Truyện Cổ Tích Về Loài Người Chính Tả / Top 11 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Kovit.edu.vn

Chuyện Cổ Tích Về Loài Người

“Trời sinh ra trước nhất Chỉ toàn là trẻ con Trên trái đất trụi trần Không dáng cây ngọn cỏ”

Những câu thơ đáng yêu trên được trích từ bài thơ “Chuyện cổ tích về loài người” của nhà thơ nổi tiếng Xuân Quỳnh. Hôm nay, Vườn cổ tích sẽ kể cho các bé nghe câu chuyện cổ tích về loài người được chuyển thể từ bài thơ trên với mục đích giúp các bé dễ hiểu và nắm bắt được một cách đầy đủ nhất nội dung cũng như ý nghĩa của bài thơ!

Chuyện là cách kể ngược về sự xuất hiện của loài người trên trái đất một cách rất thú vị. Từ đó khẳng định vai trò quan trọng của trẻ em – những mầm non đáng yêu rất cần được cha mẹ và người lớn bảo vệ.

Ngày xửa ngày xưa, bầu trời và mặt đất đều tối tăm, không có lấy một nhành cây, ngọn cỏ, cũng không có bất kì màu sắc gì. Khắp nơi đều thiếu vắng sự sống. Và rồi trên Trái đất thân yêu của chúng ta, tạo hóa đã ban tặng những em bé rất dễ thương, đáng yêu. Mắt chúng sáng lắm trong veo và hồn nhiên nhưng chúng chưa thấy được gì đâu. Thế rồi, mặt trời nhô lên cao tròn vành vạnh và soi sáng khắp không gian giúp cho những đôi mắt ấy được thấu tỏ.

Màu xanh bắt đầu từ ngọn cỏ cao bằng gang tay và nhỏ như sợi tóc, màu đỏ thì bắt đầu từ bông hoa nhỏ xíu như cái cúc. Những chú chim líu lo cất tiếng hót, làm bầu bạn với trẻ em và đem lại nguồn vui cho vạn vật. Gió nâng tiếng hót bay cao bay xa tới muôn trung mây, muôn trùng dặm.

Muốn trẻ con được tắm, sông suối bắt đầu xuất hiện đem đến dòng nước ngọt mát lành. Biển mênh mông sóng vỗ, đem lại nhiều cá to. Những cánh buồm lớn đưa trẻ em đi xa tới những chân trời mới, tìm tòi và khám phá.

Nhưng trẻ thơ cần lắm vòng tay của mẹ, lời ru ngọt ngào, tình yêu thương lớn lao vô bờ bến nên mẹ sinh ra để nâng niu, chăm sóc, dỗ dành. Những câu ca dao vọng về với cái bống cái bang, cánh cò trắng bay lả bay la, cây đa, mái nước, sân đình là quê hương thân thương hiện lên qua bao câu hát ru của bà, của mẹ. Nào sự tích thánh Gióng, sự tích trầu cau, sự tích Sọ Dừa, chuyện cô Tấm ở hiền, Lý Thông ở ác,… lần lượt hiện ra qua giọng kể ấm áp của bà, đưa trẻ em vào những miền cổ tích cực lạc. Nào ông Bụt, bà tiên, nào hoàng tử, công chúa xuất hiện trong giấc mơ của trẻ em về một cuộc sống tười đẹp, ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác, người tốt nhất định được hưởng hạnh phúc, kẻ ác nhất định bị trừng trị thích đáng.

Kết Cấu Của Truyện Cổ Tích Loài Vật

Kết cấu là một yếu tố thuộc bình diện hình thức của tác phẩm văn học. Một số kết cấu thường gặp như kết cấu theo trình tự thời gian, kết cấu đi thẳng vào giữa câu chuyện, kết cấu theo hai tuyến đối lập nhau, kết cấu theo tâm lí,…

Theo Hoàng Tiến Tựu, thì “Mỗi truyện cổ tích loài vật thường được kết cấu theo hai phần “dẫn truyện” và “thuật truyện” xen kẽ nhau. Phần dẫn truyện là lời trực tiếp của người kể chuyện. Còn phần thuật truyện thường là thuật lại lời đối thoại của các nhân vật trong truyện” [2, 54].

