Truyện Cổ Tích Về Loài Người Tập Đọc Lớp 4 / Top 9 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Kovit.edu.vn

Chuyện Cổ Tích Về Loài Người

“Trời sinh ra trước nhất Chỉ toàn là trẻ con Trên trái đất trụi trần Không dáng cây ngọn cỏ”

Những câu thơ đáng yêu trên được trích từ bài thơ “Chuyện cổ tích về loài người” của nhà thơ nổi tiếng Xuân Quỳnh. Hôm nay, Vườn cổ tích sẽ kể cho các bé nghe câu chuyện cổ tích về loài người được chuyển thể từ bài thơ trên với mục đích giúp các bé dễ hiểu và nắm bắt được một cách đầy đủ nhất nội dung cũng như ý nghĩa của bài thơ!

Chuyện là cách kể ngược về sự xuất hiện của loài người trên trái đất một cách rất thú vị. Từ đó khẳng định vai trò quan trọng của trẻ em – những mầm non đáng yêu rất cần được cha mẹ và người lớn bảo vệ.

Ngày xửa ngày xưa, bầu trời và mặt đất đều tối tăm, không có lấy một nhành cây, ngọn cỏ, cũng không có bất kì màu sắc gì. Khắp nơi đều thiếu vắng sự sống. Và rồi trên Trái đất thân yêu của chúng ta, tạo hóa đã ban tặng những em bé rất dễ thương, đáng yêu. Mắt chúng sáng lắm trong veo và hồn nhiên nhưng chúng chưa thấy được gì đâu. Thế rồi, mặt trời nhô lên cao tròn vành vạnh và soi sáng khắp không gian giúp cho những đôi mắt ấy được thấu tỏ.

Màu xanh bắt đầu từ ngọn cỏ cao bằng gang tay và nhỏ như sợi tóc, màu đỏ thì bắt đầu từ bông hoa nhỏ xíu như cái cúc. Những chú chim líu lo cất tiếng hót, làm bầu bạn với trẻ em và đem lại nguồn vui cho vạn vật. Gió nâng tiếng hót bay cao bay xa tới muôn trung mây, muôn trùng dặm.

Muốn trẻ con được tắm, sông suối bắt đầu xuất hiện đem đến dòng nước ngọt mát lành. Biển mênh mông sóng vỗ, đem lại nhiều cá to. Những cánh buồm lớn đưa trẻ em đi xa tới những chân trời mới, tìm tòi và khám phá.

Nhưng trẻ thơ cần lắm vòng tay của mẹ, lời ru ngọt ngào, tình yêu thương lớn lao vô bờ bến nên mẹ sinh ra để nâng niu, chăm sóc, dỗ dành. Những câu ca dao vọng về với cái bống cái bang, cánh cò trắng bay lả bay la, cây đa, mái nước, sân đình là quê hương thân thương hiện lên qua bao câu hát ru của bà, của mẹ. Nào sự tích thánh Gióng, sự tích trầu cau, sự tích Sọ Dừa, chuyện cô Tấm ở hiền, Lý Thông ở ác,… lần lượt hiện ra qua giọng kể ấm áp của bà, đưa trẻ em vào những miền cổ tích cực lạc. Nào ông Bụt, bà tiên, nào hoàng tử, công chúa xuất hiện trong giấc mơ của trẻ em về một cuộc sống tười đẹp, ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác, người tốt nhất định được hưởng hạnh phúc, kẻ ác nhất định bị trừng trị thích đáng.

Giáo Án Tập Đọc Lớp 4

– Đọc lưu loát toàn bài. Biết đọc với giọng kể chậm, bước đầu đọc diễn cảm được một đoạn thơ.

– Đọc đúng các từ khó: sinh ra, trụi trần.

– Hiểu ý nghĩa bài thơ : Mọi vật trên trái đất được sinh ra vì con người, vì trẻ em, do vậy cần dành cho trẻ em những điều tốt đẹp nhất.

