Truyện Cổ Tích Về Loài Người Lớp 4 / Top 5 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Kovit.edu.vn

Chuyện Cổ Tích Về Loài Người

“Trời sinh ra trước nhất Chỉ toàn là trẻ con Trên trái đất trụi trần Không dáng cây ngọn cỏ”

Những câu thơ đáng yêu trên được trích từ bài thơ “Chuyện cổ tích về loài người” của nhà thơ nổi tiếng Xuân Quỳnh. Hôm nay, Vườn cổ tích sẽ kể cho các bé nghe câu chuyện cổ tích về loài người được chuyển thể từ bài thơ trên với mục đích giúp các bé dễ hiểu và nắm bắt được một cách đầy đủ nhất nội dung cũng như ý nghĩa của bài thơ!

Chuyện là cách kể ngược về sự xuất hiện của loài người trên trái đất một cách rất thú vị. Từ đó khẳng định vai trò quan trọng của trẻ em – những mầm non đáng yêu rất cần được cha mẹ và người lớn bảo vệ.

Ngày xửa ngày xưa, bầu trời và mặt đất đều tối tăm, không có lấy một nhành cây, ngọn cỏ, cũng không có bất kì màu sắc gì. Khắp nơi đều thiếu vắng sự sống. Và rồi trên Trái đất thân yêu của chúng ta, tạo hóa đã ban tặng những em bé rất dễ thương, đáng yêu. Mắt chúng sáng lắm trong veo và hồn nhiên nhưng chúng chưa thấy được gì đâu. Thế rồi, mặt trời nhô lên cao tròn vành vạnh và soi sáng khắp không gian giúp cho những đôi mắt ấy được thấu tỏ.

Màu xanh bắt đầu từ ngọn cỏ cao bằng gang tay và nhỏ như sợi tóc, màu đỏ thì bắt đầu từ bông hoa nhỏ xíu như cái cúc. Những chú chim líu lo cất tiếng hót, làm bầu bạn với trẻ em và đem lại nguồn vui cho vạn vật. Gió nâng tiếng hót bay cao bay xa tới muôn trung mây, muôn trùng dặm.

Muốn trẻ con được tắm, sông suối bắt đầu xuất hiện đem đến dòng nước ngọt mát lành. Biển mênh mông sóng vỗ, đem lại nhiều cá to. Những cánh buồm lớn đưa trẻ em đi xa tới những chân trời mới, tìm tòi và khám phá.

Nhưng trẻ thơ cần lắm vòng tay của mẹ, lời ru ngọt ngào, tình yêu thương lớn lao vô bờ bến nên mẹ sinh ra để nâng niu, chăm sóc, dỗ dành. Những câu ca dao vọng về với cái bống cái bang, cánh cò trắng bay lả bay la, cây đa, mái nước, sân đình là quê hương thân thương hiện lên qua bao câu hát ru của bà, của mẹ. Nào sự tích thánh Gióng, sự tích trầu cau, sự tích Sọ Dừa, chuyện cô Tấm ở hiền, Lý Thông ở ác,… lần lượt hiện ra qua giọng kể ấm áp của bà, đưa trẻ em vào những miền cổ tích cực lạc. Nào ông Bụt, bà tiên, nào hoàng tử, công chúa xuất hiện trong giấc mơ của trẻ em về một cuộc sống tười đẹp, ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác, người tốt nhất định được hưởng hạnh phúc, kẻ ác nhất định bị trừng trị thích đáng.

Kết Cấu Của Truyện Cổ Tích Loài Vật

Kết cấu là một yếu tố thuộc bình diện hình thức của tác phẩm văn học. Một số kết cấu thường gặp như kết cấu theo trình tự thời gian, kết cấu đi thẳng vào giữa câu chuyện, kết cấu theo hai tuyến đối lập nhau, kết cấu theo tâm lí,…

Theo Hoàng Tiến Tựu, thì “Mỗi truyện cổ tích loài vật thường được kết cấu theo hai phần “dẫn truyện” và “thuật truyện” xen kẽ nhau. Phần dẫn truyện là lời trực tiếp của người kể chuyện. Còn phần thuật truyện thường là thuật lại lời đối thoại của các nhân vật trong truyện” [2, 54].

Trên cơ sở việc nhìn nhận của nhà nghiên cứu đi trước vừa nêu, người viết đã xem xét, rà soát trên tổng thể truyện cổ tích loài vật Việt Nam(2). Kết quả của việc xem xét ấy cho thấy: không phải toàn bộ truyện cổ tích loài vật có kết cấu gồm hai phần như đã nêu, mà chỉ một bộ phận.

Đọc hai truyện cổ tích loài vật sau:

(1) CÓC, CỌP VÀ KHỈ (Truyện người Kinh)

Hôm nọ, cọp đi ngang qua góc rừng, chỗ có hang cóc, thì dừng chân nhìn ngắm. Cóc thấy cọp đến dòm ngó, sợ gây hại đến mình, bèn lo việc ngăn cản, mới lên tiếng hỏi:

– Ai vậy? Đừng có qua đây nữa mà chết oan đó!

Cọp nghe tiếng nhưng chưa thấy mặt kẻ hỏi mình, bèn hỏi lại:

– Tao đây! Tao là cóc tía. Mày không biết danh tao sao?

– Chà! Mày hình vóc bằng cổ tay, lại dám mày tao mi tớ với tao nữa! Tài nghệ gì mày mà dám xấc láo thế?

– Tao thì đủ miếng. Còn mày bất quá chỉ có tài nhảy mà thôi.

Cọp mới thách cóc nhảy thi, coi ai nhảy xa cho biết. Cóc đồng ý. Cả hai ra tới con rạch lớn, vạch mốc để đứng ngang nhau mà nhảy. Cóc bảo:

– Tao chấp mày đứng trước, tao đứng sau cũng được!

Biết trước khi nhảy, cọp thường hất mạnh đuôi nên cóc ngậm lấy chót đuôi cọp. Khi cọp nhảy sang bên kia thì cóc đã văng ra đằng trước rồi. Nó lên tiếng:

– Tôi đây! Tôi đã nhảy xa hơn anh rồi!

– Anh thật có tài nhảy phi thường!

– Tôi đã nói rồi mà! Không chỉ tài mọn ấy, tôi còn bắt sống cọp để ăn hàng ngày. Hãy coi đây thì biết!

Cóc há miệng ra, trong đó, đầy những lông cọp. Cọp thấy vậy hoảng hồn, cong đuôi chạy mất. Nó chạy mãi vẫn chưa hết kinh hoàng.

Con khỉ trên cây thấy cọp chạy như vậy, bèn kêu giựt lại, hỏi:

– Có việc gì mà anh chạy dữ vậy?

– Thôi thôi, đừng hỏi để cho tôi chạy, kẻo nó theo kịp bây giờ!

– Anh phải nói ra: cái giống gì đã khiến anh sợ đến vậy, mới được chứ?

– Cái con chi…, quên tên rồi! Nó nhỏ nhỏ, da nhám…

– Ờ, biết rồi! Con cóc, phải không?

– Sao anh dở vậy? Bẻ cổ nó như chơi kia mà! Anh sợ mà chạy chỉ khiến nó dể ngươi thôi. Không tin, anh đem tôi tới, tôi vật nó như vật nhái cho mà coi.

– Anh đừng làm phách! Không chừng lại báo hại tôi nữa!