Trên cơ sở việc nhìn nhận của nhà nghiên cứu đi trước vừa nêu, người viết đã xem xét, rà soát trên tổng thể truyện cổ tích loài vật Việt Nam(2). Kết quả của việc xem xét ấy cho thấy: không phải toàn bộ truyện cổ tích loài vật có kết cấu gồm hai phần như đã nêu, mà chỉ một bộ phận.

Đọc hai truyện cổ tích loài vật sau:

(1) CÓC, CỌP VÀ KHỈ (Truyện người Kinh)

Hôm nọ, cọp đi ngang qua góc rừng, chỗ có hang cóc, thì dừng chân nhìn ngắm. Cóc thấy cọp đến dòm ngó, sợ gây hại đến mình, bèn lo việc ngăn cản, mới lên tiếng hỏi:

– Ai vậy? Đừng có qua đây nữa mà chết oan đó!

Cọp nghe tiếng nhưng chưa thấy mặt kẻ hỏi mình, bèn hỏi lại:

– Tao đây! Tao là cóc tía. Mày không biết danh tao sao?

– Chà! Mày hình vóc bằng cổ tay, lại dám mày tao mi tớ với tao nữa! Tài nghệ gì mày mà dám xấc láo thế?

– Tao thì đủ miếng. Còn mày bất quá chỉ có tài nhảy mà thôi.

Cọp mới thách cóc nhảy thi, coi ai nhảy xa cho biết. Cóc đồng ý. Cả hai ra tới con rạch lớn, vạch mốc để đứng ngang nhau mà nhảy. Cóc bảo:

– Tao chấp mày đứng trước, tao đứng sau cũng được!

Biết trước khi nhảy, cọp thường hất mạnh đuôi nên cóc ngậm lấy chót đuôi cọp. Khi cọp nhảy sang bên kia thì cóc đã văng ra đằng trước rồi. Nó lên tiếng:

– Tôi đây! Tôi đã nhảy xa hơn anh rồi!

– Anh thật có tài nhảy phi thường!

– Tôi đã nói rồi mà! Không chỉ tài mọn ấy, tôi còn bắt sống cọp để ăn hàng ngày. Hãy coi đây thì biết!

Cóc há miệng ra, trong đó, đầy những lông cọp. Cọp thấy vậy hoảng hồn, cong đuôi chạy mất. Nó chạy mãi vẫn chưa hết kinh hoàng.

Con khỉ trên cây thấy cọp chạy như vậy, bèn kêu giựt lại, hỏi:

– Có việc gì mà anh chạy dữ vậy?

– Thôi thôi, đừng hỏi để cho tôi chạy, kẻo nó theo kịp bây giờ!

– Anh phải nói ra: cái giống gì đã khiến anh sợ đến vậy, mới được chứ?

– Cái con chi…, quên tên rồi! Nó nhỏ nhỏ, da nhám…

– Ờ, biết rồi! Con cóc, phải không?

– Sao anh dở vậy? Bẻ cổ nó như chơi kia mà! Anh sợ mà chạy chỉ khiến nó dể ngươi thôi. Không tin, anh đem tôi tới, tôi vật nó như vật nhái cho mà coi.

– Anh đừng làm phách! Không chừng lại báo hại tôi nữa!

– Nếu sợ tôi gạt, thì để tôi buộc thân mình đấu cật với lưng anh. Anh đem tôi đến đó, tôi sẽ xé xác nó cho anh coi.

Cọp đồng ý để khỉ lấy dây buộc nó với mình, lại để cho khỉ cưỡi lên lưng, từ từ trở lại chỗ cũ. Con cóc vẫn còn ngồi đó, nó lên tiếng:

– Ai vậy? Anh khỉ đó phải không?

– Anh đem nó đến nộp đó à? Nợ mười hùm chưa đủ, một đã thấm chi!

Cọp nghe nói vậy tưởng bị khỉ gạt, đem mình nộp cho cóc thật, nó lại hoảng hồn, đâm đầu chạy. Cọp phóng ào ào, không kể cây cối, gai gốc, bờ bụi gì hết.

