Truyện Cười Việt Nam Vô Đối Phần 1

3 Truyện cười Việt Nam vô đối ca ngợi sự thông minh tài trí của con người Việt Nam cũng có mà chế giễu thói hư tật xấu của con người Việt Nam cũng có Người Việt Nam đi thi kiếm thuật

Trong 1 cuộc thi về kiếm thuật, lần lượt đại diện 3 nước lên tham gia biểu diễn tài năng.

Người Mĩ bước lên rút kiếm, mặt đầy sát khí, 1 con ruồi bay qua, vụt…. con ruồi rơi xuống, đầu lìa khỏi người chém xong Mĩ cười đểu đi xún.

Đến người Nhật, lạnh lùng bước lên, mặt lằm lằm, 1 con rồi nữa bay qua, vụt…con ruồi rơi xuống, không chết, nhưng đôi cánh thì đã không còn, chém xong Nhật cười khẩy đi xú.

Đến Việt Nam , mặt cũng đầy sát khí, bước lên, 1 con ruồi nữa bay qua, vụt… con ruồi vẫn bay bình thường, chém xong Việt Nam ko nói năng gì đi xún , Mĩ Nhật cười vãi hàng

Sau đó con ruồi được đem đi xét nghiệm thì phát hiện..nó đã mất khả năng sinh sản

Lại chuyện người Việt Nam đi WC bậy bạ

Trong một cuộc họp, phía Nga bảo dân VN mất vệ sinh toàn * bậy ngoài đường, phía VN bảo:

– “Làm gì có chuyện đấy!”

Phía Nga nói thách:

“Đêm nay bọn tao xách AK-47 đi quanh hồ Tây, thấy thằng nào * bậy là xử luôn”!

Phía VN OK. Sáng hôm sau VN thiệt 37 mạng. Ức chế quá, VN cử 2 đặc nhiệm sang Nga, vác colt đi quanh quảng trường đỏ và làm như bọn Nga. 2 chú đặc nhiệm đi cả đêm, vừa mệt vừa rét đến gần 2h sáng mới thấy 1 thằng tè đường, 2 chú mừng quá nã sạch đạn vào hắn.

Sáng hôm sau, báo chí nga đưa tin:”Đêm qua, đại sứ VN ở Nga bị bọn khủng bố bắn chết khi đang làm nhiệm vụ.”

Máy bắt trộm

Sau một thời gian dài nghiên cưu, các nhà khoa học Mỹ đã phát minh thành công một chiếc máy bắt trộm rất thông minh, được trang bị các vũ khí hiện đại để túm tất cả các loại tội phạm. Để kiếm chứng khả năng bắt trộm của máy, các nhà khoa học đã lần lượt đem qua từng nước để thử nghiệm.

– Đầu tiên họ thử nghiệm ở Mỹ, trong vòng 30 phút, máy bắt được 500 tên trộm.

– Tiếp theo họ đem qua Trung Quốc, trong vòng 10 phút máy bắt được 6000 tên trộm.

Cuối cùng là đến VN, các nhà khoa học chờ mãi ko thấy tín hiệu 5, 10, 30 phút, họ đi ra kiểm tra thì…cái máy đã bị trộm mất !!!

5 Truyện Hài Việt Nam Vô Đối (Phần 1)

1. Tổ tiên của người Nhật ?

Một người Nhật đi tìm tổ tiên của mình. Anh đi khắp thế giới tìm nhưng vô vọng. Cuối cùng anh đến ga xứ Huế ở Việt Nam. Anh nghe người ta nói chuyện: – Mi đi ga chi? – Tau đi ga ni. – Ga ni ga chi? – Ga chi như ri? – Ga như ri mi lo ra đi. – Tau đi nghe mi!

Anh mừng rỡ reo lên “Đây chính là tổ tiên của người Nhật!”

2 . Thi gan dạ

Thế giới mở một cuộc thi gan dạ gồm có 3 nước tham gia : Việt Nam , Mỹ , Nhật

Người Mỹ lấy súng bắn vào đầu mình . Người Nhật lấy kiếm tự rạch bụng mình

Còn anh Việt Nam thủng thẳng lấy quả bom ra và ngồi cưa . Khán giả và Trọng tài đổ mồ hôi hột đành tuyên bố : Việt Nam thắng!!!

3 . Hội nghị các nước có nền giáo dục phát triển

Sau thành công của kỳ thi olimpic toán quốc tế. Nước chủ nhà Việt Nam lại tổ chức một cuộc hội thảo giáo dục, bao gồm những bộ trưởng bộ giáo dục các nước có nền giáo dục phát triển.

Hội nghị đang tranh cãi xem nước nào có nền giáo dục tốt nhất.

Nước Mỹ:

-Nước chúng tôi, tin học đóng vai trò hàng đầu, một đứa trẻ 3 tuổi có thể sử dụng thành thạo máy vi tính và internet.

Mọi người xôn xao về báo cáo này.

Trung Quốc:

– Thế đã là gì, ở TQ, có những thần đồng mới 9 tuổi đã có thể theo học chương trình đại học.

Cả hội nghĩ vỗ tay nhiệt liệt. Đến Việt Nam, đất nước chủ nhà, ai ai cũng hồi hộp trước bài phát biểu của ông bộ trưởng:

– Tất cả đều là tầm thường hết, ở Việt Nam chúng tôi, thậm chí có rất nhiều học sinh không biết đọc biết viết cũng tốt nghiệp cấp 2

4 . Câu hỏi hóc húa

Câu hỏi đặt ra cho giải Nobel năm nay là:”Nếu bạn có 1 chiếc máy bay và 1 trái bom bạn sẽ làm gì?”.

Mỹ ôm trái bom lên máy bay ném sang các nước hồi giáo.

Binladen: Đổ đầy nhiên liệu lái máy bay cùng bom + hành khách đâm vào nước Mỹ.

Việt Nam ôm đem cưa lấy thuốc nổ lấy sắt,máy bay đem cưa lấy nhôm……bán ve chai cái nào cũng kiếm đc tiền….Cuối cùng Việt Nam đc trao 2 giải Nobel về Kinh Tế và Hòa Bình

5 . Vì sao thế giới sợ Việt Nam ?

Cả thế giới đều phải kiêng nể người Mỹ vì người Mỹ đã nói là làm. Nhưng người Mỹ lại sợ người Nhật vì người Nhật làm trước nói sau. Người Nhật lại sợ Trung Quốc vì Trung Quốc ko nói mà làm. Người Trung Quốc lại sợ ai ???

Xin thưa Trung Quốc sợ nhất Việt Nam vì Việt Nam nói 1 đằng làm 1 nẻo… hôm qua bảo thứ trưởng bộ công thương nói không tăng giá xăng hôm nay đùng một cái tăng 30% …

Đặc Điểm Của Truyện Cổ Tích Việt Nam / 1

Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam

1. YẾU TỐ TƯỢNG TRƯNG TRONG LOẠI HÌNH TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM NÓI CHUNG ÍT XA LẠ VỚI NHÂN TÍNH; LOẠI TRUYỆN SINH HOẠT CHIẾM MỘT TỶ LỆ TƯƠNG ĐỐI CAO; LOẠI TRUYỆN THẦN KỲ, TRUYỆN LOÀI VẬT, TRUYỆN PHIÊU LƯU MẠO HIỂM CHIẾM MỘT TỶ LỆ TƯƠNG ĐỐI THẤP.

Trước khi đề cập đến đặc điểm thứ nhất này cũng nên biết trong kho tàng truyện cổ tích Việt-nam, loại truyện thần kỳ không có nhiều, hay nói khác đi, yếu tố thần kỳ tuy vẫn có mặt trong kho tàng truyện cổ tích chúng ta, nhưng không đậm nét. Như ở Phần thứ nhất đã có trình bày, có thể chia truyện cổ tích Việt-nam thành ba loại (hay tiểu loại)[1]: 1) tiểu loại thần kỳ (hay hoang đường); 2) tiểu loại thế sự (hay sinh hoạt); 3) tiểu loại lịch sử. Từ những truyện sưu tầm được của bộ sách này (bao gồm cả truyện chính lẫn truyện phụ, nhưng không tính vào đó những truyện ngụ ngôn, khôi hài, tiếu lâm và những mẩu chuyện, v.v…), chúng tôi tạm làm thử một thống kê, cũng đã thấy:

1) Tiểu loại thần kỳ có 10%

2) Tiểu loại thế sự có 30%

3) Tiểu loại lịch sử có 18%

Ta sẽ thêm vào đó một tiểu loại nữa để bao quát được những truyện chủ yếu là thế sự nhưng có mang trong nó ít nhiều yếu tố thần kỳ[2] (hay hư ảo), thì tiểu loại này chiếm đến non nửa: 42%. Nếu cộng gộp cả hai tiểu loại thế sự và nửa thế sự thì rõ ràng chúng chiếm đến hai phần ba tổng số. Như vậy, dù muốn hay không, cũng phải thừa nhận một thực tế: không như kho truyện của nhiều dân tộc, truyện cổ tích thần kỳ của ta vẫn không nhiều.

Tại sao ta lại có ít truyện thần kỳ?