– Nếu sợ tôi gạt, thì để tôi buộc thân mình đấu cật với lưng anh. Anh đem tôi đến đó, tôi sẽ xé xác nó cho anh coi.

Cọp đồng ý để khỉ lấy dây buộc nó với mình, lại để cho khỉ cưỡi lên lưng, từ từ trở lại chỗ cũ. Con cóc vẫn còn ngồi đó, nó lên tiếng:

– Ai vậy? Anh khỉ đó phải không?

– Anh đem nó đến nộp đó à? Nợ mười hùm chưa đủ, một đã thấm chi!

Cọp nghe nói vậy tưởng bị khỉ gạt, đem mình nộp cho cóc thật, nó lại hoảng hồn, đâm đầu chạy. Cọp phóng ào ào, không kể cây cối, gai gốc, bờ bụi gì hết.

Khỉ bị cây va vào đầu, đập vào lưng, khiến bị vỡ sọ, gãy xương, chết nhăn răng. Khi mệt quá, cọp dừng lại, thấy khỉ như vậy, nó nghĩ khỉ cười mình, nên mắng rằng:

– Hết phách lối chưa? Đã báo hại người ta, lại còn cười nữa hả?

( Nguồn: Trương Vĩnh Kí (1974), Chuyện đời xưa, Nhà sách Hoa Tiên xuất bản, Sài Gòn, tr. 12-14)

(2) THỎ LỪA BÀ DUÔN RÍT (Truyện người Ê Đê)

Ngày xửa ngày xưa, có một bà tên là Duôn Rít, hôm nọ, làm cỏ lúa một mình trên rẫy, thì gặp thỏ. Con thỏ đi kiếm ăn, thấy bà Duôn Rít làm lụng vất vả, trời đã trưa, nắng gắt mà vẫn chưa nghỉ. Nó tiến lại, nói:

– Tội nghiệp bà quá! Trời nắng chang chang thế này mà bà vẫn cúi đầu làm miết. Bà đưa cuốc đây, cháu làm cỏ giùm cho!

Bà Duôn Rít tưởng thỏ thật lòng, nói:

Bà Duôn Rít về nhà nấu cơm, bắt gà to làm thịt để thỏ về ăn trưa. Còn thỏ, khi bà Duôn Rít đi khỏi, nó cắn phá hết cả đám lúa, không sót một gốc. Xong, thỏ chạy về nhà, nói với bà Duôn Rít:

– Bà ơi, cháu đã cuốc sạch hết cỏ lúa rồi!

Bà Duôn Rít vội dọn cơm canh ra cho thỏ ăn, bắc ché rượu cần cho thỏ uống. Có điều, thấy thỏ làm cỏ nhanh quá, lòng bà đầy nghi ngại, vội chạy lên rẫy xem, thì ôi thôi, lúa đã bị cắn phá vung vãi. Bà khóc lóc kêu la, rồi chạy thật nhanh về nhà. Thỏ ở nhà, vừa ăn cơm với thịt gà, vừa thúc giục Y Rít, đứa cháu của bà Duôn Rít, lấy cần rượu mà uống. Khi bà chạy đến nhà, Y Rít mới nghe rõ tiếng bà la ó:

– Y Rít, mau đánh chết thỏ đi! Nó cắn phá lúa nhà ta hết rồi.

Y Rít vội vàng lấy gậy đánh thỏ. Thỏ sợ bỏ chạy, rồi chui vào ché. Y Rít đập bể ché. Thỏ vào bếp. Y Rít đánh nát bếp. Thỏ chui vào trốn ở đâu, Y Rít đều đánh chỗ đó tan tành. Thỏ chui vào cái cối đá giã gạo đã thủng lỗ ở dưới đáy. Y Rít cũng chui theo. Ngờ đâu, thỏ chui vào thì lọt, còn Y Rít chui vào thì bị kẹt cứng trong đó, không sao ra được.

Bà Duôn Rít chạy tới, thấy cái cối rục rịch, tưởng thỏ trong đó, nên bà đánh mạnh vào. Y Rít kêu đau, van bà tha. Nhưng bà Duôn Rít lại tưởng thỏ lừa mình, nên cứ phang thật mạnh, cho hết đụng đậy mới thôi.

Khi lôi trong cối ra, bà mới biết đã đánh nhầm cháu mình. Chôn cất cháu xong, ngày nào bà Duôn Rít cũng rầu rĩ khóc lóc, than vãn:

– Cháu thì chết, lúa thì thỏ cắn phá! Khổ quá! Giàng ơi là Giàng!

Lâu lắm, thỏ lại lần mò đến sau lưng bà, hỏi:

– Sao bà cứ than khóc miết vậy, hở bà?

Bà Duôn Rít giật mình, quài tay ra sau túm được hai cái tai dài của thỏ. Thỏ giãy giụa kịch liệt vẫn không thoát khỏi hai bàn tay cứng như gọng kìm sắt của bà. Bà Duôn Rít nghiến răng:

– Lần này tao sẽ đốt mày, ăn thịt mày!

– Nè bà ơi! Bà ăn thịt tôi đâu có lợi gì? Tôi nghe nói Mtao muốn mua thỏ về quay làm món thịt ngon đãi khách. Bà đem tôi bán cho Mtao được nhiều tiền. Lấy tiền đó bà mua lúa ăn vài năm, chẳng có lợi hơn sao?

Bà Duôn Rít nghĩ thỏ đã nói phải, cũng nên đem thỏ đi bán cho Mtao. Thỏ biết, vào giờ này Mtao đang nghỉ ăn cơm, mới nói:

– Bà nên vào cửa chính, sẽ gặp Mtao ở đó. Còn tôi sẽ vào cửa phụ và ở luôn trong chuồng nuôi súc vật của ông ta.

Bà Duôn Rít đồng ý. Thỏ vào cửa sau, gặp Mtao và vợ đang ăn cơm. Thỏ nói:

– Thưa ông Mtao, hôm nay, tôi bán bà Duôn Rít, để làm nô lệ cho ông.

– Thế ông bán bao nhiêu tiền?

– Thưa Mtao, tôi không lấy tiền, chỉ cần một cái chiêng đồng là đủ.

Mtao thấy rẻ, liền đưa cái chiêng đồng cho thỏ, rồi nói:

– Bà ấy đang vào lối cửa chính kia kìa! Bà ấy tới rồi đấy.

Bà Duôn Rít xuống tới chỗ Mtao, ngồi dưới đất, định mở miệng nói, nhưng Mtao đã nói trước:

– Ông thỏ đã bán bà cho tôi rồi. Bà phải ở đây làm nô lệ cho gia đình tôi.

Thế là cuối cùng bà Duôn Rít vẫn cứ mắc lừa thỏ.

( Nguồn: Nguyễn Thị Thu Trang (Chủ biên) (2011), Văn học dân gian các dân tộc thiểu số huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên, Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội, tr. 192-195)

Đọc tiếp hai truyện cổ tích loài vật khác:

(3) NGỰA VÀ HỔ (Truyện người Nùng)

Ngày xưa, hổ không có móng vuốt sắc, ngựa cũng không có bộ móng guốc để phóng nhanh như bây giờ. Lúc ấy, ngựa được loài người thuần hoá làm con vật để cưỡi và chuyên chở hàng hoá, nhưng chân của nó có móng sắc nên đi hơi chậm.