Khỉ bị cây va vào đầu, đập vào lưng, khiến bị vỡ sọ, gãy xương, chết nhăn răng. Khi mệt quá, cọp dừng lại, thấy khỉ như vậy, nó nghĩ khỉ cười mình, nên mắng rằng:

– Hết phách lối chưa? Đã báo hại người ta, lại còn cười nữa hả?

( Nguồn: Trương Vĩnh Kí (1974), Chuyện đời xưa, Nhà sách Hoa Tiên xuất bản, Sài Gòn, tr. 12-14)

(2) THỎ LỪA BÀ DUÔN RÍT (Truyện người Ê Đê)

Ngày xửa ngày xưa, có một bà tên là Duôn Rít, hôm nọ, làm cỏ lúa một mình trên rẫy, thì gặp thỏ. Con thỏ đi kiếm ăn, thấy bà Duôn Rít làm lụng vất vả, trời đã trưa, nắng gắt mà vẫn chưa nghỉ. Nó tiến lại, nói:

– Tội nghiệp bà quá! Trời nắng chang chang thế này mà bà vẫn cúi đầu làm miết. Bà đưa cuốc đây, cháu làm cỏ giùm cho!

Bà Duôn Rít tưởng thỏ thật lòng, nói:

Bà Duôn Rít về nhà nấu cơm, bắt gà to làm thịt để thỏ về ăn trưa. Còn thỏ, khi bà Duôn Rít đi khỏi, nó cắn phá hết cả đám lúa, không sót một gốc. Xong, thỏ chạy về nhà, nói với bà Duôn Rít:

– Bà ơi, cháu đã cuốc sạch hết cỏ lúa rồi!

Bà Duôn Rít vội dọn cơm canh ra cho thỏ ăn, bắc ché rượu cần cho thỏ uống. Có điều, thấy thỏ làm cỏ nhanh quá, lòng bà đầy nghi ngại, vội chạy lên rẫy xem, thì ôi thôi, lúa đã bị cắn phá vung vãi. Bà khóc lóc kêu la, rồi chạy thật nhanh về nhà. Thỏ ở nhà, vừa ăn cơm với thịt gà, vừa thúc giục Y Rít, đứa cháu của bà Duôn Rít, lấy cần rượu mà uống. Khi bà chạy đến nhà, Y Rít mới nghe rõ tiếng bà la ó:

– Y Rít, mau đánh chết thỏ đi! Nó cắn phá lúa nhà ta hết rồi.

Y Rít vội vàng lấy gậy đánh thỏ. Thỏ sợ bỏ chạy, rồi chui vào ché. Y Rít đập bể ché. Thỏ vào bếp. Y Rít đánh nát bếp. Thỏ chui vào trốn ở đâu, Y Rít đều đánh chỗ đó tan tành. Thỏ chui vào cái cối đá giã gạo đã thủng lỗ ở dưới đáy. Y Rít cũng chui theo. Ngờ đâu, thỏ chui vào thì lọt, còn Y Rít chui vào thì bị kẹt cứng trong đó, không sao ra được.

Bà Duôn Rít chạy tới, thấy cái cối rục rịch, tưởng thỏ trong đó, nên bà đánh mạnh vào. Y Rít kêu đau, van bà tha. Nhưng bà Duôn Rít lại tưởng thỏ lừa mình, nên cứ phang thật mạnh, cho hết đụng đậy mới thôi.

Khi lôi trong cối ra, bà mới biết đã đánh nhầm cháu mình. Chôn cất cháu xong, ngày nào bà Duôn Rít cũng rầu rĩ khóc lóc, than vãn:

– Cháu thì chết, lúa thì thỏ cắn phá! Khổ quá! Giàng ơi là Giàng!

Lâu lắm, thỏ lại lần mò đến sau lưng bà, hỏi:

– Sao bà cứ than khóc miết vậy, hở bà?

Bà Duôn Rít giật mình, quài tay ra sau túm được hai cái tai dài của thỏ. Thỏ giãy giụa kịch liệt vẫn không thoát khỏi hai bàn tay cứng như gọng kìm sắt của bà. Bà Duôn Rít nghiến răng:

– Lần này tao sẽ đốt mày, ăn thịt mày!