1. Hẳn ai cũng biết những hình tượng quái đản, hoang đường mang đậm tính siêu nhiên vốn là đặc trưng sáng tác phổ biến của một thời kỳ tối cổ trong lịch sử. Con người lúc đó bị muôn nghìn nỗi khủng khiếp của thiên nhiên vây bọc, và thiên nhiên được nhận thức “như là một lực lượng xa lạ, vạn năng, ngoài tầm hiểu biết của con người”[3]. Trí tưởng tượng của dân gian pha trộn với mê tín, hoang tưởng, đã gắn cho nhiều hiện tượng thiên nhiên những quy mô kỳ vĩ, những hình trạng quái lạ, và những hành vi phóng đại của nhân cách… tạo nên một thế giới khác biệt, xa lạ với thế giới con người đang sống, nhưng cũng chi phối thế giới đó một cách thần bí. Đó chính là sự ánh xạ đảo ngược môi trường sinh thái nguyên sơ của con người thời cổ, trong đầu óc tô-tem (totémisme) của họ, thông qua cái tâm lý vừa hoảng sợ trước thiên nhiên, lại vừa bị thiên nhiên trói buộc và quyến rũ.

Dần dần, trong cuộc đấu tranh sinh tồn, con người ngày một nhích ra khỏi sự phụ thuộc vào tự nhiên, có ý thức rõ hơn về sự tồn tại của mình, thì những sản phẩm của trí tưởng tượng của họ càng gần với thực tế mặc dầu thói quen ảo hóa vẫn gắn liền với sự sáng tạo truyện kể. Nhân vật chính và phụ của truyện cổ tích đã bớt vẻ kỳ quái dã man và đượm tính người hơn trước – nó đã có thuộc tính xã hội. Và càng bước vào xã hội văn minh thì thuộc tính xã hội của nhân vật càng rõ hơn, tuy chưa phải thuộc tính tự nhiên đã mất hẳn đi.

Tất nhiên, không phải truyện thế sự mãi về sau mới xuất hiện; nó cũng đã ra đời khá sớm. Nhưng phải đợi đến lúc hình thái xã hội nguyên thủy tan rã, những mâu thuẫn trong gia đình, trong thị tộc, trong công xã giữa các nhóm người, giữa các dân tộc, các quốc gia ngày một trở nên phiền phức, chồng chéo, thì loại truyện thế sự mới ngày càng nẩy nở một nhiều. Nó là ký ức của con người ở một thời kỳ mới mẻ: chặng đường chuyển từ tấn “bi hài kịch thần thánh” sang tấn “bi hài kịch nhân loại”; chặng đường con người bắt đầu nhìn vào chính nó, ước lượng thế giới qua tầm vóc thực của nó, và say mê vẻ đẹp do nó tạo nên, trong cuộc sống nhiều mặt mà con người đã trở thành vai chính. Đó là những câu chuyện sinh hoạt, người thực việc thựcc, dĩ nhiên đã được khái quát hóa và mô hình hóa. Yếu tố hoang đường chỉ có thể len vào nhiều hay ít để tăng thêm sức kích thích, cũng để thỏa mãn ảo giác của con người trước một thế giới mà nó ước mơ chinh phục nhưng vẫn đầy bất ngờ và hiểm họa đối với nó; tuy nhiên “cái hoang đường” chỉ đóng được vai trò nghệ thuật nếu không làm cho con người lãng quên hoặc đầu hàng hiện thực.

Vì thế, nếu có những truyện cổ nào đấy mà yếu tố thần kỳ vẫn còn được bảo lưu đầy đủ, được sử dụng để làm cái “nút” chính cho câu chuyện, như Cây tre trăm đốt, số 125; Người thợ đúc và anh học nghề, số 122; Bốn cô gái muốn lấy chồng hoàng tử, số 166; thì ở nhiều truyện khác, yếu tố này chỉ còn là nét điểm xuyết cho bức tranh thế sự thêm hấp dẫn (Sự tích chim hít cô, số 5; Sự tích đá Bà-rầu, số 33; Sự tích đá Vọng-phu, số 32); hoặc làm đường viền cho nhân vật lịch sử thêm nổi bật (truyện Huyền Quang, số 147), làm chất xúc tác cho một nhóm địa danh lịch sử vốn còn rời rạc trở thành câu chuyện dính kết chặt chẽ với nhau (Sự tích hồ Gươm, số 26).

2. Lịch sử Việt-nam từng trải qua một thời kỳ tồn tại và phát triển trên dưới ba, bốn thiên niên kỷ. Trong quá trình lâu dài đó đã diễn ra không ít biến cố về chính trị, xã hội, về tín ngưỡng, tôn giáo, và cả về ngôn ngũ văn tự… Những biến cố này nhất định cũng đã ảnh hưởng đến tư duy nghệ thuật của quần chúng nhân dân nhiều đời, tạo nên những “biến cách” trọng đại trong truyền thống sáng tác dân gian ở nhiều chặng đường lịch sử, mà nổi bật nhất, theo chúng tôi là hai chặng mốc lớn: cuối thời kỳ huyền sử về các vua Hùng bước sang thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất, và cuối thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai bước sang thời kỳ tự chủ của các quốc gia Đại-việt (thời đại Lý – Trần).

Ở chặng mốc đầu tiên, sự du nhập của nền văn minh Tần – Hán với những tổ chức xã hội chặt chẽ hơn tổ chức các liên minh bộ lạc cư dân bản địa, đã làm đảo lộn không nhỏ nếp sống của người Việt cổ truyền, kéo theo nó là sự rạn vỡ và biến mất của nhiều tục lệ, tín ngưỡng cổ xưa, có thể vốn rất đa dạng trong đời sống cộng đồng Việt – Mường ở vùng núi cũng như vùng xuôi (hai thành tố Việt và Mường lúc này chưa chia tách). Việc các vị quan lại đô hộ Trung-hoa đem phong tục “Thiên triều” “dạy dân lễ nghĩa” chắc đã kèm theo nhiều biện pháp nhằm xóa bỏ phong tục lâu đời của nhân dân bản xứ, bị coi là “huyền hoặc”, “man rợ”, không thích hợp với lý tính, trong một xã hội mà chữ “lễ” và chữ “pháp” bắt đầu cùng được áp đặt. Và hậu quả hẳn cũng có thể dự đoán được: cả một hệ thống thần thoại chứa đầy huyền tích nguyên thủy gắn liền với vô số hình thức lễ hội, ma thuật, tôn giáo… để diễn xướng chúng, bị cấm đoán, khinh miệt, lần lượt rơi rụng, mất mát và pha trộn dần đi. Đó là một trong những lý do khiến cho kho thần thoại Việt-nam không phong phú, lại mang tính chất rời rạc, gián đoạn, thiếu hệ thống như dấu vết còn lại ngày nay.

Nhưng ách đô hộ của ngoại tộc dẫu sao cũng không tàn phá được hết ngay một lúc mọi dấu vết của tư duy nguyên thủy. Sự tàn phá chỉ diễn ra dần dà, tự nó, với thời gian đô hộ kéo dài suốt một nghìn năm, và với những biện pháp chính trị và quân sự đi kèm với văn hóa, như một sự xâm thực ngấm ngầm. Cho đến chặng mốc lịch sử thứ hai đánh dấu bước toàn thắng của công cuộc khôi phục nền độc lập dân tộc (kể từ năm 938) thì người Việt trên thực tế đã có một hố ngăn cách quá sâu với cuộc sống tinh thần quá khứ của chính họ; có còn chút liên hệ nào chăng chỉ là từ trong huyền sử và dã sử, tiềm thức và vô thức. Và những cuộc cải cách toàn diện mà các lực lượng chính trị tiên tiến trong lòng dân tộc kế tiếp nhau đề xướng, nhằm củng cố vững chắc nhà nước độc lập quân chủ, lại theo hướng rập khuôn mô hình Trung-hoa một cách mạnh mẽ hơn trước, càng làm cho kiểu tư duy huyền thoại của người Việt mất mảnh đất sinh sôi nảy nở, kể cả trong sinh hoạt phôn-clo (folklore). Rồi từng bước ăn sâu bén rễ của văn hóa Đường, Tống trong lòng xã hội cũng là từng bước áp đảo và đầy lùi những tàn dư tín ngưỡng bản địa chắc vẫn còn tồn tại rải rác trên địa bàn cư trú của người Kinh, lúc bấy giờ đã tách khỏi người Mường. Bao nhiêu đền miếu bị coi là “dâm từ” đã bị phá hủy dưới thời Trần. Phần còn lại, Nho giáo kế chân Phật giáo ở các đời sau đời Trần, sẽ làm nốt công việc phá hoại của nó, theo một phương thức tinh vi hơn mà ta có thể gọi là hình thức “cải hóa dị đoan”, như tinh thần của Khổng Tử[4]. Được trang bị bởi một hệ tư tưởng coi “tam cương ngũ thường” là “thiên kinh địa nghĩa”, các đệ tử của đạo Nho dưới các triều Lê, Nguyễn luôn luôn có ý thức đem các khuôn mẫu “trung, hiếu, tiết, nghĩa”… áp đặt vào mọi hình thức tín ngưỡng dân gian, để làm cho phong tục “thuần hậu” hơn. Họ đã say mê viết lại tiểu sử các vị thần trong thần tích, phả ký, theo hướng lịch sử hóa truyền thuyết cổ tích (nhân vật rõ ràng là hư cấu, nhưng lại cố nặn ra đủ họ tên, quê quán, bố mẹ, thời điểm và địa điểm sinh ra và chết đi đặc biệt thay thế hành trạng ngẫu nhiên của thần mà họ coi là xấu xí thô kệch: thần ăn mày, thần gắp phân, thần sinh thực khí… thành các vị thần có hoạt động phò vua giúp nước), do đó đã biến rất nhiều huyền thoại kỳ lạ chưa được giải mã, thành một loạt lý lịch “trong sạch”, “đẹp đẽ” nhưng cũng hết sức tẻ ngắt và nhàm chán. Và ta có cơ sở để giả định rằng trong liền mấy trăm năm cần mẫn làm công việc “khai hóa” như thế, nhà nho đã góp phần tước bỏ mất số lớn những tình tiết và cốt truyện giàu chất liệu nghệ thuật vốn chứa đựng trong kho truyện kể dân gian Việt-nam[5]. Mặt khác, cũng có một số trí thức địa phương thường thêm thắt, phụ họa vào những truyền thuyết, cổ tích vốn đã định hình (như truyện Thánh Gióng, số 134; Sự tích đầm Nhất-dạ và bãi Tự-nhiên, số 28) biến chúng thành những mẩu chuyện phái sinh từ truyện chính, nhằm phục vụ cho tập tục, tín ngưỡng[6].

