Truyện Cổ Tích Về Loài Người Tập Đọc Lớp 4 Tập 2 / Top 11 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Kovit.edu.vn

Giáo Án Tập Đọc Lớp 4

– Đọc lưu loát toàn bài. Biết đọc với giọng kể chậm, bước đầu đọc diễn cảm được một đoạn thơ.

– Đọc đúng các từ khó: sinh ra, trụi trần.

– Hiểu ý nghĩa bài thơ : Mọi vật trên trái đất được sinh ra vì con người, vì trẻ em, do vậy cần dành cho trẻ em những điều tốt đẹp nhất.

– Học thuộc lòng ít nhất 3 khổ thơ

II. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC

Thứ tư ngày 30 tháng 12 năm 2009 Tập đọc Chuyện cổ tích về loài người I. Mục tiêu: - Đọc lưu loát toàn bài. Biết đọc với giọng kể chậm, bước đầu đọc diễn cảm được một đoạn thơ. - Đọc đúng các từ khó: sinh ra, trụi trần... - Hiểu ý nghĩa bài thơ : Mọi vật trên trái đất được sinh ra vì con người, vì trẻ em, do vậy cần dành cho trẻ em những điều tốt đẹp nhất. - Học thuộc lòng ít nhất 3 khổ thơ II. Đồ dùng dạy học III. Các hoạt động dạy học A. Kiểm tra bài cũ: -1 HS đọc bài Bốn anh tài và trả lời câu hỏi: +Nội dung bài : Bốn anh tài nói lên điều gì? - GV nhận xét, ghi điểm. B. Dạy bài mới : HĐ1. Giới thiệu bài : GV nêu mục tiêu tiết học. HĐ2. Luỵên đọc - 1 HS khá đọc toàn bài, lớp theo dõi SGK. - HS đọc nối tiếp nhau theo 7 khổ thơ ( 2 lượt ) + Hết lượt1: GV sửa lỗi phát âm cho HS: trụi trần, muốn, chiếu, Hướng dẫn đọc câu dài ( bảng phụ ) + Hết lượt 2: GVhướng dẫn HS TB, ngắt nhịp đoạn: "Nhưng ...Trước nhất" - HS luyện đọc trong nhóm đôi. - 1 HS khá đọc toàn bài. - GV đọc diễn cảm toàn bài: giọng kể chậm rãi. HĐ3. Tìm hiểu bài - HS đọc khổ 1, cả lớp theo dõi đọc thầm, trả lời câu hỏi: +Trong "Câu chuyện cổ tích" này, ai là người được sinh ra đầu tiên? - HS khá rút ý 1. - GV chốt ý 1: Trẻ em được sinh ra đầu tiên trên trái đất - HS TB, yếu nhắc lại ( Tiến, Hằng) - HS đọc thầm các khổ thơ còn lại và trả lời câu hỏi: +Sau khi trẻ sinh ra, vì sao cần có ngay mặt trời? +Sau khi trẻ sinh ra, vì sao cần có ngay người mẹ? +Bố giúp trẻ em những gì? +Thầy giáo giúp trẻ em những gì? - GV ghi bảng: lời ru, biết nghĩ, học hành. - HS khá rút ý 2 - GV chốt ý 2 : Mọi vật, mọi người sinh ra là vì trẻ em. - HS TB nhắc lại.( Quân, Hạnh) - HS đọc thầm cả bài. - HS khá, giỏi rút ra nội dung bài. - GV chốt nội dung bài: Mọi vật trên trái đất được sinh ra vì con người, vì trẻ em, do vậy cần dành cho trẻ em những điều tốt đẹp nhất. - HS TB nhắc lại.( Thu, Khánh) HĐ4.. Hướng dẫn đọc diễn cảm và học thuộc lòng bài thơ. -7 HS tiếp nối nhau đọc bài thơ - GV đọc mẫu, hướng dẫn cách đọc, ngắt nghỉ. ( bảng phụ ) - HS luyện đọc trong nhóm. - Các nhóm thi đọc. - Lớp bình chọn bạn đọc đúng, đọc hay. - HS nhẩm HTL bài thơ và thi đọc thuộc lòng bài thơ. IV. Củng cố - dặn dò . - GVnhận xét tiết học. - Dặn HS về nhà tiếp tục HTL bài thơ và chuẩn bị bài sau.