– Nè bà ơi! Bà ăn thịt tôi đâu có lợi gì? Tôi nghe nói Mtao muốn mua thỏ về quay làm món thịt ngon đãi khách. Bà đem tôi bán cho Mtao được nhiều tiền. Lấy tiền đó bà mua lúa ăn vài năm, chẳng có lợi hơn sao?

Bà Duôn Rít nghĩ thỏ đã nói phải, cũng nên đem thỏ đi bán cho Mtao. Thỏ biết, vào giờ này Mtao đang nghỉ ăn cơm, mới nói:

– Bà nên vào cửa chính, sẽ gặp Mtao ở đó. Còn tôi sẽ vào cửa phụ và ở luôn trong chuồng nuôi súc vật của ông ta.

Bà Duôn Rít đồng ý. Thỏ vào cửa sau, gặp Mtao và vợ đang ăn cơm. Thỏ nói:

– Thưa ông Mtao, hôm nay, tôi bán bà Duôn Rít, để làm nô lệ cho ông.

– Thế ông bán bao nhiêu tiền?

– Thưa Mtao, tôi không lấy tiền, chỉ cần một cái chiêng đồng là đủ.

Mtao thấy rẻ, liền đưa cái chiêng đồng cho thỏ, rồi nói:

– Bà ấy đang vào lối cửa chính kia kìa! Bà ấy tới rồi đấy.

Bà Duôn Rít xuống tới chỗ Mtao, ngồi dưới đất, định mở miệng nói, nhưng Mtao đã nói trước:

– Ông thỏ đã bán bà cho tôi rồi. Bà phải ở đây làm nô lệ cho gia đình tôi.

Thế là cuối cùng bà Duôn Rít vẫn cứ mắc lừa thỏ.

( Nguồn: Nguyễn Thị Thu Trang (Chủ biên) (2011), Văn học dân gian các dân tộc thiểu số huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên, Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội, tr. 192-195)

Đọc tiếp hai truyện cổ tích loài vật khác:

(3) NGỰA VÀ HỔ (Truyện người Nùng)

Ngày xưa, hổ không có móng vuốt sắc, ngựa cũng không có bộ móng guốc để phóng nhanh như bây giờ. Lúc ấy, ngựa được loài người thuần hoá làm con vật để cưỡi và chuyên chở hàng hoá, nhưng chân của nó có móng sắc nên đi hơi chậm.

Ngựa được con người nuôi dưỡng, chăm sóc khá cẩn thận nên không đói bữa nào, nhưng thỉnh thoảng nó lại bị người chê đi không được nhanh. Nó lo lắng, có một ngày nào đó, người tìm được con vật khác đi nhanh hơn, thì nó không được nuôi nữa. Hổ vốn là một loài vật hung dữ, chuyên ăn thịt các con vật khác. Chân nó chạy nhanh nhưng không có vuốt sắc, nên nhiều khi đuổi được con vật nào đó, chưa kịp ngoạm thịt, thì con vật ấy đã tuột ra khỏi chân rồi. Chính vì vậy nên nhiều khi hổ bị đói.

Vốn là một con vật thông minh, ngựa nhận ra rằng, hổ có đôi móng chạy nhanh mà lại không phát huy tác dụng, còn nó thì có đôi móng sắc để vồ được các con vật, trong lúc chỉ ăn cỏ, thóc. Ngựa tìm gặp hổ, gạ gẫm rằng:

– Anh hãy đổi móng cho tôi! Anh kiếm ăn cần có đôi móng vuốt nhọn sắc của tôi để vồ và bắt giữ con mồi, còn tôi đã được người nuôi rồi, nên chỉ cần một đôi móng bình thường như anh thôi.

Hổ thấy ngựa nói có lí, đồng ý. Thế là ngựa và hổ đổi móng cho nhau.

Từ đấy trở đi, ngựa có đôi móng chân chắc, khoẻ, chạy nhanh như gió, và được người nuôi yêu thương, gần gũi; hổ thì ngoài hàm răng chắc, khoẻ, đã có thêm đôi vuốt sắc, nhọn để vồ và bắt giữ con mồi. Người ta thường kể rằng, mỗi khi vào rừng, ngửi thấy mùi hổ, ngựa lại sợ hổ đòi lại móng, nên nó cứ quỳ chân xuống đất để giấu móng đi; bấy giờ, nó không bước được nữa. Người nào biết có hổ tới gần, muốn ngựa chạy đưa mình đến chỗ khác để không bị hổ vồ, phải cho ngựa ngửi mùi tỏi để át mùi hổ đi, thì ngựa mới đứng lên chạy tiếp.