– Học thuộc lòng ít nhất 3 khổ thơ

II. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC

Thứ tư ngày 30 tháng 12 năm 2009 Tập đọc Chuyện cổ tích về loài người I. Mục tiêu: - Đọc lưu loát toàn bài. Biết đọc với giọng kể chậm, bước đầu đọc diễn cảm được một đoạn thơ. - Đọc đúng các từ khó: sinh ra, trụi trần... - Hiểu ý nghĩa bài thơ : Mọi vật trên trái đất được sinh ra vì con người, vì trẻ em, do vậy cần dành cho trẻ em những điều tốt đẹp nhất. - Học thuộc lòng ít nhất 3 khổ thơ II. Đồ dùng dạy học III. Các hoạt động dạy học A. Kiểm tra bài cũ: -1 HS đọc bài Bốn anh tài và trả lời câu hỏi: +Nội dung bài : Bốn anh tài nói lên điều gì? - GV nhận xét, ghi điểm. B. Dạy bài mới : HĐ1. Giới thiệu bài : GV nêu mục tiêu tiết học. HĐ2. Luỵên đọc - 1 HS khá đọc toàn bài, lớp theo dõi SGK. - HS đọc nối tiếp nhau theo 7 khổ thơ ( 2 lượt ) + Hết lượt1: GV sửa lỗi phát âm cho HS: trụi trần, muốn, chiếu, Hướng dẫn đọc câu dài ( bảng phụ ) + Hết lượt 2: GVhướng dẫn HS TB, ngắt nhịp đoạn: "Nhưng ...Trước nhất" - HS luyện đọc trong nhóm đôi. - 1 HS khá đọc toàn bài. - GV đọc diễn cảm toàn bài: giọng kể chậm rãi. HĐ3. Tìm hiểu bài - HS đọc khổ 1, cả lớp theo dõi đọc thầm, trả lời câu hỏi: +Trong "Câu chuyện cổ tích" này, ai là người được sinh ra đầu tiên? - HS khá rút ý 1. - GV chốt ý 1: Trẻ em được sinh ra đầu tiên trên trái đất - HS TB, yếu nhắc lại ( Tiến, Hằng) - HS đọc thầm các khổ thơ còn lại và trả lời câu hỏi: +Sau khi trẻ sinh ra, vì sao cần có ngay mặt trời? +Sau khi trẻ sinh ra, vì sao cần có ngay người mẹ? +Bố giúp trẻ em những gì? +Thầy giáo giúp trẻ em những gì? - GV ghi bảng: lời ru, biết nghĩ, học hành. - HS khá rút ý 2 - GV chốt ý 2 : Mọi vật, mọi người sinh ra là vì trẻ em. - HS TB nhắc lại.( Quân, Hạnh) - HS đọc thầm cả bài. - HS khá, giỏi rút ra nội dung bài. - GV chốt nội dung bài: Mọi vật trên trái đất được sinh ra vì con người, vì trẻ em, do vậy cần dành cho trẻ em những điều tốt đẹp nhất. - HS TB nhắc lại.( Thu, Khánh) HĐ4.. Hướng dẫn đọc diễn cảm và học thuộc lòng bài thơ. -7 HS tiếp nối nhau đọc bài thơ - GV đọc mẫu, hướng dẫn cách đọc, ngắt nghỉ. ( bảng phụ ) - HS luyện đọc trong nhóm. - Các nhóm thi đọc. - Lớp bình chọn bạn đọc đúng, đọc hay. - HS nhẩm HTL bài thơ và thi đọc thuộc lòng bài thơ. IV. Củng cố - dặn dò . - GVnhận xét tiết học. - Dặn HS về nhà tiếp tục HTL bài thơ và chuẩn bị bài sau.

Truyện Cổ Tích Sọ Dừa [Kể Chuyện Lớp 4

Truyện cổ tích Sọ Dừa

Truyện cổ tích Sọ Dừa ca ngợi vẻ đẹp bên trong mỗi con người, kể về một chàng trai có phẩm chất và tài năng đặc biệt nhưng lại luôn ẩn mình trong hình hài dị dạng.

Truyện này được trích trong sách Kể chuyện lớp 4 (1984), nêu lên bài học khi đánh giá, nhìn nhận một con người: phải xem xét toàn diện, không nên chỉ nhìn vẻ bề ngoài. Người nghèo khổ chăm chỉ lao động sẽ được đền bù, người thủy chung hiền hậu sẽ được hưởng hạnh phúc. Chỉ có kẻ ác nghiệt, chua ngoa mới phải chịu số phận hẩm hiu.

