Phân Tích Khổ 1 Bài Thơ Tây Tiến

Đề bài: Phân tích khổ 1 bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng

Chiến tranh và người lính đã đi vào trong văn chương với những hình ảnh đau thương nhất và cũng là đẹp và oai hùng nhất. Trong kháng chiến chống Pháp đã có rất nhiều sáng tác viết về người lính nhưu “Đồng chí” của Chính Hữu, “Tây Tiến” của Quang Dũng… Trưởng thành trong kháng chiến và trực tiếp tham gia vào những đoàn quân xông pha nơi chiến trường, Quang Dũng đã viết về chiến tranh bằng những cái nhìn chân thực và sống động. Bài thơ “Tây Tiến” là một tác phẩm tiêu biểu cho đề tài ấy.

Quang Dũng là đại đội trưởng của đoàn quân Tây Tiến, một đơn vị được thành lập nhằm phối hợp vỡi bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Việt-Lào. Đoàn quân ấy hoạt động chủ yếu ở phía Tây hai tỉnh Hòa Bình và Thanh Hóa. Sau chiến thắng Việt Bắc thu đông năm 1947, Quang Dũng chuyển đơn vị công tác và ông sáng tác bài “Tây Tiến” nhằm bày tỏ nỗi nhớ tới núi rung và những người đồng đội cũ. Khổ đầu của bài thơ là nỗi nhớ khôn nguôi đang trào trực trong lòng tác giả.

Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi

Mở đầu bài thơ là nỗi nhớ da diết của người chiến sĩ về núi rừng năm xưa anh đã từng đóng quân. Hai tiếng Tây Tiến được gọi lên với một thái độ thân mật, thiết tha. “Tây Tiến ơi” nghe như lời gọi thân thương của những người bạn, những người thân trong gia đình. Dù đã xa rồi nhưng những hình ảnh của núi rừng, của dòng sông Mã hiền hòa vẫn luôn hiện hữu trong lòng tác giả. Con sông Mã uốn lượn cùng những bước đi của người lính, núi rừng là nhà, là nơi họ sinh sống và chiến đấu. Thiên nhiên ở đây là những gì gần gũi và thân thuộc nhất suốt những năm tháng chiến tranh. Để rồi khi đi xa, nỗi “nhớ chơi vơi” cứ trào dâng. Nỗi nhớ ấy da diết và bền bỉ. Nó không biết bắt đầu từ đâu và như thế nào chỉ biết rằng nõi nhớ luôn thổn thức khôn nguôi, chập chờn, đeo bám lấy tâm hồn.

Nhà thơ nhớ về sông Mã, về núi rừng và những bước chân của cuộc hành quân.

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mướng Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Sáu câu thơ vẽ lên những khó khăn, gian khổ mà đoàn binh Tây Tiến đã phải trải qua suốt những năm gắn bó với núi rừng. Hàng loạt địa danh thân thuộc hiện về trong đầu tác gải với những kỉ niệm không bao giờ quên. Mường Lát, Sài Khao, Pha Luông…là những nơi mà đoàn binh đã từng đi qua và đóng quân ở đó. Trong suốt chặng đường, những đôi chân đã mệt mỏi rã rời. Những buổi tối, sương dày đến nỗi che lấp cả đoàn quân. Nó phủ lên đầu họ một lớp màng bọc đủ để không ai có thể nhìn thấy. Màn sương ấy có lẽ lạnh lẽo lắm.

Hiện tra trước mắt người đọc là một quãng đường đầy những khó khăn và thử thách. Chiến tranh đã nguy hiểm với bom đạn mà người lính còn phải vượt qua những trắc trở của thiên nhiên. Trên miền đất giáp biên giới, núi rừng hiểm trở biết bao. Những cung đường lên xuống như sự thay đổi nhanh chóng của những nốt nhạc lúc trầm lúc bổng. Con đường với những dốc cao chót vót và sâu thăm thẳm nối tiếp nhau, trải dài suốt chặng đường. Người lính đã phải dốc hết sức để leo lên rồi chưa kịp nghỉ ngơi lại phải thận trọng với những dốc xuống không cẩn thận là dễ dàng rơi xuống vực sâu. Sự trắc trở của thiên nhiên đã lấy đi biết bao sức lực của người lính. Có lúc nó cao vút như chọc thủng trời xanh, có lúc nó lại sâu hoáy như đâm vào lòng đất. Chặng đường như để thử thách đôi chân và ý chí của người lính, rèn luyện cho họ những kĩ năng và lòng quyết tâm vượt qua gian khổ.

