Bông Hoa Với Ba Điều Ước

Câu chuyện Bông hoa với ba điều ước

Bông hoa với ba điều ước là truyện cổ tích của người Ba Na, cho thấy niềm vui trong cuộc sống đôi khi chỉ là được làm những công việc có ích với mọi người.

1. Rít vừa được cha nuôi truyền cho nghề giỏi thì cha nuôi qua đời

Ngày xưa, ở buôn [1] nọ có một cậu bé tên là Rít. Rít mồ côi bố mẹ, được bác thợ rèn [2] trong buôn đem về nuôi. Chẳng bao lâu, cậu đã biết kéo bễ [3] giúp cha nuôi rèn cuốc, dao cho bà con trong buôn.

Cha nuôi Rít là một người thợ rèn giỏi. Bác được bà con trong buôn và người quanh vùng yêu mến. Dù ở xa mấy, họ cũng lội suối, trèo đèo, mang cuốc hư, dao hỏng đến cho bác rèn chữa hộ. Nhờ công bác mà người dân quanh vùng có dao, cuốc, thuổng dùng trong việc trồng trọt. Nương rẫy [4] đầu ắp lúa, ngô. Buôn làng vui tươi no ấm.

Bác thợ rèn thấy Rít chăm chỉ, siêng năng nên truyền tất cả mọi điều hay trong nghề cho con. Rít cặm cụi học cha.

Ít lâu sau, người cha nuôi qua đời. Nghe tin bác thợ rèn mất, mọi người đều thương tiếc. Rít lại càng buồn hơn, đi lang thang [5] trong rừng chẳng chịu làm gì.

2. Bông hoa với ba điều ước

Rít đang đi bỗng nghe tiếng gọi đằng sau. Quay lại, Rít thấy một ông già tay chống gậy, tóc bạc phơ, đôi mắt sáng như sao. Đặc biệt là trên chiếc gậy của ông cụ lại nở rất nhiều bông hoa đẹp, hương thơm ngào ngạt. Ông cụ đến gần Rít xoa đầu, vỗ vai cậu bé rồi hỏi:

– Sao cháu lại đi lang thang trong khu rừng này?

Rít buồn rầu thưa:

– Thưa ông, cha cháu là bác thợ rèn nổi tiếng nhất vùng này. Nay cha cháu mất rồi, cháu buồn quá.

– Thế cháu có muốn trở về làm thợ rèn như cha cháu không?

– Thưa ông, cháu không muốn. Nghề ấy vất vả quá!

– Nếu vậy ông cho cháu ba bông hoa với ba điều ước [6]. Cháu muốn ước điều gì thì cầm bông hoa tung lên là sẽ được điều ấy. Nhưng mỗi bông hoa chỉ được một điều ước thôi. Khi nào cháu không thích điều đó nữa thì tức khắc cháu lại được như ý muốn.

Ông lão ngắt ba bông hoa ở chiếc gậy trúc [7] đưa cho Rút rồi biến mất.

3. Rít thực hiện cả ba điều ước mà cuộc sống vẫn chẳng hơn gì

Rít cầm ba bông hoa và tiếp túc đi.

Bỗng Rít nhớ lại lời cha kể, trên đời chỉ có vua là giàu có nhất, có nhà cao cửa rộng, lại mặc quần áo sang nhất, ăn ngon nhất. Rít nhìn bông hoa và tự nhủ [8]:

– Ồ, thế thì tội gì ta không làm vua?

Rít liền tung bông hoa thứ nhất lên. Trong nháy mắt, mọi thứ đều thay đổi. Rít bệ vệ trong bộ quần áo thêu rồng và giát vàng óng ánh. Rít ở trong cung điện lộng lẫy, có kẻ hầy người hạ… Nhưng chỉ mấy ngày sau, Rít cảm thấy vướng víu trong bộ quần áo lụng thụng [9] và chán cái cảnh ăn không ngồi rồi ấy. Rít nghĩ: “Thôi, chẳng làm vua nữa. Chán lắm!”.

Bỗng chốc Rít trở lại cậu bé nghèo, đang lang thang như hồi nọ. Trên đường, Rít gặp một người đi buôn, lừa ngựa thồ [10] hàng nhiều vô kể, đồ đồng và tiền bạc chứa hàng bao to, Rít liền tung bông hoa thứ hai lên và nói:

– Ta phải được hơn thế!

Dứt lời thì mọi thứ đã chất ngổn ngang quanh mình. Rít hả hê [11] với cảnh giàu có của mình. Nhưng từ khi có của, Rít luôn cảm thấy thấp thỏm [12] trong lòng, nơm nớp [13] sợ bị mất trộm.

Rít lại nghĩ: “Thế ra có của rồi cũng chỉ những lo là lo! Thôi, ta chả thích giàu nữa!”.

Rít lại trở lại cậu bé nghèo đang lang thang như hồi nọ, trong tay chỉ còn mỗi một bông hoa. Rít nhìn lên trời, những đám mây đủ màu sắc rực rỡ, lơ lửng đuổi nhau trên bầu trời. Rít cảm thấy thèm được bay bổng trên không như những đám mây kia. Rít tung nốt bông hoa cuối cùng. Bây giờ Rít ở giữa những đám mây ngũ sắc cao tít đó. Rít tha hồ ngắm cảnh trên trời dưới biển. Ngày đêm, Rít cứ bay bổng như thế. Nhìn mây trời, sóng biển rồi cũng chán! Rít nghĩ: “Bay thế này mãi cũng chẳng thú vị gì! Thôi, chẳng bay nữa, trở về thôi”. Rít lại quay trở lại mặt đất.

4. Ý nghĩa của hạnh phúc

Qua bao ngày phiêu bạt [14], Rít bỗng nhớ quê hương, nhớ túp lều với đôi bễ lò rèn của cha. Rít nhất quyết trở về.

Nghe tin Rít, con nuôi bác thợ rèn giỏi nhất trong vùng đã trở về, tất cả bà con xa gần kéo đến chúc mừng cậu bé.

Từ già đến trẻ đều khuyên nài Rít giữ nghề cũ của cha.