Ngựa được con người nuôi dưỡng, chăm sóc khá cẩn thận nên không đói bữa nào, nhưng thỉnh thoảng nó lại bị người chê đi không được nhanh. Nó lo lắng, có một ngày nào đó, người tìm được con vật khác đi nhanh hơn, thì nó không được nuôi nữa. Hổ vốn là một loài vật hung dữ, chuyên ăn thịt các con vật khác. Chân nó chạy nhanh nhưng không có vuốt sắc, nên nhiều khi đuổi được con vật nào đó, chưa kịp ngoạm thịt, thì con vật ấy đã tuột ra khỏi chân rồi. Chính vì vậy nên nhiều khi hổ bị đói.

Vốn là một con vật thông minh, ngựa nhận ra rằng, hổ có đôi móng chạy nhanh mà lại không phát huy tác dụng, còn nó thì có đôi móng sắc để vồ được các con vật, trong lúc chỉ ăn cỏ, thóc. Ngựa tìm gặp hổ, gạ gẫm rằng:

– Anh hãy đổi móng cho tôi! Anh kiếm ăn cần có đôi móng vuốt nhọn sắc của tôi để vồ và bắt giữ con mồi, còn tôi đã được người nuôi rồi, nên chỉ cần một đôi móng bình thường như anh thôi.

Hổ thấy ngựa nói có lí, đồng ý. Thế là ngựa và hổ đổi móng cho nhau.

Từ đấy trở đi, ngựa có đôi móng chân chắc, khoẻ, chạy nhanh như gió, và được người nuôi yêu thương, gần gũi; hổ thì ngoài hàm răng chắc, khoẻ, đã có thêm đôi vuốt sắc, nhọn để vồ và bắt giữ con mồi. Người ta thường kể rằng, mỗi khi vào rừng, ngửi thấy mùi hổ, ngựa lại sợ hổ đòi lại móng, nên nó cứ quỳ chân xuống đất để giấu móng đi; bấy giờ, nó không bước được nữa. Người nào biết có hổ tới gần, muốn ngựa chạy đưa mình đến chỗ khác để không bị hổ vồ, phải cho ngựa ngửi mùi tỏi để át mùi hổ đi, thì ngựa mới đứng lên chạy tiếp.

( Nguồn: Ngô Văn Trụ, Bùi Văn Thành (Đồng chủ biên) (2011), Di sản văn học dân gian Bắc Giang, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, tr. 381-382)

(4) GỐC TÍCH CÁI NỐT DƯỚI CỔ TRÂU (Truyện người Kinh)

Ngày xưa, con trâu cũng nói một thứ tiếng với người. Nhờ thế, người dùng lời nói để sai khiến con vật theo ý muốn của mình, thật là tiện. Cũng nhờ thế mà những người chăn trâu không dám đánh đập tàn tệ hoặc bỏ đói trâu, vì sợ trâu mách với chủ.

Có một người nông dân nuôi một con trâu và mướn một cậu bé để chăn.

Người và thú lúc đầu rất tương đắc, nhưng về sau lại sinh bất hoà. Cậu bé tính ham chơi, nhiều khi quên mất phận sự của mình, làm cho trâu không có thức gì ăn vào bụng. Có bữa mải mê đánh đáo nhưng lại sợ trâu ăn lúa, cậu ta cột chặt trâu một nơi không cho ăn. Những hôm đó, để che mắt chủ, cậu dùng mẹo: lấy mo cau áp vào hông trâu, rồi trét đất sét bên ngoài. Cứ như thế, cậu dẫn trâu về chuồng.

Chủ nhà nhìn thấy bụng trâu no căng tròn, tỏ ý hài lòng, không căn vặn gì cả.

Nhờ mẹo ấy, cậu ta qua mặt chủ nhiều lần, nhưng cũng nhiều lần làm trâu tức giận.

Một hôm, cậu quá mê chơi, bỏ trâu nhịn đói từ sáng đến chiều. Trâu gọi mãi nhưng cậu ta nào có nghe thấy gì đâu. Buổi chiều hôm ấy, trâu định mách với chủ, nhưng cậu ta đã khôn ngoan dùng lời lấp liếm, không cho trâu nói.

Sáng hôm sau, chủ dắt trâu ra đồng cày ruộng. Trâu tỏ cho thấy nó bước đi không nổi. Chủ gắt:

– Nào có chịu đi mau lên không? Đồ làm biếng!

– Tôi không làm biếng, mà tại đói quá!

– Mày nói sao? Ngày nào thằng nhỏ cũng cho mày ăn no căng bụng lên như cái trống chầu mà!

Bấy giờ trâu mới đủng đỉnh nói:

Sự giả dối của cậu bé thế là bị bại lộ. Ngay buổi trưa hôm đó, người chủ vừa gỡ hai miếng mo cau ở hai bên hông trâu, vừa đánh cậu bé một trận nên thân. Riêng trâu thì rất hả hê, vì từ hôm đó ngày nào cũng được ăn no, lại được tắm rửa sạch sẽ.

Mấy ngày sau, những chỗ bị đòn hãy còn sưng húp, cậu bé ngồi trên bờ giọt ngắn giọt dài, trong khi trâu ung dung ăn cỏ. Bỗng có một ông lão hiện ra ở sau lưng, hỏi cậu ta vì cớ gì mà khóc. Cậu chỉ vào trâu mà nói:

– Tại nó cả, vì nó mách với chủ…

Rồi cậu kể hết cho ông lão nghe. Nghe xong, ông lão dỗ dành cậu bé, và nói:

– Ta rất thương con gặp phải chuyện không may. Bây giờ con muốn gì ta sẽ làm con vui lòng.

– Vì nó biết nói, làm con phải bị đòn. Lúc này con chỉ muốn làm thế nào cho nó không thể nói được nữa.

– Khó gì việc đó. Ta sẽ có phép làm cho con vừa lòng.

Ông bèn rút trong người ra một cây nhang, đốt lên, rồi bất thình lình dí vào dưới cổ con vật. Trâu cố giãy giụa nhưng không kịp. Trâu kêu la khản cổ.

Sau đó, tiếng nói của trâu dần dần mất đi. Cuối cùng, lúc nào muốn nói, trâu chỉ phát ra được hai tiếng “nghé ngọ” mà thôi. Chỗ bị thương lâu ngày thành sẹo, chai cứng như nốt ruồi. Cả dòng họ nhà trâu từ đó sinh ra đều không biết nói, và đều có một cái nốt ở dưới cổ.

– Truyện (3): “Từ đấy trở đi, ngựa có đôi móng chân chắc, khoẻ, chạy nhanh như gió, và được người nuôi yêu thương, gần gũi; hổ thì ngoài hàm răng chắc, khoẻ, đã có thêm đôi vuốt sắc, nhọn để vồ và bắt giữ con mồi. Người ta thường kể rằng, mỗi khi vào rừng, ngửi thấy mùi hổ, ngựa lại sợ hổ đòi lại móng, nên nó cứ quỳ chân xuống đất để giấu móng đi; bấy giờ, nó không bước được nữa. Người nào biết có hổ tới gần, muốn ngựa chạy đưa mình đến chỗ khác để không bị hổ vồ, phải cho ngựa ngửi mùi tỏi để át mùi hổ đi, thì ngựa mới đứng lên chạy tiếp”.

– Truyện (4): “Sau đó, tiếng nói của trâu dần dần mất đi. Cuối cùng, lúc nào muốn nói, trâu chỉ phát ra được hai tiếng “nghé ngọ” mà thôi. Chỗ bị thương lâu ngày thành sẹo, chai cứng như nốt ruồi. Cả dòng họ nhà trâu từ đó sinh ra đều không biết nói, và đều có một cái nốt ở dưới cổ”.