( Nguồn: Ngô Văn Trụ, Bùi Văn Thành (Đồng chủ biên) (2011), Di sản văn học dân gian Bắc Giang, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, tr. 381-382)

(4) GỐC TÍCH CÁI NỐT DƯỚI CỔ TRÂU (Truyện người Kinh)

Ngày xưa, con trâu cũng nói một thứ tiếng với người. Nhờ thế, người dùng lời nói để sai khiến con vật theo ý muốn của mình, thật là tiện. Cũng nhờ thế mà những người chăn trâu không dám đánh đập tàn tệ hoặc bỏ đói trâu, vì sợ trâu mách với chủ.

Có một người nông dân nuôi một con trâu và mướn một cậu bé để chăn.

Người và thú lúc đầu rất tương đắc, nhưng về sau lại sinh bất hoà. Cậu bé tính ham chơi, nhiều khi quên mất phận sự của mình, làm cho trâu không có thức gì ăn vào bụng. Có bữa mải mê đánh đáo nhưng lại sợ trâu ăn lúa, cậu ta cột chặt trâu một nơi không cho ăn. Những hôm đó, để che mắt chủ, cậu dùng mẹo: lấy mo cau áp vào hông trâu, rồi trét đất sét bên ngoài. Cứ như thế, cậu dẫn trâu về chuồng.

Chủ nhà nhìn thấy bụng trâu no căng tròn, tỏ ý hài lòng, không căn vặn gì cả.

Nhờ mẹo ấy, cậu ta qua mặt chủ nhiều lần, nhưng cũng nhiều lần làm trâu tức giận.

Một hôm, cậu quá mê chơi, bỏ trâu nhịn đói từ sáng đến chiều. Trâu gọi mãi nhưng cậu ta nào có nghe thấy gì đâu. Buổi chiều hôm ấy, trâu định mách với chủ, nhưng cậu ta đã khôn ngoan dùng lời lấp liếm, không cho trâu nói.

Sáng hôm sau, chủ dắt trâu ra đồng cày ruộng. Trâu tỏ cho thấy nó bước đi không nổi. Chủ gắt:

– Nào có chịu đi mau lên không? Đồ làm biếng!

– Tôi không làm biếng, mà tại đói quá!

– Mày nói sao? Ngày nào thằng nhỏ cũng cho mày ăn no căng bụng lên như cái trống chầu mà!

Bấy giờ trâu mới đủng đỉnh nói:

Sự giả dối của cậu bé thế là bị bại lộ. Ngay buổi trưa hôm đó, người chủ vừa gỡ hai miếng mo cau ở hai bên hông trâu, vừa đánh cậu bé một trận nên thân. Riêng trâu thì rất hả hê, vì từ hôm đó ngày nào cũng được ăn no, lại được tắm rửa sạch sẽ.

Mấy ngày sau, những chỗ bị đòn hãy còn sưng húp, cậu bé ngồi trên bờ giọt ngắn giọt dài, trong khi trâu ung dung ăn cỏ. Bỗng có một ông lão hiện ra ở sau lưng, hỏi cậu ta vì cớ gì mà khóc. Cậu chỉ vào trâu mà nói:

– Tại nó cả, vì nó mách với chủ…

Rồi cậu kể hết cho ông lão nghe. Nghe xong, ông lão dỗ dành cậu bé, và nói:

– Ta rất thương con gặp phải chuyện không may. Bây giờ con muốn gì ta sẽ làm con vui lòng.

– Vì nó biết nói, làm con phải bị đòn. Lúc này con chỉ muốn làm thế nào cho nó không thể nói được nữa.

– Khó gì việc đó. Ta sẽ có phép làm cho con vừa lòng.

Ông bèn rút trong người ra một cây nhang, đốt lên, rồi bất thình lình dí vào dưới cổ con vật. Trâu cố giãy giụa nhưng không kịp. Trâu kêu la khản cổ.