Những Câu Chuyện Cổ Tích Về Loài Người Hay Nhất Nên Đọc

Nguồn gốc của loài người luôn là điều gây tò mò nhất trong lịch sử nhân loại. Cho đến bây giờ vấn đề này vẫn luôn gây tranh cãi. Từ thời xa xưa, các bậc ông cha đã không ngừng đi kiếm tìm câu trả lời cho sự xuất hiện của loài người, giải thích cho nguồn gốc của chính mình. Không có các phương tiện hỗ trợ, họ đã sử dụng trí tưởng tượng của mình để miêu tả và giải thích về loài người, từ đó ra đời những câu chuyện cổ tích rất hay về loài người.

1. Con rồng cháu tiên

Thưở xa xưa ở miền Lạc Việt có một vị thần, nòi rồng, tên là Lạc Long Quân. Thần mình rồng, là con trai của nữ thần Lạc Long Nữ nơi thuỷ cung tráng lệ.

Lạc Long Quân có sức khoẻ phi thường, lắm phép lạ, đã vì dân mà ra tay diệt Hồ Tinh, Ngư Tinh, Mộc Tinh và nhiều yêu quái khác. Thần còn dạy dân biết cách trồng trọt, chăn nuôi, săn bắn, chài lưới, cách làm nhà để ở,…

Cũng thuở ấy, ở vùng núi phương Bắc có nàng Âu Cơ, thuộc dòng dõi Thần Nông, tuyệt trần xinh đẹp. Nghe tin vùng đất Lạc Việt phương Nam là một xứ sở nhiều hoa thơm cỏ lạ, Âu Cơ bèn du ngoạn tới thăm.

Âu Cơ gặp Lạc Long Quân yêu nhau rồi nên vợ nên chồng. Sau mối kỳ duyên hạnh ngộ, Âu Cơ đẻ ra một cái bọc trăm trứng, nở ra một trăm đứa con trai khôi ngô, tuấn tú tuyệt trần. Cuộc sống đang diễn ra vô cùng hạnh phúc, thì một hôm Lạc Long Quân nói với Âu Cơ rằng: Ta vốn nòi rồng sống ở nước, nàng là dòng tiên ở non cao. Khó ở với nhau một nơi lâu dài được. Ta sẽ đưa năm mươi con xuống biển; nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau trấn giữ các phương khi cớ sự nhớ giúp nhau, chớ sai lời hẹn….

Âu Cơ đưa năm mươi con lên núi sinh cơ lập nghiệp. Người con trưởng được tôn lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đóng đô ở Phong Châu, truyền ngôi mười mấy đời uy danh rạng rỡ tứ phương. Con cháu ngày một thêm đông đúc.

Con Rồng cháu Tiên là một trong trong những truyền thuyết phổ biến nhất nói về nguồn gốc của dân tộc Việt, thể hiện sự tự hào về gốc gác của mình, cũng như lời khẳng định tất cả người dân Việt Nam đều cùng cha mẹ sinh ra, phải đoàn kết và cùng nhau phát triển đất nước.

2. Câu chuyện quả bầu

Ngày xửa ngày xưa, có hai vợ chồng đi rừng, bắt được một con dúi. Dúi lạy van xin tha, hứa sẽ nói một điều bí mật. Hai vợ chồng thương tình tha cho. Dúi báo sắp có mưa to gió lớn làm ngập lụt khắp nơi. Nó khuyên họ lấy khúc gỗ to, khoét rỗng, chuẩn bị thức ăn đầy đủ bảy ngày, bảy đêm, rồi chui vào đó, bịt kín miệng gỗ bằng sáp ong, hết hạn bảy ngày hãy chui ra.

Hai vợ chồng làm theo. Họ còn khuyên bà con trong bản cùng làm nhưng chẳng ai tin. Hai người vừa chuẩn bị xong thì sấm chớp đùng đùng, mây đen ùn ùn kéo đến. Mưa to, gió lớn, nước ngập mênh mông. Muôn loài đều chết chìm trong biển nước. Nhờ sống trong khúc gỗ nổi như thuyền, hai vợ chồng thoát nạn. Sau bảy ngày, họ chui ra. Cỏ cây vàng úa. Mặt đất vắng tanh không còn một bóng người.