1. Giới thiệu mẹ con Sọ Dừa

Ngày xưa, có hai vợ chồng người nông dân hiền lành, chuyên đi làm thuê cho phú ông, đã ngoài tuổi năm mươi mà vẫn muộn đường con cái.

Một hôm nắng gắt, người vợ làm việc khát nước quá liền vào rừng tìm nước để uống. Bà chỉ thấy một cái sọ người bên trong một tảng đá, hổ bỏ lại từ lâu, trong sọ có đấy nước trong vắt. Vì khát quá bà ta đành bưng lên uống. Uống xong, bà thấy khoan khoái khác thường. Từ đấy bà có mang. Chẳng bao lâu người chồng chết. Đến kì sinh nở, bà đẻ ra được một cục thịt tròn lông lốc[1], có đủ mắt, mũi, mồm, tai, nhưng không có mình mẩy chân tay gì cả. Bà kinh hãi toan vứt đi thì cục thịt thốt nhiên bảo bả rằng:

– Mẹ ơi, con là người đấy! Mẹ đừng vứt đi mà tội nghiệp!

Bà cảm động, ấp iu cục thịt vào lòng, nâng niu và cho bú. Biết việc ấy, phú ông liền đuổi bà ra ở túp lều ngoài vườn sắn. Đứa con trông kì quái[2] nhưng rất khôn, bà đặt tên là . Mỗi buổi sáng, trước khi đi làm thuê bà thường dặn con:

2. Sọ Dừa nhận chăn dê và được nàng Ba thầm yêu mến

Một lần đi làm về bà thở dài bảo con:

– Giá mày như con người ta thì cũng kiếm thêm được ít gạo đổ vào nồi cho mẹ rồi đó. Hiện giờ phú ông có một đàn dê mà chưa tìm được người chăn.

Sọ Dừa nói:

– Mẹ ơi, con chăn được. Mẹ cứ nói với phú ông đi.

Thế là Sọ Dừa bắt đầu nhận việc chăn dê cho phú ông. Từ khi Sọ Dừa chăn đàn dê thì đàn dê lúc nào cũng no nê, béo trông thấy. Phú ông bằng lòng. Lão lại rất thích vì mỗi ngày Sọ Dừa chỉ ăn hết có hai nắm cơm rất nhỏ của lão.

Phú ông có ba người con gái. Đứa lớn thì ác nghiệt[3]. Đứa thứ hai chua ngoa[4]. Chỉ có người con thứ ba là hiền hậu[5]. Ngày mùa, tôi tớ[6] ra đồng làm cả, ba cô phải thay nhau mang cơm cho Sọ Dừa.

Một hôm đến lượt cô ba đi mang cơm. Đến chân núi cô nghe có tiếng sáo véo von. Cô gái cảm thấy bồn chồn[7]. Núi thấp, cô chỉ trèo một quãng ngắn là đã lên tới lừng chừng. Đứng nấp trong bụi nhìn ra cô thấy một chàng trai tuấn tú[8] độ mười sáu, mười bảy tuổi đang thổi sáo. Người con gái mải lắng nghe, mải nhìn quá, vịn ngay phải một cành khô. Cành khô gãy “rắc” một tiếng. Lập tức chàng trai biến ngay vào trong vỏ Sọ Dừa. Từ đấy cô ba đem lòng yêu Sọ Dừa.

3. Sọ Dừa hỏi vợ và cưới vợ

Bà mẹ Sọ Dừa chỉ phiền một nỗi là con mình người không ra người thì còn mong gì có dâu, có cháu. Sọ Dừa biết ý bảo mẹ rằng:

– Phú ông có ba cô con gái. Mẹ kiếm lấy buồng cau vào xin một cô cho con.

Bà mẹ đánh liều kiếm một buồng cau vào nói với phú ông. Lão phú ông nghe thủng câu chuyện, vuốt râu cười hề hề, cố nén giận bảo rằng:

– Con mụ hình thù quái quỷ như thế mà cũng dám chòi voi à? Nhưng thôi, mụ về bảo nó hễ có đủ các thứ này thì ta gả cho: một chĩnh vàng cốm, mười tấm lụa đào, mười con lợn béo, mười con dê béo, mười vò rượu tăm. Lại phải dựng lấy năm gian nhà ngói câu đầu bằng bạc, xà ngang bằng đồng thì ta mới cho rước dâu về.