Lò bễ đã lâu tắt ngấm, nay lại đỏ lửa, ngày đêm vang tiếng búa đe của Rít. Tất cả những điều hay trong nghề được cha truyền cho, Rít đều mang ra dùng. Bà con khắp vùng ai ai cũng yêu mến Rít chẳng kém gì họ kính nể cha nuôi của Rít ngày xưa. Dần dần, Rít cảm thấy cuộc sống thật là ý nghĩa với nhiều niềm vui.

Bông hoa với ba điều ước – Truyện cổ tích Ba Na Nguồn: Kể chuyện 2, trang 139, NXB Giáo dục – 1982 – chúng tôi –

Chú thích trong truyện Bông hoa với ba điều ước

[1] Buôn: làng ở miền núi của đồng bào thiểu số miền Trung và Nam (vùng Tây Nguyên). [2] Thợ rèn: người làm nghề rèn sắt nung làm thành đồ dùng (còn gọi là thờ rào). [3] Bễ: dụng cụ của người thợ rèn dùng để bơm hơi vào lò cho lửa cháy mạnh (kéo bễ: bơm hơi vào lò bằng bễ có hai chiếc cần kéo lên, đẩy xuống bằng hai tay). [4] Nương rẫy: ruộng ở đồi núi. [5] Đi lang thang: đi hết chỗ này đến chỗ khác không có mục đích. [6] Điều ước: Điều mong ước, điều mong mỏi có được. [7] Trúc: loài cây cùng họ với tre, thân nhỏ và thằng, màu vàng. [8] Tự nhủ: tự bảo với mình. [9] Lụng thụng: (quần áo) rộng và dài quá khổ người. [10] Thồ: (ngựa) chở hàng. [11] Hả hê: thỏa thích, thỏa mãn ở mức rất cao. [12] Thấp thỏm: lo lắng, không yên tâm. [13] Nơm nớp: lúc nào cũng lo sợ điều chẳng lành bất chợt xảy ra cho mình. [14] Phiêu bạt: trôi dạt nay đây mai đó.

Thử thách trong câu chuyện Bông hoa với ba điều ước

Kể ra ba điều ước mà Rít đã thực hiện.

Vì sao ba điều ước không mang lại hạnh phúc cho Rít?

Cuối cùng, Rít hiều điều gì mới đáng mơ ước?

Nếu có ba điều ước, các bé sẽ ước những gì?

[1] Buôn: làng ở miền núi của đồng bào thiểu số miền Trung và Nam (vùng Tây Nguyên).[2] Thợ rèn: người làm nghề rèn sắt nung làm thành đồ dùng (còn gọi là thờ rào).[3] Bễ: dụng cụ của người thợ rèn dùng để bơm hơi vào lò cho lửa cháy mạnh (kéo bễ: bơm hơi vào lò bằng bễ có hai chiếc cần kéo lên, đẩy xuống bằng hai tay).[4] Nương rẫy: ruộng ở đồi núi.[5] Đi lang thang: đi hết chỗ này đến chỗ khác không có mục đích.[6] Điều ước: Điều mong ước, điều mong mỏi có được.[7] Trúc: loài cây cùng họ với tre, thân nhỏ và thằng, màu vàng.[8] Tự nhủ: tự bảo với mình.[9] Lụng thụng: (quần áo) rộng và dài quá khổ người.[10] Thồ: (ngựa) chở hàng.[11] Hả hê: thỏa thích, thỏa mãn ở mức rất cao.[12] Thấp thỏm: lo lắng, không yên tâm.[13] Nơm nớp: lúc nào cũng lo sợ điều chẳng lành bất chợt xảy ra cho mình.[14] Phiêu bạt: trôi dạt nay đây mai đó.

Truyện Cổ Tích Việt Nam

Ngày xưa có một ông vua đi săn ở một khu rừng lớn, vì vua đuổi theo một con thú hăng quá nên quân hầu không ai theo kịp. Tối đến, vua đứng lặng nhìn quanh, thấy mình đã bị lạc đường, không tìm được lối ra. Bỗng vua thấy có một mụ già, đầu lắc lư đi tới: đó là một mụ phù thủy. Vua bảo mụ:

– Này cụ, cụ có thể làm ơn chỉ cho tôi lối ra khỏi rừng được không?

Mụ đáp:

– Tâu bệ hạ, được chứ. Cái đó già làm được, nhưng với một điều kiện mà nếu bệ hạ không chấp nhận thì bệ hạ không bao giờ ra được khỏi rừng này và sẽ chết đói ở đây.

Vua hỏi:

– Điều kiện gì hở cụ?

– Già có một đứa con gái đẹp nhất đời. Bệ hạ chưa từng thấy ai đẹp đến thế đâu, thật xứng đáng làm vợ vua. Nếu bệ hạ đồng ý lấy nó làm hoàng hậu thì già sẽ chỉ đường cho bệ hạ ra khỏi rừng.

Trong lúc hoảng sợ, vua bằng lòng ngay. Mụ già dẫn vua đến ngôi nhà nhỏ của mụ. Con gái mụ ngồi bên lửa. Cô đứng dậy ra đón vua ngay, như đã sẵn sàng chờ vua đến. Vua thấy cô tuyệt đẹp nhưng không thích, nhìn cô, vua cảm thấy rờn rợn. Sau khi vua đặt cô lên mình ngựa thì mụ chỉ đường cho vua. Vua về đến cung điện làm lễ cưới.

Nguyên vua đã lấy vợ một lần và hoàng hậu sinh được bảy con, sáu trai một gái, vua yêu quí vô cùng. Sợ người dì ghẻ đối với con mình không tốt mà còn có thể làm khổ chúng nữa vua đưa chúng đến ở một tòa lâu đài hiu quạnh giữa rừng sâu. Lâu đài rất kín, đường đi đến khó mà tìm được, chính vua cũng không tìm ra đường nếu không được một bà lão cho một cuộn chỉ có phép lạ. Khi vua ném cuộn chỉ về phía trước, nó sẽ tự gỡ ra và chỉ đường cho vua.

Nhà vua luôn luôn đi thăm các con yêu dấu, nên hoàng hậu để ý đến sự vắng mặt của vua. Mụ dì ghẻ tò mò muốn biết vua đi vào rừng một mình làm gì. Mụ bèn cho thị vệ của vua nhiều tiền, chúng nói lộ bí mật cho mụ biết và nói cả đến cuộn chỉ biết đưa đường. Mụ bứt rứt không yên tâm, mãi cho đến lúc mụ tìm ra được chỗ vua để cuộn chỉ. Mụ bèn may một số áo lót bằng lụa trắng và khâu bùa vào vì mụ học được ít phép của mẹ.