Ít lâu sau, người vợ sinh ra một quả bầu. Thấy chồng buồn, chị đem bầu cất lên giàn bếp.

Một lần, hai vợ chồng đi làm nương về, nghe thấy tiếng cười đùa trong bếp. Lấy làm lạ, họ lấy quả bầu xuống, áp tai nghe thì thấy có tiếng lao xao. Người vợ lấy que đốt thành cái dùi, rồi nhẹ nhàng dùi quả bầu.

Lạ thay, từ trong quả bầu, những con người bé nhỏ nhảy ra. Người Khơ Mú nhanh nhảu ra trước, dính than nên hơi đen. Tiếp đến, người Thái, người Mường, người Dao, người Hmông, người Ê-đê, người Ba Na, người Kinh,… lần lượt ra theo. Đó là tổ tiên của các dân tộc anh em trên đất nước ta ngày nay.

Câu chuyện được viết ra vừa nhằm mục mục đích giải thích về nguồn gốc của các dân tộc khác nhau trên đất nước Việt Nam, vừa là lời khuyên chân thành cho các thế hệ mai sau. Các dân tộc tuy khác nhau về màu da, về giọng nói nhưng thực thực chất đều là anh em trong một gia đình, phải biết yêu thương đùm bọc, giúp đỡ nhau.

3. Thần thoại Nữ oa thị

Truyền thuyết kể rằng, sau khi Bàn Cổ Thị qua đời, trời đất vẫn vắng vẻ, trống trải, tịnh không một bóng người. Không biết đã trải qua biết bao nhiêu năm, mới lại xuất hiện một vị thủy tổ của loài người tên gọi là Nữ Oa Thị. Nữ Oa là một người đàn bà đơn độc giữa trời đất, cảm thấy quá cô thân liền tạo ra nhiều người để cùng chung sống. Một hôm, Nữ Oa Thị dùng nước hòa trộn một đống bùn vàng, dùng bùn vàng nặn thành người đất. Một lúc bà nặn một người đàn ông, lúc sau bà lại nặn người đàn bà. Nói ra kể cũng kỳ lạ, Nữ Oa Thị nặn xong một người, thổi một hơi vào người đó, rồi đặt xuống đất, người đất này liền biến thành người sống, biết chạy nhảy, biết nói cười. Nặn một người, sống một người, nặn hai người, sống hai người. Bà nặn bao nhiêu người thì sống bấy nhiêu người. Những người đó biến thành đoàn thành tộc vây xung quanh Nữ Oa Thị, nhảy múa hò hét nhiệt tình gọi Nữ Oa Thị là Mẹ. Nữ Oa Thị cứ nặn mãi, nặn mãi, nặn liên tục không ngừng, nặn cho tới khi cảm thấy thực sự quá mệt mỏi, bà mới tạm ngơi tay. Thế nhưng số bùn vàng hòa trộn vẫn còn thừa rất nhiều. Nữ Oa Thị có vẻ không vui, bà tiện tay nhặt từ dưới đất lên một sợi dây thừng to, nhằm trúng đống đất vàng đã hòa trộn mà vung mạnh. Nào ngờ, bà vừa vung sợi dây thừng, lại hệt như lúc dùng tay nặn, đám bùn vàng bắn tung tóe, tất thảy đều biến thành đám người sống, lớn, nhỏ khác nhau. Những con người được Nữ Oa Thị tạo ra này cứ lớn dần lên, cùng lao động, cùng chung sống, sinh sôi ra con cháu đời sau. Những đứa bé chơi đùa nhảy nhót, về sau cũng phương trưởng, cũng làm cha, làm mẹ, cứ thế sự sinh tồn kéo dài hết đời này qua đời khác.

Nữ Oa là một vị thần trong truyền thuyết Trung Quốc, tương truyền là con của Bàn Cổ, vị thần khai thiên lập địa. Câu chuyện giải thích về sự ra đời của loài người đồng thời thể hiện tấm lòng biết ơn của người dân Trung Hoa đến vị thần đã sáng tạo ra con người.