Trong gian khó, có người đẫ anh dũng vượt qua nhưng cũng có người lại không thể tiếp tục chiến đấu.

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời

Một hình ảnh chân thực đến xót xa. Qua biết bao trắc trở của thiên nhiên, núi rừng, người lính đã mệt mỏi rã rời. Người lính Tây Tiến không còn đủ sức để mà bước tiếp. Những người lính ngồi xuống, gục đầu vào cây súng để nghỉ ngơi và lấy lại sức cho những chặng đường gian khó tiếp theo. Cũng có thể, đây là hình ảnh của sự hy sinh. Các anh dù đã chiến đấu dũng cảm nhưng cũng không thể chống lại được sự tàn ác và vô tình của súng đạn. Họ đã đã hy sinh, đã ngã xuống để đem lại hòa bình và tự do cho dân tộc. Các anh ra đi cùng tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Họ chiến đấu hết mình, không ngại hy sinh để bảo vệ nền hòa bình cho dân tộc. những cái chết cao cả và oai phong biết nhường nào.

Và rồi, sau những kỉ niệm ùa về, nỗi nhớ lại trào lên mạnh mẽ.

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em cơm nếp xôi

Nhà thơ nhớ về hương vị của núi rừng Tây Bắc. Mùi cơm nếp thơm lừng như đâng ùa về trong khứu giác của tác giả. Hương vị ấy có lẽ nhà thơ sẽ chẳng bao giờ quên. Hai tiếng “nhớ ôi” cũng đủ để ta cảm nhận được nỗi nhớ về Tây Tiến, về đồng đội lớn đến nhường nào. Nhà thơ như đang gọi, đang níu kéo sự ùa về của quá khứ, của những năm tháng gian khó nhưng thấm đượm tình đồng chí, tình dân quân.

Như vậy, bài thơ “Tây Tiến” và đặc biệt là khổ thơ đầu đã vẽ nên bức tranh hùng hồn về tinh thân người lính trong kháng chiến chống Pháp mà cụ thể là đoàn quân Tây Tiến. Bài thơ sẽ mãi vang vọng trong lòng người đọc như một khúc ca cường tráng về hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ gan dạ, dũng cảm và đầy sự lạc quan, yêu đời.

Seen

Incoming search terms:

Phân Tích Bài Thơ Tây Tiến Khổ 1

Đề bài: Phân tích bài thơ “Tây Tiến” khổ 1

Bài làm

Chiến tranh đã để lại cho con người biết ba mất mát và hy sinh. Chiến tranh, khi nhắc lên ai cũng sẽ nghĩ đến những nỗi đau và nước mắt. Nhưng trong những năm tháng gian khổ ấy, người lính đã cùng nhau trải qua, cùng nhau gây dựng một tình đồng chí, đồng đội keo sơn. Bài thơ “Tây Tiến ” của Quang Dũng chính là tiếng lòng nhớ thương da diết của người lính giành cho những người đồng đội khi họ không còn ở cạnh nhau nữa.

Tây Tiến là một đôàn quân có thật. Nó là đoàn quân được thành lập để phối hợp với quân đội Lào để bảo vệ vùng biên giới của hai quốc gia. Đoàn quân ấy có địa bàn hoạt động rất hiểm trở quanh khu vực đồi núi phía tây các tỉnh Hòa Bình và Thanh Hóa. Nhà thơ Quang Dũng là đại đội trưởng của Tây Tiến và sau khi rời đon vị năm 1948, ông đã viết nên bài thơ để bày tỏ nỗi nhớ thương đến đồng đội, đến một miền quá khứ hào hùng.

Khổ thơ đầu của bài thơ là nỗi nhớ da diết của chính tác giả.

