Truyện Cổ Tích Về Sinh Hoạt / Top 3 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Kovit.edu.vn

Không Gian Trong Truyện Cổ Tích Sinh Hoạt Của Việt Nam

1. Khái niệm “truyện cổ tích sinh hoạt” và truyện cổ tích sinh hoạt của Việt Nam – Hàn Quốc

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, truyện cổ tích sinh hoạt còn được gọi là cổ tích thế sự là những truyện cổ tích không có hoặc rất ít yếu tố thần kỳ. Ở đây các mâu thuẫn, xung đột xã hội giữa người với người được giải quyết một cách hiện thực, không cần đến những yếu tố siêu nhiên. Những yếu tố thần kỳ nếu có cũng không giữ vai trò quan trọng và nhiều khi chỉ là đường viền cho câu chuyện thêm vẻ li kỳ, hấp dẫn [5, tr.368].

Tìm hiểu về đặc điểm của truyện cổ tích Việt Nam, nhà nghiên cứu Nguyễn Đổng Chi đã nhận định: “loại truyện sinh hoạt chiếm một tỷ lệ tương đối cao”[2, tr. 1587]. Tác giả thống kê tỷ lệ các tiểu loại của truyện cổ tích Việt Nam như sau: tiểu loại thần kỳ có 10%, tiểu loại thế sự có 30%, tiểu loại lịch sử có 18%, tiểu loại nửa thế sự, nửa thần kỳ: 42%. Hai nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên và Lê Chí Quế đã chia truyện cổ tích Việt Nam thành ba tiểu loại: truyện cổ tích về loài vật, truyện cổ tích thần kỳ và truyện cổ tích sinh hoạt – xã hội. Dựa vào các tiêu chí phân loại có sự khác nhau nên các nhà nghiên cứu cũng phân loại truyện cổ tích thành một số tiểu loại khác nhau nhưng riêng về tiểu loại truyện cổ tích sinh hoạt thì các nhà nghiên cứu có sự thống nhất khi nhận diện về tiểu loại truyện này [3, tr 9-10].

Tài liệu Những bài giảng văn học Hàn Quốc của Cho Dong-il, Seo Dae Seok, Lee Hai-soon, Kim Dae Haeng, Park Hee-byoung, Oh Sae-young, Cho Nam Hyon do Trần Thị Bích Phượng dịch có phần nghiên cứu về văn học dân gian. Tác giả Seo Dae Seok đã phân loại truyện cổ tích thành các tiểu loại dựa vào tiêu chí lấy tính cách và đẳng cấp của nhân vật chính làm trung tâm để khảo sát: truyện kể về động thực vật, truyện kể về kẻ ngốc, truyện kể về phàm nhân, truyện kể về siêu nhân. Theo nhà nghiên cứu Seo Dae Seok, trong các tiểu loại trên, tiểu loại truyện kể về phàm nhân là những truyện có tính hiện thực nhất, nhân vật chính của truyện là những người bình thường. Truyện kể về kẻ ngốc có nhân vật chính là những kẻ ngốc nghếch, đần độn dưới mức của người bình thường, gây ra nhiều sự kiện buồn cười, được chia thành truyện mắc lỗi (những hành vi mà người bình thường coi là lỗi lầm nhưng nhân vật chính lại cho là khôn ngoan) và truyện thành công (nhân vật chính thành công là do may mắn, ngẫu nhiên, khác với năng lực của bản thân).

Như vậy, các nhà nghiên cứu ở Hàn Quốc và Việt Nam có quan điểm chung là tách truyện cổ tích sinh hoạt hay còn gọi là truyện cổ tích thế sự thành một tiểu loại.

2. Các dạng biểu hiện không gian trong truyện cổ tích sinh hoạt Việt Nam – Hàn Quốc

Truyện cổ tích của người Việt và người Hàn có các dạng biểu hiện không gian sau:

– Không gian tự nhiên: núi rừng, sông suối, biển cả, bầu trời

– Không gian xã hội: không gian gia đình, không gian chợ, không gian làng xã, không gian kinh thành, không gian lễ hội, không gian sản xuất.

3. Tương đồng và khác biệt của các biểu hiện của không gian trong truyện cổ tíchsinh hoạt Việt Nam –Hàn Quốc

3.1. Không gian tự nhiên – không gian biển

3.1.1. Tương đồng

Trongtruyện cổ tích của hai nướcViệt Nam, Hàn Quốc có không gian thiên nhiên bao gồmkhông gian núi, không gian sông và không gian biển mang nhiều nét tương đồng.Không gian thiên nhiên góp phần tạo nên một không gian rộng lớn, thoáng đạt và chứng tỏ nhân vật không chỉ hoạt động trong phạm vi hẹp về địa lý mà đã có sự mở rộng địa bàn hoạt động. Trong đời sống của dân tộc Việt Nam và Hàn Quốc biển luôn đóng một vai trò quan trọng. Ở Hàn Quốc, số ngư dân sống ven biển khá đông, họ có thể vừa làm nông nghiệp vừa đánh bắt hải sản hoặc chỉ chuyên nghề đánh bắt hải sản. Rất nhiều hòn đảo nằm ở gần bờ biển phía nam và phía tây nam. Nghề đánh cá trên các đảo này rất phát triển trong thế kỷ XX, nhưng thực ra những người dân đảo đã sinh sống và đánh cá ở đây từ vài trăm năm trước. Vì vậy, không gian biển cả xuất hiện trong các câu chuyện mang một ý nghĩa thiết thực, là nơi người dân Hàn từ xưa cho đến ngày nay vẫn luôn gắn bó và duy trì một hoạt động sản xuất rất quen thuộc đó là đánh bắt cá ( Khi tượng Phật khóc ra máu). Sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc qua việc buôn bán bằng đường biển đã đem đến nhiều yếu tố tích cực như cuộc sống người dân no đủ, sung sướng: “Ngày xưa ở bên bờ biển có một làng rất giàu có. Làng này có cả một cái cảng, nơi đây không những chỉ có các thuyền đánh cá mà còn có cả các tầu buôn đến neo đậu.”[8, tr.335]( Khi tượng Phật khóc ra máu).

Các loại không gian trong truyện cổ tích Việt Nam có nhiều nét tương đồng với các loại không gian trong truyện cổ tích Hàn Quốc, đặc biệt là về không gian biển. Trên các đảo và quần đảo, các hoạt động kinh tế của người Việt rất đa dạng: ngoài hoạt động nông lâm nghiệp quen thuộc, đã có hoạt động đánh cá, đóng tàu thuyền đi biển xa và có cả hoạt động thương mại ( Sự tích dưa hấu). Truyện cũng phản ánh tư duy kinh tế của người Việt xưa qua việc trao đổi lương thực, thực phẩm. Thời xa xưa, con người không thể đi lại, hoạt động kinh tế và sống trên môi trường nước nếu không có những phương tiện thích hợp như tàu thuyền, bè mảng. Nên trong các câu truyện cổ tích của người Việt và người Hàn, hình ảnh con thuyền đã gắn liền với sự dịch chuyển không gian của nhân vật từ đất liền ra biển xa xôi.

3.1.2. Khác biệt

Không gian biển xuất hiện trong nhiều truyện của người Việt (9 truyện/93 truyện: Yết Kiêu, Ba chàng thiện nghệ, Sự tích dưa hấu, Sự tích đá Bà Rầu, Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho, Đồng tiền Vạn lịch, Nói dối như Cuội, Của trời trời lại lấy đi, giương đôi mắt ếch làm chi được trời và truyện Sự tích đền Cờn. Không gian này gắn với nhân vật nhân vật thông minh, tài giỏi, gắn với chiến công đánh thắng giặc ngoại xâm, kẻ gian tà; là không gian chứng kiến cuộc thi tài giữa những nhân vật xuất chúng. Các hành động của nhân vật được người Việt kể chi tiết: một người chèo thuyền ra biển rồi thả chiếc nhẫn xuống nước để thử thách chàng trai, chàng trai cởi áo nhảy ngay xuống biển tìm thấy chiếc nhẫn một cách nhanh chóng ( Ba chàng thiện nghệ). Không gian biển xuất hiện rất ít trong truyện cổ tích sinh hoạt của người Hàn. Trong 90 truyện chỉ có 2 truyện xuất hiện không gian biển ( Lời giáo huấn của chim, Khi tượng Phật khóc ra máu) nhưng không có truyện nào kể về chiến công của nhân vật tài trí khi phải đối diện với không gian biển cả bao la.