Theo như đã trình bày, thì truyện cổ tích loài vật có hai kiểu kết cấu: kết cấu gồm hai phần, phần “dẫn truyện” và phần “thuật truyện”; kết cấu gồm ba phần, phần “dẫn truyện”, phần “thuật truyện”, và phần “kết truyện”.

Theo đó, thì việc ghi nhận hai kiểu kết cấu của truyện cổ tích loài vật như đã trình bày, chẳng những cho thấy một đặc điểm quan trọng về hình thức nghệ thuật của truyện cổ tích loài vật, mà còn, ở lĩnh vực nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề, là một sự bổ sung cần thiết (của người sau đối với người đi trước).

(1) Riêng truyện cổ tích về người, có hai bộ phận hay tiểu thể loại (gọi tắt là tiểu loại) truyện cổ tích, là truyện cổ tích thần kì và truyện cổ tích thế tục. Để tiện trong việc gọi tên, các nhà nghiên cứu cũng xem bộ phận truyện cổ tích loài vật là một tiểu loại, cùng với hai tiểu loại vừa nêu, của truyện cổ tích

Sự Tích Con Dã Tràng – Truyện Cổ Tích Hay Về Loài Vật

Sự tích con dã tràng – Truyện cổ tích hay về loài vật. Truyện đã giải thích nguồn gốc của hành động “xe cát biển đông” của dã tràng.

Sự tích con dã tràng là một trong những truyện cổ tích Việt Nam đặc sắc về loài vật. Truyện tuy hơi dài nhưng có nhiều tình tiết ly kì và hấp dẫn nên được rất nhiều em yêu thích

Sự tích con dã tràng Truyện cổ tích hay về loài vật

Ngày xửa ngày xưa có một đôi vợ chồng, người chồng tên là Dã Tràng. Trong một lần làm vườn, ông phát hiện trong vườn nhà mình có một cái hang rắn hổ mang. Bên trong là một cặp vợ chồng rắn, chúng thường ra vào trong hang để đi kiếm mồi.

Một lần ông để ý có mình rắn chồng bò ra khỏi hang, lúc sau mang về một con nhái đút cho vợ ăn, thì ra rắn vợ mới lột xác nên yếu ớt không cựa quậy được. Cũng chẳng lâu sau, ông lại thấy rắn vợ bò ra khỏi hang một mình, ông chắc rằng rắn chồng cũng đang lột xác không đi kiếm mồi được. Nhưng kì lạ là, ông chờ đến khi rắn vợ về lại không thấy nó mang thức ăn về cho chồng mà có một con rắn hổ mang đực lớn khác đi theo sau. Hai con bò đến cửa hang, chúng quấn lấy nhau bện như dây thừng.

Bực mình vì rắn vợ dám phản bội chồng, lại thấy con rắn đực kia đang bò vào hang Dã Tràng mới nhanh nhẹn giương cung bắn, chẳng may bắn trúng rắn vợ, rắn vợ chết lăn quay. Con rắn đực kia thấy thế thì hoảng hốt vội bỏ chạy. Dã tràng nghĩ cũng tội cho con rắn cái nhưng ông cũng rất giận nó, khi nó đau yếu thì rắn chồng chăm sóc vậy mà khi rắn chồng không đi tìm mồi được nó lại có thể phản bội như thế. Thế rồi ông cũng bỏ về nhà, từ đó không để ý đến cái hang rắn nữa.

Vài ngày sau, một hôm nằm võng trò chuyện với vợ, ông mới kể hết đầu đuôi câu chuyện về cái hang rắn cho vợ nghe, ông vừa dứt lời thì nghe trên máng có tiếng phì phì. Hai vợ chồng hốt hoảng nhìn lên thì thấy có một con rắn hổ mang rất lớn, đuôi quấn lấy xà nhà, đầu vườn tới gần chỗ ông nằm, miệng nhả một viên ngọc. Ông vừa cầm lấy thì bỗng nghe được tiếng rắn nói:

Dã Tràng hết sức kinh ngạc, sau đó là sung sướng vô cùng, ông nhận viên ngọc và từ đó luôn mang ngọc theo bên mình.

Một hôm, Dã Tràng đang hái rau, bỗng có một bầy quạ đến đậu ở mấy ngọn cau nói chuyện lao xao. Chúng vươn người bảo Dã Tràng:

Dã Tràng đi lên núi Nam, thấy xác một con dê ý như lời quạ mách, ông bèn xẻo lấy một ít thịt xâu lại xách về. Đến nhà, ông vội mách cho xóm giềng biết mà đi lấy, không quên dặn họ để bộ ruột dê lại cho bầy quạ. Nhưng ông không ngờ người trong xóm nghe tin ấy đua nhau đi đông quá, thành ra họ lấy hết cả, chẳng chừa một tý gì.

Lũ quạ không thấy ruột dê, cho là Dã Tràng đã lấy hết, chúng kéo nhau đến vườn nhà ông réo riếc om sòm. Thấy vậy, biết là người trong xóm đã làm hại mình không giữ chữ tín với bầy quạ. Ông cố gắng giải thích nhưng bầy quạ vẫn không nghe, cứ đứng đó mà gào lên chửi.

Bực mình quá, ông mới lấy cung tên ra bắn vào dưới chân chúng, định đuổi chúng đi chứ không có ý giết, ai dè bầy quạ tưởng ông muốn giết chúng, lấy oán trả ơn. Chúng bèn lấy cắp mũi tên khắc tên Dã Tràng ở đuôi, tìm dịp báo thù ông. Lũ quạ cứ ngửi đâu có xác chết là bay đến, một lần nọ chúng bay qua sông, thấy có một cái xác chết trôi, chúng bèn lấy mũi tên của ông, cắm vào yết hầu xác chết, khi quan phát hiện ra, thấy tên Dã Tràng, nghĩ ngay ông là thủ phạm, bèn cho lính đi bắt ông về chịu tội.

Dã Tràng bỗng dưng bị bắt hết sức kêu oan nhưng nhìn thấy mũi tên của mình, ông không sao thanh minh được, tuy nhiên ông vẫn một mực xin quan xét nỗi oan uổng. Quan không biết xử trí ra sao, bèn sai lính đưa ông về kinh nhờ vua phán xét.

Dọc đường về kinh, ông có nghe thấy đàn chim sẻ nói chuyện với nhau:

– Mau nhanh lên thôi, chuyến này chúng ta được ăn no rồi

Một con chim sẻ khác cất lời:

– Thế cơ á? Của ai mang đến mà bỏ vương vãi nhiều thế?

Con chim kia trả lời:

– Của vua nước nọ kéo quân sang đánh nước này, hôm qua quan quân giáo mác kéo đi liên miên không ngớt. Nhưng xe thóc vừa sắp đến biên cương thì bị sụp hầm đổ hết. Họ đang trở về lấy thứ khác, cho nên chúng mình tha hồ chén, không ai đuổi đi đâu. Lần này thì được bữa tha hồ rồi.

Thế rồi bọn sẻ kéo nhau bay đi mất, ông vội vàng báo với bọn lính:

– Các anh lính ơi, việc của tôi sống chết nhưng cũng chưa đáng lưu tâm, giờ có một việc vô cùng trọng đại nữa, tôi cần bẩm báo ngay với quan trên.

