Sự Tích Ông Táo Về Trời Hay Truyện Sự Tích Táo Quân

Sự tích ông Táo về Trời

Sự tích ông Táo về Trời hay còn gọi sự tích Táo quân là câu chuyện cảm động về tình nghĩ vợ chồng, qua đó giải thích tục lệ cổ truyền của người Việt cúng ông Công, ông Táo vào 23 tháng Chạp hằng năm.

Ngày xưa có 2 vợ chồng nghèo lấy nhau đã lâu mà không có con. Một hôm trong lúc phiền muộn, vợ chồng cãi nhau, chồng nóng nảy đánh vợ, vợ tủi thân bỏ nhà đi. Duyên số run rủi, chị ta kết bạn với một người đàn ông khác ở miền ngược làm nghề săn bắn. Anh chồng hối hận, ít ngày sau, đi tìm. Tìm mãi không thấy, hết tiền, lại sinh ốm đau, đành phải ăn xin lần hồi.

Một hôm tình cờ anh ta đến xin ăn đúng nhà vợ chồng người đi săn. Chị vợ nhận ra chồng cũ, thấy đói rách tiều tụy, chị ta rất thương. Nhân chồng mới vắng nhà, chị dọn một bữa cơm rượu đãi chồng cũ. Anh ta ăn uống no say, rồi lăn ra ngủ thiếp đi, đánh thức mấy cũng không dậy. Thật là tai hại! Trời sắp mưa, chồng cũng sắp về. Hoảng quá, chị vội cõng anh kia ra đống rơm cuối sân, lấy rơm phủ lên người giấu đi để tránh điều tiếng không hay.

Vừa lúc đó người chồng mới mang về 1 con cầy, bảo chị vợ ra chợ sắm sửa các gia vị làm một bữa ra trò thết hàng xóm. Ở nhà, anh ta đốt đống rơm thui cầy. Bất đồ, lửa bùng lên, bén vào đống rơm, thui cả anh chồng cũ. Chị vợ về, thấy vậy, vô cùng đau xót, như chính mình mắc tội giết chồng cũ. Chị ta liền nhảy vào đống lửa chết theo. anh chồng mới thương vợ, cũng đâm đầu vào chết luôn. Hôm ấy là hai mươi ba tháng Chạp âm lịch.

Thấy ba người ăn ở với nhau có tình nghĩa, Ngọc Hoàng cho họ hóa thành ba “ông” đầu rau để họ được ở bên nhau mãi mãi, đồng thời phong cho họ là Táo quân (còn gọi là Vua Bếp). Hàng năm, táo quân phải lên chầu Ngọc Hoàng tâu về việc làm ăn của các nhà ở hạ giới. Nhân dân ta từ xưa, mỗi lần năm tết đến có tục mua cá chép làm cỗ tiễn ông táo lên chầu Trời, chính là bắt nguồn từ câu chuyện này.

Sự tích ông Táo về Trời hay truyện sự tích Táo quânNguồn : Truyện đọc lớp 5– chúng tôi –

Sự Tích Ông Công Ông Táo

Ngày xưa, có hai vợ chồng son nhà nghèo sinh nhai bằng nghề làm thuê làm mướn.

Tuy nghèo nhưng họ rất yêu nhau. Thường buổi tối sau khi đi làm về, hai Vợ chồng ngồi bên bếp lửa hay dưới ánh trăng kể cho nhau những chuyện xa gần mới nghe được, hay hát những câu tình duyên, có khi vui vẻ quên cả cơm nước.

Một năm trời làm mất mùa, hạt gạo kiếm rất khó khăn. Tình trạng đói kém diễn ra khắp mọi miền. Hai Vợ chồng theo lệ cũ đi tìm việc ở các nhà giàu nhưng chả mấy ai thuê nữa. Người vay công lĩnh nợ thì đông mà gạo rất khan hiếm nên khó chen vào lọt. Hơn nữa, cổng mấy lão trọc phú lại thường đóng chặt vì chúng không muốn cho ai quấy nhiễu.

Túng thế hai Vợ chồng phải đi mò cua bắt ốc, hoặc đào củ, hái rau về ăn. Tuy có đỡ phần nào nhưng tình cảnh vẫn không mảy may sáng sủa. Cái chết luôn luôn đe dọa họ vì trận đói còn kéo dài. Một buổi chiều, sau khi húp vội mấy bát canh rau má, chồng bảo vợ:

– Tôi phải đi một nơi khác kiếm ăn, không thể ở nhà được.