3.2. Không gian xã hội

3.2.1. Không gian gia đình

3.2.1.1. Tương đồng

Từ không gian ngôi nhà đến không gian gia đình

Người Việt và người Hàn luôn nhấn mạnh vai trò quan trọng của gia đình. Mỗi gia đình đều cố gắng ổn định cuộc sống bằng việc xây dựng một ngôi nhà dù đó là ngôi nhà đơn sơ hay kiên cố. Trong truyện cổ tích của người Việt và người Hàn, nhà ở không được tác giả dân gian hai nước miêu tả cụ thể, chi tiết, chỉ được đề cập đến rất ít để giới thiệu về hoàn cảnh của nhân vật giàu hay nghèo và thường được giới thiệu ngay ở phần mở đầu của truyện. Người Việt kể về hoàn cảnh khó khăn của nhân vật phải sống trong những túp lều nhỏ, hẹp: “Xưa, có người con trai cha mẹ chết sớm, sống một mình trong túp lều ven núi”( Nàng Tiên ốc)[3, tr.101] hay “Hồi đó ở Chử-xá có một người đánh cá tên là Chử Cù Vân và con trai là thằng bé Chử. Hai cha con sống trong một túp lều dựng trên cát.” ( Chử Đồng Tử-Tiên Dung)[3, tr.117]. Hình ảnh túp lều đã nói lên cuộc sống nghèo khó, vất vả của các nhân vật nhưng nó cũng có vị trí quan trọng khẳng định sự tồn tại của gia đình. Dù là túp lều nhưng đó cũng là nơi để các thành viên trong gia đình cùng chung sống, gắn bó và chia sẻ. Những ngôi nhà khang trang, nhiều phòng cũng được người Việt kể tới trong truyện Thạch Sùng khoe của, Ba người bạn. Giống như quan niệm của người Việt về sự giàu, nghèo được phản ánh qua nhà ở trong các truyện cổ tích, người Hàn cũng đưa hình ảnh ngôi nhà vào các câu chuyện để làm nổi bật hoàn cảnh sống của nhân vật: “Nhà của anh không khác gì một cái lều bé tí xíu”( Công chúa Pyonggang và anh ngốc Ondal)[8, tr.358] còn nhà ở của những nhân vật giàu có là ngôi nhà to lớn, nhà có mái ngói ( Bán bóng râm của cây, Diệt cướp dưới lòng đất, Ân đức của cái nghèo). Theo nhà nghiên cứu Jean Chevalier và Alain Gheerbrant: “ngôi nhà coi như ở trung tâm thế giới, là hình ảnh của vũ trụ”[4, tr.677]. Theo Bachelard: “ngôi nhà là con người nội tâm, các tầng gác, tầng hầm và tầng áp mái tượng trưng cho các trạng thái đa dạng của tâm hồn (…) Ngôi nhà cũng là một biểu tượng nữ tính mang ý nghĩa là nơi ẩn thân, là người mẹ, là sự bảo vệ, là lòng (bụng) mẹ.”[4, tr.678]. Như vậy, ngôi nhà là nơi cư trú, bảo vệ, che chở cho mỗi gia đình, là không gian giúp con người có cuộc sống ổn định và phát triển về vật chất, tinh thần.

Gia đình – không gian của tình thương yêu, đùm bọc

Tác giả dân gian Việt và tác giả dân gian Hàn quan tâm phản ánh các mối quan hệ trong gia đình qua đó khẳng định gia đình là không gian của tình thương yêu, của mối gắn kết giữa các thành viên. Người Việt và người Hàn nhấn mạnh mối quan hệ không thể thiếu trong mỗi gia đình đó làquan hệ vợ – chồng. Tình cảm vợ chồng thắm thiết đã tạo nên một không gian gia đình lý tưởng. Không gian gia đình ấm cúng, hạnh phúc đã tiếp thêm sức mạnh giúp mỗi người vượt qua mọi khó khăn, tiêu biểu có các truyện của người Việt: Sự tích trái sầu riêng, Giết chó khuyên chồng,Sự tích dưa hấu, Đồng tiền Vạn lịch, Nàng Xuân Hương, Bà chúa ong…Các truyệncủa người Hàn cũngkhẳng định tình cảm thiêng liêng của con người và nhấn mạnh tình yêu là nền tảng tạo nên cuộc sống gia đình hạnh phúc bền vững. Gia đình là nơi mọi thành viên có thể chia sẻ, tâm sự một cách chân thành cho nên mỗi khi gặp khó khăn, các thành viên trong gia đình đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau. Vị trí của người phụ nữ trong gia đình được khẳng định thông qua những việc nhỏ như khuyên chồng làm những việc tích cực giúp đỡ gia đình,giúp đỡ chồng làm nên sự nghiệp lớn: dạy chồng biết chữ, biết giao tiếp đúng mực với mọi người đến những việc quan trọng hơn như giúp đỡ chồng trong việc học binh thư, nghệ thuật quân sự( Người vợ thông minh, Công chúa Pyonggang và anh ngốc Ondal) đã chứng tỏ tài năng, phẩm hạnh đáng quý của người phụ nữ.

Người Việt, người Hàn đã phản ánh chân thựcmối quan hệ anh – em trong gia đìnhvà tự hào, ca ngợi tình cảm anh em sâu nặng, hoà thuận qua truyện Hai anh em (Hàn Quốc), Mụ dì ghẻ độc ác (Việt Nam).

Gia đình – không gian của sự trở về

Ý nghĩa quan trọng của không gian gia đình đối với các nhân vật được người Việt và người Hàn phản ánh rõ nét. Các nhân vật muốn thay đổi số phận, không chấp nhận một không gian sống nhỏ, hẹp, nghèo nàn, nhân vật đã từ giã gia đình và ra đi với hy vọng kiếm được nhiều tiền, đổi thay cuộc sống. Có nhiều nhân vật trở về với gia đình sau khi có được thành công nhưng cũng có nhân vật từ lúc bước chân ra đi cũng là lúc phải đối mặt với những khó khăn, gian khổ, không người sẻ chia. Trên hành trình ấy, nhân vật nhận thấy gia đình là tất cả, mong muốn, khát khao sớm trở về với tổ ấm gia đình. Trở về với gia đình, nhân vật nhận được tất cả tình cảm chân thành của mọi người. Những người thân luôn lo lắng và vui mừng mở rộng vòng tay đón những người thân đi xa trở về: Cháo giun đất (Hàn), Con mụ Lường (Việt).

Gia đình – nơi trao truyền tín ngưỡng, phong tục

Không gian gia đình còn là nơi thể hiện văn hóa truyền thống dân tộc qua tín ngưỡng, phong tục như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt và người Hàn bắt nguồn từ niềm tin rằng linh hồn người chết vẫn còn tồn tại trong thế giới chúng ta và ảnh hưởng tới cuộc sống của con cháu. Đây là niềm tin và động lực để thế hệ con cháu sống và hành động đúng đắn, cố gắng biến những khát khao, mơ ước thành hiện thực: Rùa và Thạch Anh, Cái giá của việc ngửi mùi, Giả làm thần núi (Hàn), Hai bảy mười ba, Nàng Xuân Hương (Việt). Người dân hai nước lấy lòng biết ơn cha mẹ, tổ tiên làm nền tảng đạo lý và tín ngưỡng thờ tổ tiên luôn được đặt lên vị trí hàng đầu. Đến ngày giỗ của tổ tiên, mọi gia đình đều tổ chức cúng giỗ chu đáo, mọi người thân ở xa cũng sắp xếp thời gian về . Qua không gian gia đình chúng ta cũng hiểu thêm về các phong tục của hai nước Việt Nam, Hàn Quốc. Bữa ăn chính của người Việt và người Hàn quan trọng nhất vẫn là cơm, ngoài ra còn có cháo, đi kèm trong bữa ăn là rau, cá: Khói bay nghi ngút, Túi tiền và túi bánh gạo, Cha chết giả, con gái khóc giả (Hàn); Người đầy tớ và người ăn trộm, Tra tấn hòn đá, Sự tích dưa hấu, Sự tích chim Hít cô(Việt). Từ xưa ngườidân hai nướcđã biết làm rượu để uống, phong tục này được lưu giữ qua từng gia đình của mỗi nước: Công tử ăn mày, Tiếp đãi áo quan, Choon Hyang(Hàn), Người đàn bà bị vu oan, Bò béo bò gầy, Thịt gà thuốc chồng (Việt)và thường uống rượu gạo đựng trong bầu trước bữa ăn cho đỡ khát hay sau bữa ăn cho sạch dư vị. Phong tục hôn nhân được người dân hai nước gìn giữ, thực hiện từ thế hệ này đến thế hệ khác: Kén dâu, Kiệu dâu, kiệu báo (Hàn), Người đầy tớ và người ăn trộm, Nữ hành giành bạc, Huyền Quang (Việt).