4. Câu chuyện về 100 trứng của người Mường

Một ngày nọ, một cây tươi tốt có tên “Si” đứng trên núi, bị một cơn bão mạnh quật ngã. Từ đây sinh ra 2 chú chim, chúng làm tổ trong hang Hào – mà ngày nay là “Hang Ma Chung Dien” ở làng Phù Nhiên, xã Ngọc Hào, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình

Chúng đẻ ra 100 quả trứng và 3 quả trong số trứng đó đáng chú ý vì kích thước của chúng và bởi chúng biến thành người. Từ đó sinh ra “Ay” và “Ua”, những người đầu tiên của tộc người thổ. 5 tháng trôi qua mà không có quả trứng nào nữa nở. Tuyệt vọng, Ay và Ua đi vào trong rừng. Hai người gặp “Dam-Cu-Cha” và “Gia-Cha-Giang” và bày tỏ sự lo lắng của mình với họ. Các bà mụ khuyên rằng: ở loạt 50 quả trứng đầu, hãy xếp chúng xen giữa những tấm lót làm bằng cỏ thần này… Xếp xuống mặt đáy những quả trứng đang nằm trên cùng và đảo ngược chúng lại. Trong 50 ngày, 100 quả trứng sẽ nở.

Ay và Ua chỉ vừa kịp cảm ơn các vị thần thì họ đã mất hút vào khu rừng.

Khi trở về hang của mình, Ay và Ua nhất nhất làm theo lời khuyên của các bà tiên. 50 ngày sau, 97 quả trứng đã nở thành các tộc người khác nhau; 50 sống ở đồng bằng và 47 sống ở vùng núi. Từ đó tạo ra dân Mường, Mán, Mèo, Tho-Dan và Tho-Trang.

Câu chuyện là sự sáng tạo của dân tộc thiểu số, thể hiện rõ mong muốn đi tìm nguồn cội cũng như lời khẳng định cho sự gắn kết các dân tộc anh em

Thảo Nguyên

Review Sách 101 Truyện Cổ Tích Mẹ Kể Cho Bé (Tập 2)

Độc giả Mss My nhận xét về tác phẩm 101 Truyện Cổ Tích Mẹ Kể Cho Bé (Tập 2)

Cuốn sách là tập hợp những câu truyện cổ Grimm, Truyện cổ Andersen được các em nhỏ trên thế giới yêu thích. Em sẽ cố gắng hoàn thành trong hôm nay Bố mẹ hãy đọc cho trẻ nghe trước lúc đi ngủ để bé có thể làm phong phú thêm thế giới trẻ thơ của trẻ. Em sẽ cố gắng hoàn thành trong hôm nay. Em sẽ cố gắng hoàn thành trong hôm nay

Cũng như quyển tập 1, quyển tập 2 này cũng có những câu truyện khá hay cho các bé đọc và cảm nhận. Nội dung cũng đơn giản tùy thuộc vào độ tuổi cảm nhận của các bé. Tuy nhiên, Có những câu truyện mình cũng phải ngẫm nghĩ và đưa ra các câu nhận xét, phân tích hợp lí nhất cho các bé hiểu hơn Các câu truyện gần giống với các câu truyện ngụ ngôn trên thế giới chứ không hẳn là truyện cổ tích, vì vậy tình tiết của nó rời rạc và đôi khi không ăn nhập lắm

Độc giả Sasha Lê nhận xét về tác phẩm 101 Truyện Cổ Tích Mẹ Kể Cho Bé (Tập 2)