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Đã gần một năm xa Tây Tiến, xa những người đồng chí, xa cả núi rừng nơi anh từng hoạt động. Chính vì xa cách nên nỗi nhớ cứ trào lên không gì ngăn nổi. Nỗi nhớ ấy cứ trực trào trong tâm hồn người thi sĩ để rồi ông phải cất lên ba tiếng “Tây Tiến ơi!”. Cách gọi ấy thân thiết như tiếng gọi của những người thân quen. Dù xa nhau nhưng Quang Dũng lúc nào cũng không khỏi nhớ về những năm tháng cùng đồng đội đánh giặc. Nỗi nhớ ấy “chơi vơi” không điểm dừng. Nó cứ lan dài ra, rộng ra, ôm trọn cả núi rừng vào lòng. Người đọc như lắng xuống cùng tâm hồn nhà thơ, nghẹn ngào trước những tình cảm thiết tha, dạt dào.

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Đoàn binh Tây Tiến hoạt động chủ yếu ở trong vùng núi rừng. Rừng bảo vệ con người, bảo vệ người lính trước những cái nhìn tàn nhẫn của giặc thù. Thế nhưng, cuộc sống trong rừng lại gặp muôn vàn khó khăn. Những khi trời về đêm, làn sương mù măng giắc khắp lối, dày đặc. Chúng nhe che lấp đi bóng dáng của đoàn quan sau những ngày cất bước nặng nề. Một ngày dài họ đã phải băng qua biết bao bom đạn để rồi đêm xuống chân tay các anh mỏi rã rời, không còn sức lực. Bóng dáng ấy lấp sau màn sương, trong cái lạnh thấu da thịt của vùng đồi núi. Không chỉ có thế, có biết bao khó khăn vẫn bủa vây từng bước chân của các anh

Chiếu chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trên người

Người lính không chỉ đối mặt với bom đạn mà sinh mạng của họ còn bị đe dọa bởi hùm, bởi cọp đang ẩn nấp trong núi rừng. Bân đêm, chỉ cần họ sơ sẩy là có thể dễ trở thành miếng mồi ngon bất cứ lúc nào. Cái chết luôn rình rập láy những chàng lính trẻ với biết bao khăn.

Dốc lên khúc khửu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước len cao ngàn thước xuống

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Trước mắt người đọc là cảnh núi rừng hiểm trở. Những con dốc chọ thẳng lên tận trời rồi những dốc xuống đâm sâu vào lòng đất cứ nối tiếp nhau, trùng trùng điệp điệp. Đường đi quanh co, trắc trở và chẳng hề dễ dàng. Đến nỗi, mỗi dốc lên cao hình như chọc tận vào trời xanh. Những mũi súng như chạm vào từng đám mây đang bồng bềnh trôi/ Một hình ảnh được miêu tả hơi thái quá nhưng nó lại rất ý nghĩa khi nói lên cuộc hành quân của người lính Tây Tiến là vô cùng gian nan và vất vả. Thế nhưng, trong cuộc sống khốn khó, người lính trẻ vẫn không đánh mất đi sưn lạc quan, yêu đời của họ. Họ vẫn nhớ về Hà Nội, về gia đình như một động lực để họ tiếp tục chinh chiến. Họ nhớ về người yêu, nhớ về những cô gái Hà Nội dịu hiền, xinh xắn. Những bóng dáng “kiều thơm” như mơ ước về một Hà Nội tự do, yên bình.

Những gian khổ ấy dường như đã làm người lính chùn bước.

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời

Sau những bước chân mỏi mệt rã rời, người lính như không còn sức lực nào để mà bước tiếp. Họ tựa vào cây súng, chìm vào giấc ngủ ngon lành để nghỉ ngôi, để hồi sức. Ngoài ra, câu thơ còn như muốn nói đến sự hy sinh của những người lính. Cuộc đời họ gắn bó với cây súng và có thể cũng đã chết đi vì súng. Họ ra đi mà không hề oán trách hay gào thét. Có lẽ họ đã không còn ngại hy sinh, họ giám đương đầu với tất cả dù chúng khó khăn đến nhường nào. Cái chết đối với họ không còn đáng sợ nữa, họ chỉ muốn nhanh chóng giành lại độc lập cho dân tộc dù có phải hy sinh cũng không hề hối tiếc.

Và rồi, sau những gian khó họ cũng được sưởi ấm bằng nắm xôi thơm lừng.

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Những bước chân rã rời cuối cùng cũng tìm được chỗ nghỉ. Mùi cơm chín, mùi gạo nếp thơm lừng đã sưởi ấm trái tim lạnh lẽo suốt những ngày ở rừng. Bữa cơm tối ấy là bữa cơm của gia đình, của tình thương yêu. Nó là khát vọng, là ước mơ được nhìn thấy gia đình hạnh phúc, nhân dân ấm no từng ngày.