Bà về nói với con, tưởng con thôi hẳn việc lấy vợ, không ngờ Sọ Dừa vẫn cứ khăng khăng một mực nói:

– Mẹ sang nói ngay với phú ông rằng con sẽ có đủ những thứ ấy mà còn có nhiều hơn nữa.

Bà ngần ngừ không đi sợ con nói liều. Nhưng Sọ Dừa giục mãi, bà ta lại tất tưởi vào nói với phú ông. Lần này thì lão ta có vẻ ngần ngại. Lão bảo bà mẹ:

– Để ta cho gọi cả ba đứa con gái ra đây, xem có đứa nào nó ưng lấy thằng Sọ Dừa không đã.

Lão gọi ba cô con gái ra lần lượt hỏi từng cô một. Hai cô chị đều giãy nảy như đỉa phải vôi[9]: “Thủi thui, có là ngợm mới lấy cái thứ thằng Sọ Dừa”. Đến lượt cô ba, cô liền thưa:

– Cha đặt đâu, con xin ngồi đấy ạ!

Phú ông giận con tím mặt, song không biết nói thế nào, bèn quay lại hẹn với bà mẹ ngày đưa sính lễ[10].

Quả nhiên đúng ngày hẹn, Sọ Dừa có đầy đủ những thứ mà phú ông thách cưới. Sọ Dừa rước dâu về đến nhà. Đến tối, khi các cây sáp lớn đã thắp sáng trưng nhà trên, nhà dưới thì không ai thấy Sọ Dừa đâu cả. Bỗng xuất hiện một chàng trai tuấn tú ở phòng trong sánh vai cùng với cô dâu đi ra chào khách. Mọi người sửng sốt. Chàng trai đó chính là Sọ Dừa đã lột bỏ cái vỏ Sọ Dừa.

4. Sọ Dừa đi sứ

Ít lâu sau, Sọ Dừa miệt mài học tập và nhân gặp khoa thi, chàng đỗ Trạng nguyên. Nhà vua cử chàng đi sứ phương Bắc. Trước khi đi chàng đưa cho vợ một hòn đá lửa, một con dao và hai quả trứng gà dặn vợ phải luôn giữ trong mình, phòng lúc gặp nạn bất ngờ.

Từ ngày thấy em lấy được chồng tuấn tú, lại đỗ Trạng nguyên[11], hai cô chị định tâm hại em, hòng thay em làm bà Trạng.

Một hôm hai cô chị rủ em đi chơi thuyền. Chúng đẩy thuyền ra giữa dòng nước xoáy. Thuyền bị xoáy nước hút xuống chìm nghỉm. Một con cá kình[12] lớn nuốt chửng cả thuyền lẫn người vào bụng. Cô em vẫn tỉnh táo như thường. Nhớ lời chồng dặn cô lấy dao khoét thịt cá làm cho cá vùng vẫy một lúc rồi chết nổi lên mặt nước. Xác cá trôi dạt vào một cánh bãi bên rừng. Cô liền khoét bụng cá chui ra, rồi xẻo thịt cá, hớt muối ở bờ biển đem muối cá vào một hốc cây khô để ăn dần. Cô lại lấy cỏ khô áp vào đá lửa, lấy dao đánh đá để có lửa sưởi và nướng cá. Cô dựng một cái lều nhỏ ngay gần bờ sông chờ ngày có thuyền đi qua thì gọi. Ít lâu sau, hai quả trứng nở thành hai con gà con. Đôi gà lớn mau rõ ra một trống, một mái.

Một buổi chiều, có chiếc thuyền lớn có cắm cờ đuôi nheo đi vào sông. Thuyền càng đến gần thì con gà trống càng gáy dồn dập:

Ò ó ó… Phải thuyền quan Trang rước cô tôi về!

Một người từ trong thuyền bước ra đứng phía đầu mũi. Người ấy chính là Sọ Dừa. Thuyền ghé bờ, Sọ Dừa đón vợ xuống thuyền.

Về đến nhà, chàng bày cỗ to mời cả nhà vợ và bà con hàng xóm sang ăn mừng.