3.2.1.2. Khác biệt

Sự khác biệt về không gian gia đình trong truyện cổ tích Việt – Hàn được thể hiện qua quan hệ vợ chồng. Mâu thuẫn giữa người vợ và người chồng xoay quanh vấn đề trinh tiết, phẩm chất, tính cách của người phụ nữ… Quan hệ tốt đẹp bị phá vỡ xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau song ở các truyện của người Việt nổi bật vẫn là sự ghen tuông của người chồng dẫn đến cái chết oan khốc của những người vợ hiền lành, chung thuỷ. Các truyện Sự tích đá bà rầu, Vợ chàng Trương của người Việt có đóng góp lớn vào việc khuyên răn con người từ bỏ thói ghen tuông mù quáng. Chính sự ghen tuông mù quáng này đã dần phá vỡ hạnh phúc êm ấm, tình nghĩa vợ chồng, hơn thế còn gây nên cái chết oan ức, bi thương của những người phụ nữ. Nếu như truyện của người Việt phản ánh bi kịch trong gia đình bắt nguồn từ sự ghen tuông của người chồng, lên án, phê phán chế độ nam quyền thì truyện cổ tích của người Hàn lại tập trung mô tả không gian gia đình với những xung đột trong quan hệ vợ chồng bắt nguồn từ sự thiếu kiên nhẫn của người vợ( Vợ anh học trò biến thành con tằm).

Không gian gia đình được phản ánh trong truyện cổ tích hai nước còn cho chúng ta thấy một số điểm khác biệt khi phản ánh về văn hoá của hai dân tộc Việt – Hàn. Phong tục uống trà được phản ánh rõ nét qua các truyện cổ tích về không gian gia đình của người Việt: Phân xử tài tình, Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho hay là sự tích con mối, Nợ tình chưa trả cho ai, khối tình đem xuống tuyền đài chưa tan, Làm cho công chúa nói được. Phong tục này không được phản ánh qua các truyện cổ tích Hàn Quốc mà chúng tôi khảo sát.

3.2.4. Không gian chợ

3.2.4.1. Tương đồng

“Chợ” là nét văn hoá độc đáo trong đời sống tinh thần của người Việt và người Hàn từ xưa cho đến nay. Chợ là không gian diễn ra hoạt động mua bán, trao đổi hàng hoá, phản ánh tình hình kinh tế của từng vùng, miền. Đến không gian này, tất cả mọi người có cơ hội hiểu nhau hơn, từ những người xa lạ cũng dần trở nên gần gũi qua giao tiếp, ứng xử. Truyện cổ tích của người Việt: Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho, Gái ngoan dạy chồng, Vợ khôn lấy chồng dại, Bụng làm dạ chịu, Cô gái lấy chồng hoàng tử, Trọng nghĩa khinh tài và truyện cổ tích của người Hàn: Cái giá của việc ngửi mùi, Bốn chín gặp năm mươi, Con hổ và người vợ bán than đã kể về không gian chợ gắn liền với các hoạt động mua bán, trao đổi hoàng hoá của nhân vật, phản ánh đời sống sinh hoạt của của người dân hai nước. Các mặt hàng được bán, mua thường là vải, lụa, gạo, bánh gạo, tôm cá, dầu, than, củi, lưới đánh cá, quạt, con dao… đến các loài gia súc, gia cầm cho ta thấy đời sống sinh hoạt của người bình dân xưa luôn gắn bó với nông nghiệp và các nghề thủ công. Hoạt động mua, bán đã góp phần giúp cuộc sống của nhân vật ổn định hơn, có cơ hội trở nên giàu có.

3.2.4.2. Khác biệt

3.2.5.1. Tương đồng

Làng là đơn vị cư trú cơ sở, một cơ cấu kinh tế – xã hội, văn hoá quan trọng trong thiết chế hành chính Việt Nam và Hàn Quốc. Qua các truyện cổ tích: Khói bay nghi ngút,Gạo thượng hạng, đá thượng hạng, Rùa và Thạch Anh, Khi tượng Phật khóc ra máu, Kén dâu, Chàng trai cứu bốn mạng người, Ô và giầy rơm, Bí quyết gia đình hoà thuận…(Hàn) và các truyện: Cường bạo đại vương, Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng, Vợ chàng Trương, Chàng rể thong manh, Em bé thông minh, Phân xử tài tình, Cô gái lấy chồng hoàng tử, Nàng Xuân Hương, Bán tóc đãi bạn, Tra tấn hòn đá,Cố ghép…(Việt) chúng ta thấy làng ở Việt Nam, Hàn Quốc thời xưa có nhiều điểm tương đồng. Theo mở đầu của các câu chuyện, Việt NamvàHàn Quốc có các dạng làng như: làng ven biển, làng trên đảo, làng ven đồi, làng ven sông… Các làng chủ yếu làm nông nghiệp, có làng làm thủ công (gốm, tơ lụa, đúc đồng, chạm khắc đồ gỗ…) và có làng gần sông, biển thường gắn với hoạt động đánh bắt cá… Các hình ảnh quen thuộc của làng xã được kể tới trong truyện đó là cây tre, các xóm ngõ, các công trình kiến trúc tín ngưỡng và tôn giáo như đình, đền, chùa… Hình ảnh ngôi làng còn gắn với cây cổ thụ toả bóng mát quanh năm. Làng là một xã hội thu nhỏ, đóng kín, có tục lệ riêng, là biểu hiện của nền kinh tế nông nghiệp lúa nước mang tính tự cấp tự túc là chủ yếu.Trong làng có những quy định nghiêm ngặt, nếu ai vi phạm sẽ bị làng lên án, mọi người xa lánh và những ai có đạo đức phẩm chất sáng ngời được làng xã ngợi ca, tin yêu. Giữa người với người trong làng có mối quan hệ gần gũi, gắn gó. Mọi người trong trong làng có tinh thần đùm bọc, đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau: Bí quyết gia đình hoà thuận, Con dâu dạy dỗ mẹ chồng, Chàng trai cứu bốn mạng người ( Hàn), Tra tấn hòn đá, Nguyễn Khoa Đăng (Việt).

Làng ởViệt Nam, Hàn Quốc thường có những ngày lễ hội để cố kết các thành viên, mang đến nhiều niềm vui cho dân làng sau những thời gian lao động vất vả: Bợm già mắc bẫy hay là mưu trí đàn bà, Anh chàng họ Đào (Việt), Con đường có mùa xuân tới, Sự ngạc nhiên của nhà sư (Hàn). Qua các truyện cổ tích chúng ta thấy, người dân hai nước khi đến lễ hội đều mong ước những điều tốt đẹp, là không gian mọi người gặp gỡ, giao tiếp, chia sẻ mọi tâm tư, tình cảm. Các truyện cổ tích của người Hàn mà chúng tôi khảo sát có nhiều truyện kể về phong tục chọn địa thế tốt để làm nhà, xây mộ ở các làng: ” thầy phong thuỷ cũng đi khắp ngôi làng để tìm địa thế tốt”( Giả làm thần núi)[9, tr. 294]. Chọn được địa thế tốt là việc quan trọng, quyết định đến sự hưng thịnh của mỗi gia đình và làng xóm. Truyện Bùi Cầm Hổ của người Việt cũng đề cập đến phong tục này.

Việt Nam và Hàn Quốc là hai nước từ xưa đã xuất hiện sự phân biệt về thân phận, địa vị và sự phân chia giai cấp (giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột)nên làng quê ở Việt Nam và Hàn Quốc có điểm tương đồng về sự phân biệt giàu – nghèo và tồn tại mối quan hệ giữa địa chủ, nhà giàu với người nông dân. Không phải địa chủ, nhà giàu nào cũng là những kẻ bóc lột xấu xa, cũng có những người tốt, nhân từ nhưng nổi bật trong các truyện cổ tích vẫn là những phần tử lấy sức mạnh tiền tài để ức hiếp dân lành do đó quan hệ giữa địa chủ, nhà giàu với người nông dân nghèoluôn cómâu thuẫn. Người Việt có truyện Sự tích chim năm-trâu-sáu-cột và chim bắt-cô-trói-cột, người Hàn có truyện Bán bóng râm của cây, Túi tiền và túi bánh gạo, Dâu tây mùa đông…

3.2.5.2. Khác biệt

3.2.6.Không gian kinh thành

3.2.6.1. Tương đồng

Không gian kinh thành xuất hiện với tần số cao trong truyện cổ tích Việt Nam, Hàn Quốc: 26 truyện/88 truyện của người Việt, 20 truyện/90 truyện của người Hàn. Kinh thành là nơi tấp nập, nhộn nhịp, hoạt động buôn bán phát triển, hàng hoá phong phú, đa dạng; có nhiều loại hàng hoá quen thuộc với người ở kinh thành nhưng lại xa lạ đối với người nông dân. Phản ánh hiện thực này, người Hàn có chuyện Thiếp trong gương: không gian kinh thành rộng lớn “Sau vài ba ngày đi hết đường này phố kia”[9, tr.397],có nhiều cửa hàng và có cả tiệm chuyên bán hàng cho phụ nữ: “Ngày hôm sau, đi hết nơi này đến nơi khác, cuối cùng ông cũng tìm được chỗ bán hàng cho đàn bà con gái.”[9, tr.398]. Bộ mặt kinh thành được truyện cổ tích người Việt quan tâm nhiều đến khía cạnh sinh hoạt: có nhiều câu chuyện về những thầy đồ dạy học, những anh học trò đi học, đi thi ( Trinh phụ hai chồng, Bán tóc đãi bạn). Kinh thành là trung tâm, nơi tích tụ giàu sang: ” Ngày ấy ở kinh thành Thăng-long phố xá buôn bán đã mọc lên san sát. Nhiều cửa hiệu to lớn cất đủ mọi thứ hàng như gấm vóc, tơ lụa, pha lê, đồ sứ…”( Bà lớn đười ươi)[2, tr.641].