Cần nói thêm rằng nhà nho còn đóng vai trò chính trong việc sưu tập truyện cổ, một công việc được tiến hành vào một thời kỳ rất muộn trong lịch sử; đã thế việc này lại chỉ thông qua một hình thức văn tự ngoại lai, nên có thể ngay từ đầu, chiều hướng Nho hóa đã chi phối việc ghi chép truyện cổ một cách khó cưỡng, làm cho nhiều câu chuyện vốn rất ly kỳ bị đơn giản hóa, hoặc mỹ hóa, hợp lý hóa, theo kiểu sách vởnhà nho[7].

Chính vì tất cả những lý do như trên mà không riêng gì thần thoại, cả kho anh hùng ca và truyện cổ tích thần kỳ của Việt-nam còn giữ lại được cũng không lấy gì làm nhiều và không đa dạng về sắc thái như kho truyện của các dân tộc khác. Hơn nữa, chất hoang đường, quái đản, phi lý tính trong các di sản này luôn luôn có nguy cơ bị “tha hóa” theo thời gian để trở thành những câu chuyện trơn tru, có hạt nhân duy lý, có mối liên hệ nhân quả, và ngụ những bài học đạo lý có phần thực dụng của các đời sau. Hình ảnh những kiểu nhân vật mang nét đặc trưng của thời tiền sử cũng thường được nhào nặn lại, tước bỏ những gì thô kệch thái quá, để khoác một diện mạo văn minh hơn, biết suy xét phải trái, biết hành động nói năng hợp với lý trí hơn, v.v…Tựu trung, chiều hướng vận động có tính quy luật của truyện cổ tích Việt-nam là những biến đổi song hành theo tỷ lệ nghịch giữa yếu tố thần kỳ và ý thức thực tại: sự tăng trưởng về nhận thức lý tính của khối cộng đồng cư dân ở một hình thái xã hội nào đấy thường kéo theo sự suy giảm các yếu tố hoang đường kỳ ảo trong truyện cổ tích thần kỳ, và do đó giảm thiểu số lượng cổ tích thần kỳ và bù đắp vào đấy số lượng cổ tích thế sự.

Ngay cả khi chịu ảnh hưởng cách nói của nước ngoài, truyện cổ tích dân tộc cũng phải hoán cải lại sao cho hợp lý – đó là tính chừng mực về “độ” trong tư duy nghệ thuật Việt-nam. Chẳng hạn như ở Khảo dị truyện số 64 đã so sánh: chịu ảnh hưởng của một số anh hùng ca truyện cổ của người Tây-nguyên (Ba-na (Bahnar) và Ja-rai (Djarai)), về tình tiết nhân vật anh hùng (Ghi-ông) ném cái khiên (mộc) lên trời rồi nhảy theo ngồi lên, để nó đưa mình lên cửa nhà trời đánh nhau với địch thủ, một dị bản của truyện Chàng Lía (số 64)cũng có tình tiết tương tự là Lía “thường có thói quen phóng mâm thau lên trời” rồi nhảy theo ngồi lên, nhưng tính chừng mực về “độ” ở đây không cho phép nhân vật vượt ra khỏi không gian nghệ thuật của mình: Chàng Lía chỉ dùng mâm để... “đi thăm các sơn trại” của chàng. Cũng vậy, ở truyện Sọ dừa của người Cham-pa, nhân vật anh hùng một mình, không tay không chân mà chăn một lúc ba mươi vạn con trâu cho nhà vua, trong khi đó, những dị bản của truyện Sọ dừa của người Kinh thì, hoặc chỉ chăn năm chục con trâu cho một nhà giàu[8], hoặc chăn một đàn dê cho phú ông[9], v. v…

Không chỉ sự ràng buộc trong tâm lý thực tiễn đã ảnh hưởng đến tưởng tượng nghệ thuật của cổ tích, mà triết lý nhân sinh của người Việt cũng tác động mạnh mẽ đến sự sáng tạo này. Chẳng phải không có lý khi cho rằng trong tâm thức người Việt cổ truyền vốn đã ít chứa đựng cảm quan tôn giáo. Sự áp đặt của văn hóa, tư tưởng Trung-hoa trong khoảng 10 thế kỷ, như trên đã nói, lại làm cho thói quen tư duy của cộng đồng dân tộc nghiêng về cách nhận thức cụ thể hóa, như việc phân cắt một hiện tượng phức tạp thành các phần tử, các con số đơn giản[10], chứ không nghiêng về cách nhìn nhận những mối liên hệ trừu tượng và siêu hình (tư duy Ấn-độ). Bấy nhiêu đặc điểm từ nội dung đến hình thức của tư duy, hợp lại, trước sau sẽ hình thành nên tâm lý sáng tạo nghệ thuật dân tộc, góp một phần quan trọng chi phối con đường vận hành của truyện cổ tích Việt-nam, trong đó sự thanh lọc các yếu tố siêu nhiên đã diễn ra thường xuyên và gần như vô thức để đồ thị phát triển của cổ tích ngày càng đi gần tới trục biểu hiện nhân tính.

Để cho ý kiến vừa nêu không rơi vào võ đoán, chúng ta hay cũng nhau đi tìm dấu vết “nguyên sinh” của một vài hình tượng. Trong những truyền thuyết bao quanh nhân vật Lê Thánh Tông có truyền thuyết về bà nhũ mẫu của nhà vua có cặp vú rất dài, phải “bặn qua vai” mỗi khi đi lại cử động[11]. Hay truyền thuyết về Bà Triệu “vú dài ba thước vắt lưng” mà ít ai không nhớ nhập tâm từ tuổi còn thơ ấu. Những hình tượng này nói gì với chúng ta?

Phải chăng đó là dấu vết chưa bị tước bỏ của một nguyên mẫu nghệ thuật nào đấy từ xa xưa mà sự tình cờ đã may mắn để sót lại? Hay phải chăng đấy là một yếu tố hình thức đã được sự kiểm soát của nhân tính chấp nhận, trong quá trình thanh lọc gay gắt đối với truyện cổ tích thần kỳ? Có nghĩa là tính chất quái dị trong truyện cổ thần kỳ Việt-nam sẽ được tiếp nhận theo hướng giữ lại những mô-típ nào chỉ có giá trị khuếch đại tầm thước nhân vật là chủ yếu, và loại trừ những mô-típ nào bóp méo và cách điệu quá mức hình thù nhân vật, gây khủng khiếp cho thính giả? Có thể là như vậy. Dẫu sao, vấn đề cần nói ở đây là về mặt phương pháp luận, chúng ta không thể suy nguyên quá xa để đưa ra những giả định không thật chắc chắn về khả năng tư duy của người Việt cổ. Trái lại, mọi nhận xét, đánh giá chỉ có ý nghĩa, khi trở lại bám sát thực trạng hiện tồn.

Nếu cứ tùy tiện giả định thì có lẽ sẽ còn phải bàn cãi rất lâu về trạng mạo của giống đại bàng trong truyện cổ tích thền kỳ Việt-nam, vì có sách vở nào từ xưa miêu tả chúng cụ thể đâu. Nhưng một vài dòng thấp thoáng về chúng trong các truyện Cây khế, Nhân tham tài nhi tử, điểu tham thực nhi vong (số 59) cũng cho ta thấy, cha ông ta không tưởng tượng chúng theo kiểu những con vật thần thoái hung dữ được miêu tả trong các bức cổ họa phương Tây. Trên đại thể, hư cấu của người Việt ở đây đã không thiên về chi tiết, không quan tâm đến những nét cổ quái khác lạ, mà chỉ chú ý phác họa kích thước khổng lồ của con vật, và sự đồng nhất tâm lý giũa vật với người (người tham của thì chim cũng tham ăn). Thuồng luồng cũng vậy, được lưu truyền là một loài thủy quái nhưng nào ai biết miệng, răng, mắt, mũi của chúng ra sao. Chỉ biết chúng có mùi tanh, nhớt của chúng rất độc, nếu lọt vào lỗ mũi, từ mũi thấm lên óc có thể làm chết nhân vật anh hùng (Đại vương Hai hay là truyện giết thuồng luồng, số 69). Giao long là thần Nước có khi ở biển (truyện Nguyễn Thị Bích Châu, số 177), có khi ở hồ (Sự tích hồ Ba-bể, số 27), và tuy là nỗi kinh hoàng đối với dân lành, nó cũng biết phân biệt người tốt, kẻ xấu, kể cả đối với người xấu cũng không nỡ tàn hại đến tuyệt chủng. Không phải ngẫu nhiên mà con rồng từng có bóng dáng trong thần thoại chúng ta nhưng cơ hồ đã vắng mặt trong cổ tích: người Việt vẫn đặt nó vào phạm trù “vật tổ” với một niềm thành kính, nhưng lý trí lại bắt họ hoài nghi sự tồn tại hiện thực của nó. Đười ươi (orang – outang) trong thực tế là con vật hung dữ, thế mà đi vào truyền thuyết và cổ tích Việt-nam đã trở nên hiền lành[12], vì thế bọn lưu manh thời trung đại mới biết cách thuần phục để bắt nó tham gia vào những vụ trộm cắp (Bà lớn đười ươi, số 91).