Một hôm, vua ruổi ngựa đi săn vắng, mụ mang áo đi theo cuộn chỉ dẫn đường vào rừng. Bọn trẻ thấy từ xa có bóng người đến tưởng là cha yêu dấu, vội vui mừng chạy lại đón. Mụ bèn tung trùm lên mỗi đứa một cái áo, áo vừa đụng vào người thì chúng biến ra thiên nga bay vượt qua rừng biến mất. Mụ hớn hở về nhà, tưởng là đã trừ được lũ con chồng. Nhưng mụ không ngờ là còn cô con gái không chạy ra đón cha cùng các anh.

Một hôm, vua đến thăm các con thì chỉ thấy con gái thôi. Vua hỏi:

– Các anh con đâu?

Cô đáp:

– Trời ơi, cha yêu dấu! Các anh con đi mất rồi, bỏ lại mình con.

Rồi cô kể cho vua nghe cô đứng ở cửa sổ nhìn thấy những gì, các anh cô hóa thiên nga bay qua rừng thế nào, và đưa cho vua xem những lông chim cô nhặt được ở ngoài sân. Vua rất buồn bã nhưng không ngờ là hoàng hậu làm việc độc ác ấy. Vua sợ cô gái cũng bị mất nốt nên định mang cô đi cùng. Nhưng cô sợ dì ghẻ nên xin vua hãy để cô ở lại tòa lâu đài trong rừng đêm ấy nữa. Cô gái đáng thương nghĩ bụng:

– Mình không thể ở đây lâu được nữa, mình phải tìm các anh mới được.

Truyện cổ tích Việt Nam – Sáu con Thiên Nga

Nhưng tới lúc mặt trời sắp lặn cô nghe có tiếng lào xào và thấy sáu con thiên nga bay qua cửa sổ chui vào. Chúng ngồi xuống đất, thổi lẫn cho nhau, cho bay hết lông; bộ lông thiên nga trút ra như một chiếc áo lót. Cô gái nhận ra các anh mình, mừng lắm, chui ở gầm giường ra. Các anh trông thấy em cũng mừng rỡ chẳng kém. Nhưng vui chẳng được bao lâu, các anh bảo em:

– Em không ở đây được đâu. Đây là sào huyệt của bọn cướp, chúng về thấy em sẽ giết em mất.

Em hỏi:

– Thế các anh có cách nào che chở em không?

Các anh nói:

– Không, vì mỗi tối, các anh chỉ có thể trút bộ lông thiên nga, hiện nguyên hình người trong một khắc đồng hồ, sau đó lại phải biến thành thiên nga.

Em khóc hỏi:

– Thế không có cách nào giải thoát các anh à?

Các anh đáp:

– Không được đâu! Khó lắm. Trong sáu năm, em không được nói được cười. Trong thời gian ấy, em phải may cho các anh sáu chiếc áo lót nhỏ bằng hoa thúy cúc. Nếu em nói nửa lời là công toi hết.

Các anh vừa nói xong thì một khắc đồng hồ đã qua, các anh lại biến thành thiên nga bay qua cửa sổ mất. Cô gái nhất định giải thoát cho các anh, dù có phải hy sinh tính mạng. Cô rời bỏ chiếc lều hoang, vào giữa rừng, leo lên cây ngủ đêm. Sáng hôm sau, cô đi hái hoa thúy cúc và bắt đầu khâu áo. Cô chẳng nói năng được với ai mà cũng chẳng buồn hé miệng cười. Cô chỉ ngồi một chỗ chăm chú làm.

Một thời gian đã qua. Vua xứ ấy cùng thợ săn vào rừng tìm thú, đến cây cô ngồi. Họ gọi cô:

– Cô hãy xuống đây với chúng tôi, chúng tôi không hại gì cô đâu.

Cô chỉ lắc đầu. Họ hỏi dồn mãi, cô liền ném xuống cho họ chiếc dây chuyền đeo cổ bằng vàng, tưởng làm như thế cho họ yên đi. Nhưng họ vẫn không chịu thôi, cô liền vứt chiếc thắt lưng của cô xuống. Thấy vẫn chưa ổn cô vứt thêm nịt bít tất, rồi dần dần vứt tất cả các thứ mặc trên người có thể vứt được, đến nỗi cô chỉ còn chiếc áo lót. Những người thợ săn không vì thế mà chịu lùi. Họ trèo lên cây, bế cô xuống đưa đến trước mặt vua. Vua hỏi:

– Nàng là ai? Nàng ngồi trên cây làm gì?

Cô không đáp. Vua dùng đủ các thứ tiếng vua biết mà cô vẫn câm như hến. Nhưng cô đẹp quá khiến lòng vua rung động. Vua yêu cô tha thiết. Vua khoác áo ngực cho cô, đặt cô lên kiệu ngồi trước mình đưa về cung điện. Vua cho cô mặc quần áo sang trọng, cô đẹp lộng lẫy như một ngày nắng đẹp, nhưng cô vẫn không nói nửa lời. Vua đưa cô lại ngồi ở bàn ăn, cho ngồi bên mình. Dáng điệu nhu mì và e lệ của cô khiến vua rất hài lòng. Vua nói:

– Ta thiết tha muốn lấy cô này, ta không lấy một ai khác trong thiên hạ đâu.

Mấy hôm sau, vua lấy nàng. Vua có một bà mẹ ghẻ độc ác, không bằng lòng với đám cưới này, và nói xấu hoàng hậu trẻ tuổi. Bà bảo:

– Không biết cái con này ở đâu ra mà nó không nói năng gì được. Nó không xứng đáng làm vợ vua.