Nghe chồng nói, người đàn bà đòi đi theo để sống chết có nhau. Nhưng người chồng bảo:

– Tôi chưa biết sẽ đi đến đâu và sẽ phải làm những gì. Nàng ở nhà dễ sống hơn tôi, không nên theo làm gì cho vất vả. Chưa biết chừng tôi sẽ nằm lại dọc đường để cho loài chim đến than khóc. Nhưng cũng chưa biết chừng tôi lại mang những quan tiền tốt bó mo về đây nuôi nàng cũng nên! Chao ôi! Số mệnh! Nàng hãy chờ tôi trong ba năm, nghe! Hết ba năm không thấy tôi trở về ấy là tôi đã bỏ xác quê người. Nàng cứ việc đi lấy chồng khác.

Người vợ khóc lóc thảm thiết như đứng trước cảnh tang tóc thực sự. Nhưng không biết làm thế nào cả, nàng đành phải để chồng ra đi.

Sau khi tiễn chồng, người đàn bà kiếm được việc làm ở một nhà kia. Nhà họ không giàu gì nhưng thương cảnh ngộ nàng, có ý giúp đỡ cho qua những ngày thảm đạm. ở đây, người đàn bà kiếm mỗi ngày hai bữa, trong đó có một bữa cháo bữa khoai. Nhờ lanh lẹn và xinh xắn nên nàng lấy được cảm tình của chủ. Nhưng hình dáng người chồng thân yêu không bao giờ phai nhạt trong tâm trí nàng.

Thời gian trôi nhanh như nước chảy. Người ta đã bớt nhắc đến trận đói khốc liệt vừa qua. Nàng thì ngày ngày hồi hộp chờ đợi chồng. Nhưng cây bưởi trước sân đã ba lần trổ hoa mà chồng nàng vẫn không thấy tăm dạng.

Giữa lúc ấy người chủ đã từng bao bọc nàng trong lúc đói, vừa chết vợ. Sẵn có tình cảm với nàng, người ấy ngỏ ý muốn được nối duyên cùng nàng. Nhưng người ấy đâu có hiểu được lòng của người thiếu phụ. Câu trả lời của nàng là:

– Chồng tôi hẹn tôi trong ba năm sẽ về. Đến bây giờ tôi mới tin là chồng tôi đã chết. Vậy cho tôi để tang chồng trong ba năm cho trọn đạo.

Ba năm nữa lại trôi qua một cách chóng vánh. Không tin tức cũng chẳng có một lời đồn về người chồng. Hàng ngày, những buổi chiều tà, nàng vẫn đăm đăm nhìn bóng người đi lại trên con đường cái quan. Và rồi nàng khóc cạn cả nước mắt. Người đàn ông kia giục nàng quyết định:

– Một là chồng nàng đã chết, hai là còn sống nhưng đã lập gia đình khác ở một nơi xa xôi hẻo lánh. Đằng nào nàng cũng khó mong tái hợp. Âu là cùng tôi lập một gia đình mới. Sức của tôi và của của tôi đủ bảo đảm cho nàng sung sướng trọn đời.

Nàng sửa lại vành khăn trắng đã ngả màu, cảm ơn hậu tình của anh ta và xin rốn chờ cho một năm nữa. Một năm nữa lại trôi qua không mang lại một tin tức gì mới mẻ. Lần này nàng mới tin là chồng mình chết thật. Sau một bữa rượu cúng chồng và đãi họ hàng làng xóm, nàng đến ở cùng người chồng mới.

* * *

Đột nhiên sau đó ba tháng, người chồng cũ xách khăn gói trở về quê hương. Chàng không có vẻ gì khấm khá hơn trước. Chàng chỉ ôm một hy vọng là được gặp lại người vợ yêu. Nhưng vườn cũ nay đã thuộc về chủ mới. Chàng lẩm bẩm: – “Thế là hết. Bởi số cả!”.

Việc người đàn ông đột ngột trở về làm cho mọi người ngơ ngác. Nhất là đôi Vợ chồng mới cưới không còn biết ăn nói làm sao bây giờ. Người đàn bà xấu hổ không dám gặp mặt. Nhưng người chồng cũ đã tìm đến họ và an ủi họ.