Kinh thành là nơi ở của vua, quý tộc, quan lại, cũng là nơi đến của những người bình dân để tỏ lòng thành với nhà vua. Các nhân vật hiền lành, lương thiện, thông minh được vua yêu quí, ban thưởng đã thể hiện khao khát của người bình dân về một chế độ xã hội tốt đẹp, công bằng: Đồng tiền Vạn lịch, Em bé thông minh (Việt), Con trâu đổi lấy quả hồng (Hàn).

Mặt trái của không gian kinh thành cũng được người Việt và người Hàn phản ánh. Ở không gian này, mối quan hệ giữa người với người bị chi phối rất lớn bởi đồng tiền: “Người kinh thành luôn nhìn vào vẻ bề ngoài của một người để đối đãi với người đó. Dù là một kẻ vô lại phóng đãng nghèo kiết xác nhưng ăn mặc nhìn bóng bẩy lượt là một chút, đeo cung tên bước đi trên phố thì thế nào người ta cũng nghĩ là kẻ có tiền và đối đãi rất nhiệt tình..”( Danh thủ bắn cung dỏm)[9, tr.218-219).Tác giả dân gian Việt xây dựng nhóm ngườitrong truyện Bà lớn đười ươi mang bản chất tham lam, gian xảo. Hiểu rõ những người buôn bán nơi thị thành đánh giá người khác qua vẻ bên ngoài, những kẻ gian đã lấy được lòng tin của người bán và lừa gạt họ dễ dàng.

3.2.6.2. Khác biệt

Những mặt trái, tiêu cực nảy sinh nơi kinh thành được người Việt phản ánh rõ nét trong các truyện cổ tích Quận Gió, Bà lớn đười ươi: những kẻ lưu manh lấy chợ búa, thành thị làm nơi hoạt động, náu mình. Không gian kinh thành tồn tại mối quan hệ giữa nhà vua với người dân nhưng quan hệ này có nhiều mâu thuẫn, phức tạp. Truyện Vua Heo cho chúng ta thấy sự bất bình của người dân trước thái độ, hành động của nhà vua và đứng lên chống lại triều đình bằng cách đi theo một nhóm người có cùng chí hướng. Sau khi thành công, nhân vật tự xưng làm vua. Các truyện cổ tích Hàn Quốc không đề cập đến khía cạnh nội dung này.

Kết luận

1. Không gian trong truyện cổ tích là một phương diện thi pháp của thể loại truyện cổ tích, mang đặc trưng thể loại rất rõ, thể hiện quan điểm của nhân dân về con người, xã hội và cuộc sống của các vùng miền, qua nhiều thời gian. Không gian biển, không gian gia đình, không gian lễ hội, không gian chợ, làng và không gian kinh thành xuất hiện trong truyện cổ tích của hai nước Việt Nam, Hàn Quốc góp phần làm cho cốt truyện phát triển, phản ánh phạm vi hoạt động của nhân vật, phản ánh đời sống vật chất và đời sống tinh thần phong phú, đa dạng của hai dân tộc. Qua đó, tác giả dân gian Việt và tác giả dân gian Hàn muốngiáo dục cho mọi thế hệ con cháu của đất nước mình những bài học quý giá, tiếp thêm sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn, thử thách, thắp sáng niềm tin về một tương lai tốt đẹp.

2. Những mâu thuẫn, bi kịch diễn ra trong không gian gia đình, không gian kinh thành, không gian làng được người Việt kể chi tiết, cụ thể và phản ánh ở nhiều khía cạnh khác nhau. Mặt trái, tiêu cực nảy sinh ở các không gian cũng được phản ánh sinh động. Các không gian trong truyện cổ tích của người Hàn mà chúng tôi đã khảo sát không đi sâu phản ánh về mặt trái, mặt tiêu cực tồn tại ở các không gian khác nhau. Tần số xuất hiện của các loại không gian trong truyện cổ tích hai nước cũng khác nhau.

3. Qua các loại không gian xuất hiện trong truyện cổ tíchsinh hoạt, chúng ta cũng thấy được sự tương đồng và khác biệt về văn hoá của hai nước Việt Nam, Hàn Quốc (tín ngưỡng bản địa Shaman và Nho giáo ảnh hưởng đậm nétđến đời sống tâm linh của người Hàn nhưng Người Việt lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trần Thị An (2003), Những biểu tượng không gian thiêng trong truyền thuyết dân gian người Việt, Tổng tập Văn học dân gian người Việt (tập 19, nhận định và tra cứu), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.724-744.

Nguyễn Đổng Chi (2000), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Nxb Giáo dục

Chu Xuân Diên, Lê Chí Quế (2001), Tuyển tập truyện cổ tích Việt Nam, phần truyện cổ tích người Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (1997), Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới, Nxb Đà Nẵng.

Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi (2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục

Kang Jeong Hoon (2008), Con đường có mùa xuân tới (Truyện cổ tích Hàn Quốc), Nxb Giáo dục, TP.HCM.

Jeon Hye Kyung (2005), Nghiên cứu so sánh truyện cổ Hàn Quốc và Việt Nam thông qua tìm hiểu sự tích động vật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

Đặng Văn Lung (chủ biên) (1998), Truyện cổ Hàn Quốc, Nxb Văn hoá Dân tộc, Hà Nội.

Seo Jeong Oh (2011), 100 truyện ngày xưa đặc sắc Hàn Quốc, Nxb Hội Nhà văn.

Nguyễn Bá Thành (1996), Tương đồng văn hoá Việt Nam – Hàn Quốc, Nxb Văn hoá-Thông tin, Hà Nội.

Trần Ngọc Thêm (2008), Văn hóa Korea (tập bài giảng dành cho sinh viên ngành Hàn Quốc học, Trường Đại học Đà Lạt.

Lê Quang Thiêm (1998), Văn hoá, văn minh và yếu tố văn hoá truyền thống Hàn, Nxb Văn học, Hà Nội.

Cho Myeong Sook, Vương Thị Hoa Hồng (dịch và biên soạn)(2007), Những truyện cổ hay Hàn Quốc, Nxb Viện nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa Hàn – Việt.

14. Nhiều tác giả (Trần Thị Bích Phượng dịch)(2010), Những bài giảng văn học Hàn Quốc, Nxb Văn học.

Ba Chú Heo Con Và Chó Sói Câu Chuyện Cổ Tích – Truyện Cổ Tích Việt Nam – Hoạt Hình

Chuyện thiếu nhi – Chuyện cổ tích :

Truyện cổ tích mới nhất :

Kênh câu chuyện cổ tích Việt Nam để xem những câu chuyện cổ tích hay nhất. Chọn câu chuyện yêu thích của bạn và xem nó ngay bây giờ!

đăng ký miễn phí :

#Câuchuyệncổtíchviệtnam

🐻**Truyện động vật**🐻

🚩 Vịt con xấu xí – Ugly Duckling:

🚩 Kiến và Châu Chấu – The Ant and the Grasshopper:

🚩 Ba Chú Heo Con và chó sói – The Three Little Pigs:

🚩 Chó Sói và Bảy Chú Dê Con – The Wolf & The Seven Little Goats:

🚩 Sư Tử và Chuột – The Lion and the Mouse:

🚩 Những Nhạc sĩ Bremen – The Town Musicians of Bremen :

🚩 Rùa và Thỏ – The Tortoise and the Hare:

🚩 Chuột nhà và chuột đồng – The Town Mouse and the Country Mouse:

🚩 Cô gà mái đỏ câu chuyện cổ tích – The Little Red Hen:

🚩 Con Cáo và Con Qua – The Fox and the Crow:

👗**Câu chuyện về công chúa**👗

🚩 Cô Bé Lọ Lem – Cinderella:

🚩 Rapunzel :

🚩 12 Nàng Công chúa thích Khiêu vũ -12 Dancing Princesses :

🚩 Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn – Snow White and the Seven Dwarfs:

🚩 Nàng Tiên Cá Nhỏ -The Little Mermaid:

🚩 Người đẹp và quái vật – Beauty and the Beast:

🚩 Nữ hoàng tuyết -Snow Queen:

🚩 Công chúa ngủ trong rừng – Sleeping Beauty:

🚩 Nàng Công chúa và Hạt Đậu – The Princess and the Pea:

🚩 Hoàng tử êch – The Frog Prince:

🎈**Truyện cổ tích cổ điển**🎈

🚩 Jack Và Cây Đậu Thần -Jack and The Beanstalk:

🚩 Cậu Bé Rừng Xanh -Jungle Book:

🚩 Alibaba và 40 tên cướp – Ali Baba and the Forty Thieves:

🚩 Hansel và Gretel – Hansel and Gretel:

🚩 Alice ở xứ sở thần tiên – Alice in Wonderland:

🚩 Thumbelina Cô Bé Tí Hon – Thumbelina:

🚩 Aladdin và cây đèn thần – Aladdin And The Magic Lamp:

🚩 Cô bé bán diêm – The Little Match Girl:

🚩 Pinocchio – Pinocchio:

🚩 Peter Pan và thuyền trưởng húc – Peter Pan:

🚩 Chú Mèo Đi Hia – Puss in Boots:

🚩 Cậu Bé Bánh Gừng -The Gingerbread Man:

🚩 Phù thủy xứ Oz – The Wizard of Oz:

🚩 Giáng Sinh Yêu Thương – A Christmas Carol:

🚩 Người tí hon và người thợ đóng giầy – The Elves and the Shoemaker:

🚩 Heidi, cô bé đến từ vùng núi Alps – Heidi:

🚩 Goldilocks và gia đình nhà gấu – Goldilocks and the Three Bears:

🚩 Đồ bỏ xó – Rumpelstiltskin:

🚩 Chàng Hoàng tử Hạnh phúc – Happy Prince:

🚩 Kẹp Hạt Dẻ – Nutcracker:

🚩 Cô bé quàng khăn đỏ – Little Red Riding Hood:

#truyệncổtíchviệtnam #StoriesforChildrenVietnamese #Hoạthình #chuyencotich # tiếngviệttruyệnngụngôn

© Adisebaba Animation

Nguồn: https://cangtiensa.com

Truyện Cổ Tích Về Rapunzel

Ngày xửa ngày xưa, có một đôi vợ chồng nọ còn chưa có con, rất mong mỏi có được một mụn con. Bên cạnh nhà họ là nhà của một mụ phù thủy. Nhà mụ có một khu vườn với tường bao quanh, có một rất nhiều loại rau lạ mọc trong đó.

Một hôm, người vợ nhìn qua cửa sổ đằng sau nhà, người vợ thấy ở luống rau kia có loại rau rapunzel (rau ba lăng) mọc tươi mơn mởn, từ đó bà trở nên thèm được ăn thứ rau đó. Cơn thèm ngày càng tăng, rồi một hôm, đang đứng bên cửa sổ người vợ thấy choáng váng cả người và ngã lăn ra đất. Thấy vợ tái nhợt nằm đó, chồng lại bên và hỏi:

– Em yêu, em sao vậy?

Người vợ đáp:

– Trời, nếu em không được ăn một bữa rau ba lăng trồng ở vườn sau nhà chắc em chết mất.

Chồng rất thương vợ nên nghĩ:

– Tại sao lại để vợ mình chết nhỉ, cứ liều sang lấy, đến đâu thì đến.

Đợi trời xẩm tối, chồng trèo tường lẻn vào vườn lấy rau ba lăng về cho vợ. Vợ nấu ăn thật ngon lành. Hai đêm đầu, người chồng trèo qua tường vào trong khu vườn ấy để hái rau cho vợ trót lọt, nhưng tới đêm thứ ba, khi ông đang leo qua tường để về nhà, mụ phù thuỷ, tên là Dame Gothel, bắt được ông và quy cho ông tội ăn trộm. Ông van xin được tha, và người phụ nữ già đồng ý để ông đi, với điều kiện phải trao cho mụ đứa con sắp sinh sau đó của hai người.

– Ngươi có thể hái rau ba lăng như ngươi muốn, nhưng với điều kiện, đứa con vợ ngươi đẻ phải giao cho ta nuôi, ta chăm sóc nó như con đẻ của ta.

Tuyệt vọng, ông đành đồng ý. Khi người vợ có mang và đứa con gái được sinh ra, mụ phù thuỷ mang đứa trẻ đi và tự mình nuôi nấng, đặt tên em bé là Rapunzel. Rapunzel lớn lên trở thành cô bé xinh đẹp nhất thế gian với mái tóc vàng rất dài. Khi Rapunzel 12 tuổi, mụ phù thuỷ giam giữ nàng trong một toà tháp sâu thẳm trong rừng, không có bậc thang hay cửa ra vào, chỉ có một căn phòng và một chiếc cửa sổ. Khi mụ phù thuỷ tới thăm Rapunzel, mụ đứng cạnh toà tháp và gọi:

– Rapunzel, Rapunzel, hãy thả tóc của con xuống đi, để mẹ có thể bước lên những bậc thang ánh vàng.

Nghe thấy những lời đó, Rapunzel quấn mái tóc dài vàng óng của nàng lên một cái móc cạnh cửa sổ, thả xuống chỗ mụ phù thuỷ, để mụ trèo lên phòng của nàng trên tháp. (Một dị bản khác của câu chuyện viết rằng mụ phù thuỷ có khả năng bay lên cao và cô bé không biết gì về mái tóc dài kì diệu của mình).

Nhiều năm trôi qua. Một ngày kia, một chàng hoàng tử cưỡi ngựa qua khu rừng và nghe thấy tiếng hát của Rapunzel vang ra từ trên tháp. Bị lôi cuốn bởi giọng hát trong mượt mà ấy, chàng liền đi tìm và thấy toà tháp cao, nhưng không biết lối vào. Chàng quay trở lại đó khá thường xuyên, lắng nghe giọng hát tuyệt vời ấy, và một ngày nọ chàng gặp Dame Gothel tới thăm toà tháp, và cuối cùng hoàng tử đã biết làm cách nào để tới được chỗ Rapunzel. Khi Dame Gothel đi khỏi, chàng gọi Rapunzel thả mái tóc của nàng xuống. Khi nàng làm như vậy, chàng trèo lên, giới thiệu mình với nàng.

Rapunzel chưa từng gặp người đàn ông nào trong đời nên rất hoảng sợ. Hoàng tử vui vẻ, nhã nhặn, dùng lời lẽ nhẹ nhàng kể cho Rapunzel nghe rằng chàng từ khi nghe nàng hát đến giờ lòng lúc nào cũng khao khát được gặp người hát. Rapunzel dần dần tĩnh tâm lại. Hoàng tử hỏi nàng liệu có thể sống bên nàng được không, nàng thấy chàng đẹp trai, khỏe mạnh nên cũng rất ưng, nàng đặt bàn tay mình vào trong lòng bàn tay chàng và nói:

– Em cũng rất muốn đi cùng với anh, nhưng em không biết làm cách nào để tụt xuống chân tháp. Nếu như mỗi lần đến thăm em, anh mang cho em một bó tơ, em lấy tơ bện thành dây chão, khi nào dây chão bện xong em sẽ tụt xuống chân tháp, anh đón em lên ngựa và hai ta cùng đi.

Họ cùng nhau tìm cách trốn khỏi toà tháp, thế là hàng đêm hoàng tử sẽ tới (để tránh mụ phù thuỷ tới vào ban ngày), và mang cho nàng bó tơ, để Rapunzel từ từ dệt một cái thang. Nhưng trước khi kế hoạch được thực hiện, Rapunzel đã vô tình để lộ chuyện nàng với hoàng tử. Một hôm Rapunzel hỏi:

Mụ phù thủy liền la mắng:

– Ái chà, mày là quân vô đạo, mày nói gì vậy, tao tưởng tao đã cách ly mày với thế giới bên ngoài rồi, không ngờ mày còn có thể đánh lừa được cả tao.

Trong ấn bản đầu tiên của Truyện cổ Grimm, Rapunzel ngây thơ nói rằng chiếc váy của nàng ở chỗ quanh bụng ngày càng chật quá (ám chỉ rằng nàng đang mang thai).

Trong cơn tức giận, Dame Gothel đã cắt mất mái tóc đẹp rất dài của Rapunzel và đuổi nàng tới sống ở một nơi vô cùng hoang vu, bắt nàng phải tự lo liệu cho cuộc sống của mình

Khi đêm đó hoàng tử đến như thường lệ, mụ phù thuỷ đợi sẵn và thả mái tóc của Rapunzel xuống để kéo chàng lên. Hoàng tử sợ hãi khi thấy người mình đang đứng trước mặt là mụ phù thuỷ chứ không phải là Rapunzel, giờ nàng đã ở một nơi không ai có thể tìm thấy được. Khi mụ tức giận nói với chàng rằng chàng sẽ không bao giờ được gặp lại Rapunzel nữa, hoàng tử đã nhảy xuống khỏi toà tháp trong tuyệt vọng và bị những ngọn gai bên dưới đâm làm mù mắt. Trong một phiên bản khác, mụ phù thuỷ đẩy hoàng tử xuống và chàng ngã vào những bụi gai, khiến đôi mắt chàng bị mù.