Hơn một năm sau, khi hoàng hậu sinh con đầu lòng. Mụ bắt trộm đi và lừa khi nàng ngủ bôi máu vào mồm nàng. Rồi mụ tâu vua là nàng ăn thịt người. Vua không tin, không để ai làm hại nàng. Lúc nào nàng cũng ngồi khâu áo lót, ngoài ra không để ý đến cái gì khác. Lần sau, nàng lại sinh một đứa con trai kháu khỉnh. Mẹ ghẻ quỉ quyệt lại lừa vua như lần trước. Vua vẫn nhất định không tin lời mụ. Vua bảo:

– Nàng trong sạch và tốt bụng, không thể làm việc ấy đâu. Nếu nàng nói được và có thể tự bênh vực được thì sẽ minh oan được. Nhưng đến lần thứ ba, mụ già lại ăn trộm đứa bé mới đẻ và lại tố cáo hoàng hậu. Nàng vẫn không nói nửa lời để minh oan. Vua không làm khác được phải đưa nàng ra tòa xử. Nàng bị kết tội chết thiêu.

Đã đến ngày hành hình, cũng là ngày cuối cùng của thời gian sáu năm không được nói, cười, ngày nàng sẽ giải thoát được các anh khỏi yêu thuật. Sáu chiếc áo lót đã khâu xong chỉ còn thiếu cánh tay áo chiếc cuối cùng. Khi nàng bị dẫn đến đống củi, ở dưới sắp châm lửa, nàng nhìn quanh thì thấy sáu con thiên nga bay trên không lại. Nàng cảm thấy mình sắp được cứu thoát, lòng mừng khôn xiết.

Thiên nga bay rào rào tới chỗ nàng, sà xuống thấp để nàng có thể ném áo lót lên tới được. Áo vừa đụng chim thì lông thiên nga rơi xuống liền, các anh nàng hiện lên hình người đứng trước nàng, vui vẻ, đẹp đẽ. Chỉ có người em cuối cùng là chiếc áo còn thiếu cánh tay trái vì vậy ở lưng còn có một cánh thiên nga. Anh em ôm nhau hôn trìu mến; hoàng hậu đến tìm vua, vua rất đỗi ngạc nhiên. Nàng nói:

– Tâu bệ hạ, giờ thiếp mới được phép nói và bộc lộ là thiếp đã bị oan.

Nàng kể lại âm mưu mụ già đã lấy trộm ba đứa con đem giấu đi. Vua tìm được con mừng rỡ lắm, còn mụ dì ghẻ cay nghiệt kia phải đền tội. Mụ bị trói trên đống lửa và bị thiêu ra tro. Vua và hoàng hậu cùng sáu anh hưởng hạnh phúc dài lâu.

Người Giàu Người Nghèo Và Ba Điều Ước Của Chúa

Người giàu người nghèo và ba điều ước của Chúa – Truyện cổ hay Chuyện kể về một anh nông dân tốt bụng cho Chúa ngủ nhờ nên đã được ban tặng 3 điều ước. Từ đó về sau anh có cuộc sống khang trang với ngôi nhà mới. Tên nhà giàu vì tham lam cũng đi xin 3 điều ước nhưng lại bị trừng phạt bởi 3 điều ước đó.

Ngày xửa ngày xưa, khi Chúa còn sống chung với con người ở dưới trần gian. Một hôm, Người chưa về tới nhà thì trời đã sập tối. Trong lúc mệt mỏi, Người đứng trước hai căn nhà đối diện nhau, một căn thì to và đẹp, còn căn kia nhỏ bé, xấu xí. Căn nhà to đẹp là của người giàu, còn căn nhỏ bé kia là của người nghèo. Người nghĩ: “Ta phải năn nỉ người giàu để ngủ qua đêm vậy!.”

Khi nghe tiếng gõ cửa, người giàu mở cửa sổ ra ngó và hỏi người lạ cần gì. Chúa đáp:

– Cho tôi xin ngủ qua đêm.

Người giàu liếc nhìn người lữ hành từ đầu tới chân. Vì Chúa ăn mặc giản dị và không có nhiều tiền rủng rẻng trong túi, người giàu lắc đầu nói:

– Nhà tôi chất đầy lương thực, nên không còn chỗ cho người ngủ nhờ. Nếu ai gõ cửa xin ngủ nhờ cũng cho thì tôi cũng chỉ còn cách chống gậy đi ăn xin. Đi tìm chỗ khác mà ngủ nhờ!

Người giàu đóng cửa sổ để mặc cho người lạ đứng ngoài. Chúa đành quay sang nhà đối diện. Vừa mới gõ cửa thì người nghèo đã kéo then mở cửa và mời người lữ hành vào nhà. Anh ta nói:

Chúa cảm thấy nhẹ nhõm, hài lòng và bước vào nhà. Vợ chủ nhà đon đả ra chào khách và nói, ông cứ tự nhiên coi như ở nhà mình, vợ chồng tuy nghèo, nhưng sẵn lòng mời khách những gì có trong nhà. Rồi chủ nhà đặt nồi nấu khoai tây, vợ đi vắt sữa dê để cả chủ lẫn khách có sữa uống. Thức ăn dọn lên bàn, khách ngồi chung với chủ nhà ăn tối, tuy bữa ăn đạm bạc nhưng khách ăn rất ngon miệng, vì chủ nhà rất niềm nở với khách. Ăn xong, trước khi đi ngủ, vợ nói với chồng:

– Tối nay mình giành giường cho khách. Ta trải rơm nằm tạm đêm nay. Khách đi cả ngày nên chắc đã thấm mệt.

Chồng bảo: – Anh thấy cũng nên hiếu khách như vậy.

Rồi chồng lại nói với khách, rằng khách tối nay có thể ngủ ở giường cho giãn xương giãn cốt. Khách nói không muốn như vậy mà chỉ muốn nằm ở ổ rơm. Hai vợ chồng chủ nhà không đồng ý. Cuối cùng khách đành nằm giường theo ý của chủ nhà, còn vợ chồng chủ nhà thì trải rơm ngủ. Hôm sau, chủ nhà dậy sớm nấu cho khách một bữa ăn sáng ngon miệng. Khách dậy lúc ánh sáng mặt trời chiếu qua cửa sổ. Cả chủ lẫn khách cùng ngồi ăn sáng. Ăn xong, khách định lên đường. Ra tới cửa thì khách quay lại nói:

– Ông bà thật tốt bụng, ông bà có được ba điều ước, tôi sẽ giúp ông bà thực hiện ba điều ước.