Rượu uống nửa tuần, quan Trạng xin phép vào buồng có chút việc riêng. Lát sau quan Trạng đưa vợ ra chào mọi người. Thừa lúc mọi người tíu tít hỏi chuyện, hai cô chị lẻn ra ngoài trốn biệt.

Truyện Sự tích Sọ Dừa Nguồn: Kể chuyện 4, NXB Giáo dục – 1984 – chúng tôi –

Chú thích trong truyện Sự tích Sọ Dừa:

[1] Tròn lông lốc: tròn trịa và nhẵn nhụi. [2] Kì quái: trông lạ lùng như loài quái vật. [3] Ác nghiệt: độc ác, cay nghiệt. [4] Chua ngoa: lắm điều và đanh đá. [5] Hiền hậu: hiền lành và nhân hậu. [6] Tôi tớ: người ăn kẻ ở để sai bảo trong nhà. [7] Bồn chồn: nóng ruột, có cái gì bứt rứt không yên trong lòng. [8] Tuấn tú: đẹp và có tài hơn người khác. [9] Đỉa phải vôi: đỉa chạm phải vôi, ý nói giãy nảy lên không chịu được (thành ngữ). [10] Đồ sính lễ: đồ dẫn thách cưới. [11] Trạng nguyên: người đỗ đầu khoa thi đình thời phong kiến (tổ chức ở sân chầu trong cung vua). [12] Cá kình: loài cá dữ và to ở biển.

101 Truyện Cổ Tích Hay Và Ý Nghĩa Nhất Về Loài Vật

Truyện cổ tích có lẽ đã gắn liền với biết bao thế hệ trẻ em không chỉ ở Việt Nam mà còn trên khắp thế giới. Trong đó, các câu chuyện cổ tích loài vật cũng được nhiều trẻ em lắng nghe và yêu thích.

1. Cún con đi lạc – câu truyện cổ tích về loài vật phổ biến

Truyện Cún con đi lạc là một câu truyện cổ tích về loài vật phổ biến nói về một cậu bé bị lạc mất con cún yêu quý và cậu đi tìm kiếm chú cún xung quanh nhưng vẫn không thấy cún đâu cả. Cậu đã đi lang thang khắp nơi từ sáng đến tối để tìm chú cún nhưng vẫn không tìm thấy. Sau đó cậu đã buồn bã trở về nhà và cậu đã gặp anh hàng xóm đang ngồi bên hiên nhà, cậu đến gần chúc anh ngủ ngon và hỏi anh thăm anh xem có thấy chú cún con của mình ở đâu không. Và thật bất ngờ vì anh hàng xóm đang giữ chú cún con của cậu bởi vì anh không biết chú cún đó là do cậu bé nuôi.

Ý nghĩa câu truyện: đừng bao giờ bỏ cuộc khi chưa cố gắng nổ lực thật nhiều

2. Truyện Con lừa hát

Truyện Con lừa hát kể về một con lừa vì không thích những món ăn mà ông chủ cho nó ăn nên nó đã quyết định đi đến một cánh đồng gần đó để ăn cỏ mà nó thích. Một ngày nọ, trên đường đi ra cánh đồng chú lừa gặp một con cáo và hai con vật kết bạn với nhau. Chúng đi và tìm thấy cánh đồng trồng dưa hấu và cùng nhau ăn. Lừa đã ăn rất nhiều bởi vì dưa hấu quá ngon và nó cao hứng nói với cáo rằng nó muốn hát. Cáo mới cảnh cáo rằng nếu lừa hát thì con người sẽ biết chúng đang phá hoại mùa màng của họ và sẽ đến đánh chúng nó chết mất. Nhưng lừa không thèm nghe lời cảnh cáo của cáo mà vẫn hát. Khi thấy lừa hát, con cáo liền nhành chóng nhảy qua hàng rào và biến mất trước khi người dân làng chạy đến đánh lừa.

Con lừa hát là một câu truyện cổ tích loài vật quen thuộc

Ý nghĩa câu truyện truyện cổ tích về loài vật này chính là hãy học cách biết lắng nghe những gì người khác nói.