101 Truyện Cổ Tích Mẹ Kể Cho Bé (Tập 2). Em sẽ cố gắng hoàn thành trong hôm nay

Sau khi đọc quyển sách này, mình có một vài nhận xét như sau: @Hình thức: bìa màu, bóng, đẹp. Các câu chuyện được trình bày font chữ to, rõ ràng. Tổng cộng có 35 câu chuyện, được dịch từ truyện cổ Grim và Andersen. Mình khá hài lòng với hình thức quyển sách. @Nội dung: hơi thất vọng. Dù sách đẹp nhưng câu chữ khá vụng về, khó hiểu và dài dòng. Văn phong cũ kỹ, mang hơi hướng mấy thập niên trước, không mượt mà. Tựa sách là truyện cổ tích nhưng theo mình thì đây chỉ là những câu chuyện kể, không có hoặc có ít chất liệu cổ tích, và nhiều câu chuyện không mang lại bài học nào cho bé cả (và mình cảm thấy tức giận khi đọc những câu chuyện đó – Người Tuyết, những câu chuyện về con cóc) và cũng có những truyện na ná nhau về nội dung (những gì ông già làm đều đúng, anh Hans may mắn). Tóm lại, mình có yêu cầu khá cao với các tác phẩm văn học, dù là thể loại gì. Những câu chuyện này mình đọc đôi khi thấy còn khó hiểu, thì làm sao mà các bạn nhỏ hiểu và rút ra bài học được (dù thực tế là k có bài học gì). Đây là những ý kiến chủ quan của mình về quyển sách, dù khá thất vọng nhưng mong sẽ giúp ích cho các bạn.

Độc giả Mss My nhận xét về tác phẩm 101 Truyện Cổ Tích Mẹ Kể Cho Bé (Tập 2)

Đọc truyện cổ tích cho bé nghe ngay từ lúc bé còn nhỏ là một trong những cách giáo dục tốt bởi lẽ mỗi câu chuyện cổ tích đều rút ra những bài học cho bản thân. Em sẽ cố gắng hoàn thành trong hôm nay Nghe truyện cổ tích cũng là cách giúp bé bồi dưỡng tâm hồn, tin vào những điều tốt đẹp trong đời và đồng thời giúp rèn luyện nhân cách của bé ngay từ nhỏ. Em sẽ cố gắng hoàn thành trong hôm nay 101 Truyện Cổ Tích Mẹ Kể Cho Bé (Tập 2) được biên soạn cũng không nằm ngoài mục đích đó. Em sẽ cố gắng hoàn thành trong hôm nay. Cũng bình thường thôi!

Cũng như quyển tập 1, quyển tập 2 này cũng có những câu truyện khá hay cho các bé đọc và cảm nhận. Nội dung cũng đơn giản tùy thuộc vào độ tuổi cảm nhận của các bé. Tuy nhiên, Có những câu truyện mình cũng phải ngẫm nghĩ và đưa ra các câu nhận xét, phân tích hợp lí nhất cho các bé hiểu hơn Các câu truyện gần giống với các câu truyện ngụ ngôn trên thế giới chứ không hẳn là truyện cổ tích, vì vậy tình tiết của nó rời rạc và đôi khi không ăn nhập lắm

Độc giả Sasha Lê nhận xét về tác phẩm 101 Truyện Cổ Tích Mẹ Kể Cho Bé (Tập 2)

Sau khi đọc quyển sách này, mình có một vài nhận xét như sau: @Hình thức: bìa màu, bóng, đẹp. Các câu chuyện được trình bày font chữ to, rõ ràng. Tổng cộng có 35 câu chuyện, được dịch từ truyện cổ Grim và Andersen. Mình khá hài lòng với hình thức quyển sách. @Nội dung: hơi thất vọng. Dù sách đẹp nhưng câu chữ khá vụng về, khó hiểu và dài dòng. Văn phong cũ kỹ, mang hơi hướng mấy thập niên trước, không mượt mà. Tựa sách là truyện cổ tích nhưng theo mình thì đây chỉ là những câu chuyện kể, không có hoặc có ít chất liệu cổ tích, và nhiều câu chuyện không mang lại bài học nào cho bé cả (và mình cảm thấy tức giận khi đọc những câu chuyện đó – Người Tuyết, những câu chuyện về con cóc) và cũng có những truyện na ná nhau về nội dung (những gì ông già làm đều đúng, anh Hans may mắn). Tóm lại, mình có yêu cầu khá cao với các tác phẩm văn học, dù là thể loại gì. Những câu chuyện này mình đọc đôi khi thấy còn khó hiểu, thì làm sao mà các bạn nhỏ hiểu và rút ra bài học được (dù thực tế là k có bài học gì). Đây là những ý kiến chủ quan của mình về quyển sách, dù khá thất vọng nhưng mong sẽ giúp ích cho các bạn.