[2] Chúng tôi coi những truyện như: Sự tích núi Ngũ-hành (số 35), Tấm Cám (số 154) chẳng hạn là những truyện thần kỳ; những truyện như: Trạng Hiền (số 81), Huyền Quang (số 147) là những truyện lịch sử; những truyện như Thần giữ của (số 82), Gái ngoan dạy chồng (số 90) là những truyện thế sự; còn những truyện như Đứa con trời đánh (số 49), Rạch đùi giấu ngọc (số 159) là nửa thế sự, v.v…

[3] Mác và Ăng-ghen (K.Marx và F.Engels). Bàn về nghệ thuật, tập I.

[4] Luận ngữ, 論 語 thiên “Vi chính” 爲 政 `子 曰 攻 乎 異 端 凘 害 也 已 Tử Viết: Công hồ dị đoan tư hại dã dĩ”. Nghĩa là: Khổng Tử nói: công kích dị đoan thì cái hại sẽ hết. Theo một số nhà khảo chứng thì chữ công ở đây có nghĩa là trị 治, tức là dùng lý lẽ để thuyết phục, đem vào khuôn phép.

[7] Ví dụ: một số hình tượng đã được cô đúc thành các nhân vật mang những cái tên biểu tượng như Mồ Côi, chàng Út, cô Tro Bếp… còn thấy xuất hiện lặp lại trong truyện cổ của nhiều dân tộc, nhưng không còn được bảo lưu mấy ở cổ tích của người Kinh nữa. Hay trong truyện Từ Đạo Hạnh hay là sự tích thánh Láng (số 120), về lý do cái chết của Từ Vinh, các sách Lĩnh-nam chích quái, Đại-nam kỳ truyện đều chỉ chép lướt qua, có lẽ vì ngại nói đến thói dâm tà của nhân vật.

[8] Trong Bản khai sách Hữu-lập, sách Vinh-lại và sách Nhiêu-hợp.

[9] Trong Truyện cổ Việt-nam của Vũ Ngọc Phan, sách đã dẫn.

[10] Chẳng hạn cách tư duy ba nhất, năm tốt, ba đảm đang… cũng là dấu vết của cách nhận thức khái quát chú trọng sự phân chia về lượng như đã nói.

[11] Xem Thái Kim Đỉnh. Núi Thiên cầm, Ty văn hóa Hà-tĩnh, 1976. Hình tượng vú dài, ví dụ ở thần thoại Ba-na (Bahnar), bà Đui Đai Tai Tỏ, cai quản cửa âm phủ (mang lung) chuyên khám xét người trần. Bà có cặp vú dài, mỗi khi trẻ em trần gian xuống âm phủ, bà thường cho chúng bú.

[12] Truyền thuyết của người Hà-tĩnh kể rằng những người đi củi phải vào núi sâu thường dùng hai ống tre lồng vào cánh tay, mỗi khi gặp đười ươi, nó chụp lấy tay và ngửa mặt lên trời mà cười, chờ lúc mặt trời lặn mới cúi xuống móc mắt. Nhân lúc nó đang cười ta chỉ việc rút tay ra khỏi ống tẩu thoát.

Như vậy, chiều hướng tiến triển không rời xa nhân tính của nghệ thuật truyện cổ tích thần kỳ là một thực tế không thể bác bỏ. Đây cũng là con đường vận động trùng hợp với xu hướng nhích gần đến lý tính của tư duy cổ tích dân tộc. Đó vừa là nội dung và cũng là nghệ thuật, góp phần tạo nên những đặc trưng cũng như diện mạo riêng biệt của truyện cổ tích Việt-nam.

4. Tuy truyện thần kỳ của ta không nhiều, yếu tố thần kỳ không đậm, và phải coi đây là một nhược điểm, nhưng bù đắp lại, tác giả truyện cổ tích Việt-nam lại thường biết vận dụng yếu tố huyền ảo một cách uyển chuyển, tạo nên những đột biến trong chất lượng truyện kể. Một trong những phong cách của cổ tích Việt-nam là ở chỗ cái hư và cái thực thường lăn lộn hoặc quyện vào nhau. Nhưng cái hư cái thực được trình bày ở đây không phải là tùy tiện, ngẫu nhiên. Trái lại, nó là sự hiện thực hóa quan niệm luân hồi hoặc số mệnh, hai động lực chủ yếu chi phối thế giới quan truyện cổ tích nhiều dân tộc phương Đông. Do quan niệm luân hồi, nhân vật chính diện hoặc phản diện trong truyện thường không chết mà hóa thân sang nhiều kiếp khác, hoặc thành người, hoặc thành thú vật. Do quan niệm số mệnh, nhân vật không phải lúc nào cũng làm chủ được vận mệnh của mình mà thường bị một lực vô hình dẫn dắt, để chịu đựng hết nạn nọ đến nạn kia, từ thử thách này sang thử thách khác. Trong truyện cổ tích Việt-nam hai đường dây luân hồi và số mệnh thường được sử dụng kết hợp xuyên chéo như những phương tiện nghệ thuật hữu hiệu để tác giả mở rộng không gian truyện kể, đặt nhân vật của mình vào nhiều thế giới khác nhau – ngoài thế giới cõi trần còn có thế giới cõi mộng, cõi trời, cõi nước, cõi âm – và bắt nhân vật phải ứng xử trong nhiều tình huống đầy nghịch lý. Những sự đối lập của các tình huống chỉ có tác dụng làm cho tính cách nhân vật hoặc sự trớ trêu của số phận ngày càng lộ rõ. Cũng thế, các thế giới khác nhau trong truyện cổ tích không đứng tách biệt nhau mà lồng vào nhau, và cùng góp phần soi chiếu cho thế giới cõi trần, làm cho những điều còn ẩn khuất trong thế giới đó từng bước sáng tỏ. Đó là thủ pháp đối sáng hay “chiếu xạ” của truyện cổ tích Việt-nam: Lấy cái mờ soi vào cái rõ, lấy cái ảo làm ánh lên cái thực. Trong truyện Cái kiến mày kiện củ khoai (số 54), các nhân vật sau khi đã sống với chính số phận của mình trên trần thế, chết xuống âm phủ, chịu sự phán xét của tòa án Diêm vương, hầu hết lại được tái sinh thành người, nhưng mỗi người có số phận khác nhau để đền nợ hoặc chịu đựng sự báo oán ở kiếp trước của mình. Câu chuyện tưởng chừng bị cắt ra làm hai cảnh, tuy vậy hai cảnh vẫn gắn khít với nhau, không có cảnh này thì không giải thích được lý do tồn tại của cảnh kia. Có thể nói mỗi cảnh đều được “mã hóa” để người đọc qua đó giải mã cảnh đã diễn ra trước hay sau nó. Và chỉ có đặt chung trong tương quan chéo (hai chiều đối ứng) thì hứng thú thẩm mỹ của chúng ta mới thật thỏa mãn.

Đối sánh và lạ hóa được sử dụng phổ biến trong cả ba tiểu loại cổ tích thần kỳ, thế sự và lịch sử, nhưng nổi bật nhất vẫn là tiểu loại cổtích thần kỳ. Việc áp dụng uyển chuyển thủ pháp này hay thủ pháp kia, hay có khi phối hợp cả hai thủ pháp, đã tạo nên nhiều dạng kết cấu điển hình của truyện cổ tích Việt-nam. Chẳng hạn kết đối sánh từng cặp nhân vật vốn có cùng một điểm xuất phát (anh cả – em út; chị cả – em gái; chị em khác mẹ, 2 người bạn; phú ông – người ở;…) nhưng tính cách không giống nhau (tốt bụng – xấu bụng; ngốc nghếch mà hiền – khôn ngoan mà ác độc; liêm khiết – tham lam;…) rốt cuộc số phận ngược chiều nhau. Hoặc đối sánh từng đoạn đời khác nhau của cùng một nhân vật do số phận dun dủi, hoặc do sự cướng chống với số phận ít hay nhiều, rốt cuộc giành được hạnh phúc hay vicnh viễn chịu bất hạnh.

Nhiều khi quan niệm luân hồi hay số mệnh còn được triển khai thành một cấu trúc chuỗi, tạo nên không phảihai mà nhiều chặng lạ hóa và đối sánh khác nhau. Trong truyện Tấm cám (số 154), Tấm phải hóa thân liên tiếp qua nhiều kiếp vật để lẩn trốn kẻ thù, nhưng ở bước hoá thân nào nàng cũng vẫn bộc lộ một bản chất duy nhất là niềm tin bền chặt vào sức mạnh thần kỳ của tình yêu. Sự lạ hóa kế tiếp ở đây giúp ta có điều kiện nhìn sâu thêm vào tính cách nhân vật Tấm mà trong ngôn bản truyện kể dường như cố không để lộ ra. Hay trong truyện Của trời trời lại lấy đi, giương đôi mắt ếch làm chi được trời (số 61), mười thoi vàng cứ qua tay hết người này đến người kia như cái “tiên triệu” của một tai vạ tày đình sẽ lần lượt ập đến với từng người. Nhưng thực ra, mười thoi vàng có làm gì nên tội. Có chăng chúng chỉ là cái cớ cho những máu tham ấp ủ từ lâu trong con người nổi dậy. Và sự đối sánh ở đây lại cho ta hình ảnh đa dạng về một mặt yếu của tính người – lòng tham vô độ – và những hậu quả không hay khi con người không chế ngự nổi cái “ma lực” bên trong của mình.

