đem quân xâm lược nước ta là đang làm trái đạo làm người và trái cả đạo trời

+ Đưa ra sự cảnh báo đanh thép đến bọn xâm lăng rằng chúng sẽ bị tan tác trước quân và dân ta.

– Nhận xét: Bố cục được sắp xếp logic và chặt chẽ, chủ quyền được nêu trước, sau đó là biểu ý quyết tâm để bảo vệ chủ quyền.

Câu 4 (trang 64 sgk ngữ văn 7 tập 1):

Ngoài biểu ý thì Sông núi nước Nam có biểu cảm không và nếu có thì thuộc trạng thái nào? Giải thích sự lựa chọn đó?

Nghĩa biểu cảm của bài thơ Nam quốc sơn hà:

– Sự khẳng định hùng hồn, cảm xúc đầy mãnh liệt, tinh thần mạnh mẽ, sắt đá, ý chí quyết tâm, không gì có thể khuất phục nổi.

– Cảm xúc cùng ý chí ấy được tác giả bộc lộ kín đáo qua ngôn ngữ và hình tượng.

Câu 5 (trang 64 sgk ngữ văn 7 tập 1):

Qua các cụm từ “tiệt nhiên”, “hành khan thủ bại hư”,”định phận tại thiên thư”, nhận xét về giọng điệu bài thơ?

Đánh bại mọi kẻ thù xâm lược

Bài thơ có giọng điệu hùng hồn, đanh thép:

– Một lần nữa khẳng định chủ quyền thông qua “thiên thư” là sách trời thì đã là chân lý và không gì có thể chối bỏ hay phủ nhận được.

– Dứt khoát cảnh cáo bọn giặc sẽ phải chuốc bại vong khi gây ra tội ác cho dân tộc ta.

III. Kết luận soạn bài Sông núi nước Nam 1. Giá trị nội dung

Sông núi nước Nam ( Nam quốc sơn hà) được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc khẳng định chủ quyền đất nước. Sự khẳng định tuyệt đối chủ quyền với giọng điệu đanh thép, thể hiện sự quyết tâm bảo vệ toàn vẹn chủ quyền, cảnh cáo bất kỳ kẻ xâm lăng nào cũng sẽ không có kết cục tốt đẹp khi đụng đến địa phận lãnh thổ đất Nam.

2. Giá trị nghệ thuật

– Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt súc tích, ngắn gọn.

– Ngôn ngữ hùng hồn, dõng dạc, giọng thơ đanh thép, mạnh mẽ.

Soạn Bài : Sông Núi Nước Nam (Nam Quốc Sơn Hà)

Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài

Bài thơ được viết theo thể thất ngôn (bảy chữ) tứ tuyệt (bốn câu), một trong hai thể thơ rất phổ biến đời Đường (thất ngôn tứ tuyệt và thất ngôn bát cú), được du nhập sang nước ta và cũng trở thành một thể thơ phổ biến của văn học trung đại. Quy định về thanh điệu, vần luật trong thơ thất ngôn tứ tuyệt rất chặt chẽ, tuy nhiên chỉ cần lưu ý sự hiệp vần ở chữ thứ bảy trong các câu 1, 2 và 4 (cũng có khi chỉ cần hiệp vần ở chữ thứ bảy trong câu 2 và 4). Trong bài thơ này, vần “ư” được hiệp ở cả ba câu 1, 2 và 4).

1. Nhận dạng thể thơ của bài Namquốc sơn hà về số câu, số chữ trong câu, cách hiệp vần.

: Kiểm tra xem bài thơ (phần phiên âm) gồm mấy câu, mỗi câu gồm bao nhiêu chữ? Vần trong các từ cuối của các câu 1, 2, 4 có gì giống nhau?

2. Tuyên ngôn Độc lập là lời tuyên bố về chủ quyền của đất nước và khẳng định không một thế lực nào được phép xâm phạm vào quyền độc lập ấy. Tuyên ngôn Độc lập trong bài thơ Sông núi nước Nam thể hiện ở các khía cạnh:

– Tác giả khẳng định nước Nam là của người Nam. Đó là điều đã được ghi tại “thiên thư” (sách trời). Tác giả viện đến thiên thư vì ngày xưa người ta vẫn còn coi trời là đấng tối cao. Người Trung Quốc cổ đại tự coi mình là trung tâm củavũ trụ nên vua của họ được gọi là “đế”, các nước chư hầu nhỏ hơn bị họ coi là “vương” (vua của những vùng đất nhỏ). Trong bài thơ này, tác giả đã cố ý dùng từ “Nam đế” (vua nước Nam) để hàm ý sánh ngang với “đế” của nước Trung Hoa rộng lớn.