Chủ nhà nói:

– Tôi chỉ mong suốt đời được thanh thản, có nghĩa là hàng ngày đủ ăn, mạnh khỏe. Tôi cũng chẳng biết dùng điều ước thứ ba vào việc gì.

Khách nói: – Ông muốn có một căn nhà mới không để thay cho túp lều này.

Chủ nhà đáp: – Ối dào, lại được một căn nhà mới thì còn gì bằng!

Chúa ban phước cho vợ chồng chủ nhà, khi nhìn thấy họ ở trong căn nhà mới thì Chúa lên đường.

Sau khi ngủ cho đã mắt, người nhà giàu kia thức dậy nhìn ra ngoài qua cửa sổ thì thấy không còn túp lều, trước mắt ông là một căn nhà mới khang trang lợp ngói đỏ. Ông mở to mắt ngắm và gọi vợ lại nói:

– Bà thử nghĩ xem, đúng là chuyện lạ trên đời. Hôm qua chỉ là túp lều, qua đêm tới sáng đã là một căn nhà khang trang đẹp đẽ. Phải sang hỏi họ mới được!

Vợ người nhà giàu chạy sang gặng hỏi vợ chồng nhà nghèo sao lại được như vậy. Người chồng kể:

– Tối qua có một khách bộ hành tới xin ngủ qua đêm, lúc chia tay sáng nay, người khách ấy cho chúng tôi ba điều ước: sống thanh thản, hàng ngày đủ ăn và luôn luôn mạnh khỏe. Rồi còn cho chúng tôi căn nhà mới khang trang này thay cho túp lều cũ.

Vợ người nhà giàu chạy ngay về nhà và kể cho chồng nghe đầu đuôi câu chuyện. Người chồng bảo:

– Đúng là tôi đáng bị trừng phạt! Giá như mà biết trước nhỉ? Người khách ấy trước đó có tới cổng nhà mình xin ngủ qua đêm, thế mà mình lại từ chối.

Vợ khuyên: – Nhanh chân lên nào, lên ngựa chắc còn đuổi kịp người khách lạ ấy để xin ba điều ước!

Người nhà giàu vội lên ngựa và đuổi theo kịp người khách lạ. Ông ta ăn nói dịu dàng, rằng ông rất lấy làm tiếc là khi tìm được chìa khóa để mở cổng thì không thấy khách đâu nữa. Ông xin mời khách khi quay trở lại thì ngủ ở nhà mình. Người khách lạ nói:

– Khi nào quay trở lại, tôi sẽ ngủ ở nhà ông.

Người nhà giàu hỏi liệu mình có được ba điều ước như người hàng xóm không. Người khách lạ nói chắc chắn là được, nhưng tốt nhất là đừng có ước một cái gì cả. Người nhà giàu nghĩ bụng, mình phải suy tính xem cái gì mang lại giàu có và mong nó biến thành hiện thực. Giữa lúc đó người khách lạ nói:

– Cứ lên ngựa về nhà, những điều ước sẽ trở thành hiện thực.

Giờ đây người giàu có được ba điều ước, anh phi ngựa về nhà, trên đường về trong lúc anh mải suy nghĩ nên ước những gì nên nới lỏng dây cương. Vì thế con ngựa thỉnh thoảng nhảy chồm chồm làm cho anh ta không sao nghĩ được những gì mình muốn ước, anh lấy tay vỗ lưng ngựa và bảo: “Liese, ngoan nào!.” Chàng vừa nói xong thì ngựa lại nhảy chồm chồm. Bực mình, chàng buộc miệng nói:

– Ta mong ngươi ngã gãy cổ.

Lập tức ngựa lăn ra đất và chết thẳng cẳng. Và như thế là điều ước thứ nhất đã được thực hiện. Vốn tính keo kiệt, anh lấy dao cắt yên khỏi ngựa và đeo yên ngựa vào lưng và đi bộ. Anh tự an ủi mình:

– Mình cũng còn hai điều ước nữa!

Trời nắng chang chang lại đi trên cát nóng, lại bị yên ngựa tì nặng trên lưng nên chàng nghĩ vẩn vơ:

– Ước gì mình có nhiều châu báu đến mức có thể trang hoàng nhà mình theo ý muốn.

Rồi chàng lại nghĩ:

– Giá mình là một nông dân vùng Bayer có ba điều ước, thì mình ước sao có bia uống cho đỡ khát, ước uống bao nhiêu cũng có và ước sao lại có sẵn một thùng dự trữ.

Rồi bất chợt chàng nghĩ tới người vợ đang ngồi ăn một mình ở nhà trong khi chàng đang đi dưới trời nắng nóng, chẳng còn suy tính gì, chàng buột miệng nói:

– Ước gì cô ta cứ phải ngồi trên chiếc yên ngựa và thế là mình thoát được cảnh phải đeo chiếc yên ngựa trên lưng!

Vừa nói xong thì chiếc yên ngựa biến mất và ngay lúc ấy chàng biết là điều ước thứ hai đã được thực hiện. Chàng tiếp tục đi dưới trời nắng chang chang, trong lòng chàng chỉ mong sao mau về tới nhà để ngồi nghĩ điều ước thứ ba. Tới nhà, chàng mở cửa thì thấy vợ ngồi như dính chặt vào yên ngựa, mồm thì càu nhàu ta thán. Chàng nói:

– Cứ yên tâm đi, cứ ngồi yên đó, anh sẽ ước chúng ta giàu nứt đố đổ vách.

Vợ bực mình la mắng và bảo chồng là đồ dê đực, rồi nói:

– Giàu có cũng chẳng giúp ích gì khi cứ phải ngồi dính chặt trên yên ngựa như thế này. Anh đã ước để tôi ngồi thế này thì giờ phải tìm cách đỡ tôi ra khỏi cảnh ngồi này!

Chẳng còn cách nào khác là phải nói điều ước thứ ba. Khi chàng vừa nói xong, thì vợ bước được ra khỏi yên ngựa. Và như thế là điều ước thứ ba đã được thực hiện. Chẳng được gì ngoài bực tức, mệt nhọc, ngựa chết. Người nghèo kia sống trong sung túc, an bình tới khi khuất núi.