[1] Ở Thanh-hóa còn truyền một bài ca dùng để tế lễ (bao gồm cả diễn xướng) trong những ngày tế thần ở một ngôi đền thờ “dâm thần”:

Tóm lại, sức hấp dẫn của hầu hết các truyện cổ tích thần kỳ Việt-nam không phải ở cấp độ phi lý của bản thân câu chuyện, mà ở khả năng phối hợp và hoán chuyển tài tình cái huyền ảo và cái hiện thực. Cái hiện thực bị nhầm ra cái phi lý, cái phi lý nằm ngay trong cái hợp lý. Nói như một nhận xét của Đuy-răng (M. Durand) và Nguyễn Trần Huân: trong truyện tự sự dân gian Việt-nam “cái huyền ảo thường pha lẫn với cái xác thực và chúng ta thấy rõ khuynh hướng tinh thần Việt-nam là không xác định ranh giới giữa siêu nhiên và thực tại. Những sự kiện lịch sử xen lẫn với truyện ma quái, thần thông; vũ trụ ảo mộng gắn liền với vũ trụ nhân sinh”[1]. Âu đó cũng là thêm một lời xác nhận nét đặc thù sau đây của truyện cổ tích Việt-nam: có nhiều truyện vừa thần kỳ hư ảo vừa không thần kỳ hư ảo, tức là tiểu loại nửa thế sự vốn chiếm gần một nửa kho tàng truyện cổ tích chúng ta.

5. Những lý do trình bày ở trên phần nào cũng đã cắt nghĩa hiện tượng vắng mặt một vài loại truyện trong các loại hình truyện kể dân gian Việt-nam, mặc dầu ở một số dân tộc khác thường có khá nhiều, như loại truyện về loài vật, truyện phiêu lưu mạo hiểm.

Thường thì trong truyện cổ tích về loài vật, bao giờ cũng có những con vật đã qua sự chọn lựa của dân gian đóng vai chính diện hoặc phản diện và không hề có sự can thiệp của con người. Mỗi dân tộc có cách chọn lựa riêng của mình về những con vật này (ví dụ ở người Mã-lai (Malaysia) là chú hoẵng khôn ngoan chứ không phải chú thỏ, ở người Nhật-bản là khỉ, ở người Pháp có khi là chồn…). Với người Việt cũng có những con vật khá đặc trưng, như cóc tía gan lỳ, voi to xác mà khờ, chúng tôi đó, có thể đoán từ ngày xưa, truyện về loài vật của ta cũng không đến nỗi hiếm. Nhưng có lẽ do phong cách và đặc điểm tư duy dân tộc nên cũng như tiểu loại cổ tích thần kỳ, những sáng tác về loài vật ngày một ít dần hoặc “tha hóa” dần đi. Cho đến thời cận đại thì trong các loại hình cổ tích Việt-nam, kể cả loại hình ngụ ngôn, đã gầnnhư không còn mấy những truyện cổ đơn thuần về loài vật[2], nếu không tính vào đây những truyện mới sáng tác cốt dành cho trẻ em (đồng thoại) hơn là người lớn. Khoa học tự nhiên ở Việt-nam chậm phát triển cũng góp phần hạn chế sự tiếp xúc giữa con người và thế giới cầm thú, trên cơ sở đó nhà văn dân gian có thể khái quát đầy đủ đặc tính về loại của nhiều giống vật (trong môi trường nhiệt đới riêng biệt mà người Việt cư tụ) và tiến tới “nhân hóa”‘ chúng bằng nhiều câu chuyện kể hoàn chỉnh, như một số truyện Mưu con thỏ, số 88; Con thỏ, con gà và con hổ, số 86; Con thỏ và con hổ, số 87. To đầu mà dại, nhỏ dái mà khôn, số 58…được kể trong bộ sách này. Quả tình cái trục lý tính và nhân tính chi phối quá nặng trong mọi sinh hoạt tinh thần đã hạn chế người Việt vượt lên trên thực tại, tìm thêm nhiều con đường, mở ra những cung bậc mới cho sự sáng tạo cổ tích Việt-nam.

Cũng như trên, so với truyện cổ của nhiều dân tộc, loại truyện phiêu lưu mạo hiểm cũng hầu như vắng bóng trong kho tàng truyện cổ chúng ta. Loại truyện phiêu lưu mạo hiểm thường lấy nhân vật anh hùng hiệp sĩ làm trung tâm, và triển khai cốt truyện theo những cuộc hành trình định kỳ hoặc phiêu lưu vô định của nhân vật, qua đó nhân vật lập nên nhiều kỳ tích và cũng gặp gỡ không ít những chuyện rắc rối ly kỳ (ví dụ anh hùng I-ly-a (Ilya) của người Nga, hoặc bảy chuyến đi của nhà hàng hải Sinh Bá, Ả-rập (Arabie))[3]. Thực ra người Việt cũng có loại truyện phiêu lưu nhưng khá đơn giản, thường mang tính cách trào phúng hoặc khôi hài. Cuộc phiêu lưu của chàng Cuội trong Nói dối như Cuội (số 60), cuộc đời vô định của Ngốc trong Phiêu luwu của anh chàng Ngốc hay là làm theo vợ dặn (số 190) và Chàn Ngốc được kiện (số 108)… đều thuộc loại này. Nhưng loại truyện này trong kho tàng cổ tích Việt-nam cũng không có nhiều.

Cũng có thể từ ngày xưa chúng ta đã từng có loại truyện phiêu lưu dài hơi hoặc tương đối dài hơi nhưng về sau đã bị cắt xén, chia tách thành nhiều mảnh. Chẳng phải trong Lĩnh-nam chích quái vẫn còn dấu vết một thiên thần thoại khá liên tục về hình ảnh Lạc Long Quân chiến đấu chống Hồ Tinh, Ngư Tinh và Mộc Tinh nhưng đã mang hình thức của 3 truyện cổ riêng rẽ? Mặt khác, nếu tin vào giả thuyết người Việt cổ vốn có nguồn gốc từ chủng tộc Anh-đô-nê-diêng (Indonésiens), tức là tộc người Đra-vi-điêng (Dravidiens) ở dưới chân Hy-mã-lạp-sơn (Himalaya), đã từng di cư nhiều đợt, trải qua nhiều chặng đi dài, từ khoảng 5.000 năm trước đây để cuối cùng đến định cư ở mảnh đất chữ S này, thì vì sao tổ tiên chúng ta không giữ được một chút ký ức gì về những cuộc phiêu lưu vô cùng kỳ vĩ đó[4]? Hoặc giả, môi trường sống ổn định và đóng kín trong khoảng hơn hai nghìn năm lại đây, với phương thức canh tác ruộng nước, với tầm nhìn chật hẹp, chưa dám quay mặt ra biển cả mà chỉ muốn ngoái nhìn lại phía sau, sống lại thói quen trồng trỉa hái lượm trên đồi núi thuở xa xưa (xem truyện Cố ghép, số 94) đã không cho phép người Việt sáng tạo được những truyện phiêu lưu mạo hiểm, ly kỳ?

Nếu xét một cách cụ thể hơn thì điều kiện hàng đầu của loại truyện phiêu lưu là phải đi liền với chữ viết, vì việc sáng tác loại hình này đòi hỏi phải kéo dài liên tục, đều kỳ, hết truyện này bắt sang truyện khác, mãi mãi vẫn không dứt, nếu không được ghi lại kịp thời thì khó lòng tránh khỏi rơi vào những mâu thuẫn buồn cười trong tình tiết cũng như nhân vật. Nhưng chữ viết ở Việt-nam lại đóng một vai trò khá muộn trong đời sống văn chương sách vở, và nhất là không thông dụng trong tầng lớp bình dân. Vì thế, nếu trong quá khứ xa xăm người Việt có sáng tác loại truyện phiêu lưu thì trước sau chúng cũng đã biến mất, chỉ sống được trong trí nhớ dăm ba thế hệ là cùng. Nho sĩ Việt-nam xưa kia vốn quen coi “nôm na là cha mách qué” nên cầm chắc không mấy ai chịu nhận công việc ghi chép truyện phiêu lưu một cách tự nguyện như các học giả phương Tây đã làm đối với kho truyện của các nước cận Đông.

Loại truyện chuỗi này cũng không thoát khỏi hình thức khôi hài hoặc trào phúng như những truyện phiêu lưu của chàng Ngốc mà trên đã dẫn.

[1] M. Đuy-răng (M. Durand) và Nguyễn Trần Huân. Dẫn luận văn học Việt-nam, Pa-ri, 1969; tr. 14.

[2] Trong Truyện cổ nước Nam, Nguyễn Văn Ngọc có sắp xếp riêng một tập 2gồm những truyện về loài vật lấy tên là “Muông chim”, nhưng chúng tôi thấy trong đó ngoài một số truyện đơn thuần về loài vật (phần đông mang tính cách ngụ ngôn), còn thì hoặc có mục đích giải thích đặc điểm giống vật (như Chó ba cẳng, Thằn lằn trộm chân lươn), giải thích phong tục (như Rùa đội bia, Nhện báo tin), hoặc dựa vào phong dao tục ngữ mà diễn ra (như Gián và nhện, Lươn và cá rô), hoặc tuy là truyện về loài vật nhưng vẫn không thoát được sự can thiệp của con người (như Chó đen và chó vàng, Long vương và ếch). Đó là chưa kể có những truyện đã bị Nho hóa một cách vụng về (như Cua và ếch, Khướu dạy học, Tranh bay trước bay sau…).