Nhiều tháng trời, hoàng tử lang thang khắp những vùng đất hoang vu nhất của vương quốc và cuối cùng cũng tới nơi Rapunzel sinh sống cùng với hai đứa trẻ nàng sinh đôi, một trai một gái. Một ngày kia, khi Rapunzel hát lúc đang gánh nước đi, hoàng tử nghe thấy giọng hát của nàng, và họ gặp lại nhau. Khi họ đang ở trong vòng tay của nhau, những giọt nước mắt của nàng đã chữa khỏi đôi mắt cho hoàng tử. Hoàng tử đưa nàng và những đứa con về vương quốc, và họ sống hạnh phúc mãi mãi về sau.

Trong một số phiên bản khác của câu chuyện, khi hoàng tử chạm tay vào, mái tóc thần kì của Rapunzel đã mọc lại dài và đẹp như trước.

Trong một dị bản khác, câu chuyện kết thúc với đoạn mụ phù thuỷ đã nhấc mái tóc của Rapunzel ra khỏi cái móc sau khi hoàng tử ngã xuống khỏi toà tháp, và mái tóc ấy đã trượt khỏi tay mụ rơi xuống chân tháp, khiến mụ bị kẹt lại trong toà tháp mãi mãi.

(Theo: Wikipedia)

Cuộc trao đổi có vẻ bất thường ở đầu câu chuyện “Rapunzel” là một cách phát triển cốt truyện thường thấy trong truyện cổ tích, cũng từng được sử dụng trong truyện Jack and the Beanstalk, Jack đổi con cừu lấy những hạt đậu, và trong Người đẹp và quái vật, Belle tới chỗ quái vật (the Beast) để đổi lấy việc nó trả lại bông hồng. Thời xưa người ta tin rằng sẽ là khá nguy hiểm khi từ chối không cho phụ nữ mang thai được ăn thứ mà cô ấy mong muốn. Các thành viên trong gia đình thường vượt qua những quãng đường rất dài để thực hiện những mong muốn đó. Thèm được ăn rau diếp hay các loại rau như vậy cho thấy nhu cầu vitamin của cơ thể người phụ nữ. Theo cách giải thích của một nhà khoa học nghiên cứu về thực vật, có thể nhận thấy mụ phù thuỷ rõ ràng là một người có phép thuật hoặc một nhà dược học, người nắm được cách sản xuất và sử dụng một loại cây hoặc thuốc có thể chữa được những biến chứng khi mang thai cho mẹ của Rapunzel. Ergotics, opioids hoặc cannabis có thể xem là các ứng cử viên hàng đầu về loại cây trên trong phiên bản truyện của Ba Tư hay các phiên bản sau này của câu chuyện.

Một câu chuyện chịu ảnh hưởng từ truyện cổ tích “Rapunzel” của anh em Grimm là Petrosinella hay Parsley của Giambattista Basile trong bộ sưu tập truyện cổ tích của ông xuất bản năm 1634, Lo cunto de li cunti (Câu chuyện về những câu chuyện), hay Pentamerone. Truyện kể về một người phụ nữ đang mang thai rất muốn được ăn ít rau mùi tây (parsley) trong vườn của một nữ yêu tinh, sau đó bị bắt và buộc phải hứa cho nó đứa bé. Một câu chuyện tương tự được xuất bản tại Pháp bởi Mademoiselle de la Force, tên là “Persinette”. Giống như Rapunzel trong phiên bản đầu tiên của anh em nhà Grimm, Persinette mang thai trong thời kì hoàng tử tới thăm.

Về Truyện Cổ Tích Tấm Cám

Về truyện cổ tích Tấm Cám

Soạn bài: Hàn Mặc Tử và bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”

Đã là người Việt Nam, trong thời thơ ấu của mình có mấy ai không từng được nghe kể chuyện Tấm Cám, và hình ảnh cô Tấm mồ côi ao ước chiếc yếm đào, ngồi khóc bên giếng vì mất bống, bị hắt hủi tội nghiệp đã làm lay động bao trái tim nhân hậu.

Kiểu truyện Người mồ côi rất quen thuộc trong truyện cổ tích Việt Nam và nước ngoài, trong đó Tấm Cám là kiểu truyện phổ biến. Ở Pháp có truyện Lọ Lem, Đức có Cô Tro Bếp, Trung Quốc có Nàng Diệp Hạn, Thái Lan có Con cá vàng, Mianma có Truyện con rùa, Cămpuchia có Nêang – Cantóc…. Nhiều dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng có những truyện tương tự Tấm Cám: Tua Gia Tua Nhi (Tày), Ý Ưởi Ý Noọng (Thái), Gầu Nà – Gầu Rềnh (Mông), Đôi giày vàng (Chăm), Ú và Cao (Hơ rê), Gơ liu- Gơ lát (Xơ rê)… Khác với những truyện tương tự Tấm Cám ở phương Tây, thường kể về cô gái mồ côi bất hạnh, chăm chỉ hiền lành được vào hoàng cung, lấy chồng hoàng tử và kết thúc ở đó. Truyện Tấm Cám còn có phần thứ hai, phản ánh cuộc đấu tranh gian nan và quyết liệt để giành và giữ hạnh phúc của Tấm. Cả hai phần của truyện đều thể hiện mơ ước thiện thắng ác và mơ ước về hạnh phúc của nhân dân lao động Việt Nam xưa.

1. Thân phận và con đường đến với hạnh phúc của cô gái mồ côi

Truyện kể “mẹ Tấm chết từ hồi Tấm mới biết đi”, lời kể đã xác định thân phận mồ côi của Tấm. Trong bao nỗi đau buồn của một đứa trẻ, có lẽ đau khổ thiệt thòi nhất là thiếu mẹ. Tục ngữ có câu “Cha chết ăn cơm với cá, mẹ chết liếm lá đầu chợ” để khái quát nỗi đau khổ, thiệt thòi vô cùng của đứa con mồ côi mẹ. Mồ côi cha đã khổ, mồ côi mẹ còn thiệt thòi, đau khổ hơn nhiều. Mọi đau khổ của Tấm đều bắt nguồn từ quan hệ với mẹ con người dì ghẻ. Tấm cô đơn chỉ biết khóc mỗi khi bị hành hạ. Bị Cám lừa trút mất giỏ tép, mất hi vọng có cái yếm đào, Tấm khóc. Cái yếm đào chỉ là một món quà bé nhỏ, nhưng với cô Tấm nghèo khó, mồ côi, đang ở tuổi trăng tròn, lại chẳng bao giờ được nhận một món quà nào thì nó thật đáng quý. Vì vậy, dường như Tấm không chỉ khóc vì bị mất yếm đào mà còn vì chút hi vọng được nhận yêu thương cũng tan biến mất. Bị lừa đi chăn trâu đồng xa để ở nhà mẹ con Cám làm thịt chú bống bé nhỏ bầu bạn với Tấm, Tấm lại khóc. Chú bống nhỏ bé, được cô nhường nhịn, chăm chút yêu thương trong bát cơm hẩm san sẻ cho bống và câu gọi thiết tha “Bống bống bang bang, lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta, chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người”. Với cô gái mồ côi không được nhận sự chăm sóc nào như Tấm thì chăm chút cho bống là một nhu cầu tình cảm, nhu cầu được chăm chút và sẻ chia. Vì vậy, việc giết bống đâu phải để thoả mãn sự tham ăn của mẹ con Cám mà là để hành hạ Tấm, phá đi chỗ dựa tình cảm của cô gái đơn côi. Cục máu bầm nổi trên mặt giếng như bằng chứng không lời về sự tàn bạo, độc ác của hành động giết bống. Lần thứ ba Tấm khóc là khi cô không được đi hội làng. Dì ghẻ trộn thóc với gạo bắt Tấm nhặt. Đến đây, sự hành hạ chẳng cần phải che đậy như những lần trước. Hội làng là ngày vui nhất trong năm. Mọi người từ già đến trẻ, từ giàu đến nghèo đều được đi hội và chia sẻ niềm vui chung, thế mà riêng Tấm bị bắt ở nhà, cô càng lẻ loi hơn. Tấm lại khóc và dường như tiếng khóc lại một lần nữa đẩy nỗi đau khổ của cô lên cao hơn.