Cho dù bọn lính tra hỏi như thế nào thì ông cũng một mực không nói, chỉ khi có mặt quan trên thì ông mới tỏ bày rõ ràng. Lính tra đành mang ông đến gặp quan tỉnh, Dã Tràng kể rõ sự tình, rằng vua Hiền Đế ở phương Bắc đã sai tướng cầm quân sang đánh úp nước mình và đóng quân đầy ở biên giới, chỉ vì bị sụp hầm, xe lương đổ hết, chưa tấn công được. Bây giờ họ đang vận thêm lương, chờ đầy đủ sẽ vượt cửa ải sang Nam.

Quan tỉnh nghe xong nghi ngờ lẽ nào âm mưu to lớn như vậy mà một tên dân quèn như ông lại biết được. Dã Tràng thấy quan còn nghi ngại bèn chỉ vào đầu mình và cam đoan nếu nói sai, ông sẽ xin chịu chết nhưng nếu đó là thực thì mong được thả về nhà. Ngay lúc đó, những tên quân do thám được tung đi tới tấp mọi ngả để lấy tin. Quả đúng như lời Dã Tràng nói, nước ta đang có nguy cơ bị xâm phạm, ông được thả về ngay.

Dã Tràng đi bộ tìm về quê nhà. Đi qua huyện của người bạn thân Trần Anh, trời cũng đã xẩm tối, không đi được nữa. Dã Tràng đành ghé vào nhà bạn một tối rồi mai trở về. Đôi bạn gặp nhau thì mừng khôn xiết, nghe ông kể đầu đuôi sự tình, Trần Anh vô cùng thương cảm. Ăn xong bữa tối, Trần Anh xuống bếp bảo vợ:

– Vợ này, Dã Tràng là bạn thân ta, tối nay lại nhà lại không có gì ăn, nhà mình có cặp ngỗng, ngỗng con cũng đã lớn khôn, ta làm thịt một con, ngày mai đãi bạn lên đường.

Thế rồi hai vợ chồng thống nhất với nhau canh tư sáng mai dậy cùng nhau cắt tiết vặt lông ngỗng. Cặp ngỗng trong chuồng nghe thấy câu chuyện của vợ chồng chủ thì buồn rầu. Ngỗng trống quay sang bảo ngỗng cái:

– Mình này, nhà chủ có ơn nuôi chúng ta đã lâu, nay con cũng lớn rồi, mình ở lại dạy bảo các con, mai tôi sẽ đứng sẵn cho chủ bắt.

Ngỗng cái thương chồng, quyết không để chồng phải chết, nhưng ngỗng trống gạt phăng đi, quay vào dặn đàn con:

– Các con hãy ngoan ngoãn ở lại với mẹ, cha sẽ đi mãi không về nữa.

Đàn con còn ngơ ngác chưa hiểu gì thì ngỗng mái quyết lạch bạch chạy theo ngỗng trống. Dã Tràng nằm trong buồng ngó qua cửa sổ trông thấy sự như thế thì thương đàn ngỗng lắm, chỉ vì mình mà cha lìa con. Nghĩ thế ông định nói với Trần Anh nhưng rồi thấy hơi bất tiện, ông đành chờ lúc bạn ra chuồng bắt ngỗng thì sẽ cản lại.

Suốt đêm hôm đó tuy mệt mà ông không dám ngủ. Canh tư vừa điểm, Dã Tràng nghe có tiếng lạch cạch bên chuồng ngỗng. Ngỗng trống xua ngỗng mái chạy rồi vươn cổ để cho bắt. Khi Trần Anh sắp cắt cổ ngỗng thì Dã Tràng đã lật đật chạy xuống bếp giữ lấy tay Trần Anh. Ông nói:

– Tôi biết bạn có lòng tốt thương cảm với tôi, chúng ta đã thân nhau bao lâu, tính tôi lại không hay sát sinh, bạn đừng giết nó mà tội nghiệp. Nếu bạn giết nó tôi sẽ đi ngay lúc này.

Thấy bạn có vẻ quả quyết, Trần Anh ngậm ngùi thả ngỗng ra, ông giục vợ chạy đi mua tép về đãi bạn. Cơm nước cũng đã xong, Dã Tràng từ giã bạn lên đường về nhà. Vừa ra đến ao, ông đã thấy vợ chồng ngỗng cùng với bầy con đứng chực ở đấy. Ngỗng đực ngậm một viên ngọc đến đặt dưới chân Dã Tràng và nói:

– Cảm ơn ân nhân cứu mạng, không biết nên cảm ơn ông thế nào. Tôi có viên ngọc này, mang nó vào người có thể đi được dưới nước dễ dàng không khác gì trên bộ. Nếu đem ngọc này xuống nước mà khoắng thì sẽ rung động đến tận đáy biển.

Ngỗng lại nói tiếp:

– Hôm nay ông chủ không giết chúng tôi mà tép đã thế mạng nên từ nay loài ngỗng chúng tôi sẽ không ăn tép để tỏ lòng biết ơn.

Dã Tràng cảm động trước tấm lòng báo đáp của ngỗng, ông sung sướng nhận lấy ngọc rồi về. Khi đến bờ sông, Dã Tràng muốn thử xem công hiệu của viên ngọc mới, ông mới lội xuống nước thì lạ thay nước rẽ thành một lối cho ông đi thẳng xuống đáy sông. Ông đi xem xét dạo quanh một hồi. Lại muốn thử xem liệu viên ngọc có sức mạnh dao động đến đáy biển không, ông cứ thế cầm viên ngọc khoắng khoắng vài vòng. Ngọc trong tay ông vừa khoắng thì lòng nước chao đảo, nước cuộn xoáy, thủy phủ rung động như muốn đổ sập, đương lúc họp triều thần của Long Vương. Ai nấy đều giật mình nháo nhác không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Long Vương bèn sai người đi dò la sự tình.

Tên lính hầu đi theo con đường sóng ngầm lọt vào cửa sông thì thấy Dã Tràng đang cầm ngọc khoắng vào nước. Mỗi một lần khoắng, họ cảm thấy đầu đau như búa bổ, cá mú liêu xiêu. Biết Dã Tràng chắc chắn là người gây ra việc này nhưng tên lính hầu không dám kinh động, hắn tiến đến ngỏ ý mời ông xuống thủy cung thăm thú một lần. Dã Tràng nghe thế thì vui mừng lắm, ông theo tên lính đi luôn, nhìn thấy cung điện nguy nga, toàn là vàng bạc châu báu, ánh sáng xanh đỏ lấp lánh. Long Vương ngỏ ý hỏi cơ sự tại sao. Dã Tràng mới kể câu chuyện được tăng ngọc quý cho Long Vương nghe, ông mới chỉ thử xem viên ngọc có hiệu nghiệm không. Nghe Dã Tràng nói tất cả mọi người đều rùng mình xanh mắt. Họ nhìn nhau ái ngại: “Mới khua khoắng tí thôi mà đã nhức óc đau đầu, nếu hắn làm thật thì còn gì là thủy cung nữa”. Long Vương nhún nhường tiếp đãi Dã Tràng rất hậu, lúc đưa dã Tràng về, Long Vương còn cho người đưa ông về tận nhà và tặng rất nhiều vàng bạc châu báu.

Về đến nhà, hàng xóm thấy ông không những khỏe mạnh bình yên mà còn trở nên giàu có thì ai nấy cũng vui mừng. Dã Tràng may một cái túi, đựng hai viên ngọc, đi đâu cũng mang theo không rời nửa bước.