– Ý nghĩa tuyên ngôn còn thể hiện ở lờ khẳng định chắc chắn rằng nếu kẻ thù vi phạm vào quyền tự chủ ấy của nước ta thì chúng thế nào cũng sẽ phải chuốc lấy bại vong.

3. Bài thơ triển khai nội dung biểu ý theo bố cục: ở hai câu thơ đầu, tác giả đã khẳng định một cách tuyệt đối chủ quyền lãnh thổ với một thái độ của một dân tộc luôn trân trọng chính nghĩa. Từ khẳng định chân lí, đến câu thơ cuối, tác giả đã dựa ngay trên cái chân lí ấy mà đưa ra một lời tuyên bố chắc chắn về quyết tâm chống lại những kẻ làm trái những điều chính nghĩa.

Bố cục của bài thơ như thế là chặt chẽ, khiến cho những luận cứ đưa ra đều rất thuyết phục.

4. Bài thơ tuy chủ yếu thiên về biểu ý song không phải vì thế mà trở thành một bài luận lí khô khan. Có thể nhận thấy rằng, sau cái tư tưởng độc lập chủ quyền đầy kiên quyết ấy là một cảm xúc mãnh liệt ẩn kín bên trong. Nếu không có tình cảm mãnh liệt thì chắc chắn không thể viết được những câu thơ đầy chí khí như vậy.

5. Qua các cụm từ tiệt nhiên (rõ ràng, dứt khoát như thế, không thể khác), định phận tại thiên thư (định phận tại sách trời) và hành khan thủ bại hư (chắc chắn sẽ nhận lấy thất bại), chúng ta có thể nhận thấy cảm hứng triết luận của bàI thơ đã được thể hiện bằng một giọng điệu hào sảng, đanh thép, đầy uy lực.

Khác với thơ hiện đại thường thiên về miêu tả cảm xúc, thơ trung đại chủ yếu là thơ tỏ ý, tỏ lòng, thiên về miêu tả thái độ, ý chí của cộng đồng dân tộc. Bởi vậy, đối với bài thơ này cần đọc bằng giọng mạnh mẽ, dứt khoát, chú ý ngắt theo nhịp 4/3, nhấn mạnh cuối mỗi nhịp.

2. Có bạn thắc mắc tại sao không nó là “Nam nhân cư” (người Namở) mà lại nói “Nam đế cư” (vua Namở). Hãy giải thích để bạn kia được rõ.

: Như trên đã nói, người xưa coi trời là đấng tối cao và chỉ có vua (Thiên tử – con trời) mới có quyền định đoạt mọi việc ở trần gian. Tất cả mọi thứ có trên mặt đất đều là của vua. Hơn thế nữa, nói Nam đế cư là có hàm ý nói rằng vua của nước Nam cũng là Thiên tử chứ không phải là một ông “vua nhỏ” dưới quyền cai quản của Hoàng đế Trung Hoa

Nội Dung Bài Thơ Sông Núi Nước Nam

Bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt được coi là bản tuyên ngôn về độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Bài thơ không những khẳng định chủ quyền về lãnh thổ của đất nước mà còn nêu cao ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền đó trước mọi kẻ thù xâm lược.

Mở đầu bài thơ, Lý Thường Kiệt đã khẳng định một cách mạnh mẽ chủ quyền của nước Đại Việt. Đó là ranh giới được định sẵn, được quy định bởi “sách trời”:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”

(Sông núi nước Nam, vua Nam ở

Rành rành định phận tại sách trời)

Hai câu thơ nhấn mạnh một chân lý hiển nhiên không ai có thể chối cãi được: chủ quyền về lãnh thổ Đại Việt đã được trời đất quy định, chứng giám, không thể thay đổi được. “Sông núi” ở đây là hình ảnh biểu tượng không chỉ nói về sông núi nói chung mà còn là ranh giới lãnh thổ, chủ quyền của nước ta. Cặp từ “Nam” nằm song song tương ứng với nhau trên cùng một câu thơ “nước Nam – vua Nam” như ngầm nêu ra một nghịch lý không thể tồn tại: nước Nam vua Bắc. Tác giả cố ý sử dụng từ “đế” để chỉ vua nhằm khẳng định “vua Nam” không phải bề tôi của “vua Bắc” và “nước Nam” không phải chư hầu của “nước Bắc”. Lãnh thổ của nước Nam thuộc về người Nam, do vua Nam cai quản. Câu thơ như khẳng định sự bình đẳng và độc lập tuyệt đối của nước Nam đối với nước Bắc. Do đó, nước Nam có quyền có chủ quyền riêng biệt. Đây là lần đầu tiên mà vấn đề dân tộc được đề cập một cách chắc chắn, mạnh mẽ trong một tác phẩm thơ văn như vậy. Điều này là hoàn toàn có cơ sở, bởi đã được định trong “sách trời”. Từ “tiệt nhiên” với cách hiểu là hiển nhiên, rành rành biểu thị thái độ hoàn toàn tin tưởng của người nói vào “sách trời”. Từ đó, tác giả như ngầm báo trước sự thắng bại giữa ta và địch. Qua hai câu thơ đầu, bằng giọng điệu hào hùng, đanh thép, lời lẽ rõ ràng, Lý Thường Kiệt đã khẳng định quyền làm chủ về lãnh thổ của nước ta, không một thế lực nào có thể phủ định, xâm phạm được, đồng thời cũng thể hiện niềm tự tôn của tác giả đối với dân tộc.