– Tôi đi vắng lâu quá. Cái đó hoàn toàn là lỗi ở tôi. Nàng xử sự như thế rất đúng. Tôi chỉ cần về gặp nàng một chút. Thế là đủ. Bây giờ tôi sẽ đi khỏi nơi này mãi mãi.

Mặc dầu người vợ nài nỉ hết sức, mặc dầu người chồng mới xin trả lại vợ, nhưng chàng nhất quyết dứt áo ra đi. Chàng không nỡ phá hạnh phúc của họ. Mà chàng cũng không có gan đi đâu xa vì không thể quên được vợ cũ. Băn khoăn dằn vặt hành hạ tâm trí chàng. Đầu óc rối như mớ bòng bong. Chàng nghĩ đến cái chết và trong một lúc cuồng loạn, chàng tự treo cổ lên cây đa đầu làng.

Cái chết kinh khủng đó như một tiếng sét nổ vào đầu người đàn bà. Nàng cảm thấy chính mình là thủ phạm gây ra cái chết của người chồng cũ. Tại sao ta chờ chồng được bảy năm trời mà không ráng chờ thêm ít lâu nữa? Tại sao thấy chồng trở về, ta không dám giáp mặt? Nàng không tự chủ được nữa. Tất cả những câu hỏi như lên án một cách âm thầm nhưng kịch liệt trong đầu óc nàng.

Thế rồi buổi sáng hôm sau, trong khi người ta sắp sửa cất đám người đàn ông bạc mệnh thì người ta lại hoảng hốt kéo nhau đi vớt tử thi người đàn bà dưới cái ao bên cạnh nhà.

Người chồng mới sau khi làm ma cho vợ, trở nên như người mất trí. Hai cái chết đánh mạnh vào đầu óc mọi người, riêng đối với chàng chưa bao giờ có một sự xúc động dữ dội đến như thế. Chàng luôn miệng kêu to: – “Tại sao ta cố ý cướp vợ của người khác!”. Rồi một hôm, sau khi đem hết gia sản chia cho họ hàng và cúng vào chùa, chàng uống thuốc độc tự tử.

Lúc xuống đến thế giới bên kia, cả ba người đều được đưa tới trước tòa án của Diêm vương để định công luận tội. Tất cả mọi người một khi đã đến đây đều phải khai rõ sự thật.

Theo lời khai của người chồng cũ thì chàng không thể nào xa lìa vợ cũ. Chàng sở dĩ chết ở làng là chỉ mong luôn luôn được gần gũi nàng. Người chồng mới cũng khai rằng chàng có cảm tình rất sâu xa đối với người vợ mới mặc dầu mới chính thức lấy nhau chỉ có ba tháng. Khi Diêm vương hỏi tình của chàng đối với người vợ cũ như thế nào thì chàng giơ ngón tay so sánh rằng một bên mười, một bên chưa được một. Đến lượt người đàn bà thì nàng thú thật rằng cái tình của nàng đối với chồng cũ choán một chỗ rộng rãi trong lòng mình, đồng thời đối với người chồng mới, nàng cũng không thể nào quên được tình cảm nồng nhiệt của chàng.

Diêm vương ngồi nghe rất cảm động. Những người như thế này cũng thật hiếm có. Cần phải làm cho bộ ba ấy sống gần nhau mãi mãi. Sau một hồi lâu suy nghĩ, Diêm vương cho ba người hóa thành ba ông đầu rau để cho họ khỏi lìa nhau và để cho ngọn lửa luôn luôn đốt nóng tình yêu của họ. Đồng thời, vua còn phong cho họ chức Táo quân trông nom từng bếp một, nghĩa là từng gia đình một trên trần thế.

Sự Tích Ông Táo Về Trời

[alert style=”danger”]

Sự tích ông Táo về Trời [hay truyện Sự tích Táo quân] đề cao nghĩa vợ tình chồng là nền tảng hạnh phúc gia đình và giải thích tục lệ cúng ông Công, ông Táo.

[/alert]

Cuộc hôn nhân tan vỡ

Ngày xửa ngày xưa, có hai vợ chồng nhà nọ, lấy nhau đã lâu rồi nhưng mà có được mụn con nào. Một hôm, vì phiền muộn và áp lực hai bên gia đình quá nên xảy ra cãi nhau. Người chồng không làm chủ được, đã đánh vợ hơi quá tay. Chị vợ tủi thân, liền bỏ nhà đi biệt xứ.