Như vậy, khổ thơ đầu của bải thơ “Tây Tiến” đã vẽ nên khung cảnh núi rừng bao la hiểm trơ nơi mà những người lính vẫn hằng ngày bò qua để bảo vệ nước nhà. Bài thơ với ngôn ngữ gần dũi, bình dị nhưng lại thiết tha tình cảm và nói mãi còn đọng lại trong lòng bạn đọc với một tình cảm nghẹn ngào, xót thương.

Seen

Phân Tích Khổ 9 1 Bài Thơ Tây Tiến …

Tây Tiến là tên gọi của một đơn vị bộ đội hoạt động tại biên giới Việt – Lào, miền Tây tỉnh Thanh Hóa và Hòa Bình. Quang Dũng là một cán bộ đại đội của “đoàn binh không mọc tóc” ấy, đã từng vào sinh ra tử với đồng đội thân yêu.

     Hai câu thơ đầu nói lên nỗi nhớ, nhớ miền Tây, nhớ núi rừng, nhớ dòng sông Mã thương yêu:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

   Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi.

     Đã “xa rồi” nên nỗi nhớ không thế nào nguôi được, nhớ da diết đến quặn lòng, đó là nỗi nhớ “chơi vơi”. Tiếng gọi “Tây Tiến ơi” vang lên tha thiết như tiếng gọi người thân yêu. Từ “ơi!” bắt vần với từ láy “chơi vơi” tạo nên âm hưởng câu thơ sâu lắng, bồi hồi, ngân dài, từ lòng người vọng vào thời gian năm tháng, lan rộng lan xa trong không gian. Hai chữ “xa xôi” như một tiếng thở dài đầy thương nhớ, hô ứng với điệp từ “nhớ” trong câu thơ thứ hai thể hiện một tâm tình đẹp của người chiến binh Tây Tiến đối với dòng sông Mã và núi rừng miền Tây. Sau tiếng gọi ấy, biết bao hoài niệm về một thời gian khổ hiện về trong tâm tưởng.

     Những câu thơ tiếp theo nói về chặng đường hành quân đầy thử thách gian nan mà đoàn binh Tây Tiến từng nếm trải. Các tên bản, tên mường: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu… được nhắc đến không chỉ gợi lên bao thương nhớ vơi đầy mà còn để lại nhiều ấn tượng về sự xa xôi, heo hút, hoang dã, thâm sơn cùng cốc… Nó gợi trí tò mò và háo hức của những chàng trai “Từ thuở mang gươm đi giữ nước – Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long”. Đoàn binh hành quân trong sương mù giữa núi rừng trùng điệp:

    Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi,

Mường Lát hoa về trong đêm hơi.

     Bao núi cao, đèo cao, dốc thẳng dựng thành phía trước mà các chiến sĩ Tây Tiến phải vượt qua.

     Dốc lên thì “khúc khuỷu” gập gềnh , dốc xuống thì “thăm thẳm” như dẫn đến vực sâu. Các từ “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”,  “heo hút” đặc tả gian khổ, gian truân của nẻo đường hành quân chiến đấu: “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm – Heo hút cồn mây súng ngửi trời!”. Đỉnh núi mù sương cao vút. Mũi súng của người chiến binh được nhân hóa tạo nên một hình ảnh: “súng ngửi trời” giàu chất thơ, mang vẻ đẹp cảm hứng lãng mạn, cho ta nhiều thi vị. Nó khẳng định chí khí và quyết tâm của người chiến sĩ chiếm lĩnh mọi tầm cao mà đi tới “Khó khăn nào cũng vượt qua – Kẻ thù nào cũng đánh thắng!”. Thiên nhiên núi đèo xuất hiện như để thử thách lòng người: “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”. Hết lên lại xuông, xuống thấp lại lên cao, đèo nối đèo, dốc tiếp dốc, không dứt. Câu thơ được tạo thành hai vế tiểu đối: “Ngàn thước lên cao

     Có cảnh đoàn quân đi trong mưa: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Câu thơ được dệt bằng những thanh bằng liên tiếp, gợi tả sự êm dịu, tươi mát, của tâm hồn những người lính trẻ, trong gian khổ vẫn lạc quan yêu đời. Trong màn mưa rừng, tầm nhìn của người chiến binh Tây Tiến vẫn hướng về những bản mường, những mái nhà dân hiền lành và yêu thương, nơi mà các anh sẽ đến, đem xương máu và lòng dũng cảm để bảo vệ và giữ gìn.