[3] Trong Nghìn lẻ một đêm.

[5] Truyện lưu hành ở Nghệ – Tĩnh, đặc biệt nhân vật chính chuyên môn tàng hình, thường trêu chọc mọi người, có ngọn lửa thần làm vũ khí tùy thân. Tai nạn cháy nhà thường xuyên xẩy ra ở Nghệ – Tĩnh trước đây do sức mạnh của gió Lào là nguồn gốc thực của truyện này.

Truyện Cổ Tích Phiên Bản 18+(Phần 1)

Phần 1

Xưa, có một nàng công chúa tên là Quỳnh Nga. Nàng có sắc đẹp tuyệt trần, lại đến tuổi cặp kê nên nhà vua đăng tin kén phò mã đến khắp dân gian và các nước láng giềng. Rất nhiều hoàng tử, nhân tài các nước đến tham gia tuyển chọn nhưng không ai được nàng vừa ý.

Lúc bấy giờ có một tên đại bàng tinh cực kỳ háo sắc, thường xuyên bắt cóc gái nhà lành về hang ổ để cưỡng hiếp. Nghe tin công chúa Quỳnh Nga tuyển phò mã, đại bàng tinh cũng hóa hình người đến dự tuyển nhưng thất bại. Không cam lòng, gã thường xuyên bay quanh bầu trời hoàng cung tìm cơ hội bắt cóc công chúa.

Sau nhiều lần kén rễ bất thành, hoàng hậu lo buồn hỏi công chúa: “Con gái, sao bao nhiêu vương tôn quý tộc đến hỏi cưới mà con vẫn chưa tìm được ý trung nhân vậy?”

Công chúa e thẹn nũng nịu: “Mẫu hậu, con không thích những gã công tử bột đó! Con…”

“Nói ta nghe con thích người như thế nào? Mẫu hậu sẽ làm chủ cho con.”

Công chúa thẹn cúi mặt, giọng nói nàng nhỏ dần: “Con… con thích kiểu đàn ông… khỏe mạnh và… hoang dại cơ…” Xưa giờ Quỳnh Nga chưa từng thổ lộ chuyện tình cảm với ai, lần này nói ra khiến nàng thẹn đến đỏ mặt, chỉ muốn chui xuống đất mà trốn, lại nhìn lên thấy mặt hoàng hậu có ý cười lạ lùng, Quỳnh Nga liền đứng dậy nói: “A! Không nói với mẫu hậu nữa! Con ra ngắm hoa đây!” Rồi nàng cười thẹn bước vội ra ngoài.

Lúc này đại bàng tinh đang lượn trên cao, thấy công chúa bước ra liền sà xuống bắt lấy rồi bay đi, mặc cho nàng giãy giụa kêu cứu.

Đại bàng tinh bay ngang một cây đa lớn, đột nhiên dưới gốc đa có một mũi tên bắn lên trúng ngay vào phao câu gã. Đại bàng lảo đảo tìm cách rút mũi tên ra nhưng không được, đành tiếp tục bay, lòng thầm chửi thằng mất dạy nào bắn thủng đít mình.

Cuối cùng đại bàng tinh cũng chật vật bắt được công chúa Quỳnh Nga về hang, gã nhốt nàng lại rồi tranh thủ chửa trị vết thương.

Ở hoàng cung, nhà vua xót ruột và phẫn nộ tột cùng, liền truyền lệnh cho quan đô đốc mới nhận chức là Lý Thông đi tìm cứu công chúa, vua hứa nếu Lý Thông cứu được nàng vua sẽ gả công chúa và truyền ngôi cho.

Lý Thông mừng lo thấp thởm, cho quân đi lùng sục khắp nơi suốt mười ngày mà không có tin tức gì, đành đi đến gốc đa nơi người em trai kết nghĩa tài ba của gã sinh sống để nhờ vả.

Lý Thông gặp được người em kết nghĩa dưới gốc cây đa, giả vờ mừng rỡ nhớ thương rồi lái qua chuyện công chúa bị bắt cóc.

Sau khi nghe lời kể của Lý Thông, người em trai tên Thạch Sanh ngẫm nghĩ rồi kể: “Mười ngày trước em có thấy một con đại bàng lớn lắm, nó gắp theo một cô gái bay ngang đây, em ngắm vô đầu nó mà bắn hụt trúng vô đít.”

Lý Thông mừng rỡ hỏi dồn dập: “Thật không? Vậy nó chết chưa, cô gái đó đâu rồi?”

Thạch Sanh nói tiếp: “Nó bay tiếp được, nhưng em đuổi theo tới một cái hang, mà sâu quá em xuống không được nên định chờ nó ra thì đánh mà mười ngày nay không thấy nó bay ra.”

Lý Thông gật gù nghĩ một lúc rồi nói: “Giờ anh về cung gọi thêm người, sau đó em dẫn anh đến đó, anh buộc dây đưa em xuống cứu công chúa rồi sau đó anh kéo em lên, được không?”

Trong khoảng thời gian Lý Thông đến tìm Thạch Sanh, tại hang ổ, đại bàng tinh đã hồi phục vết thương. Vốn tính dâm tà mà bị thương phải nhịn suốt mười ngày, đại bàng tinh không thể nhịn thêm, lập tức tìm đến chỗ giam công chúa Quỳnh Nga để thu hoạch chiếm lợi phẩm.

Nói về công chúa Quỳnh Nga, nàng bị nhốt trong một căn phòng đá rộng rãi, đại bàng tinh làm căn phòng này để hưởng thụ với những mỹ nhân của gã nên phòng được làm khá lộng lẫy với ánh nến sáng lung linh, một chiếc giường lớn êm ái, có hẳn nơi vệ sinh và một hồ nước ngầm để tắm rửa. Hàng ngày, đại bàng tinh cũng mang trái cây, thịt nướng đến nên công chúa cũng không phải lo cái ăn dù nàng ăn rất ít vì lo lắng.

Bấy giờ Quỳnh Nga vừa tắm xong, nàng đang khỏa thân ngồi trên giường cho khô người thì chợt thấy đại bàng tinh nhìn mình qua khung cửa sắt, nàng giật mình chộp vội chiếc áo choàng khoác lên người, nhưng chiếc áo choàng quá mỏng nên để lộ ra hai bầu ngực căng tròn gợi dục cũng những đường cong quyến rũ trải dài xuống đôi chân.

Đại bàng tinh đang ở hình người, gương mặt gian tà với cái mỏ nhọn hoắc liếm láp thèm thuồng khi nhìn thấy cơ thể quyến rũ cùng vẻ hoảng hốt động lòng người của Quỳnh Nga.

Thấy gương mặt dâm tà của đại bàng tinh lướt như muốn liếm khắp trên cơ thể mình, Quỳnh Nga vội với tay tìm thêm quần áo để mặc nhưng chợt nhớ nàng đã treo cạnh hồ nước.

Đại bàng tinh mở cửa bước vào, gã cười dâm tiện nhìn vào khe ngực Quỳnh Nga, dưới lớp lụa mỏng có thể thấy rõ hai quả tuyết lê ngọt ngào của nàng, răng đại bàng tinh hé ra như chỉ muốn cắn lấy.

“Đừng lại đây!” Quỳnh Nga hoảng sợ vừa lấy tay che trước ngực và dưới mu vừa lùi lại.

Đại bàng tinh cười dâm tiến lại gần Quỳnh Nga, mũi gã hít lấy hương da thơm ngát của cơ thể nàng, hai tay gã giơ lên chực chờ tìm cách ôm công chúa vào lòng: “É hé hé. Ngoan nào người đẹp, ta sẽ không làm nàng đau đâu!”

Quỳnh Nga lùi nhanh hơn để tránh vòng tay của đại bàng tinh, nhưng phía sau là hồ nước khiến nàng trượt chân ngã xuống. Dưới hồ nước ngầm trong vắt, những đường cong vốn đã quyến rũ giờ có nước phủ lên lại càng thêm mê người.

Đôi mắt đại bàng tinh vốn nhìn tốt hơn mắt người nên dù trong ánh nến mờ ảo, gã vẫn có thể nhìn rõ mồn một cơ thể tuyệt trần của Quỳnh Nga, tranh thủ lúc nàng đang ngã dưới hồ, đại bàng tinh liền nhào xuống ôm lấy nàng.

“UM! ÚM! UHM!” Quỳnh Nga mím chặt môi lắc đầu né tránh cái hôn của đại bàng tinh, hai tay nàng đẩy mạnh vào ngực gã cố thoát ra.

Nhưng đại bàng tinh vốn là yêu quái, sức khỏe vượt xa người thường nên nàng công chúa chân yếu tay mềm càng không có khả năng phản kháng. Đại bàng tinh le cái lưỡi dài ngoằng của mình ra sức cạy môi Quỳnh Nga, một tay gã giữ chặt eo không cho nàng giãy giụa, tay còn lại vuốt ve làn da đùi mịn màng của nàng trong làn nước mát rượi.

Trong hình người, đại bàng tinh ở trần mặc một chiếc quần da hổ, con cặc của gã hứng tình giương ra làm lớp lông thú ướt át cọ sát vào mép âm đạo ngập trong nước của Quỳnh Nga, cảm giác nhồn nhột mà kích thích khiến nàng dần nảy sinh cảm giác thích thú dù bản thân không hề muốn.