Chị đi mãi, đi mãi, cuối cùng duyên số đưa đẩy, chị tái hôn với một người làm nghề thợ săn trên miền ngược. Hai vợ chồng sống với nhau cũng rất hạnh phúc.

Lại nói về người chồng cũ, sau khi vợ bỏ nhà ra đi được mấy ngày, anh ta vô cùng hối hận về những việc mình đã làm trong lúc nóng nảy. Anh gom góm tiền bạc lại, rồi lên đường tìm vợ về.

Nhưng trời đất bao la, biết đi đâu để tìm. Anh đi khắp nơi, đi đến khi hết sạch cả số tiền mang theo bên mình vẫn không bỏ cuộc. Anh làm thuê kiếm thêm chút tiền dọc đường để có thể tiếp tục cuộc hành trình của mình. Nhưng vì trên đường đi phải trải qua nhiều nỗi vất vả cũng như thường xuyên phải dầm mưa dãi nắng suốt ngày nên sinh ra ốm đau, tiều tụy, phải xin ăn dọc đường để đi tìm vợ.

Cuộc hội ngộ bất ngờ

Một hôm, trời xui đất khiến thế nào, anh ta vào đúng nhà người vợ của mình xin ăn. Sau khi nghe chuyện, chị chỉ còn biết ôm lấy chồng cũ mà nức nở. Bao nhiêu hờn tủi trước đây chị đã quên hết từ lâu. Thấy người chồng cũ vì đi tìm mình mà trải qua bao khó khăn vất vả, tiều tụy đi nhiều quá, chị xót thương muôn phần.

Chị liền vào bếp, nấu một bữa ăn tươm tất cho anh chồng cũ ăn lại sức. Sau nhiều ngày lang thang bị cơn đói hành hạ, anh chồng cũ ngồi đánh chén ngon lành. Ăn xong anh ta ngủ thiếp đi vì mệt. Càng nhìn anh, chị càng thương anh, xót xa cho số kiếp của mình.

Khi sắp đến giờ chồng đi săn về, chị cố đánh thức người chồng cũ nhiều lần dậy nhưng không được. Có lẽ lâu ngày không biết đến việc ăn no ngủ say, nên nhất thời không tỉnh được.

Thấy tiếng chồng đầu ngõ, chị hoảng quá, vội lấy hết sức mình cố gắng bế người chồng cũ vẫn còn đang ngủ ra đống rơm sau nhà, phủ rơm lên người giấu tạm, để tránh những điều tiếng không hay.

Anh chồng vừa về, vác theo một con cầy rất to. Hôm nay có vẻ là một ngày đi săn khá thành công. Anh vui vẻ bảo chị vợ chạy ra chợ mua ít gia vị để ướp thịt cầy. Chả mấy săn được con cầy to thế, anh định bụng sẽ mời thêm mấy người hàng xóm thân thiết với gia đình lát nữa sang uống rượu.

Khi người vợ ra ngoài, anh thợ săn ở nhà lôi con cầy ra đống rơm để thui. Lửa bén vào chỗ người chồng cũ bùng lên, vô tình thui luôn người đàn ông xấu số đang ngủ mê mệt sau một bữa cơm no rượu say và những tháng ngày nhọc nhằn vất vả đi tìm vợ.

Sự tích ông Táo [hay Sự tích Táo quân]

Đúng lúc ấy, chị vợ về tới nhà. Chị kinh hoàng nhìn ngọn lửa đang nuốt chửng người chồng cũ. Chị kêu khóc thảm thiết. Đau khổ và dằn vặt, chị lao thẳng vào đống rơm đang cháy bùng bùng chết theo chồng cũ.

Người thợ săn vô cùng hốt hoảng, do tình huống bất ngờ, anh ta không ngăn kịp vợ. Như hiểu ra sự tình, thương vợ và hối hận, anh cũng lao vào đống rơm tự vẫn cùng vợ. Hôm ấy là một ngày cuối đông, tiết trời lạnh giá, ngày Hai mươi ba tháng Chạp Âm lịch.

Ngọc Hoàng trên trời thấy ba người ăn ở có tình có nghĩa, đến chết vẫn gần nhau bèn cho họ hóa thành ba ông đầu rau, để họ có thể tiếp tục sống cùng với nhau trong ngọn lửa hồng ấm áp. Sắc phong cho ba người họ thành Táo quân, trông coi việc bếp núc trên trần gian.