Bạn đang đọc các câu chuyện cổ tích tại website chúng tôi – Kho tàng truyện cổ tích chọn lọc Việt Nam và Thế Giới hay nhất và ý nghĩa cho mọi lứa tuổi dành cho thiếu nhi, tổng hợp trên 3000 câu chuyện cổ tích chọn lọc hay nhất Việt Nam và thế giới. Tại chúng tôi luôn được cập nhật thường xuyên, đầy đủ và chính xác nhất về truyện cổ tích giúp bạn dễ dàng tìm kiếm cho mình câu truyện cổ tích cần tìm.

Danh sách những truyện cổ tích việt nam hay nhất: Truyền thuyết Thánh gióng, truyện cổ tích tấm cám, sọ dừa, truyền thuyết về Sơn Tinh – Thủy Tinh, truyền thuyết hồ hoàn kiếm, sự tích trầu cau, sự tích con rồng cháu tiên, truyền thuyết thành cổ loa, Cóc kiện trời, Sự tích Táo Quân, chú thỏ tinh khôn, Sự tích chùa Một cột, Chàng ngốc học khôn, Sự tích sấm sét, Sự tích hoa Mào gà, Chử Đồng Tử và Công chúa Tiên Dung, truyện cổ tích trí khôn của ta đây, Sự tích con chuồn chuồn, Sự tích Hòn Vọng Phu, Truyền thuyết Mỵ Châu – Trọng Thủy, sự tích cây khế, Sự tích Thánh làng Chèm, Sự tích thỏ tai dài đuôi ngắn, Sự tích hoa mười giờ, Sự tích chim Quốc, Sự tích công chúa Liễu Hạnh, Cây táo thần, thạch sanh,…

Tổng hợp các câu chuyện cổ tích thế giới hay và ý nghĩa nhất, truyện cổ grimm, truyện cổ Andersen, cổ tích thần kỳ: Nàng công chúa ngủ trong rừng, Alibaba và bốn mươi tên cướp, Nàng công chúa chăn ngỗng, Cô bé lọ lem, Chú bé tí hon, Ông lão đánh cá và con cá vàng, nàng bạch tuyết và bảy chú lùn, Truyện cổ tích Bà chúa tuyết, Aladdin và cây đèn thần, Ba sợi tóc vàng của con quỷ, Hoàng tử ếch, Con quỷ và ba người lính, Cô bé quàng khăn đỏ,…

Sự Tích Con Khỉ Truyện Cổ Tích, Truyện Cổ Tích Việt Nam

Sự tích con khỉ

( Sự tích con khỉ) Ngày xưa có một người con gái đi ở với một nhà trưởng giả. Nàng phải làm việc quần quật suốt ngày, lại bị chủ đối đãi rất tệ. Cái ăn cái mặc đã chả có gì mà thỉnh thoảng còn bị đánh đập chửi mắng. Vì thế, cô gái tuổi mới đôi mươi mà người cứ quắt lại, trông xấu xí bệ rạc hết chỗ nói. Một hôm nhà trưởng giả có giỗ, cỗ bàn bày linh đình, họ hàng đến ăn uống đông đúc. Trong khi đó thì cô gái phải đi gánh nước luôn vai không nghỉ. Lần gánh nước thứ mười, cô gái mỏi mệt quá ngồi lại ở bờ giếng. Tự nhiên cô thấy tủi thân, ôm mặt khóc. Lúc đó đức Phật bỗng hiện ra với trạng mạo một ông cụ già. ạng cụ có vẻ đâu từ xa lại, dáng điệu mệt nhọc đến xin nước uống. Nàng vội quảy gánh xuống giếng vực nước lên cho ông già giải khát. Ông cụ uống xong lại đòi ăn. Cô gái nhớ tới phần cơm của mình chưa ăn, bèn bảo ông cụ ngồi chờ rồi quảy gánh nước về. Lần sau ra giếng, cô lấy cơm trong thùng đưa cho ông già và nói:

– Họ dành phần cho con toàn cơm cháy cả, cụ ăn một bát này cho đỡ đói. Ăn xong, ông cụ bảo nàng: Sự tích con khỉ

– Hồi nãy làm sao con khóc? Cô gái ngập ngừng, cúi mặt xuống không trả lời.

– Ta là đức Phật,

– ông cụ nói tiếp,

– ta thấy con có lòng tốt.

Nếu con muốn gì, ta sẽ làm cho con vui lòng.

Cô gái ngạc nhiên mừng rỡ, kể nỗi lòng với đức Phật. Thấy điều ước muốn của người con gái chỉ là làm sao cho bớt xấu xí, ông cụ bảo nàng lội xuống giếng, hễ thấy bông hoa nào đẹp mút lấy thì sẽ được như nguyện. Khi xuống nước, cô gái chỉ mút mấy bông hoa trắng. Tự nhiên lúc lên bờ, nàng trở nên trắng trẻo xinh xắn, đồng thời quần áo cũng biến thành những thứ tốt đẹp.

Khi cô gái quảy gánh nước trở về, cả họ nhà trưởng giả vô cùng kinh ngạc. Nàng xinh đẹp đến nỗi họ không thể nào nhận ra. Nghe cô gái kể chuyện, ai nấy cũng muốn cầu may một tí. Họ lập tức đổ xô cả ra bờ giếng mong gặp lại đức Phật để được trẻ lại và đẹp ra. Thấy ông cụ già vẫn còn ngồi ở chỗ cũ, họ sung sướng như người được của. Họ đưa xôi thịt ra mời tới tấp:

– Này cụ xơi đi! Cụ xơi đi. Rồi cụ làm phúc giúp cho chúng tôi với! Đức Phật cũng bảo họ lội xuống giếng và dặn họ y như dặn cô gái lần trước. Dưới giếng lúc đó đầy hoa đỏ và hoa trắng. Ai nấy đều cho màu đỏ là đẹp nên khi lội xuống giếng đều tìm hoa đỏ mút lấy mút để. Nhưng không ngờ lúc lên bờ, họ không phải trẻ lại mà già thêm ra: mặt mũi nhăn nheo, người trông quắt lại, lông lá mọc đầy người, đằng sau lưng là cả một cái đuôi.