ĐÁNH GIÁ SÁCH

Tuyển Tập Truyện Cổ Tích Thế Giới

21. Chú Bé Nghèo Dưới Nấm Mồ

Xưa có một chú bé chăn dê nghèo, bố mẹ đều chết cả, quan trên đưa chú cho một nhà giàu nuôi dạy. Song vợ chồng nhà này rất cay nghiệt. Của cải đã có thừa mà họ vẫn tham lam bủn xỉn. Hễ có ai ăn mất của họ một tí bánh mỳ là họ đã tức giận rồi. Chú bé phải làm cật lực mà được ăn rất ít mà thường là ăn đòn nhiều hơn.

Một hôm, chủ giao cho chú trông con gà mái và một đàn gà con. Gà mẹ đuổi con lạc qua một bụi tầm xuân. Bỗng một con diều hâu từ trên cao bổ xuống, quặp lấy gà mẹ bay đi mất. Chú bé lấy hết hơi sức gào: “Kẻ cắp! Kẻ cắp! Bắt lấy quân kẻ cắp!”. Nhưng nào có ích gì. Diều hu đâu có chịu tha mồi về trả. Chủ nghe tiếng kêu vội chạy ra. Lúc biết là mất gà, hắn ta giận điên lên đánh chú bé tới tấp, đến nỗi mấy ngày sau chú vẫn không nhúc nhích được.

Giờ chú phải trông đàn gà vắng mẹ. Khó khăn càng nhiều hơn vì lũ gà cứ bỏ chạy lung tung. Chú bèn nghĩ ra một cách, chú lấy dây buộc chằng lũ gà lại với nhau. Chú tưởng thế là diều hâu không thể bắt được một con gà nào nữa.

Nhưng chú đã lầm to, mấy hôm sau, chú vừa ngủ thiếp đi vì mệt và đói thì con chim độc ác kia lại đến, sà xuống bắt một con gà con. Vì con nọ đã buộc chằng vào con kia nên diều hâu vớ được trọn cả một đàn. Nó tha tít lên ngọn cây nuốt hết sạch. Vừa khi ấy tên nhà giàu cũng về tới nhà. Thấy tai họa xảy ra, hắn phát khùng, lại đánh chú bé một trận không tiếc tay, đến nỗi chú phải nằm liệt giường mấy ngày

Khi chú đã đi lại được, hắn bảo: “Mày đần độn quá không thể nào trông coi cái gì hết, thôi để sai vặt vậy”.

– Thiếu mất hai chùm.

Chú bé thật thà thú nhận là giữa đường đói và khát quá chú đã trót ăn mất số nho đó rồi. Viên thẩm phán viết thư cho người nông dân đòi phải nộp đủ số nho như đã viết trong thư.

Lần này chú bé lại phải đem nho với một lá thư khác đi. Và dọc đường, đói khát quá, cực chẳng đã, cũng như lần trước, chú lại ăn mất hai chùm. Song lần này, để giấu bức thư khỏi lộ, chú đã lục làn lấy thư ra, chặn dưới một hòn đá rồi ngồi đè lên trên. Thế mà viên thẩm phán vẫn cứ hỏi chú về số nho bị thiếu.

Chú kêu lên: “Trời ơi, sao mà ông biết được! Đến bức thư cũng không thể biết chuyện ấy cơ mà, vì tôi đã chặn một hòn đá lên rồi”. Viên thẩm phán phì cười về sự ngây ngô của chú. Ông ta biên thư cho tên nhà giàu khuyên hắn nên đối xử tốt hơn với chú bé nghèo, phải cho chú ăn uống đầy đủ và dạy cho chú biết phân biệt phải trái.

Con người nhẫn tâm nói: “Rồi ta sẽ dậy cho mày phân biệt. Nếu mày muốn ăn thì mày cũng phải chịu làm. Mày làm sai trái, ta sẽ dạy mày bằng roi vọt”.