Ta trở lại đoạn thơ trên, gian khổ không chỉ là núi cao dốc thẳm, không chỉ là mưa lũ thác ngàn mà còn có tiếng gầm của cọp beo nơi rừng thiêng nước độc, nơi đại ngàn hoang vu:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

     Đêm đèm Mường Hịch cọp trêu người.

“Chiều chiều…” rồi “đêm đêm” luôn có nhừng tiếng gầm thét, những âm thanh ấy khẳng định cái bí mật, cái uy lực khủng khiếp ngàn đời của chốn rừng thiêng. Chất hào sảng trong thơ Quang Dũng là lấy ngoại cảnh núi rừng miền Tây hiểm nguy để tô đậm và khắc họa chí khí anh hùng của đoàn quân Tây Tiến. Mỗi vần thơ đã để lại trong tâm trí người đọc một ấn tượng: gian nan tột bậc mà cũng can trường tột bậc! Đoàn quân vẫn tiến bước, người nối người, băng lên phía trước. Uy lực thiên nhiên như bị giảm xuống và giá trị con người như được nâng cao hẳn lên một tầm vóc mới. Quang Dũng cũng nói đến sự hi sinh của đồng đội trên những chặng đường hành quân vô cùng gian khổ:

   Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời…

     Hiện thực chiến tranh xưa nay vốn như thế! Sự hi sinh của người chiến sĩ là tất yếu. Xương máu đổ xuống để xây đài tự do. Vần thơ nói đến cái mất mát, hi sinh nhưng không chút bi lụy, thảm thương.

     Hai câu cuối đoạn thơ, cảm xúc bồi hồi tha thiết, như lời nhắn gửi của một khúc tâm tình, như tiếng hát của một bài ca hoài niệm, vừa bâng khuâng, vừa tự hào:

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

     Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

 “Nhớ ôi!” là tình cảm dạt dào, là tiếng lòng của các chiến sĩ Tây Tiến “đoàn binh không mọc tóc”. Câu thơ đậm đà tình quân dân. Hương vị bản Mường với “cơm lên khói”, với “mùa em thơm nếp xôi” có bao giờ quên? Hai tiếng “mùa em” là một sáng tạo độc đáo về ngôn ngữ thi ca, có hàm chứa bao tình thương nỗi nhớ, điệu thơ trở nên uyển chuyển, mềm mại, tình thơ trở nên ấm áp. Cũng nói về hương nếp, hương xôi, về “mùa em” và tình quân dân, sau này Chế Lan Viên viết trong bài Tiếng hát con tàu.

Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch

Vất xôi nuôi quân em giấu giữa rừng

 …

 Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch

Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương.

    “Nhớ mùi hương”, nhớ “cơm lên khói”, nhớ “thơm nếp xôi” là nhớ hương vị núi rừng Tây Bắc, nhớ tình nghĩa, nhớ tấm lòng cao cả của đồng bào Tây Bắc thân yêu.

Phân Tích Khổ 1 Của Bài Thơ Tây Tiến

Phân tích khổ 1 của bài thơ Tây Tiến

Chúng tôi đi chẳng tiếc đời mình

Tuổi hai mươi làm sao không khỏi tiếc

Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi

Thì còn chi Tổ quốc

-Thanh thảo

Đó là ý chí quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của những chàng trai thời chiến. Nhà thơ Quang Dũng với Tây Tiến- một trong những bài thơ hay nhất của thơ ca kháng chiến chống Pháp- đã trở thành một nhà thơ trẻ, đầy tài năng của những năm tháng không thể nào quên ấy. Năm 1948, Quang Dũng từ biệt đoàn quân Tây Tiến thân yêu, tại làng Phù Lưu Chanh, tác giả đã viết bài thơ này trong nỗi nhớ cồn cào về đơn vị cũ, về đoạn đời chiến đấu đã qua, về những vùng đất mình đã từng đặt chân đến, về những đồng đội sống chết có nhau và về những kỷ niệm mà ông nhà thơ không thể nào quên.

Nhớ Tây Tiến là nhớ về rừng về núi. Đây là một nỗi nhớ chơi vơi, dậy sóng ngay từ câu mở đầu, làm cho câu thơ ăm ắp cả nỗi nhớ:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”.