Những người đi gánh nước thấy vậy hoảng hồn: “Kìa trông con quỷ, nó cắn bà con ôi!”. Nhưng lại có những tiếng khác: “Đánh cho chết chúng nó đi! Sợ gì”. Lập tức mọi người cầm đòn gánh xông lại. Cả họ nhà trưởng giả kinh hoàng bỏ chạy một mạch lên rừng.

Thấy vậy cô gái và mọi người sợ quá, đêm đêm đóng cửa rất chặt. Họ bàn nhau tìm cách đuổi chúng. Họ bôi mắm tôm vào các cánh cửa, lại nung nóng rất nhiều lưỡi cày đặt rải rác ở cổng các nhà. Quả nhiên, một đêm nọ chúng lại mò về. Theo lệ thường, chúng đánh đu vào song cửa kêu rít lên. Nhưng lần này chúng vừa mó đến đã bị mắm tôm vấy đầy tay, rồi từ tay vấy khắp cả người, hôi hám không thể nói hết. Chúng kinh sợ dắt nhau ra ngồi trước cổng quen như thói cũ. Nhưng vừa đặt đít ngồi xuống các lưỡi cày thì chúng đã kêu oai oái, rồi ba chân bốn cẳng bỏ chạy lên rừng. Từ đó chúng kệch không dám về nữa.

Trong những khi lên rừng hái củi, người ta thỉnh thoảng vẫn gặp chúng. Thấy bóng người từ đàng xa, chúng liền chuyền theo nhánh cây, lủi nhanh thoăn thoắt. Người ta gọi chúng là những con khỉ. Ngày nay vẫn có nhiều người cho khỉ là thuộc nòi trưởng giả. Còn những con khỉ sở dĩ đỏ đít là vì chúng chịu di truyền dấu vết bỏng đít của tổ tiên.

Gửi bởi in Tags: Hà Vũ truyện cổ tích việt nam đọc truyện bé nghe, đọc truyện cổ tích việt nam chọn lọc, hay nhất, truyện cổ tích, truyện cổ tích việt nam chọn lọc, truyện cổ tích việt nam hay nhất, việt nam

Đọc Truyện Cổ Tích Sự Tích Hồ Ba Bể Việt Nam Chọn Lọc Cho Bé

Chuyện xưa kể lại rằng, xã Nam Mẫu ngày trước mở hội “vô già” cúng Phật. Bởi vậy nên tất cả mọi người đều rất nô nức, kéo nhau đến xem rất đông. Ai ai cũng đều ăn chay và niệm Phật, còn làm rất nhiều những việc thiện khác, nào là buông cá, nào là thả chim… tất cả đều là hướng tới cầu phúc ở mấy ngày mở hội này. Vào ngày hôm ấy, đám hội đột nhiên xuất hiện một bà già nom có vẻ là rách rưới, đáng thương. Mọi người cũng chẳng hay biết bà già ăn mày này từ đâu mà tới đây. Nhưng bộ dạng bên ngoài của bà ta quả thật vô cùng gớm ghiếc, đáng sợ, chiếc áo choàng bên ngoài toàn là những mảnh vải nhỏ chắp vá lại với nhau, nhưng lại chẳng thể đủ để mà che đi tấm thân lở loét và gầy còm của mụ. Những vết lở loét lâu ngày không được vệ sinh nên bốc ra những mùi hôi thối vô cùng khó chịu và kinh tởm. Mụ đi vào trong đám hội ấy, vừa đi vừa thì thào:

– Tôi đói lắm mấy ông mấy bà ơi!

Trên tay còn cầm theo một cái rá nhỏ, mụ cứ giơ nó ra khắp nơi, khuôn mặt bẩn thỉu đầy vẻ khẩn thiết cầu xin. Tuy nhiên thì khi trời đã ngả về chiều mà bà già ăn mày đó vẫn chẳng xin được một chút gì. Mụ đi đến đâu là lại bị mọi người xua đuổi tới đó. Mấy người trẻ tuổi, đặc biệt là mấy cô gái nghĩ mụ ta là hủi nên cứ trốn tránh như là trốn tránh bệnh dịch vậy. Cứ hễ trông thấy mụ đi tới đâu là lại xô đẩy nhau rồi chạy nhanh tới chỗ khác.

Đương nhiên là mấy bà bận rộn sửa lễ cũng bực tức vô cùng. Họ ngừng lại tiếng khấn “Nam mô Phật” mà chửi rủa, mắng xối mắng xả mụ vì dám đi gần sát vào họ. Sau cùng thì thì đám hương lý phải sai bọn tuần phu đến mà đuổi mụ già ăn mày kia đi. Những trận roi vọt như mưa của đám tuần phu cứ đổ ập lên tấm thân gầy gò khiến mụ không cách nào kiên gan hơn được nữa, vì thế đành phải cố lê tấm thân già thoát li khỏi đám hội náo nhiệt kia.

Sau khi đã rời khỏi nơi tổ chức hội, bà già ăn mày ấy lại thất thểu mà lê từng bước một vào trong xóm. Tình cảnh ở đây cũng chẳng có gì khác biệt với đám hội kia, cứ hễ mụ bước vào nhà ai thì lại bị họ nghi là bị hủi nên bị xua đuổi vô cùng tàn nhẫn. Những nhà giàu có hơn thì đóng cửa thật chặt, bọn họ còn kêu người đem chó dữ thả ra để đuổi mụ đi cho nhanh.

May mắn khi đi tới chỗ ngã ba thì mụ ta lại gặp được hai mẹ con góa bụa vừa mới đi chợ trở về. Trông thấy bà già ăn mày đáng thương nên người mẹ liền đón mụ về nhà, còn lấy cơm nguội trong nhà cho ăn.

Buổi khuya ngày hôm đó, khi hai mẹ con góa bụa chuẩn bị đi ngủ thì lại thấy bà già ăn mày kia gọi cửa. Khi mở cửa ra thì mụ liền xin được ngủ nhờ lại nhà một đêm, bởi vì tất cả những chỗ khác mọi người đã cấm cửa hết, chẳng ai chịu cho mụ vào trong ngủ nhờ cả.

Hai mẹ con nhà này nghe vậy thì thương hại, cũng vui lòng mà cho bà già ăn mày được vào trong nhà, lại còn lấy thêm cơm ra cho ăn uống tử tế, sau lại còn lấy chiếu ra trải lên chõng để mụ được ngả lưng một đêm. Còn cả hai mẹ con thì lại ôm nhau nằm nghỉ tạm ở chỗ khác.