Môi Quỳnh Nga vẫn còn mím chặt cố ngăn không cho cái lưỡi tinh quái của tên yêu nghiệt chui vào miệng mình, một tay nàng chống trên ngực gã cố đẩy gã ra, tay còn lại nàng vịn lấy bàn tay rắn chắc của đại bàng tinh để cố kéo tay gã rời khỏi đùi mình.

Nhưng sức Quỳnh Nga chẳng thể lay động nổi đại bàng tinh, ngược lại còn khiến gã thêm hăng máu. Đại bàng tinh xoa từ đùi đến cặp mông mịn màng tròn căng của Quỳnh Nga, những ngón tay dài sọc của gã bóp nhẹ mông Quỳnh Nga để hưởng thụ độ đàn hồi tuyệt mỹ của mông nàng, sau đó gã dùng một ngón tay vuốt nhẹ khe mông hẹp từ eo xuống tận âm đạo Quỳnh Nga, khiến nàng khẽ run nhẹ trong cơn kích tình.

Phía trên, cái lưỡi đại bàng tinh thôi không tấn công vào môi Quỳnh Nga nữa, thay vào đó gã bắt đầu hôn liếm khắp gương mặt xinh đẹp của nàng, tận hưởng làn da mịn màn cùng làn hương thơm ngan ngát tuyệt trần. Công chúa cố xoay đầu để tránh những cái hôn dâm tà của đại bàng tinh, nhưng chỉ càng tạo cơ hội cho gã dễ dàng đặt dấu môi lên toàn bộ gương mặt nàng.

“THẢ TA RA! A! PHỤ VƯƠNG CỨU CON!” Quỳnh Nga sợ hãi hét lớn, đôi mắt đen láy xinh đẹp nhỏ ra một dòng nước mắt uất ức khi ngón tay của đại bàng tinh vuốt nhẹ rồi chen vào âm đạo nàng.

“Ngoan nào, ta đang làm cho nàng sướng chứ có hại gì nàng đâu!” Mặc kệ Quỳnh Nga kêu la, đại bàng tinh tha hồ hưởng thụ cảm giác mượt mà ướt át của ngón tay trong âm đạo nàng công chúa kiều diễm, dù vậy gã chỉ mơn trớn phía ngoài âm đạo nàng chứ không dám cho ngón tay vào sâu vì sợ làm mất trinh tiết nàng công chúa trước khi con cặc của gã được hưởng thụ điều này.

Mơn trớn âm đạo Quỳnh Nga một lúc, đại bàng tinh giật tấm áo choàng của nàng quăng ra, sau đó gã thèm thuồng lướt mắt nhìn khắp thân thể trần trụi của nàng. Đại bàng tinh bế Quỳnh Nga đi lên khỏi mặt nước, gã dùng phép thổi một luồng gió làm khô người cả hai. Gã đặt nàng công chúa xinh đẹp đang giãy giụa xuống giường, còn bản thân thì đứng cởi chiếc quần ra khỏi người.

Con cặc xám xịt dài và to dần về phía đầu khất trông như một cây chày đâm tiêu lực lưỡng bật ra khiến Quỳnh Nga đang hoảng loạng chợt khựng người. Nàng chưa bao giờ nhìn thấy dương vật của một người đàn ông, nhưng dường như bản năng đàn bà mách bảo với nàng rằng con cặc của đại bàng tinh là thứ đồ vật ngon lành nhất mà nàng hằng khao khát.

Trong một khoảnh khắc, Quỳnh Nga quên cả sợ hãi, thậm chí trong đầu nàng còn lóe lên mong muốn được tận hưởng cảm giác khi con cặc khổng lồ của tên yêu tinh xấu xí đẩy sâu vào âm đạo mình. Nhưng Quỳnh Nga chợt bừng tỉnh, nàng vội rời khỏi giường chạy về phía cửa nhưng bị đại bàng tinh tóm lại rồi quăng lên giường.

“Sao phải chạy, nàng cứ yên tâm nằm đây, ta bảo đảm con cặc này của ta sẽ làm nàng sướng đến mức không muốn rời khỏi đây! He he!” Đại bàng tinh quỳ trên giường, dùng một tay túm lấy hai cổ tay công chúa giơ lên trên đầu nàng, gã vừa nói vừa cầm con cặc to đùng gõ gõ đầu khất lên môi Quỳnh Nga.

Những cú gõ cặc của đại bàng tinh làm mùi hôi ngai ngái xộc vào mũi Quỳnh Nga, khiến nàng nắm mắt lại định nín thở. Nhưng trong cảm giác ghê tởm, Quỳnh Nga lại cảm nhận được sự hấp dẫn lạ thường trong mùi hôi dái của gã yêu tinh, môi nàng bất giất tự hé ra như muốn ngậm lấy con cặc của gã nhưng rồi lập lức mím chặt lại.

Đại bàng tinh gian xảo cũng nhận ra khoảnh khắc hé môi của Quỳnh Nga, gã cười khoái trá: “Hà hà! Thèm rồi phải không? Yên tâm đi, từ từ ta sẽ cho nàng nếm thử, giờ thì…” Đại bàng tinh ngập ngừng liếc xuống hai quả tuyết lê chín mọng của Quỳnh Nga, hai đầu ti nhỏ nhắn hồng hào dường như đang phản bội nàng khi tự cương cứng lên.

Đại bàng tinh nuốt nước bọt há miệng đớp lấy cái đầu ti bé nhỏ đang nhô lên trên ngực Quỳnh Nga khiến nàng kêu lên: “Á!”

Đại bàng tinh sướng đê mê, răng gã nhai nhai cái đầu ti xinh đẹp, môi gã mút lấy bầu sữa căng tròn trắng mịn phía dưới, mũi gã hưởng thụ mùi hương da dịu dàng, tay gã bóp nắn đo đếm sức căng mịn của bầu vú còn lại.

“A… Đừng mà!” Công chúa van xin, hai tay nàng bị túm chặt nên chỉ có thể phản kháng bằng cách ưỡn mình quằng quại, nhưng cũng chẳng khác hành động hưởng thụ là mấy. Dù phản kháng nhưng Quỳnh Nga không thể phụ nhận sự kích tình nơi hai bầu ngực, chỉ e rằng nếu cứ tiếp tục thế này thì nàng sẽ ngoan ngoãn trao thân cho gã.

Đại bàng tinh vốn là tay hiếp dâm chuyên nghiệp, gã thừa biết cách để khiến phụ nữ ngoan ngoãn trao thân mà không cần dùng quá nhiều vũ lực. Chẳng bao lâu sau thì Quỳnh Nga đã chuyển từ giãy giụa sang quằn quại hưởng thụ.

Đại bàng tinh miệng vẫn ngoạm vú Quỳnh Nga để mà bú liếm, tay gã dời xuống vuốt ve mơn trớn làn da trằng hồng mềm mại của nàng, vuốt dọc theo đường eo cong vút xuống đùi nàng và tách cặp đùi mềm mịn ra để tiếp tục mơn trớn âm đạo nàng.

Lần này Quỳnh Nga phản kháng yếu ớt rồi dang nhẹ đôi chân cho tay đại bàng tinh chen vào, âm đạo nàng trước đó được phép thuật làm khô giờ đã dần ướt lại bởi dâm thủy. Đại bàng tinh dùng ngón tay vuốt dọc một đường trên âm đạo Quỳnh Nga để thu lấy một vệt dâm thủy lên ngón tay rồi cho vào miệng mút.

“Khà! Dâm thủy của nàng ngon tuyệt!” Đại bàng tinh cảm thán sau khi nhắm mắt phân tích dâm vị đang tan trong đầu lưỡi khiến Quỳnh Nga đỏ mặt quay đầu sang chỗ khác mắng khẽ: “Biến thái!”

“Nàng bảo ta biến thái? Được! Ta sẽ cho nàng biết thế nào là biến thái!” Đại bàng tinh cười khà khà buông hai tay Quỳnh Nga ra để vịn lấy hai bắp đùi nàng dang rộng ra, còn gã thì ngồi giữa ngắm nghía cái âm đạo hồng hào trinh nguyên của nàng với vẻ mặt thèm khát.

Mặc cho Quỳnh Nga đang bắt đầu một đợt giãy giụa mới, đại bàng tinh úp mặt vào sát âm đạo nàng rồi le cái lưỡi dâm tà nghịch ngợm liếm một đường.

“A! Đừng! Không được!”

Cái lưỡi dài của gã yêu quái quậy phá liếm láp khắp phía ngoài âm đạo Quỳnh Nga, khiến nàng dâng lên một cơn khoái cảm mà trong đời nàng chưa từng được hưởng. Dù sướng nhưng Quỳnh Nga không hề muốn trao trinh tiết của mình cho một tên yêu quái xấu xí, nàng tiếp tục giãy giụa đấu tranh với cơn hứng dục của chính mình.

Đại bàng tinh vừa liếm mút âm đạo công chúa vừa dùng tay vuốt ve cắp đùi trắn nõn của nàng, cho đến khi âm đạo Quỳnh Nga ướt nhẹp và nàng ngưng thôi giãy giụa thì gã bắt đầu quỳ dậy, con cặc như cây chày giương đến trước cửa mình nàng công chúa.

Đầu khất của đại bàng tinh chạm vào mép âm đạo công chúa Quỳnh Nga tựa như một nụ hôn mãnh liệt khiến cả hai cùng run khẽ trong cơn khoái lạc. Đại bàng tinh giữ nguyên vị trí như vậy và hỏi: “Thế nào? Nàng có muốn ta cho vào không?”