Thân phận đầy đau khổ của cô Tấm trong truyện cổ là thân phận chung của những người nghèo, người mồ côi lương thiện trong xã hội xưa. Mâu thuẫn giữa Tấm với mẹ con dì ghẻ không chỉ là mâu thuẫn dì ghẻ – con chồng mà còn là biểu hiện cụ thể của xung đột thiện – ác trong cuộc đời. Tấm đại diện cho nhân vật thiện chăm chỉ, lương thiện, đôn hậu (bắt được đầy giỏ tép, đi chăn trâu đồng xa, nhịn cơm dành nuôi bống,…) Cái ác hiện hình trong mẹ con mụ dì ghẻ qua hành động: lừa gạt lấy mất giỏ tép để tước đoạt ước mơ bé nhỏ của Tấm là cái yếm đào; lén lút giết chết con bống là giết chết người bạn bé nhỏ của Tấm; trắng trợn trộn thóc với gạo nhằm dập tắt niềm vui được đi hội làng, được giao cảm với đời của cô,… Tiếng khóc tội nghiệp của Tấm mỗi lần bị chèn ép, áp bức có sức lay động mọi trái tim nhân hậu, gọi dậy niềm cảm thông, chia sẻ của mọi người.

Cái thiện càng bị o ép, áp bức, cái ác càng lộng hành, tác oai tác quái thì mâu thuẫn thiện – ác thể hiện càng sâu sắc, không thể dung hoà, tạo nên không khí căng thẳng buộc phải thay đổi.

Truyện cổ tích thần kì thường giải quyết mâu thuẫn ấy theo hướng: dù lâu hay mau, dù gian nan khó khăn đến thế nào, song thiện nhất định sẽ thắng ác và người lương thiện nhất định sẽ được nhận hạnh phúc. Con đường đến với hạnh phúc của nhân vật thiện chính là xu hướng giải quyết mâu thuẫn rất đặc trưng của cổ tích. Để giải quyết mâu thuẫn đó, truyện cổ tích thường sử dụng yếu tố kì ảo.

Truyện Tấm Cám, giải quyết mối xung đột thiện – ác cũng theo hướng thiện thắng ác và nhờ sự giúp sức của nhân vật Bụt. Bụt thường xuất hiện đúng lúc mỗi khi Tấm khóc, an ủi, nâng đỡ cô mỗi khi Tấm gặp khó khăn hay đau khổ. Tấm mất yếm đào – Bụt cho cá bống. Tấm mất bống – Bụt cho hi vọng đổi đời. Tấm không được đi hội – Bụt cho chim sẻ đến giúp Tấm, đưa Tấm đến hội, gặp nhà vua, được làm hoàng hậu và đạt đến đỉnh cao hạnh phúc. Bụt (tên gọi dân gian của Phật) vốn là nhân vật của Phật giáo, đã được dân gian hoá, trở thành ông lão hiền lành, tốt bụng, nhiều quyền năng, xuất hiện đúng lúc để nâng đỡ mơ ước, chữa lại số phận hẩm hiu cho người nghèo. Cùng với Bụt, con gà biết cảm thông với Tấm, chim sẻ biết giúp Tấm nhặt thóc ra thóc, gạo ra gạo, cũng là yếu tố kì ảo, trợ giúp Tấm trên đường tới hạnh phúc. Hoàng hậu Tấm là hình ảnh cao nhất về hạnh phúc mà nhân dân có thể mơ ước cho cô gái mồ côi nghèo, cô đơn trong xã hội xưa.

Những đau khổ của người mồ côi là có thực và phổ biến, còn hạnh phúc mà họ được hưởng thường rất hiếm hoi, phần lớn chỉ là mơ ước. Để phản ánh mơ ước về hạnh phúc qua nhân vật mồ côi, truyện cổ tích đã “chữa lại” số phận không may mắn cho họ. Điều đó thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời, hi vọng ở tương lai công bằng, dân chủ của nhân dân lao động.

Trong truyện Tấm Cám Việt Nam và những truyện tương tự của nước ngoài, các cô gái mồ côi đến với hạnh phúc nhờ đôi giày, vật báu trực tiếp đem lại may mắn. Nhờ chiếc giày cô gái đánh rơi mà nhà vua hay hoàng tử nhận ra người đẹp và kết hôn với cô. Hình ảnh đôi giày trong văn hoá một số nước có ý nghĩa giao duyên, là vật làm tin các chàng trai cô gái thường trao cho nhau trước hôn lễ. Các chú rể người Đức thường tặng cho vị hôn thê của mình một đôi giày trong lễ đính hôn. Khi cô gái ướm chân vào giày, chàng trai phải tự tay mình đóng nốt những chiếc đinh cuối cùng với hi vọng hôn nhân của họ sẽ bền chặt. Ở Trung Quốc, các cô gái dù chưa biết mặt người chồng tương lai của mình là ai vẫn cứ khâu một đôi giày vải hoặc tết một đôi giày rơm làm món quà tặng đầu tiên cho chồng. Ở Việt Nam, đôi giày không có ý nghĩa giao duyên, nhưng khi những người phụ nữ bình dân nghe tin loa truyền, ai đi vừa giày sẽ được làm hoàng hậu thì “đàn bà con gái trong đám hội chen nhau đến ướm chân vào giày”. Ướm chân hay chính là được một lần thử vận may của mình! Có ai không mơ ước hạnh phúc và có ai lại bỏ qua cơ hội kiếm tìm hạnh phúc cho mình. Ướm giày, họ hi vọng một may mắn tình cờ nào đó sẽ dẫn mình đến tương lai tốt đẹp. Nhưng truyện cổ tích không bao giờ có ngẫu nhiên cho những người bất kì. Chỉ có người đáng hưởng hạnh phúc nhất mới là người ướm chân vừa giày và nhận món quà may mắn của số phận. Ta hiểu rằng, đằng sau luỹ tre làng yên tĩnh luôn ấp ủ bao mơ ước lãng mạn và kì diệu của người nghèo, truyện cổ tích đã tạo hình cho những mơ ước đó và nuôi nó sống động trong những câu chuyện kể.

Tấm nhờ chăm chỉ, lương thiện mà được Bụt giúp đỡ, từ cô gái mồ côi nghèo trở thành hoàng hậu. Đó cũng là con đường đến với hạnh phúc của các nhân vật thiện như Tấm trong truyện cổ tích châu Âu và thế giới. Điều đó một mặt phản ánh ước mơ thiện thắng ác, mặt khác còn nêu triết lí “ở hiền gặp lành”, một triết lí phổ biến trong truyện cổ tích.

2. Cuộc đấu tranh giành và giữ hạnh phúc của cô gái mồ côi

Các truyện cổ tích châu Âu cùng kiểu với truyện Tấm Cám của Việt Nam thường kết thúc khi cô gái mồ côi kết hôn với hoàng tử và hưởng hạnh phúc. Truyện Tấm Cám không chỉ dừng ở kết thúc phổ biến đó mà còn tiếp thêm một chặng nữa của cuộc đời nhân vật. Tấm trở thành hoàng hậu nhưng vẫn bị cái ác tiêu diệt. Cô Tấm lương thiện, hiếu thảo trèo cau hái quả cúng cha đã bị mẹ con Cám chặt cây giết chết. Cô Tấm hiền lành, ngây thơ vừa ngã xuống, một cô gái mạnh mẽ và quyết liệt hơn sống dậy, hoá thân trở về với cuộc đời, công khai chống lại cái ác đòi hạnh phúc. Cuộc chiến đấu đó thật gian nan, quyết liệt nhưng cũng thật hấp dẫn đối với người nghe, người đọc truyện cổ tích. Bởi trong cuộc đời, những gì người mồ côi yếu thế, nhỏ nhoi không thể làm được thì cô Tấm đã thay họ thực hiện ” oán thì trả oán, ân thì trả ân” đến tận cùng.

Tấm thảo hiền bị dì ghẻ chặt cây sát hại mà không cam chịu chết. Cô hoá vàng anh, bay vào cung vua báo hiệu sự có mặt của mình trong lời nhắc nhở “Giặt áo chồng tao, thì giặt cho sạch, phơi áo chồng tao, thì phơi bằng sào, chớ phơi bờ rào, rách áo chồng tao”, vàng anh bị giết chết. Tấm hoá cây xoan đào (khung cửi), tuyên chiến với kẻ thù trực tiếp và dữ dội hơn “Lấy tranh chồng chị, chị khoét mắt ra”, khung cửi bị đốt cháy. Từ đống tro tàn chết chóc, Tấm hoá cây thị (quả thị) trở lại với đời. Trong sự hoá thân ấy có sự kiên nhẫn và lòng dũng cảm. Phải chăng trong nhân vật Tấm đã hội tụ sự dịu dàng và tính cách bất khuất của phụ nữ Việt Nam từ xa xưa.

Tấm đã hoá thân, cái thiện không chịu chết một cách oan ức trong im lặng đã vùng dậy, còn cái ác cũng tìm mọi cách tiêu diệt cái thiện. Những lần chết đi sống lại của Tấm phản ánh tính chất gay gắt, quyết liệt của cuộc chiến đấu giữa thiện với ác, đồng thời cũng thể hiện sức sống mãnh liệt, không thể bị tiêu diệt của cái thiện. Phải chăng cô Tấm có thể chết đi sống lại, có thể tự mình hoá thân để trở lại với đời? Chính những người dân nhân hậu và giàu tình thương đã không nỡ để một cô gái lương thiện như Tấm phải chết oan ức trong thầm lặng. Họ đã mượn yếu tố kì ảo, thổi sức sống mãnh liệt cho nhân vật, di dưỡng sức sống tiềm tàng trong đó, vực nhân vật dậy “đi trả thù và sống tự do”. Nhân dân đã gửi gắm vào nhân vật Tấm lòng nhân đạo, tình yêu thương con người sâu sắc của mình.