Một ngày nọ, Dã Tràng được mời đến nhà bà con ăn giỗ. Đi nửa ngày đường mới đên nơi. Vừa ngồi xuống mâm thì ông chợt nhớ ra không mang theo túi ngọc, ông vội đứng dậy trở về tìm. Nhưng khi về đến nhà, ông tìm mãi vẫn không thấy túi ngọc đâu cả. Ông rụng rời cả người. Ông đi tìm vợ, cũng không thấy vợ đâu, ông lục lọi khắp mọi nơi, thì phát hiện ra mảnh giấy vợ ông để lại, nói rằng ông không cần mất công tìm ngọc nữa, có người của Long Vương lên bảo hễ có ai bắt được túi ngọc đưa xuống dâng Long Vương sẽ được làm hoàng hậu, bà đã trộm túi ngọc của ông mang đi mất rồi.

Đọc xong thư vợ, Dã Tràng ngất đi. Ông không ngờ vợ ông lại phản bội ông như con rắn cái ông bắn trước kia. Ông cũng không ngờ âm mưu của Long vương thâm độc đến nước ấy, trách mình không cẩn thận để mất hai viên ngọc quý. Tiếc của, ông nghĩ cách tìm bằng được hai viên ngọc. Ông tính đổ cát lấp biển thành một con đường đi xuống thủy cung quyết tìm lại báu vật. Mọi người thấy thế thì cho rằng ông hồ đồ mất rồi, can ngăn ông bao nhiêu cũng không được, ông dọn nhà ra bờ biển để tiện xe cát làm đường.

Ngày này qua ngày khác, ông cứ miệt mài không bỏ cuộc. Thế rồi, chẳng bao lâu sau, ông đuối sức, cho đến tận khi chết, Dã Tràng vẫn không bỏ cuộc. Ông chết đi hóa thành con còng còng. Dân ta gọi là con Dã Tràng theo tên ông, ngày ngày xe cát lấp biển.

Ý nghĩa sự tích con dã tràng

Sự tích con dã tràng đã giải thích nguồn gốc của hành động “xe cát biển đông” của dã tràng. Một hành động vô ích và lãng phí thời gian. Vì lượng cát biển đông là nhiều vô kể. Và mỗi lần xe được một ít thì lại bị sóng biển cuốn trôi hết.

Qua đó, truyện cổ tích “Sự tích con dã tràng” muốn khuyên nhủ chúng ta phải biết suy nghĩ và phân tích trước khi tránh hành động. Để chế giễu những người làm những việc vô ích, thiếu suy nghĩ chín chắn, trong dân gian ta lưu truyền câu ca dao:

“Dã tràng xe cát biển đông, Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì.”

– Sự tích con muỗi – Truyện cổ tích ý nghĩa về đạo đức

– Sự tích quả dưa hấu – Truyện cổ tích ca ngợi những con người lao động chân chính

– Rùa và thỏ – Truyện ngụ ngôn ý nghĩa cho người bền chí

– Sự tích hoa Tulip (Hoa uất kim hương)  – Truyện cổ tích về các loài hoa

Phân Định Giữa Truyện Ngụ Ngôn Và Truyện Cổ Tích Loài Vật

1.2.Truyện ngụ ngôn và truyện cổ tích loài vật có quan hệ khá gắn bó với nhau, việc tách bạch chúng không mấy dễ dàng. Khi xem xét mối quan hệ này, Chu Xuân Diên viết: “Ở Việt Nam, tính chất cổ xưa của loại truyện về loài vật đã bị pha trộn với khuynh hướng của người đời sau mượn truyện loài vật để nói về xã hội loài người, do đó giữa loại truyện này với truyện ngụ ngôn có những trường hợp không có sự phân biệt thật rạch ròi” (2).

Khi chỉ kể về các quan hệ giữa những con vật với nhau, người kể không thể tách rời sự việc với xã hội con người, nên hiện tượng đồ chiếu quan hệ giữa các con vật vào quan hệ của xã hội loài người, được xem là hiển nhiên (theo nguyên lí văn học phản ánh hiện thực). Những phản ánh ấy xuất phát từ các con vật và “xã hội”, môi trường sống của chúng, nên ý nghĩa của tác phẩm được nói đến nhuốm màu ngụ ngôn. Có điều, giữa ý nghĩa nhuốm màu ngụ ngôn và truyện ngụ ngôn, là hai lĩnh vực khác nhau.

Ngày xưa, có con cáo ranh ma, láu lỉnh. Hôm nọ, cáo đi kiếm ăn sớm, chẳng may gặp hổ. Cáo định lủi tránh, nhưng hổ đã nom thấy, gọi lại:

– Này, cáo! Mày có biết qua mặt tao mà không bẩm báo là tội gì không?

Cáo biết nó không gặp may rồi, nhưng cố trấn tỉnh, hỏi:

– Tao muốn đi chơi xuân với mày.

Hổ biết cáo giỏi việc trộm cắp, muốn lợi dụng cáo đưa đường chỉ lối cho mình, để việc kiếm ăn dễ dàng hơn. Hổ nói tiếp, vẻ thân thiện:

– Mày đừng có sợ! Tao cũng biết cách ăn ở sao cho hợp lẽ. Chúng mình hãy kết bạn với nhau. Nói lại: tao với mày là bạn. Rõ chưa?

Cáo nghĩ: “Hổ đã nói vậy mà mình không chơi với nó, là mình ngu”. Nó hỏi:

– Ở cái vườn bên kia dãy núi.

– Đi xa như vậy, đói bụng lấy gì ăn?

Hổ đáp, như đã chuẩn bị sẵn:

– Thì mày hãy đem theo một con gà, tao đem theo một con heo. Nếu tao ăn hết heo mà vẫn còn đói, thì có mày đây, để làm gì?

Nghe vậy, cáo xanh mặt, chực lủi trốn. Nhưng hổ cười:

– Nói chơi vậy thôi, chứ đã là bạn bè với mày, tao không ăn thịt mày đâu.

Chúng hẹn sáng mai, hai bên đem theo mồi, gặp lại nhau ở đây.

Đúng hẹn, cáo đem gà đến, hổ cõng heo tới. Thấy cáo giữ gà trong hai tay, hổ bảo:

– Mày đưa đây tao mang hết cho. Thứ gà mái của mày trăm con tao cũng mang nổi.

Cáo đắn đo: “Sức lực của hổ mạnh thế kia, nó muốn giựt thì mình cũng không giữ nổi. Thôi thì đưa phức cho rồi!”. Rồi cáo đưa gà cho hổ. Hai bên cùng đi. Đến chỗ khe suối, hổ đặt hai con mồi xuống đất, rủ cáo đi uống nước.

Khi trở lại, thấy có thêm một quả trứng, hổ nói:

– Heo làm sao lại đẻ được trứng? Con gà mái của tôi đẻ đó.

Thế là hai đứa cãi nhau kịch liệt, bất phân thắng bại. Chúng kéo nhau đi nhờ bên thứ ba phân xử.

– Này thỏ kia! Tao nói heo tao đẻ ra cái trứng này mà thằng cáo lại nói gà của nó đẻ. Mày nghĩ coi, nó nói bậy nói bạ vậy nghe có được không?

Thỏ vốn nhát gan, thấy hổ là run, nên nói nịnh:

– Xưa nay họ nhà chúng tôi ai cũng khen ông hổ tài ba lỗi lạc. Hễ có bàn tay của ông nhúng vào, thì nó đẻ ra thứ gì mà chẳng được!