Sau đó, tiếng nói của trâu dần dần mất đi. Cuối cùng, lúc nào muốn nói, trâu chỉ phát ra được hai tiếng “nghé ngọ” mà thôi. Chỗ bị thương lâu ngày thành sẹo, chai cứng như nốt ruồi. Cả dòng họ nhà trâu từ đó sinh ra đều không biết nói, và đều có một cái nốt ở dưới cổ.

– Truyện (3): “Từ đấy trở đi, ngựa có đôi móng chân chắc, khoẻ, chạy nhanh như gió, và được người nuôi yêu thương, gần gũi; hổ thì ngoài hàm răng chắc, khoẻ, đã có thêm đôi vuốt sắc, nhọn để vồ và bắt giữ con mồi. Người ta thường kể rằng, mỗi khi vào rừng, ngửi thấy mùi hổ, ngựa lại sợ hổ đòi lại móng, nên nó cứ quỳ chân xuống đất để giấu móng đi; bấy giờ, nó không bước được nữa. Người nào biết có hổ tới gần, muốn ngựa chạy đưa mình đến chỗ khác để không bị hổ vồ, phải cho ngựa ngửi mùi tỏi để át mùi hổ đi, thì ngựa mới đứng lên chạy tiếp”.

– Truyện (4): “Sau đó, tiếng nói của trâu dần dần mất đi. Cuối cùng, lúc nào muốn nói, trâu chỉ phát ra được hai tiếng “nghé ngọ” mà thôi. Chỗ bị thương lâu ngày thành sẹo, chai cứng như nốt ruồi. Cả dòng họ nhà trâu từ đó sinh ra đều không biết nói, và đều có một cái nốt ở dưới cổ”.

Theo như đã trình bày, thì truyện cổ tích loài vật có hai kiểu kết cấu: kết cấu gồm hai phần, phần “dẫn truyện” và phần “thuật truyện”; kết cấu gồm ba phần, phần “dẫn truyện”, phần “thuật truyện”, và phần “kết truyện”.

Theo đó, thì việc ghi nhận hai kiểu kết cấu của truyện cổ tích loài vật như đã trình bày, chẳng những cho thấy một đặc điểm quan trọng về hình thức nghệ thuật của truyện cổ tích loài vật, mà còn, ở lĩnh vực nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề, là một sự bổ sung cần thiết (của người sau đối với người đi trước).

(1) Riêng truyện cổ tích về người, có hai bộ phận hay tiểu thể loại (gọi tắt là tiểu loại) truyện cổ tích, là truyện cổ tích thần kì và truyện cổ tích thế tục. Để tiện trong việc gọi tên, các nhà nghiên cứu cũng xem bộ phận truyện cổ tích loài vật là một tiểu loại, cùng với hai tiểu loại vừa nêu, của truyện cổ tích

Sự Tích Quạ Và Công Truyện Cổ Tích Hay Về Loài Vật

Sự tích quạ và công Truyện cổ tích hay về loài vật. Ý nghĩa: truyện khuyên ta cần tránh tật xấu tham ăn tục uống và phải kiên trì thì mới đạt kết quả tốt.

Sự tích quạ và công Truyện cổ tích hay về loài vật

Xưa kia, Quạ và Công là đôi bạn chí thân. Hồi đó Công vẫn còn rất xấu xí chứ không đẹp như bây giờ, Quạ và Công con nào con nấy bộ lông cũng đều xám xịt như vừa mới rúc ở bùn lên. Quạ và công vì biết mình xấu nên chỉ chơi với nhau chứ không dám chơi với những loài chim khác.

Riêng Công thì còn xấu hơn cả Quạ, đầu Công thì bé tẹo không hề cân xứng với người, thêm vào nữa là cái cổ Công thì dài ngoằng ngoẵng nên trông rất khó coi. Một hôm Quạ rủ Công:

– Ở đằng kia đang có người thợ vẽ tranh với đủ các màu vẽ, chúng ta hãy ra đó thừa cơ ông ấy không để ý thì trộm màu về để vẽ lên cho nhau, sửa sang lại bộ cánh cho đẹp.