Hàng năm, cứ vào ngày Hai mươi ba tháng Chạp, Táo quân lại cưỡi cá chép lên Trời, tâu với thiên đình về việc làm ăn cũng như cách cư xử của từng gia đình dưới hạ giới.

Về sau, người dân thường mua cá chép về thắp hương tổ tiên để tiễn ông Táo chầu Trời vào ngày Hai ba tháng Chạp Âm lịch. Cúng xong sẽ mang cá ra ao hồ, sông suối để thả. Đây là một nét văn hóa riêng của người Việt, tục lệ này bắt nguồn từ câu chuyện Sự tích ông Táo kể trên.

Sự tích ông Táo về Trời [hay truyện Sự tích Táo quân] Truyện dân gian kể

[alert style=”danger”]

[button url=”https://truyendangian.com/truyen-truyen-thuyet/” style=”danger” target=_blank]➤ Những truyền thuyết nổi tiếng[/button]

[/alert]

Ý nghĩa truyền thuyết Sự tích ông Táo [hay Sự tích Táo quân]

Con người ta ăn ở với nhau phải có nhân có nghĩa, có thủy có chung, trước hết từ trong ra đình, sau ra ngoài xã hội. Đó là truyền thống đạo đức hết sức quý báu của nhân tân ta vốn có từ xưa.

Nhiều truyền thuyết cũ, truyền thuyết cổ xa xưa còn truyền lại tới ngày này thường đề cao, tô đậm truyền thống nhân nghĩa thủy chung vô cùng đẹp đẽ đó. Và truyền thống đạo lí đẹp đẽ đó đã làm nảy nở không ít những thiên truyền thuyết và cổ tích trữ tình đầy thú vị, làm rạng rỡ thêm cho nền văn chương dân gian phong phú của dân tộc ta.

Câu chuyện có ý nghĩa đề cao cái lẽ nhân nghĩa thủy chung trong đạo vợ chồng, là nền tảng hạnh phúc của mỗi gia đình xưa cũng như này. Cùng với câu chuyện truyền thuyết đặc sắc này, cái lẽ nhân nghĩa thủy chung đó sẽ không bao giờ mai một đi trong truyền thống đạo lí của người Việt Nam.

Ông Bụt Trong Các Truyện Cổ Tích

Đề bài: Em đã gặp hình ảnh ông Bụt trong các truyện cổ tích nào? Em có càm nghĩ gì về nhân vật này?

– Giới thiệu hình ảnh ông Bụt trong các truyện cổ tích Việt Nam.

– Cảm nghĩ chung: Bụt giúp đỡ người hiền lành chiến thắng kẻ ác.

1. Bụt trong các truyện cổ tích nào?

Truyện Tấm Cám, truyện Cây tre trăm đốt.

2. Cảm nghĩ về nhân vật Bụt:

Trong xã hội cũ, Tấm bị hãm hại, bóc lột: trút trộm tôm tép, giết bống, trộn thóc với gạo bắt cô ngồi nhặt… Anh Khoai bị bóc lột, lừa dối, trở mặt nuốt lời, bị bắt phải tìm ra cây tre trăm đốt, tuyệt vọng ngồi khóc hu hu trong rừng vắng. Nhân dân ta đã sáng tạo ra hình ảnh ông Bụt đề giúp đỡ kẻ khó người hiền thắng bọn hung ác.

Ngày nay nhân dân không còn mong chờ ở Bụt mà tin tưởng vào đường lối cách mạng, tổ chức và luật pháp cách mạng nghiêm minh để xã hội công bằng phát triển.

Có một hình ảnh nhân vật mà trong đời sống thường ngày xưa nay, mọi người chưa hề được gặp, nhưng lại rất quen thuộc trong các truyện dân gian của chúng ta. Nhân vật này đã từng biết bao lần giúp đỡ cô Tấm hiền lành, siêng năng, chăm chỉ trong truyện Tấm Cám và anh Khoai chân thực, chất phác trong truyện Cây tre trăm đốt. Đó là Bụt mỗi lần xuất hiện là mồi lần Bụt cứu khổ cứu nạn cho người hiền lành chiến thắng kẻ ác giúp cho cái tốt đẩy lùi cái xấu.