Ý thỏ là hổ bảo sao thì sự việc là như vậy. Nhưng cáo vờ không hiểu, nói:

– Chú thỏ nói hàng hai, hàng ba, ai hiểu cho nổi?

Cả hai lại kéo nhau đi. Chúng gặp một con trâu đang ăn cỏ. Hổ nói:

– Này trâu kia! Tao nói heo của tao đẻ trứng, mà thằng cáo lại nói gà của nó đẻ. Vậy mày hãy nói coi, tao đúng hay nó đúng?

Trâu tuy to xác nhưng lại yếu bóng vía, rất sợ oai hổ. Nó nói:

– Ngài là chúa tể sơn lâm, mỗi lời nói ra đều là khuôn vàng thước ngọc. Vậy điều ngài nói ra là đúng!

Cáo không chịu, đòi đi hỏi nữa. Hổ giao ước:

– Sự bất quá tam, nếu lần thứ ba này gặp thằng nói như hai đứa trước, thì mày phải chịu thua tao; nộp cho tao cả gà lẫn trứng. Rõ chưa?

Cáo đồng ý. Lần này, cáo và hổ gặp khỉ. Hổ chặn khỉ lại hỏi:

– Này khỉ kia! Tao nói heo của tao đẻ trứng. Thằng thỏ, thằng trâu đều cho là phải. Trong lúc cáo lại nói gà của nó đẻ cái trứng đó. Mày xem, có phải thằng cáo nói tầm bậy không?

Khỉ nhanh trí, hiểu ngay ra sự việc. Nhưng nó ậm ừ:

– Tôi đang đói, phải đi kiếm ăn đây! Thôi, thế này vậy: hai ông cùng đi với tôi, để trên đường đi, tôi suy nghĩ kĩ việc ấy xem sao, thì mới trả lới đúng được.

Ba con cùng đi một đỗi rất xa. Hổ sốt ruột lại hỏi, khỉ tỏ vẻ lúng túng, không chịu trả lời. Ba lần như vậy. Mãi cho đến lúc cả ba tới gần một cây cổ thụ to cao, khỉ đứng lại, dõng dạc nói:

– Này hai ông, hãy nghe cho rõ tôi nói đây: gà đẻ ra trứng!

Hổ liền nổi giận, phóng tới chụp khỉ. Nhưng đã chuẩn bị trước, khỉ nhảy phốc lên cành cây. Khỉ còn chõ mõm xuống, nói:

– Ông hổ! Ông làm lớn trong chốn lục lâm, phải ăn nói đàng hoàng với kẻ dưới. Chớ ỷ lớn mà nói năng bậy bạ để vơ lợi vào mình, bất chấp sự thật và đạo lí. Như vậy thì thiên hạ không ai phục ông đâu!

– Anh khỉ! Tôi khâm phục anh đã nói đúng sự thật. Nhưng sao hồi nãy anh không chịu nói ngay?

– Hãy thông cảm cho tôi. Hồi nãy, tôi không nói, vì chưa có cái thế để nói. Nay nhờ cây cổ thụ này bảo đảm cho tôi khỏi mất mạng, tôi mới nói được sự thật.

( Nguồn: Ngô Sao Kim (2011). Truyện cổ, truyện dân gian Phú Yên, Nxb. Lao động, Hà Nội, tr. 156-157)

Việc đánh bạn giữa hổ và cáo không xuất phát từ tình cảm thật, nên đây là một sự kết hợp làm ăn. Đã kết hợp làm ăn thì phải tương xứng, nhưng hổ thì hung bạo, bao giờ cũng muốn lấn lướt đối phương, còn cáo thì yếu đuối, vừa muốn lợi dụng kẻ mạnh vừa sợ sệt nó; nên chẳng những không tương xứng mà còn tiềm ẩn nhiều mâu thuẫn đối kháng. Cặp đôi này đã không vượt nổi thử thách đầu tiên: con gà của cáo đẻ trứng, nhưng hổ lại bảo con heo của nó đẻ! Hai bên cãi nhau, bèn đi nhờ kẻ thứ ba phân xử. Thỏ và trâu run sợ oai hùm, cho hổ đúng. Đến khỉ, nó khất lời đáp lại, và cùng đi với hổ, cáo một đoạn. Lúc đứng dưới một cây cổ thụ, khỉ mới nói: “Gà đẻ ra trứng!”. Hổ giận dữ vồ khỉ, nhưng khỉ đã nhảy tót lên cây. Nó còn chõ mõm xuống mắng hổ nói năng bất chấp sự thật và đạo lí. Cáo khâm phục khỉ, nhưng nó vẫn thắc mắc: Tại sao trước một điều hiển nhiên như vậy mà khỉ lại đắn đo, không chịu nói ngay? Khỉ đáp, đại ý: vì phải tìm ra cái thế cho khỏi mất mạng đã, mới nói được.

(II) TRÂU, HỔ VÀ NGƯỜI THỢ CÀY

Ngày xửa ngày xưa, con trâu và con hổ đều biết nói. Trâu bị con người nhỏ bé dắt ra đồng cày bừa từ sáng sớm. Đứng từ ven đồi nhìn ra ruộng cày, hổ thấy trâu to lại bị con người nhỏ bé đi sau, dùng roi quật vào đít, bắt kéo cày nhanh hơn, hổ thấy rất lạ. Đến giờ nghỉ giải lao, người thợ cày cho trâu nghỉ. Con hổ đến gần hỏi con trâu:

– Sao mày to thế mà để con người bé tí kia đánh vào mông?

Con trâu giọng trầm ngâm nói với hổ:

– Mày không biết đấy thôi, con người bé nhỏ nhưng nó có trí khôn đấy.

Hổ thấy trâu nói vậy, nghĩ bụng: “Quái lạ! Sao người bé vậy mà con trâu to xác phải sợ?”.

– Anh cứ thử trêu người mà xem.

Con hổ tiến gần chỗ anh thợ cày và hỏi:

– Anh thợ cày ơi, cho tôi xem trí khôn của anh một tí?

– Nhưng mà tôi để quên trí khôn của tôi ở nhà rồi! Bây giờ, tôi về nhà lấy trí khôn ra cho anh xem. Nhưng khi tôi đi về nhà, sợ anh chạy lung tung làm tôi khó tìm. Hay là, anh để tôi lấy dây buộc tạm anh vào gốc cây để chờ?

Con hổ nghe anh thợ cày nói có lí, bèn đồng ý để cho anh ta dùng dây da trâu buộc vào gốc cây. Sau khi buộc chặt con hổ vào gốc cây, anh thợ cày bảo hổ cựa mình xem. Con hổ vùng vẫy mạnh nhưng không thể thoát ra được.

Lúc bấy giờ, anh thợ cày mới bảo với con hổ:

Nói xong, anh thợ cày dùng thân cày đánh vào đầu con hổ, cho đến khi con hổ chết mới thôi. Trong lúc đánh, miệng người thợ cày vẫn nói: “Trí khôn của ta đây!”. Con trâu nhìn thấy thế bảo với con hổ:

– Mày thấy chưa, nó bé người nhưng mà nó có lắm mưu kế.

Đồng thời, trâu khoái chí bò lăn ra cười, vô tình va vào hòn đá to làm gãy cả hàm răng trên. Từ đó trở đi, trâu không có hàm răng trên, khi nhai cỏ thì nhai bằng lợi trên với hàm răng dưới.