Nếu như hai câu đầu khẳng định chủ quyền quốc gia, dân tộc thì hai câu cuối lại là bản cáo trạng và lời cảnh cáo đối với kẻ thù nếu như chúng dám đến xâm phạm nước ta:

“Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”

(Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời)

Lãnh thổ nước Nam đã được quy định bởi “sách trời” là của người Nam, nhưng bọn giặc không màng đến điều ấy, chúng đã phản lại ý trời, đến xâm phạm để thỏa mãn lòng tham khôn cùng của chúng. Lý Thường Kiệt hết sức khinh bỉ, căm phẫn và tức giận trước lòng tham ngu xuẩn của giặc. Câu thơ bắt đầu bằng từ “Cớ sao nhưng dường như không nhằm để hỏi mà như kể lại, vạch trần tội ác của chúng đã làm đối với dân tộc ta. Với những tội ác như thế, Lý Thường Kiệt đã có đầy đủ cơ sở để bắt kẻ thù nhận lấy hậu quả không thể tránh khỏi “bị đánh tơi bời”. Đây đồng thời cũng là quyết tâm bảo vệ nền độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ trước mọi kẻ thù xâm lược. Hai câu thơ với nhịp thơ chậm, giọng thơ mạnh góp phần biểu hiện tâm trạng phẫn nộ của nhà thơ khi tổ quốc bị xâm lăng, lòng căm thù giặc sâu sắc và niềm tin sẽ chiến thắng kẻ thù.

Tóm lại, “Nam quốc sơn hà” là một bài thơ khẳng định rõ ràng quyền độc lập tự chủ của dân tộc ta, đồng thời cũng nêu lên bản cáo trạng và hình phạt thích đáng dành cho kẻ thù nếu chúng muốn xâm lược nước ta. Qua đó, bài thơ không chỉ thể hiện niềm tự hào của người Việt Nam về chủ quyền dân tộc mà còn đề cao ý chí đấu tranh, sức mạnh của nhân dân trong phong trào giải phóng dân tộc.

TU KHOA TIM KIEM: NOI DUNG NOI DUNG BAI SONG NUI NUOC NAM SONG NUI NUOC NAM TRINH BAY NOI DUNG BAI SONG NUI NUOC NAM Theo chúng tôi

Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Sông Núi Nước Nam

Đề bài: Phat bieu cam nghi ve bai tho song nui nuoc Nam. Em hãy phát biểu cảm nghĩ về bài thơ sông núi nước nam của Lí Thường Kiệt.

Mở bài: Cảm nghĩ của em về bài thơ Sông núi nước nam

Nam quốc sơn hà nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại thư.

Người xưa kể rằng,Lí Thường Liệt sáng tác bài thơ “sông núi nước nam” trong một cuộc chiến đấu chống quân Tống xâm lược.Ông không chỉ là một vị tướng tài giỏi mà còn là một người có tấm lòng yêu nước thương dân,là một nhà thơ nổi tiếng của nền văn học việt nam.

Thân bài: Cảm nghĩ của em về bài thơ Sông núi nước nam

Khi quân Tống do sự chỉ huy của Quách Quỳ và Triệu Tiết cầm quân sang xâm lược nước ta thì quân ta dưới sự chỉ huy của một vị tướng tài ba Lí Thường Kiệt đã chiến đấu dũng cảm không ngại hy sinh và chặn đánh chúng trên sông Như Nguyệt.

Câu thơ đầu:

” Nam quốc sơn hà Nam đế cư”

Ngay từ những dòng thơ đầu tiên tác giả đã đưa ra chân lí “sông núi Nam Việt vua Nam ở” nhân dân ta phải trải qua biết bao cuộc đấu tranh gian khổ để giành lại độc lập chủ quyền của đất nước, chân lí ấy vẫn thật đơn sơ vì nó phản ánh đúng sự gian khổ hy sinh của biết bao nhiêu đồng bào dân tộc.Không chỉ vậy mà dân tộc ta đã nhiều lần khẳng định chân lí ấy bằng chính sức mạnh quân sự của mình,bằng chính tình đoàn kết của những người dân Việt Nam một lòng vì non sông đất nước nhất định phải giải phóng đất nước nhất định phải giành độc lập.