Bà già ăn mày kia vừa nằm xuống là ngủ ngay lập tức, hơn nữa tiếng ngáy của mụ nghe như là tiếng sấm vậy. Lúc ấy hai mẹ con góa bụa nhìn ra chỗ chõng thì bỗng thấy nơi đó sáng rực trong đêm tối. Nơi chõng ấy không còn là bà già ăn mày cả người lở loét, yếu đuối nữa, mà nơi ấy bây giờ chính là một con giao long to lớn đang cuộn tròn thân mình thành một đống lớn, đầu của nó gác lên trên xà nhà, còn đuôi thì lại thò xuống dưới đất.

Nhìn thấy cảnh này thì người mẹ cũng kinh hãi đến rụng rời chân tay, nhưng bởi vì nghĩ đến nhà của mình lại hoàn toàn cách biệt nơi xóm làng, đến lúc này cũng chẳng biết kêu cứu với ai. Vì vậy đành kéo chăn trùm kín hết cả hai mẹ con, trong lòng đã phó mặc cho số phận may rủi của mình.

Tuy nhiên thì sáng ngày hôm sau tỉnh lại, người mẹ nhìn về phía cái chõng thì chẳng còn trông thấy con giao long đêm qua xuất hiện đâu nữa. Nơi đó vẫn là bà già ăn mày nghèo khổ, mụ ta đang chuẩn bị rời đi. Trước lúc nói lời từ giã thì mụ đột nhiên nói với hai mẹ con góa bụa là:

– Tất cả chúng nó mang tiếng là thờ Phật nhưng thực chất ra chính là buôn Phật mới đúng. Bởi vậy nên rất đáng phải hứng chịu lấy trầm luân. Còn hai mẹ con nhà ngươi thì thực tốt bụng. Ta cho gói tro này, hãy nhận lấy và đem nó đi rắc đều chung quanh nơi ở, đêm này thì chớ rời đi đâu. Nếu đi thì tốt nhất hãy lên nơi đỉnh núi cao nhất để mà tránh nạn.

Người mẹ vô cùng lo lắng khi nghe những lời nói ấy, trong lòng băn khoăn nên liền hỏi thêm:

– Vậy tôi phải làm như thế nào mới có thể cứu được mọi người?

Bà già ăn mày chần chừ một chút, sau đó lấy một hạt thóc từ trong túi áo ra và cắn làm đôi rồi đưa hai mảnh vỏ trấu cho người mẹ và dặn rằng:

– Có hai mảnh trấu này thì có thể giúp cho hai mẹ con nhà ngươi có thể làm việc thiện rồi.

Người mẹ vốn còn định hỏi thêm nữa nhưng bà già ăn mày ấy vụt một cái đã biến mất hoàn toàn rồi. Ngẩn ngơ một chút rồi hai mẹ con góa bụa vội vàng làm theo những lời căn dặn của bà già ăn mày kia. Họ cũng không quên kể lại câu chuyện ấy cho tất cả những người ở xung quanh cùng biết. Nhưng nghe xong thì tất cả bọn họ đều nghĩ người mẹ ngớ ngẩn, cho rằng đó chỉ là một câu chuyện nhảm nhí không hơn không kém nên chỉ cười xòa mà bỏ qua.

Buổi tối ngày hôm đó, chính giữa nơi đám hội vô cùng náo nhiệt ấy, đúng vào lúc mà tất cả các thiện nam cùng tín nữ tấp nập cùng cúng bái thì đột nhiên có một dòng nước từ chính giữa nơi đàn tràng phun lên từ dưới lòng đất. Dòng nước ấy phun ngày một mạnh hơn, khiến cho mọi đất đá ở xung quanh đều dần lở sụt.

Mọi người ở đây đều ngơ ngác chẳng hiểu chuyện gì, lại cứ ngỡ đó là phép màu của Phật hiển linh, bởi vậy nên ra sức mà cúng bái, lạy lấy lạy để. Tuy nhiên thì dòng nước kia càng lúc càng mạnh hơn, nó nuốt trọn cả người cùng vật xung quanh. Chẳng bao lâu nước đã ngập như cái ao lớn.

Cho tới tận lúc này thì mọi người mới hốt hoảng hết cả, lập tức bỏ hết lễ bái mà xô đẩy nhau chạy trốn. Nhưng họ đã không thể nào chạy xa hơn được. Đất vốn bằng phẳng dưới chân họ nay đã nứt nẻ hết, những rung động mạnh xô họ ngã ngang ngã dọc. Đột nhiên có một tiếng ầm ầm vô cùng dữ dội, tất cả đất đá, cùng nhà cửa, và cả người, vật cũng đều bị dòng nước kia nhấn chìm hết cả, nước cứ thế tung tóe làm mù cả vùng trời rộng lớn.

Giữa lúc ấy, từ dưới mặt nước bay lên một con giao long rất lớn, nó cứ thế mà bay vòng chung quanh khu vực xã Nam Mẫu. Khắp nơi đất đá lở sụt, mọi thứ đều bị dòng nước cuốn phăng thì nền nhà, chuồng gà, chuồng lợn ở chỗ mẹ con góa bụa lương thiện kia vẫn cứ dâng cao dần theo mực nước.

Nhìn cảnh nước lụt cuốn phăng hết mọi thứ thì hai mẹ con vô cùng đau sót, họ liền lấy hai mảnh trấu mà bà già ăn mày đưa cho lúc trước ra. Khi họ đặt chúng xuống dưới nước thì cả hai mảnh trấu ấy đột nhiên hóa ngay thành hai chiếc thuyền. Sau đó, hai mẹ con ấy chẳng quản gió mưa, chẳng sợ nước lũ, vẫn vững vàng tay chèo để đi hết mọi nơi và cố hết sức để cứu giúp cho những người gặp nạn.

Nơi đất bị sụt đi và bị nước lấp đầy ấy chính là hồ Ba Bể – Bắc Cạn ngày nay. Nơi nền nhà của hai mẹ con góa bụa kia chính là hòn đảo nho nhỏ ngay chính giữa hồ, người địa phương ở nơi này vẫn quen gọi nó là Pò Già Mải.