3. Dê và cáo – truyện cổ tích về loài vật với bài học sâu sắc

Truyện kể về một con cáo nhân lúc con sư tử hung bạo đi ra ngoài mà lẻn vào hang của sư tử ăn tất cả thức ăn có trong hang. Sau khi ăn uống no nê, cáo đi dạo xung quanh và tận hưởng cảm giác vui vẻ lâng lâng sau khi ăn một bữa ngon lành. Không may nó đã bị té xuống một cái giếng sâu nhưng không có nhiều nước. Nó cố gắng leo lên để thoát ra ngoài nhưng lại không thành công. Bỗng nhiên khi đó cáo nghe giọng của dê hỏi rằng cáo đang làm gì ở dưới đó vậy. Cáo mới ngước nhìn và nói rằng nó ở làng bên nhưng đang gặp hạn hán nên nó phải nhảy xuống giếng để mà lấy nước. Nghe cáo nói vậy dê liền nhảy xuống giếng. Lợi dụng việc dê nhảy xuống, cáo nhanh chóng dựa vào mấy cái sừng dài của để leo lên khỏi giếng. Sau khi leo lên cáo còn quay lại nói dê thật ngốc khi đã tin lời cáo và nhảy xuống giếng.

Truyện dê và cáo là một bài học về lòng tin

Ý nghĩa câu truyện: trong cuộc sống nhất định không được tin tưởng ai đó một cách mù quáng.

4. Truyện Hai con gà trống

Truyện kể về hai con gà cùng một mẹ sinh ra. Khi chúng lớn lên thì thường xuyên cãi cã nhau. Con nào cũng tự cho mình đẹp đẽ, oai phong và có quyền làm Vua của nông trại hơn. Hôm nọ sau khi cãi nhau, chúng đã lao vào đánh nhau quyết liệt, rằng còn nào thắng thì sẽ được làm Vua của nông trại. Đánh nhau đến cuối cùng thì dĩ nhiên có một con chiến thắng và một con thua cuộc. Con gà thắng cuộc thắng trận nhảy lên hàng rào và cất tiếng gáy để ăn mừng sự chiến thắng của mình. Nào ngờ vì chính tiếng gáy đó mà bị chim ưng để ý đến và xà xuống bắt con gà thắng cuộc đi mất. Còn con gà thua cuộc vẫn đang nằm thoi thóp thở dưới đất.

Ý nghĩa câu truyện cổ tích về loài vật này muốn hướng đến sự giáo dục về tình cảm gia đình. Đã là anh em trong gia đình thì phải biết yêu thương, đùm bọc lẫn nhau để không bị người ngoài ức hiếp, đàn áp.

5. Truyện Con cáo và chùm nho

Đây là một câu truyện cổ tích về loài vật kể về một con cáo bắt gặp một chùm nho chín đỏ căng mọng hấp dẫn khiến cáo thèm nhỏ rãi nên đã có ý định nhảy lên để hái chùm nho. Vì khoảng cách của cáo và chùm nho khá xa nên nó đã đi xa gốc cây một khoảng để lấy được đà nhảy lên hái chùm nho, nhưng lần nhảy đầu tiên thì cáo không với tới chỉ cần một xíu nữa là có thể hái được chùm nho.

Nó cố gắng thử thêm vài lần nữa nhưng dù cố gắng đến mấy cũng không thể, tất cả đều vô ích. Cáo ngồi xuống và nhìn chùm nho tức tối, và tự nhủ thầm rằng nó ngu lắm, chùm nho còn xanh làm sao mà ăn được, nó phải mất bao nhiêu công chỉ để hái chùm nho còn xanh và chua chát kia không đáng người ta ngó tới. Sau đó khinh khỉnh bỏ đi không thèm hái nữa.

Ý nghĩa câu truyện: nhắc nhở chúng ta nên biết được thực lực bản thân của mình. Đừng tự lấy cớ, tự dối lòng mình để tự biện minh cho khả năng thấp kém của mình.

6. Truyện cổ tích loài vật – Thỏ và Rùa

Ngày xửa ngày xưa, trong khu rừng nọ có thỏ và rùa là đôi bạn rất thân thiết với nhau. Thế nhưng, vào một ngày kia, cả hai lại xảy ra trận cãi vã chỉ vì muốn biết ai là người chạy nhanh nhất. Vậy là thỏ và rùa liền tổ chức một cuộc thi chạy để quyết định ra ai là người chạy nhanh hơn.