Hình ảnh nhân vật Bụt trong truyện cổ tích đúng là dấu ấn của một thời xa xưa cho thấy khát vọng lớn của nhân dân ta khi ấy

Ngày nay chính quyền nằm trong tay nhân dân, đấu tranh cho quyền lợi những người lao động nghèo khổ. Cả pháp luật cũng đứng về phía giới người này. Người xấu và kẻ ác dù giòi tài lừa dối, tráo trở đến đâu trước sau gì cũng bị toà ăn kêu đúng tên, trị đúng tội mà thôi. Đó là chuyện thời nay chứ còn thời xưa cô Tấm và anh Khoai đau đớn ức oan còn biết kêu ai nữa nếu không phải là nhờ đến Bụt, một hình ảnh nhân vật do trí tưởng tượng của nhân dân đã sáng tạo nên. Ta thử nhớ lại: mẹ con Cám trong truyện Tấm Cám trước đã dùng mọi hành động nhó nhen độc ác để hãm hại cô Tấm. Họ đã trút lén giỏ tép, giết con Bống vô tội, lại trộn thóc với gạo bắt cô ngồi nhặt để không có thời gian dự hội ướm giày. Khó mà kể xiết những tội ác khó dung tha của bọn họ. Làm sao mà nhớ xuể hết biết bao lần cô Tấm một mình ngồi khóc, nước mắt giọt ngắn giọt dài thảm thiết. Hoàn cảnh của anh Khoai trong truyện Cây tre trăm đốt nào khá chi hơn. Anh bị lão phú nông lừa dối lường công. Hắn hứa gả con gái. út cho anh rồi tráo trở nuốt lời. Sau đó lại lừa gạt bắt anh phải vào rừng tìm cho ra cây tre trăm đốt thì việc cưới hỏi mới thành. Nhưng làm gì có cây tre trăm đốt mà hòng kiếm tìm? Phải chăng là biết như vậy nên anh ngồi lại trong rừng vắng mà khóc hu hu một mình. Anh khóc cho vơi đi nỗi đau khổ cho riêng mình. Làm chi đây? Đâu lẽ kẻ ác cứ hoành hành mãi để cho người hiền lành, chân thật cứ khốn khổ mãi sao. Đâu chỉ riêng anh mà cả đông đảo nhân dân đều mơ ước một xã hội công bằng, tốt đẹp. Muốn có sự thay đổi để đạt đến ước mơ vừa nói nhưng nhân dân ngày xưa không có điều kiện biến ước mơ thành hiện thực. Biết làm sao hơn ngoài việc kí thác tâm tư, nguyện vọng của mình vào lời ca, truyện kế trong đó có truyện cổ tích. Nhân dân đã sáng tạo nên hình ảnh ông Bụt đầy phép nhiệm màu có thể làm thay đổicuộc đời của mỗi nhân vật trong hiện thực đời sống chưa thể có điều kiện đổi thay. Do đó mà trong truyện Tấm Cám, mỗi lần cô Tấm lên tiếng khóc vì bị ức hiếp đau khổ là mỗi lần Bụt hiện lên an ủi và giúp đỡ. Bụt đã cho gà bới tìm xương bống rồi bảo cô cho vào lọ chôn dưới chân giường. Bụt cũng đã cho đàn chim xuống nhặt thóc giúp cô để cô còn kịp giờ đi dự hội. Từ chiếc xương bống, Bụt đã biến giúp cho cô Tấm có đầy đủ cả quần áo đẹp, giày thêu, ngựa hồng các thứ “lễ bộ” để cô thêm xinh đẹp, có điều kiện gặp gỡ nhà vua và trở thành hoàng hậu. Trong truyện Cây tre trăm đốt cũng thế, khi anh Khoai một mình ngồi khóc hu hu thì Bụt cũng đã kịp thời hiện ra giúp anh phép lạ có thể nhập trăm đốt tre lại thành cây tre trăm đốt và ngược lại cũng có thể tách rời cây tre “vô tiền khoáng hậu” ấy thành ra trăm đốt tre rời, đủ để trừng phạt lão phú ông, khiến lão một phen khiếp vía đành phải gả cô út cho anh. Bụt, như vậy, đã hồ trợ người hiền lành, chân thật, giúp cho Thiện thắng Ác và công lí được thực hiện dầu chỉ là thực hiện bằng tưởng tượng và mơ ước.