Không những vậy lũ giặc ngoại xâm còn ra sức bóc lột nhân dân ta nặng nề,luôn có tham vọng cướp thuộc địa của ta và biến ta thành thuộc địa của chúng.Ý nghĩa câu thơ không dừng lại ở đây tác giả xưng danh nước ta là “Nam” ngầm gạt bỏ ý định của chúng định biến nước ta thành thuộc địa của chúng bấy lâu nay và đồng thời cũng gạt bỏ thái độ khinh miệt nước ta.Tác giả hẳn là người có vốn kiến thức thật uyên bác tinh sâu chỉ từ thể hiện qua những vần thơ mà đã nêu rõ được ý của mình,đặt nước mình là “Nam quốc” tức ngang hàng với “Bắc quốc” (vua phương bắc) đồng thời tác giả còn xưng vua Nam “Nam đế” cũng là bác bỏ ý nghĩ của chúng tự cho rằng chúng là con của chúa trời.

Câu thơ

“Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”

(vằng vặc sách trời chia xứ sở)

Câu thơ ấy lại một lần nữa khẳng định chủ quyền của nước ta đã được ghi rõ trên sách trời không gì có thể thay đổi được.Sách trời đã chia riêng bờ cõi điều đó là bất khả xâm phạm.Câu thơ ấy đã khiến cho chân lí càng tăng thêm giá trị.Không gì có thể thay đổi được chân lí thiêng liêng ấy,nước nào có vua nước đấy.

Nếu câu thơ thứ hai là khẳng định chủ quyền lãnh thổ của nước Nam Việt ta thì ở câu thơ thứ ba lại là một câu hỏi hướng đến giặc phương Bắc:

“Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”

Dịch là:

Giặc dữ cớ sao phạm đến đây

Chúng mày nhất định phải tan vỡ.

Chủ quyền dân tộc Việt Nam ta không chỉ là chuyện của riêng con người mà nó còn là chuyện vằng vặc rõ ràng minh bạch trên có sách trời không thể chối cãi được và không gì có thể thay đổi được điều đó là bất khả xâm phạm. “chúng mày nhất định phải tan vỡ” lại một lần nữa tác giả khẳng định rằng đất nước Việt Nam nhất định chiến đấu đến cùng để bảo vệ bờ cõi non sông đất nước và nhất định những người dân Việt Nam sẽ dùng chính tinh thần kiên quyết ấy để đánh chúng mày tan vỡ buộc phải rút về phương Bắc.

Qua bài thơ tác giả khẳng định chủ quyền độc lập của nước Nam là một chân lí không thể chối cãi được và không gì có thể bác bỏ được.Dân tộc Việt Nam đã bao lần gan góc đứng lên chống giặc ngoại xâm để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng ấy.

Bài thơ “sông núi nước nam” thể hiện niềm tin tưởng và tự hào vào sức mạnh của dân tộc,sức mạnh của tinh thần đoàn kết và sức mạnh của chính nghĩa của dân tộc ta có thể đánh thắng tiêu diệt bất kì kẻ thù nào xâm phạm đến chủ quyền nước ta.Chính vì vậy mà bài thơ đã góp phần khích lệ tinh thần của dân tộc ta tiến lên đánh giặc ngoại xâm và làm cho tinh thần của quân xâm lược bị khiếp vía điều đó đã góp phần đem lại chiến thắng vinh quang cho dân tộc.Đặc biệt bài thơ được thể hiện dưới ngòi bút của Lý Thường Kiệt lại càng làm cho vần thơ thêm cứng rắn và khẳng định chủ quyền của nước Nam ta thêm một lần nữa.

Kết bài: Cảm nghĩ của em về bài thơ Sông núi nước nam

Bài thơ thiên về biểu ý nhưng khi ta nghiền ngẫm từng câu thơ,ta lại càng thấy được sự mãnh liệt hơn ở trong những vần thơ,câu thơ.và ta lại càng cảm nhận sâu rõ hơn tình yêu mãnh liệt của ông cha ta.Tình cảm mãnh liệt ấy được tác giả gửi gắm sâu vào những vần thơ khiến cho mình như đang được cùng lịch sử. Bài thơ “Sông núi nước nam” xứng đáng là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên là điểm chói ngời trong trang sử dựng nước và giữ nước rất mực hào hùng của dân tộc Việt.Thật xúc động khi ta được học và được cảm nhận những bài thơ có ý nghĩa lớn lao như thế.

TỪ KHÓA TÌM KIẾM Cảm nghĩ của em về bài thơ Sông núi nước nam Cảm nghĩ của anh chị về bài thơ Sông núi nước nam Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Sông núi nước nam Cam nghi cua em ve bai tho Song nui nuoc nam Cam nghi cua anh chi ve bai tho Song nui nuoc nam Theo chúng tôi