Lúc bắt đầu cuộc đua, chú thỏ chạy rất nhanh, vượt xa chú rùa cả một đoạn đường rất dài. Thỏ ta thấy vậy liền nghĩ bụng rằng rùa còn lâu mới đuổi kịp với mình nên chú thỏ cứ vui vẻ chậm rãi đi bộ, bắt bướm, đùa vui hái hoa, từ chỗ này đến chỗ khác cho đến khi thỏ mệt quá liền tìm gốc cây lớn để ngồi nghỉ và ngủ quên lúc nào không hay.

Trong lúc đó, chú rùa vẫn chậm rãi kiên trì vượt mọi vất vả khó nhọc, để đi từng bước trên đường đua.

Sau một khoảng thời gian rất lâu, Thỏ mới chợt tỉnh dậy, nhận ra Rùa đã đi rất xa và gần tới vạch đích. Thỏ thấy vậy liền ba chân bốn cẳng chạy đuổi theo nhưng đã muộn, chú rùa đã tới vạch đích đầu tiên. Và thế là chú thỏ đành phải chịu thua trước chú rùa.

7. Truyện cổ tích loài vật – Vịt con cẩu thả

Chuyện cổ tích loài vật sau đây sẽ kể về một chú vịt con có tính cách cẩu thả.

Vào một ngày đẹp trời, chú vịt con ra sông tập bơi, nó thường xuyên cởi và vứt quần áo bừa bãi lung tung trên bờ mà không chịu cất gọn gàng, mà chỉ muốn nhảy thẳng xuống sông và tập bơi cho thỏa thích. Một lúc sau, quần áo của chú vịt con do vứt bừa bãi nên đã bị dòng nước làm trôi mất, sau khi tập bơi xong, vịt con liền lên bờ để mặc đồ nhưng lại không thấy quần áo đâu nữa, chú vịt con liền òa lên khóc rất to. Lúc này, do không còn quần áo để mặc, vịt con liền lấy mấy chiếc lá sen to để che lên người rồi vội vàng chạy về nhà.

Trong lúc vịt con đang chạy về nhà, khi chạy qua bãi cỏ thì bị chú Thỏ bắt gặp, nó liền cười và nói to: “Lêu lêu bạn vịt bị hở mông kìa, xấu hổ chưa kìa!”

Chú vịt con nghe thấy thế nên rất xấu hổ, nó đành phải chạy nhanh hơn để Thỏ không trêu chọc nữa.

Khi chạy ngang qua khu rừng, chú khỉ đang ngồi trên cây nhìn xuống bỗng thấy vịt con chạy nhanh qua, nó cũng liền ôm bụng cười to: ” Nhìn kìa, vịt con không mặc đồ, lấy lá sen che người lòi cả mông ra kìa. Ha ha”

8. Truyện cổ tích loài vật – Bác Voi tốt bụng

Vào một buổi sáng mùa xuân đẹp trời, gà con rủ vịt con ra sân vườn chơi. Tại đây, Gà con rủ vịt con đi bắt sâu bọ, các con côn trùng gây hại cho các loại cây trong vườn. Do có mỏ nhọn nên gà con bắt sâu bọ rất nhanh và dễ dàng, nhưng vịt con lại không có mỏ nhọn nên không thể nào bắt sâu bọ giống gà con được. Đột nhiên, có một bác voi xuất hiện, bác voi này dùng chiếc vòi của mình để khều ra con sâu rồi đưa lại cho chú vịt con. Cả chú gà con và vịt con đều nói lời cảm ơn đến bác voi.

Tiếp đó, Vịt và gà con rủ nhau ra ao tập bơi. Chú vịt con bơi lội rất nhanh nhờ lớp màng được bọc ở chân, còn chú gà con do không biết bơi nên vô tình bị rớt xuống ao, làm cho toàn thân chú gà con bị ướt lạnh và dính đầy nước. Đúng lúc này, bác voi lại xuất hiện, bác voi liền cứu gà con đưa lên bờ, rồi bác rất vui vẻ còn đùa nghịch với gà con và vịt con bằng cách phun vòi nước lên người chúng. Cả gà và vịt con đều cười thật vui và chạy trốn đi, còn lũ ruồi bu đậu trên lưng bác voi vì sợ hãi quá cũng phải bay đi hết.