Hình ảnh nhân vật Bụt trong truyện cổ tích đúng là dấu ấn của một thời xa xưa cho thấy khát vọng lớn của nhân dân ta khi ấy.

Ngày nay, nhân dân ta tuy vẫn mong muôn một xã hội công bằng, văn minh, tiến bộ, trong đó người hiền lành, chân thật được biếu dương, khen ngợi, kẻ gian ác bất nhân bị lên án và bị trừng phạt. Duy có điều khác xưa nhân dân ta không còn mong chờ vào lực lượng siêu hình mà tin tưởng vào hiện thực với đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng, tổ chức trong sạch, pháp luật nghiêm minh nhất định từng bước xã hội tốt đẹp, hạnh phúc sẽ đến với tất cả mọi người.

Từ khóa tìm kiếm

Truyện Cây Táo Thần

Câu chuyện Cây táo thần

Truyện cây táo thần kỳ là bài học ý nghĩa, khuyên các bé không nên sống ích kỉ, hãy biết chia sẻ niềm vui với mọi người để hạnh phúc được nhân lên gấp bội.

Ngày xửa ngày xưa, đã lâu lắm rồi, có một cây táo thần mọc trong vườn ở ngoại ô thành phố.

Hàng ngày, bọn trẻ thường đến chơi ở đó, nô đùa xuy quanh cây táo và bứt những quả táo thơm ngon trên cành cùng chia nhau ăn.

Một hôm, có một cậu bé xuất hiện. Cậu bé cau mày nói với bọn trẻ:

– Khu vườn này là của tôi. Cây táo này cũng là của tôi. Các bạn đi chỗ khác mà chơi, và không bao giờ được đến đây nữa!

Nghe vậy, bọn trẻ rất buồn bã. Tất cả cúi đầu lặng lẽ ra về, chỉ còn cậu bé hống hách ở lại.

Cây táo biết tất cả mọi chuyện. Cây táo hóa phép cho cậu bé ngủ thiếp đi dưới gốc cây và làm cho cậu chìm dần vào giấc mơ.

Trong giấc mơ, cậu bé thấy trên thân cây táo có một cái hốc rất lớn. Cậu bé cảm thấy bụng đói cồn cào. Cậu trèo lên cây và định bứt táo để ăn. Nhưng mỗi khi tay cậu bé sắp chạm vào một quả táo thì cây táo lại quay đi chỗ khác và quả táo lại rơi vào trong cái hốc to tướng ở thân cây.

Cứ như vậy cho đến khi tất cả táo trên cành rơi hết vào hốc cây, chỉ còn lại một quả trên cành.

Cậu bé ngồi dưới gốc cây và khóc. Đến lúc đó cây táo mới cất tiếng hỏi:

– Tại sao cháu khóc?

Cậu bé mếu máo trả lời:

– Ông ích kỉ quá. Ông ăn hết táo, ông không cho cháu một quả nào. Cháu đói lắm rồi, ông ạ!

Cây táo cười và nói:

– Cháu có nhớ là cháu đã đuổi hết tất cả các bạn không? Các bạn cũng muốn ăn táo, nhưng cháu không cho các bạn một quả nào. Như vậy cháu có ích kỉ không?

Cậu bé nhớ lại lúc các bạn buồn rầu ra về. Cậu thấy ân hận vô cùng. Cậu bé ngước nhìn cây táo và nói:

– Vâng ạ, cháu biết lỗi rồi!

Cây táo cất tiếng cười vang, rung cả cây, làm cho quả táo còn lại rơi trúng đầu cậu bé. Cậu bé giật mình tỉnh giấc và ngơ ngác nhìn xung quanh. Cậu thấy mình vẫn nằm dưới gốc cây. Cái hốc to tướng trên cây táo biến mất. Cây táo vẫn đứng yên lặng và trên cây vẫn sai trĩu quả.

Cậu bé ngồi dậy, nhớ đến giấc mơ, cậu vội chạy đi gọi các bạn:

– Các bạn ơi! Quay lại đây chơi đi. Mình xin lỗi vì đã đuổi các bạn đi!

Thế là tất cả cùng nhau chạy ra vườn. Cậu bé tự mình trèo lên bứt những quả chín ném xuống cho các bạn. Các bạn lại cười đùa vui vẻ. Cậu bé chợt hiểu ra rằng: Điều hạnh phúc nhất là cùng chia sẻ niềm vui với mọi người.