Ta bắt gặp ở câu thơ này một cảm giác trống vắng, nuối tiếc, lửng lơ không định hình, định vị. Đó là cảm giác của một người đang nhớ về quá khứ đã qua, đã tuột khỏi tay mình, để rồi bật lên trong dòng hoài niệm hai từ “xa rồi” đầy lưu luyến. Trong dòng hoài niệm ấy đã xuất hiện một cái tên lịch sử: Tây Tiến, và gắn liền với nó là dòng sông Mã hùng vĩ. Giờ đây sông Mã đã xa rồi, đoàn quân Tây Tiến giờ đây cũng đã không còn, nỗi nhớ về dòng sông ấy được tác giả gọi là ” nhớ chơi vơi”. Sau hai tiếng chơi vơi ấy, những ấn tượng sâu đậm về núi rừng miền Tây Bắc đã hiện ra, nó thật dữ dội và khắc nghiệt làm sao: Núi cao, dốc thẳm, thác gầm, cọp trêu và những cơn mưa mịt mù trời đất.

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông, mưa xa khơi”

Để chứng minh cho ý kiến thi trung hữu họa, đoạn thơ trên của Quang Dũng là một điển hình. Chỉ với mấy câu thơ, Quang Dũng đã vẽ ra một bức tranh hùng vĩ, diễn tả núi rừng Tây Bắc hoang vu và heo hút, hiểm trở và dữ dội. Với hàng loạt các địa danh xa lạ, dàn trải trên suốt chặng đường hành quân của người lính như: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông… thông qua phép liệt kê, đã gợi lên những vùng đất rất xa xôi, đầy bí hiểm mà đoàn quân Tây Tiến phải chinh phục.

Ở đoạn thơ này, sự hiểm trở của núi rừng TB không chỉ được thể hiện ở từ ngữ mà còn ở âm điệu của câu thơ. Âm điệu dựng thành những con dốc: khúc khuỷu, thăm thẳm, cao, xuống… cứ hun hút đến ghê người:

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm”

Hàng loạt từ ngữ giàu tính tạo hình ” khúc khuỷu”, “thăm thẳm” đã diễn tả sự trùng điệp, hiểm trở trên đường hành quân. Và với nhịp thơ 2/2/3 cùng năm thanh trắc trong một câu thơ bảy chữ gợi lên trước mắt người đọc hình ảnh một con đường đi đầy khó khăn hơn nữa với dốc tiếp dốc, chông gai nối tiếp chông gai.

” Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”, câu thơ với dấu phẩy ở giữa như bẻ đôi câu thơ, diễn tả nó vun vút lên và đổ xuống gần như thẳng đứng, nhìn lên- cao chót vót, nhìn xuống- sâu thăm thẳm. Đoạn thơ của QD sử dụng hàng loạt những thanh trắc liên tiếp nhau, đọc lên nghe vất vả, nhọc nhằn. Sau hàng loạt hững câu thơ gân guốc, khỏe khoắn ấy, tác giả đã hạ một câu thơ lơ lửng những vần bằng:

“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Câu thơ như tiếng thở phào nhẹ nhỏm của người lính sau khi vượt qua bao đèo cao, suối sâu, tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ngang ra xa, qua một khoảng không gian mịt mù sương rừng, mưa núi, thấy thấp thoáng những ngôi nhà như đang bồng bềnh trôi giữa biển khơi, trong một đêm hơi mơ hồ, huyền ảo, gợi một niềm đầm ấm, than mật trong lòng người.

Miền Tây ngày ấy là nơi ngự trị của những vẻ âm u, hoang dã, là những thử thách ghê gớm đặt ra cho con người. Nó không chỉ được mở theo chiều không gian mà còn được khám phá ở cái chiều thời gian, những đe dọa khủng khiếp luôn luôn rình rập con người:

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm mường hịch cọp trêu người”

Nói cái khắc nghiệt của núi rừng là cũng để làm nhớ về sự hào hùng của người chiến sĩ Tây Tiến. Tây Tiến là cuộc hành quân vô cùng gian khổ, gian khổ với biết bao nguy nan, gian khổ với sự đe dọa của thiên nhiên mà người lính phải trân mình ra chịu đựng. Phải chăng những chặng đường hành quân khắc nghiệt đó đã làm chùn lại bước chân quả cảm của chàng thanh niên Hà Nội ngày nào, để Quang Dũng phải tiếc nuối mà nói rằng:

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời”

Hai câu thơ của QD dẫu có buồn vì nói đến sự hy sinh mất mát nhưng vẫn không bi đát ở thái độ của người hy sinh. Người chiến sĩ đã vượt lên mình dẫu không chế ngự được khó khăn, nhưng họ cũng không chịu khuất phục. họ bỏ cả tuổi xuân quý giá của mình, nhưng là vì tổ quốc nên nhẹ nhàng như bỏ quên một thứ rất đỗi bình thường. Thái độ sống ấy của người lính Tây Tiến cứ sáng lên rạng rỡ, rạng rỡ trong không gian, rạng rỡ trong thời gian và rạng rỡ trong lòng người, rạng rỡ để mà bất diệt. Đoạn thơ kết thúc đột ngột bằng kỷ niệm ấm áp của một TT khác:

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

Sau khi vượt qua bao rừng sâu, núi cao hun hút, người lính đã đến được bản làng có những khói bếp, vườn tược với cô gái Mai Châu trao tặng nắm xôi còn thơm mùi nếp mới.

Trong đoạn thơ, có một hình ảnh rất sáng tạo, rất tạo bạo và tinh nghịch của những người chiến sĩ. Người lính trèo lên những ngon núi cao như đang đi trên mây, mũi súng chạm đến đỉnh trời. Quang Dũng đã khắc họa rất thành công tượng đài sừng sững về người chiến sĩ đứng hiên ngang giữa bầu trời quê hương. Hình ảnh ” súng ngửi trời ” là một thi ảnh rất đẹp, táo bạo, hóm hỉnh, tinh nghịch, mang đậm chất lính, khiến người lính Tây Tiến trước thiên nhiên khắc nghiệt không bị chìm đi mà lại nổi lên đầy thách thức.

Đoạn thơ mở đầu với 14 câu thơ nhưng đã khắc họa được cảnh sắc thiên nhiên vùng Tây Bắc hoang sơ hùng vĩ nhưng cũng thơ mộng, trữ tình, tuy nhiên, thiên nhiên chỉ là cái nền để những người lính khắc họa lên trên đó. Đó là nỗi nhớ, là tình cảm sâu nặng của Quang Dũng gắn bó với Tây Bắc một thời hoa lửa. Tất cả đóng đinh thành một ấn tượng khá độc đáo trong lòng người đọc về cảnh núi rừng Tây Bắc và hình ảnh của người chiến sĩ quyết hiến mình cho tổ quốc, cho non sông.

Cảm hứng lãng mạn và sắc thái bi tráng tạo nên tính sử thi đặc biệt của bài thơ. Từ bức chân dung người lính Tây Tiến hào hoa và dũng cảm trên cái nền hùng vĩ và mĩ lệ của núi rừng Tây Bắc, Quang Dũng hướng hồn thơ ngưỡng vọng vào cả một thế hệ anh hùng.

Dàn Ý Phân Tích Khổ 1 Bài Thơ Tây Tiến

1. Khổ 1 ( Sông Mã … nếp xôi) Bài thơ mở đầu bằng hai câu thơ gợi nhớ gợi thương:

loading…

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

* Vần “ơi”, kết hợp từ láy “chơi vơi” là vần bằng tạo âm hưởng của tiếng gọi đồng vọng miên man không dứt. Nỗi nhớ như có hình dáng của núi non, của hồn cây, vách đá, con sông.

* Tác giả gọi tên con Sông Mã đầu tiên trong nỗi nhớ của mình. Vì con sông Mã là người bạn, là nhân chứng đã theo suốt bước chân quân hành, chứng kiến biết bao buồn vui, bao mất mát, hi sinh, vất vả của người lính TT. Gọi tên TT là gọi tên đồng đội, gợi nhớ bạn bè.