Gương mặt Quỳnh Nga bây giờ đã lộ sắc dâm mê mị, nhưng nàng vẫn cố phản kháng bằng chút lý trí còn sót lại: “Đ… đừng…”

Nhưng đại bàng tinh không phải loại lương thiện để nói đừng là đừng, gã cười đê tiện rồi từ từ đẩy nhẹ con cặc to đùng và khe âm đạo tươi ngon của Quỳnh Nga.

“A… Đ… đừng! Thả ta ra! Đừng mà…” Quỳnh Nga ràn rụa nước mắt van xin, lần đầu bị một con cặc chui vào nới rộng âm đạo khiến Quỳnh nha đau đớn, nhưng trong cơn đau này cũng có cơn sướng khiến Quỳnh Nga nữa muốn dừng nữa muốn trải nghiệm.

Âm đạo công chúa ép khá chặt còn con cặc quá to nên đại bàng cũng khá chật vật nhích từng chút vào trong, nhưng nhờ có kinh nghiệm nên cũng không quá mức khó khăn, sau một lúc thì gã đẩy con cặc của mình vào đến tận màng trinh công chúa rồi dừng lại tại đó.

Âm đạo Quỳnh Nga dần quen với con cặc của đại bàng tinh, cảm giác đau thốn dần hạ xuống nhường chỗ cho cảm giác sương sướng.

Trong lúc Quỳnh Nga đang nhắm mắt thở phào vì tưởng rằng không còn phải chịu đau nữa thì đại bàng tinh chợt tiếp tục đẩy con cặc của gã tiến vào. Màng trinh căng ra rồi bị xuyên thủng trong tiếng thét đau đớn tột cùng của nàng công chúa xinh đẹp, răng nàng cắn chặt còn hai tay thì bấu vào nệm giường, nước mắt ràng rụa.

“Tha cho ta… a…” Quỳnh Nga rên rỉ van xinh, còn đại bàng tinh thì đầy khoái trá từ từ rút cặc ra sau khi phá được trinh tiết của nàng.

Đại bàng tinh rút hẳn con cặc to khỏe của mình ra khỏi cửa mình công chúa, kéo theo một dòng màu đào chảy ra khỏi âm đạo nàng. Lúc này Quỳnh Nga đã buông xuôi, nàng khóc trong tức tưởi khi thân xác ngọc ngà bao năm gìn giữ lại bị một gã yêu tinh xấu xí đê hèn tước đoạt.

“A… Đừng…” Quỳnh Nga nói không ra hơi, cây chày của đại bàng tinh lại lần nữa chui sâu vào âm đạo nàng, gây ra một cơn sướng để mê kèm theo cảm giác đau thốn.

“Hà hà, sướng không công chúa của ta?” Đại bàng tinh cười đê tiện, gã thúc cặc vào rồi lại rút ra nhanh dần.

“Ta… hận ngươi! A… a…” Công chúa hận thù trừng mắt trước đại bàng tinh, nhưng đôi chân nàng lại giơ lên hòa vào nhịp đẩy cặc của gã.

“Rồi nàng sẽ yêu ta ngay thôi!”

Đại bàng tinh đột ngột tăng tốc đẩy con cặc to đùng của gã chui vào rồi lại rút ra khỏi cửa mình Quỳnh Nga, khiến nàng quay cuồng giữa sung sướng và uất ức. Đại bàng tinh vừa ra sức đụ công chúa vừa áp môi gã hôn lấy môi nàng, cũng như lần trước, công chúa lại mím chặt môi ngăn không cho lưỡi gã chui vào.

“ÚM! UHM! ƯM!…” Quỳnh Nga cố ngậm miệng, bản thân nàng cũng không chắc những âm thanh phát ra từ cổ họng nàng là tiếng kêu phản đối hay tiếng rên sung sướng.

Cái lưỡi dài của đại bàng tinh chui sâu vào miệng Quỳnh Nga nhanh chóng chạm vào lưỡi nàng rồi lì lợm quậy phá, đồng thời tay gã chộp lấy ngực nàng véo nhẹ khiến Quỳnh Nga càng thêm kích thích. Quỳnh Nga chợt nhận ra nàng càng lúc càng cảm thấy thích sự phá phách của đại bàng tinh, thậm chí mùi mồ hôi hôi hám của gã cũng góp phần tạo ra cơn sướng trong nàng. Cõ lẽ, đây là sự hoang dại mà nàng hằng khao khát…

“Uhm… uhm… um…” Cuối cùng, Quỳnh Nga chịu thua, hai tay nàng giơ lên ôm lấy đầu đại bàng tinh, đôi môi nàng lần đầu tiên hé ra trao cho gã một nụ hôn ngọt ngào thực thụ, lưỡi nàng cuộn lấy lưỡi gã để trao đổi hương vị của nhau.

Đại bàng tinh cũng khá bất ngờ trước sự ngoan ngoãn của Quỳnh Nga, trong lòng gã cười lên đắc thắng, con cặc bá đạo tiếp tục tăng tốc giao hợp với âm đạo của nàng công chúa xinh đẹp.

Vì là lần đầu nên khoái cảm đến với Quỳnh Nga rất nhanh, nàng bấu chặt đầu đại bàng tinh, đôi chân thon dài của nàng quặp chặt lấy gã như không muốn rời ra, đôi môi ngọt ngào rời khỏi môi đại bàng tinh và rên rỉ: “A.. A.. A…”

Biết Quỳnh Nga sắp đạt cực khoái, đại bàng tinh chiều ý nàng, gã gia tốc để cố gắng cùng nàng lên đỉnh trong đêm động phòng đầu tiên của hai người, căn phòng đá vang vọng khiếng tiếng da thịt va chạm càng thêm kích thích.

“Sướng.. không nàng?”

“A! A! S… sướng! T… Thiếp… sướng! A! Á! A! Mạnh.. lên chàng! Thiếp… sướng!”

Hai thân xác lõa lồ một đen đúa xấu xí, một trắng hồng xinh đẹp ôm chặt lấy nhau cùng co giật, con cặc của đại bàng tinh bắn mạnh những đợt tinh trắng đục vào tử cung nàng công chúa. Hai người trao nhau một nụ hôn dâm tà đầy thỏa mãn…

Bạn đang đọc truyện tại chúng tôi

Truyện Cười Ngắn Việt Nam Vô Đối Phần 1!!!!!!!!!!!!

Trên 1 chuyến máy bay. Phi công thông báo phải bỏ tất cả các vật không cần thiết vì máy bay quá tải. Trước tiên 1 người Mĩ thả 1 vali xuống, anh người Nhật hỏi: “Trong đó có cái gì?”. Anh Mĩ trả lời: “Ðô la đó ,nước tui có mà đầy”. Tiếp theo anh Nhật thả một cái bao xuống. Anh Mĩ hỏi: “Trong đó có cái gì?”. Anh Nhật trả lời: “Kim cương đó nước tui có mà đầy”.

Năm 2010 có 1 đoàn tàu xuyên quốc gia đi qua tất cả các nước trên thế giới.Trên tàu có 1 ông giáo sư bảo rằng cứ đi qua đất nước nào ông ta ko cần nhìn cũng biết. Mọi người ko tin bèn bảo ông ta làm thử. Ông ta thò tay ra ngoài cửa sổ đoàn tàu: “- Ở đây nóng quá! Chắc là California Mỹ rồi”. Một lúc sau ông ta lại thò tay ra ngoài và bảo: “- Chà! Lạnh thật! Đến Matxcova rồi!!” Đúng 2h sau ông ta thò tay ra cửa sổ rồi rụt vào nói: “- Mất cái đồng hồ đeo tay. Đúng đây là Việt Nam rồi !!”

Một bác Việt Nam ngồi ăn sáng trong quán, thì bỗng có một chú Mẽo (USA) lân la vào ngồi cạnh, vừa bỏm bẻm nhai kẹo cao su vừa bắt chuyện.

– Này, ở Việt Nam ăn bánh mì cả vỏ à? – Ừ – khó chịu vì bị làm phiền, bác Việt Nam trả lời cộc lốc. – Hừm, ở Mỹ bọn tao khác, chỉ ăn ruột thôi, cùi bánh thì nghiền ra làm bánh sừng bò, bán sang Việt Nam.

Chu mỏ thổi một cái bong bóng, hắn hỏi tiếp với vẻ mặt rất tự mãn:

– Thế chúng mày cũng ăn mứt với bánh mì chứ? – Tất nhiên – Bác Việt Nam trả lời, với vẻ ko quan tâm. – Ở Mỹ khác – vừa nổ đốp một bóng kẹo cao su, thằng Mẽo vừa nói với vẻ chế diễu – bọn tao chỉ ăn hoa quả cho bữa sáng, còn vỏ, hạt thì tái chế biến thành mứt, rồi bán cho Việt Nam.

Đến đây thì cú lắm rồi, bác Việt Nam bèn hỏi lại:

-Thế ở Mỹ chúng mày có “ấy ấy” không? – Tất nhiên. – Thế chúng mày làm gì với những bao OK vừa dùng xong? – Vứt đi thôi, thế cũng hỏi.

Mỉm cười với ánh mắt tinh quái, bác Việt Nam trả lời:

– Chúng tao thì khác, ở Việt Nam người ta gom tất cả OK dùng rồi để tái chế, nấu chảy ra thành chewing gum, rồi đem xuất khẩu sang… bán cho chúng mày đấy..

Website: chúng tôi