Chim vàng anh, cây xoan đào (khung cửi), cây thị (quả thị) là những nơi Tấm gửi gắm linh hồn, cũng là những vật bình dị thân thương trong cuộc sống dân dã. Đó cũng là những hình ảnh đẹp của làng quê, làm nên ấn tượng thẩm mĩ cho câu chuyện. Nếu như ở phần đầu truyện, mỗi lần Tấm khóc Bụt thường hiện lên ban tặng vật thần kì, thì ở phần sau, cuộc đấu tranh với cái ác quyết liệt hơn nhưng Tấm không còn khóc, cũng không còn thấy sự xuất hiện của Bụt, chỉ thấy Tấm hành động liên tiếp để chống lại kẻ thù. Cũng chính nhân dân lao động, những người có thân phận như Tấm, những người thấu hiểu và cảm thương cô Tấm thiệt thòi, đã gửi vào nhân vật ấy ý thức mãnh liệt giành và giữ hạnh phúc của mình. Đằng sau câu chuyện đã gửi gắm một chân lí: Hạnh phúc chỉ bền chặt khi ta biết dũng cảm giành và giữ lấy. Vì vậy, nếu lúc đầu mỗi lần Tấm uất ức chỉ biết ngồi khóc, còn Bụt làm thay tất cả, thì đến đây chim vàng anh, khung cửi, quả thị (yếu tố kì ảo) không thay Tấm trong cuộc chiến đấu mà chỉ là nơi Tấm hoá thân, tạm ẩn mình để trở về đấu tranh với cái ác quyết liệt hơn.

Sau bao lần hoá thân chống lại kẻ thù, Tấm trở về với cuộc đời, với làng quê bình dị, vẫn là cô gái đảm đang khéo léo trong miếng trầu têm cánh phượng. Nhờ miếng trầu mà nhà vua nhận ra người vợ đảm của mình và đưa Tấm về cung. Miếng trầu là hình ảnh rất quen thuộc trong đời sống văn hoá Việt Nam, gắn với phong tục hôn nhân người Việt “Miếng trầu nên dâu nhà người”, “Miếng trầu ăn ngọt như đường, đã ăn lấy của phải thương lấy người”…Miếng trầu mang ý nghĩa giao duyên như vậy đã có mặt trong sự hội ngộ của nhà vua và Tấm.

Nhưng sau nhiều lần chết đi sống lại trong lốt chim, cây, quả… dường như Tấm hiểu rằng không thể có hạnh phúc trọn vẹn chừng nào cái ác còn tồn tại, chừng nào mẹ con Cám còn hiện diện. Cô lừa Cám để nó sai người đào hố, giội nước sôi, tự tìm đến cái chết. Kết thúc đó nêu triết lí dân gian “ác giả ác báo”, phù hợp với mong ước của nhân dân về sự trừng phạt tận gốc kẻ thù. Cuối cùng, hạnh phúc đã trở về với Tấm như món quà tặng quý giá cho lòng chung thuỷ và sự dũng cảm của cô.

Sự hoá thân nhiều lần rồi trở về với cuộc đời của Tấm là biểu hiện sinh động của quan niệm về công bằng xã hội và hạnh phúc. Người lương thiện phải được nhận hạnh phúc, còn kẻ ác nhất định bị trừng phạt, đó là quy luật của lòng nhân đạo, tình yêu thương con người. Người lao động không chờ đợi hạnh phúc đẹp và mơ hồ ở cõi nào khác, mà tìm và giữ hạnh phúc thực sự ngay trên mảnh đất mình từng gắn bó, ở nơi trần thế. Những lần hoá thân ấy của Tấm đã hàm chứa nhiều triết lí dân gian sâu sắc về hạnh phúc và đấu tranh, đúng như có nhà thơ đã viết:

Không rơi xuống bùn, ôi trái thị quê ta, Để bùn lấm và thành bùn vạn kiếp Rơi vào tay người đó là định luật, Của đấu tranh và nhân nghĩa Việt Nam.

Khi bàn về sự hoá thân của Tấm, có người cho đó là ảnh hưởng từ thuyết luân hồi nhà Phật (luân: vòng tròn, bánh xe; hồi: quay trở lại. Luân hồi là sự xoay vần liên tục. Một sinh vật sau khi chết sẽ chuyển sang hình hài một sinh vật khác: người, vật, cây cỏ… để trả nợ cho những gì kiếp trước mình đã phạm). Nhưng nếu có mượn thuyết luân hồi thì truyện Tấm Cám chỉ mượn hình thức để thể hiện mơ ước, tinh thần lạc quan của người lao động mà thôi. Bởi luân hồi nhà Phật là để chịu đau khổ do tội lỗi từ kiếp trước của mình, rồi sau đó tìm hạnh phúc ở cõi Niết bàn cực lạc xa xôi. Còn cô Tấm chết đi sống lại nhiều lần không phải để chịu khổ đau, cũng không định tìm hạnh phúc đẹp nhưng mơ hồ ở cõi Niết bàn mà để quyết giành và giữ hạnh phúc có thực của mình ngay ở thế giới này. Đó là lòng lạc quan, yêu đời và tinh thần thực tế của người lao động khi sáng tạo truyện cổ tích.

Cuộc chiến đấu giữa Tấm với mẹ con dì ghẻ gian nan, quyết liệt nhưng cuối cùng Tấm đã chiến thắng. Đó là chiến thắng tất yếu của cái thiện, của lòng nhân đạo và lạc quan theo quan niệm của nhân dân. Kết thúc có hậu trong truyện cổ tích là biểu hiện tập trung những ước mơ của tác giả dân gian. Hầu hết truyện cổ tích đều kết thúc có hậu: người nghèo sẽ giàu có, người mất vợ sẽ tìm lại được và sống hạnh phúc, người xấu xí, dị dạng trở nên xinh đẹp, người bị áp bức nhiều nhất sẽ bước lên địa vị tối cao, được làm vua hay hoàng hậu… Kết thúc đó mang đến ánh sáng và vẻ đẹp lãng mạn cho truyện cổ tích, làm cho nó có sức hấp dẫn đặc biệt đối với mọi thế hệ, thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời và niềm khát khao vươn tới cái đẹp, cái thiện của nhân dân lao động Việt Nam xưa. Cô Tấm nghèo khổ, bị hành hạ, chết đi sống lại, cuối cùng đã tiêu diệt cái ác, gặp lại chồng, trở về làm hoàng hậu bên những người dân hiền lành tốt bụng. Kết thúc đó còn mang mơ ước đổi đời của những người lao động nghèo, là bức tranh về một xã hội lí tưởng có “vua hiền, tôi giỏi”. Trong xã hội mơ ước đó, người lao động hiền lành, lương thiện đã được hưởng hạnh phúc.

Cũng như nhiều truyện dân gian khác, truyện Tấm Cám có nhiều dị bản. Những bản kể ra đời ở thời trung đại đều kết thúc khi Tấm giết Cám, làm mắm gửi về cho dì ghẻ. Mụ ăn cứ tấm tắc khen ngon, đến khi ăn hết mới nhận ra đầu lâu con mình ở đáy hũ liền lăn đùng ra chết. Không ít người từng hài lòng trước sự trừng phạt ấy, bởi Tấm đã thay mặt cái thiện để tiêu diệt cái ác, thực hiện công lí mang tính nhân dân; thể hiện quan niệm và mơ ước về sự chiến thắng tuyệt đối, tự mình tiêu diệt tận gốc kẻ thù. Mẹ con Cám đã không từ thủ đoạn độc ác nào để hành hạ Tấm, từ lừa gạt đến trắng trợn bóc lột, từ lén lút giết Tấm đến công khai đốt cô thành tro bụi…Tội ác man rợ đó đáng bị trừng trị, hơn thế theo quan niệm “làm ác trả ác”, “hại nhân nhân hại” thì sự trừng phạt ấy là đích đáng. Nhưng hiện nay, tính chất thời đại đã thay đổi, hình thức trừng phạt ấy khiến cho nhiều người cảm thấy rùng rợn và ấn tượng đẹp về một cô Tấm thảo hiền, đôn hậu bị giảm đi. Vì vậy truyện cổ tích Tấm Cám lại tiếp tục số phận lịch sử của nó trên chặng đường truyền miệng, lời kể đã được thay đổi cho phù hợp với nhu cầu và quan niệm thẩm mĩ ở thời hiện đại mà nó đang lưu truyền.