* Điệp từ “nhớ” được nhắc lại hai lần góp phần tô đậm cảm xúc nhớ nhung dâng trào. Dẫn chứng minh họa thêm: Thơ ca VN khi nói về nỗi nhớ có nhiều cách diễn tả:

Ca dao có câu: Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi đống than Diễn tả tình cảm cách mạng, Tố Hữu có câu: Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhưng đến Quang Dũng thì nỗi nhớ sáng tạo hơn cả – nhớ chơi vơi. Chơi vơi là trạng thái trơ trọi giữa khoảng không rộng, không thể bấu víu vào đâu cả. Nhớ chơi vơi có thể hiểu là một mình giữa thế giới hoài niệm mênh mông, bề bộn, không đầu, không cuối, không thứ tự thời gian, không gian. Đó là nỗi nhớ da diết, miên man, bồi hồi làm cho con người có cảm giác đứng ngồi không yên.

Đó là nỗi nhớ về cuộc hành quân giữa núi rừng miền Tây vừa hùng vĩ lại vừa thơ mộng trữ tình được cảm nhận bằng cảm hứng lãng mạn và tâm hồn lãng mạn hào hoa. Nhớ cuộc hành quân giữa núi rừng miền Tây hùng vĩ:

– Nhắc đến nhiều địa danh: Sài Khao, Mường lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu… gợi bao cảm xúc mới lạ, tác giả như đưa người đọc lạc vào những địa hạt heo hút, hoang dại.

– 6 câu thơ tiếp theo ” Sài chúng tôi khơi” diễn tả thật đắc địa sự hùng vĩ của núi rừng miền Tây. 6 câu thơ này là bằng chứng đặc sắc của “thi trung hữu họa” (trong thơ có họa): Cụ thể:

Con đường hành quân thật gian nan, vất vả, nguy hiểm với dốc cao, vực thẳm:

+ Trên đỉnh Sài Khao, sương dày đến độ lấp cả đoàn quân.

+ Đường đi toàn dốc cao được diễn tả với nhiều từ láy tạo hình “khúc khuỷu” (quanh co khó đi), “thăm thẳm” (diễn tả độ cao, độ sâu), “heo hút” (xa cách cuộc sống con người).

+ Sử dụng nhiều thanh trắc đi liền nhau khiến khi đọc lên ta có cảm giác trúc trắc, mệt mỏi. + Núi cao tận mây, mây nổi thành cồn, mũi súng chạm trời. Nghệ thuật nhân hóa “súng ngửi trời” vừa diễn tả độ cao vừa cho thấy chất tinh nghịch trong cảm nhận của người lính. Chính vì chất lính trẻ trung ấy mà trước thiên nhiên dữ dội người lính TT không bị mờ đi mà nổi lên đầy thách thức.

+ ” Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” với nghệ thuật đối làm câu thơ như bẻ đôi, diễn tả con dốc với chiều cao, sâu rợn ngợp: nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm.

+ Câu thứ sáu toàn thanh bằng đọc lên nghe êm ái nhẹ nhàng như xoa dịu bước chân mệt mỏi rã rời trước con đường hành quân gian khổ.

– Sự dữ dội của núi rừng cũng vắt kiệt sức người: “Anh bạn dãi dầu không bước nữa/ Gục lên súng mũ bỏ quên đời”. Cái chết đậm chất bi hùng: Chết trong tư thế đẹp, ôm chắc cây súng trong tay sẵn sàng chiến đấu, không quên nhiệm vụ của người lính.

– Sự hùng vĩ còn là oai linh của núi rừng miền Tây: nghệ thuật nhân hóa tiếng thác gầm thét, tiếng cọp trêu người càng tô đậm vẻ hoang sơ, bí hiểm, dữ dằn của núi rừng. Thiên nhiên như đang đùa giỡn với mạng sống của con người “Chiều chiều oai linh thác gầm thét/ Đêm đêm mường Hịch cọp trêu người”

– Núi rừng miền Tây thơ mộng, trữ tình.

– Cuộc hành quân đi trong sương, đi trong đêm hoa, đêm hơi: “Sài khao….đêm hơi”. Miền Tây bồng bềnh trong cơn mưa rừng mịt mù làm cho những ngôi nhà Pha Luông như trôi giữa biển khơi mờ ảo ” Nhà ai… xa khơi”. Đó là sự thơ mộng của những ngọn khói bình yên tỏa ra từ những mái nhà Mai Châu hay bên bát cơm đầu mùa thơm mùi xôi nếp đậm tình quân dân ” Nhớ ôi… nếp xôi”

Theo: Thầy Phan Danh Hiếu (Tổ trưởng Tổ Ngữ văn THPT Bùi Thị Xuân. Biên Hòa. Đồng Nai)

Nhận xét