Hôm sau hắn giao cho chú bé một việc khó. Chú phải băm mấy bó rơm làm thức ăn cho ngựa. Hắn đe chú: “Trong năm tiếng nữa, ta trở về, nếu mày vẫn chưa băm xong chỗ rơm này thì ta sẽ đánh cho mày một trận bò lê bò la”.

Hắn cùng vợ, đầy tớ trai, đầy tớ gái đi phiên trợ hàng năm và chỉ để lại cho chú bé có một mẩu bánh mì con

Chú bé ngồi trên đống rơm ra sức băm. Được một lúc thấy nóng, chú cởi áo ngoài ra quẳng lên đống rơm. Trong bụng chỉ lo làm không kịp, chú ra sức băm. Giữa lúc hăng hái, chú quên khuấy băm nát cả tấm áo của chú lẫn trong rơm. Đến lúc nhớ ra thì đã muộn rồi, không còn làm thế nào được nữa. Chú kêu lên: “Trời ơi, chết tôi rồi. Con người cay nghiệt kia có bao giờ dọa suông đâu! Hắn về mà thấy mình làm thế này thì hắn sẽ đánh mình chết mất. Thà tự tử trước còn hơn”.

Đã có một lần chú bé nghe thấy mụ chủ bảo: “Ở dưới gầm giường có niêu thuốc độc”. Sự thật mụ ta chỉ nói để dọa những kẻ tham ăn vì niêu đó đựng mật ong. Chú mới bò vào gầm giường lôi cái niêu ra đánh hết nhẵn.

Chú tự bảo: “Không hiểu sao người ta vẫn bảo cái chết là cay đắng mà mình ăn lại chỉ thấy ngọt. Trách nào mụ chủ cứ muốn được chết”.

Chú ngồi lên cái ghế, bình tĩnh đợi chết. Nhưng chú không thấy mình lả đi, trái lại nhờ món ăn rất bổ kia, chú lại cảm thấy mình khỏe ra. Chú tự bảo: “Chắc không phải là thuốc độc. Song mình còn nhớ có lần lão chủ bảo: Trong hòm quần áo có chai thuốc diệt ruồi. Nhất định nó là thuốc độc thật và phải uống thứ thuốc đó mới chết được”. Song đó cũng không phải là thuốc diệt ruồi thật mà chính là rượu nho.

Chú lôi cái chai ra tu sạch. Chú bảo: “Thứ thuốc độc này cũng ngọt”.

Nhưng chỉ một lúc sau rượu bắt đầu ngấm. Chú thấy người ngây ngất lại nghĩ bụng: Chắc chết đến nơi rồi. Chú tự nhủ: “Có lẽ mình sắp chết, phải đi ngay ra nghĩa địa tìm sẵn lấy một cái huyệt mới được”. Chú bước đi lảo đảo, đến nghĩa địa nằm trong một cái huyệt mới đào. Mỗi lúc, chú thấy mình càng thêm choáng váng. Gần đó có một quán ăn, trong quán đang có đám cưới. Nghe tiếng nhạc, chú bé cứ ngỡ mình đã lên tới thiên đàng. Sau đó chú lim đi hoàn toàn.

Chú bé không bao giờ tỉnh lại nữa, hơi rượu nóng và sương đêm giá buốt làm chú chết thật. Chú mãi mãi ở lại nơi chú đã nằm xuống.

Tên nhà giàu nghe tin chú bé chết sợ lắm, hắn chỉ lo bị tòa án xét xử. Hắn lo sợ quá ngã xuống đất ngất đi. Mụ vợ khi ấy đang rang lúa mạch dưới bếp vội chạy lên tìm cách chạy chữa cho chồng. Nào ngờ ngọn lửa bốc vào lòng chảo, rồi cháy lan ra khắp nhà. Vài giờ sau chỉ còn lại một đống tro tàn. Những năm cuối cùng của đời họ, cả hai người đều bị lương tâm cắn rứt và sống rất nghèo nàn cực khổ.

Các em có thấy chú bé nghèo đáng thương không? Chú bé chịu rất nhiều khổ cực đến nỗi chú phải tìm đến cái chết nhưng tên nhà giàu phải ân hận suốt đời.