( Nguồn: Trần Hữu Sơn (Chủ biên) (2015), Văn hoá dân gian người Bố Y ở Lào Cai, tập 2, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 313-314)

Thằng cày mở trâu ra sắm sửa đi cày. Ra đồng cày đàng kia qua đàng nọ. Trâu mệt đà le lưỡi. Mà mắc cày ruộng gần chân núi, khi cày thì thằng trai cầm cày hò hét, đánh đập thá ví con trâu đà cơ khổ, lại thêm chửi rủa hành hạ quá chừng.

Con cọp ngồi rình trong bụi, ngó thấy vậy thì giận lắm. Đến buổi thôi cày, thằng chăn thả trâu ra đi ăn. Con cọp mới lại gần kêu con trâu, mắng nhiếc:

– Mày có vóc vạc mạnh mẽ, lại có hai cái sừng nhọn làm khí giới, sao mày không cự, không chống, lại cúi gầm đầu mà chịu nó? Mày muốn theo làm đầy tớ cho nó, để nó đánh mắng, nó trèo lưng cưỡi cổ mày sao?

Con trâu cười mà nói rằng:

– Trời sinh muôn vật mà khôn thì bao giờ cũng hơn mạnh thôi. Dù mày đi nữa cũng phải thua nó, huống chi là tao.

– Tao có nghề, lại mạnh, cho mười nó đi nữa tao cũng làm chết, lựa là một.

– Vậy thì mày đi lại đây, để tao kêu nó lại đánh với mày cho biết sức.

Cọp đồng ý. Trâu đến gọi thằng cày lại. Anh trai cày lơn tơn tiến đến, nói với cọp:

– Bây giờ tao đang đói bụng, không đánh với mày được.

– Vậy thì mày đi ăn cơm đi, rồi trở lại đây mà đánh với tao.

– Mày hay nói láo lắm! Tao bỏ về thì mày chạy mất, còn gì mà đánh?

– Mặt nào chứ mặt này chẳng thèm chạy đâu!

– Nếu đúng vậy thì để tao trói mày lại, đặng tao vào nhà ăn cơm cho no, sau đó tao trở lại mở mày ra, rồi đánh nhau. Không thì mày bỏ trốn, tao biết đâu được.

Cọp đồng ý để thằng cày trói nó. Trói xong, thằng cày chạy đi bẻ cây, quay lại đánh cọp. Cọp mắc trói thất thế, vùng vẫy không được, bị đòn mà chết.

Bấy giờ, trâu mới nói khẽ với cọp rằng:

– Tao đã nói với mày rồi mà mày không nghe! Mày chết là đáng số lắm!

Ấy là mạnh mà không mưu, ỷ thế mạnh mà khinh rẻ người ta. Có người tuy yếu thế, yếu sức mà cao mưu, nên nhiều khi thắng được kẻ mạnh quờn, mạnh thế mà thấp mưu. (3)

( Nguồn:[3, tr. 332-334/quyển IV] – trích từ: Trương Vĩnh Kí (1974), Chuyện đời xưa, Nhà sách Hoa Tiên xuất bản, Sài Gòn, tr. 82-84)

Giả sử, truyện kết thúc sau lời của trâu nói với hổ “Tao đã nói với mày rồi mà mày không nghe! Mày chết là đáng số lắm!” (III), hay “Mày thấy chưa, nó bé người nhưng mà nó có lắm mưu kế” (II); thì hai truyện được dẫn tương tự nhau. Tức chúng có sự tương đồng về kết cấu, về ý nghĩa, và thể loại (ở đây, là thể loại ngụ ngôn). Để kiểm chứng, ta thử áp mô hình của truyện ngụ ngôn vào truyện (III) (4): a) Nhân vật kèm tính cách: một con cọp ngu dại; b) Nhân vật kèm tính cáchđứng trước bối cảnh, điều kiện cần ứng phó: cọp thấy con trâu to khoẻ phải chịu phép người cày, hỏi lí do thì trâu bảo: do người khôn ngoan, cho dù cọp cũng không đấu lại nổi; c) Nhân vật kèm tính cách đứng trước bối cảnh, điều kiện cần ứng phó,đã có hành động đáp trả phù hợp với tính cách của mình: cọp muốn thi đấu với người, người bảo đang đói không đánh nhau được, mà về ăn cơm thì cọp sẽ bỏ chạy, đề nghị được trói cọp lại; do quá muốn xem sức lực của người và bị chạm tự ái, cọp đồng ý để người trói (5); d) Nhân vật kèm tính cách đứng trước bối cảnh, điều kiện cần ứng phó, đã có hành động đáp trả phù hợp với tính cách của mình,để giành được thắng lợi hay phải chịu thua thiệt: cọp bị người đánh nhừ tử. Theo đó, đây là một kiểu truyện thuộc mô hình của truyện ngụ ngôn (6).

Nhưng đoạn kết truyện của chúng lại không như thế:

– “Ấy là mạnh mà không mưu, ỷ thế mạnh mà khinh rẻ người ta. Có người tuy yếu thế, yếu sức mà cao mưu, nên nhiều khi thắng được kẻ mạnh quờn (quyền), mạnh thế mà thấp mưu” (III).

– “Đồng thời, trâu khoái chí bò lăn ra cười, vô tình va vào hòn đá to làm gãy cả hàm răng trên. Từ đó trở đi, trâu không có hàm răng trên, khi nhai cỏ thì nhai bằng lợi trên với hàm răng dưới” (II).

Việc phân định giữa truyện ngụ ngôn và truyện cổ tích loài vật, là cần thiết. Bởi đã có mối quan hệ xoắn xuýt giữa hai đối tượng này trong quá khứ. Ở cả hai bộ phận của truyện cổ tích loài vật đều có sự gắn bó theo cách riêng của chúng với truyện ngụ ngôn. Do vậy, việc “tháo gỡ” để tách bóc chúng ra phải lần theo từng bộ phận một. Bài viết này đã cố gắng giải quyết sự việc theo cách ấy.

Nhưng do dung lượng bài viết có hạn, nên có nhiều trường hợp khác phải để người đọc tự giải quyết. Như trường hợp truyện cổ tích loài vật bao hàm một hoặc nhiều truyện ngụ ngôn, hoặc không chỉ bao hàm truyện ngụ ngôn mà còn với một vài thể loại, tiểu loại khác (phần lớn số truyện này, truyện cổ tích loài vật có dung lượng lời lớn hơn hẳn thể loại, tiểu loại mà nó bao hàm – là cơ sở để có thể phân biệt).

3. Một số từ ngữ trong truyện: sắm sửa: chuẩn bị những thứ cần dùng; thá ví: tiếng hô đi sang phải hay sang trái, khi điều khiển trâu cày kéo; lựa là: lọ là, huống gì; kêu: gọi; quờn: quyền.

5. Do ngu dại nên cọp không lường được sự tráo trở của đối phương, khi mình bị thất thế.

6. Một truyện tương tự với truyện này, là “Trí khôn” (hay “Cọp và trí khôn của con người”), đã được một số tác giả xếp vào truyện ngụ ngôn (chẳng hạn, truyện này được chép ở: a) Minh Hạnh, Phan Hồng Sơn (1986), Truyện ngụ ngôn Việt Nam, Nxb. Văn học, Hà Nội, tr. 126-127; b) Phạm Minh Hạnh (1993), Truyện ngụ ngôn Việt Nam và thế giới (thể loại và triển vọng), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 269-270; c) Trương Chính (1998), Bình giải ngụ ngôn Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 105-107;…).