Ngoài ra, bác voi còn biết thổi kèn acmônica. Bác thổi hay đến nỗi làm cho gà con và vịt non đang chơi đùa chỗ khác cũng phải chạy tới đó để nghe, còn các chú chim đang đậu trên cây cũng phải ngừng hót để cùng nhau lắng nghe những giai điệu tuyệt vời mà bác voi đang thổi. Ngày hôm đó, chú gà và vịt con đều rất yêu quý bác voi tốt bụng này.

Với câu chuyện cổ tích loài vật này, khuyên các bé luôn thể hiện lòng tốt bụng, giúp đỡ người khác.

9. Truyện cổ tích loài vật – Rùa con tìm nhà

Chuyện cổ tích loài vật này nói về một chú rùa con nọ, khi mới được nở ra vài ngày đã nhanh chóng tìm kiếm ngôi nhà mình ở. Chú rùa thấy tổ ong trên cành cây cao, chú cứ nghĩ đó là nhà của mình, chú rùa con liền ngước cổ lên và hỏi: “Đấy có phải là ngôi nhà của mình không ạ?”.

Thay vì trả lời, cả một đàn ong liền bay xuống phía dưới khiến cho chú rùa con hoảng sợ quá nên liền thụt cổ vào mai rùa và nằm im như tượng.

Tiếp theo, chú rùa bò tới góc của một bức tường cũ. Chú có thấy một cái hang chuột nhỏ, rùa con đang tính chui vào trong hang thì liền bị một chú chuột từ bên trong chặn lại: ” Cái hang này là nhà ở của chúng tớ, chứ không phải ngôi nhà của bạn đâu, rùa ơi”. Thế là chú rùa con tiếp tục đi tìm ngôi nhà của mình, khi tới một dòng sông nhỏ, rùa con nghĩ rằng: ” Đây có thể là ngôi nhà mình sống ở dưới nước”. Vừa nói xong, rùa con liền nhảy xuống sông và bơi, bơi được một đoạn ngắn, chú rùa con lúc này đã đuối sức và mệt mỏi nên đành phải quay lại bò lên bờ.

Qua chuyện cổ tích loài vật trên, các bé nên suy nghĩ kĩ trước khi làm một việc gì đó, tránh sai sót, nhầm lẫn.

10. Truyện cổ tích loài vật về con hươu

Trong một khu rừng kia, có một bầy hươu đang đứng ăn cỏ bên cạnh dòng suối thơ mộng. Các con hươu đều sở hữu đôi mắt đen tròn, cùng với những bộ lông vàng và nâu mịn màng như nhung lụa cùng với những dấu hoa trắng xóa.

Trong lúc cả bầy hươu đang ăn cỏ thì bỗng xuất hiện một chú hươu con bước tới gần. Nhìn bộ dạng của chú hươu non trong rất vất vả với một chân bị thương, bộ lông thì bị dính đầy bùn đất, có lẽ chú hươu non này đã bị thương rất nặng.

Chú hươu non này tiến tới gần và nói: “Các bạn cho phép mình ăn cỏ cùng được không?”

Bầy hươu nghe nói vậy liền cùng đồng thanh trả lời: “Bạn cứ tới đây và ăn cỏ cùng với tụi mình!”

Sau đó, một vài con trong bầy hươu liền tiến tới tảng đá to và vươn hai chân ra phía trước và dùng gạc để cắt rụng mấy cái chồi và nói: ” Nè bạn ăn đi, nếu cần chúng mình sẽ lấy thêm cho bạn mấy cái nữa!”. Chú hươu con liền cảm ơn và ăn chúng rất ngon lành.

Ngay lúc đó, có một bác hươu già đi ngang qua và chứng kiến được cảnh bầy hươu đang giúp đỡ bạn hươu non, bác hươu già rất vui và tấm tắc khen: “Các cháu giỏi lắm!”

Nghe bác hươu khen như thế, cả bầy hươu đầy rất vui mừng vì đã làm được một việc tốt giúp đỡ mọi người xung quanh.