Công gật gù nhận lời. Hôm đó người họa sĩ đang vẽ dở một bộ tứ bình cho người ta, màu vẽ còn bỏ lăn lóc bên cạnh người. Thừa dịp người họa sĩ ngủ say, Quạ và Công lẻn đến mò vào lấy trộm bút lông và màu vẽ rồi mang ra một con gò ở giữa hồ. Lần thứ hai Quạ và Công định lẻn vào lấy trộm tiếp màu vẽ thì người họa sĩ đã ngủ dậy. Chúng đành quay trở ra chiếc gò thì thấy chỉ lấy được mỗi một hộp mực tàu đen xì, một hộp mực xanh và một túi kim nhũ lấp lánh. Quạ bảo Công:

– Thôi như vậy cũng vẽ được rồi, ta bắt đầu vẽ cho nhau đi, để tôi vẽ trước cho anh.

Quạ bảo Công nằm xuống cho mình tô vẽ lên người, Quạ vốn rất khéo tay nên vẽ cho Công rất đẹp. Ban đầu quạ dùng mực xanh tô vào đầu, cổ và mình Công. Quạ tô đến đâu là liền rắc kim tuyến tới đó. Tô đến cái đuôi, Quạ bảo công phải xòe cái đuôi ra như cánh quạt để Quạ tô cho kỹ lưỡng. Ở mỗi chiếc lông đuôi của Công, Quạ vẽ những vòng tròn và tô bằng mực tàu, sau đó rắc kim nhũ rất đẹp.

Sau khi tô màu hoàn thiện cho Công, Quạ bắt Công phơi cái đuôi cho thật khô.

Giờ đến lúc Công tô lại cho Quạ. Công thì vốn rất vụng về, không hề khéo tay như Quạ nên cực kì lúng túng và không may cho Quạ là lúc đó thì mực xanh và kim nhũ cũng đã hết rồi.

Công đang loay hoay không biết là tô cho quạ thế nào thì bông nhiên Quạ khoang bay đến. Thời đó thì Quạ Khoang thuộc họ nhà Quạ và người nó chỉ một màu trắng toát như vôi. Chưa đáp xuống Quạ Khoang đã giục tíu tít:

– Anh Quạ, anh đang làm gì đó, mau mau bay về phương đông thôi

Quạ hỏi:

– Bay về phương đông để làm gì?

Quạ Khoang trả lời:

– Em nghe thấy mọi người nói rằng có tin ở đó có một trận đánh nhau rất to, nhiều xác chết lắm, đây là một dịp hiếm có của anh em nhà ta.

Quạ nghe nói đến thịt người thì rất thèm muốn. Quạ bảo Quạ Khoang:

Quạ khoang nói:

– Không được, anh em ta phải bay đến trước ban đêm…Ngày mai thì họ mang hết xác đi chôn rồi thì anh em ta còn gì để ăn nữa.

Nghe Quạ Khoang nói vậy, Quạ vô cùng sốt ruột giục Công:

– Thế mày tô gấp nhanh cho anh đi Công

Quạ Khoang cũng muốn có một bộ lông đẹp để diện với mọi người. Nó nói xen vào:

– Anh Quạ, em cũng muốn được ăn mặc chỉnh tề đẹp đẽ một chút, anh cho em tô một chút với.

Quạ thấy Quạ Khoang nói vậy nên rất sẵn lòng chia sẻ một chút màu vẽ cho người em họ của mình. Công thì bị quạ giục, luống cuống nên đã trút một nửa số mực tàu lên đầu của Quạ. Mực cứ chảy tới nơi đâu trên mình Quạ là Quạ đen tới đó. Không những thế, Công vì bôi vội nên đã bôi cả mực vào mỏ và chân của Quạ làm cho Quạ từ đầu tới chân chỉ toàn một màu đen nhánh như là cột nhà cháy.

Đến lượt Quạ Khoang tô điểm, công trút hết sạch số mực còn lại lên người Quạ Khoang thành thử Quạ Khoang cũng đen không khác gì người anh họ mình. Duy chỉ mỗi phần cổ của Quạ Khoang là không dính mực do lúc mực chảy xuống, Quạ Khoang vội rụt cổ lại nên phần đó không bị mực thấm vào.

Nhìn thấy Công tô điểm cho Quạ Khoang, lúc đó Quạ mới nhận ra rằng mình đã quá dại dột khi giao phó sắc đẹp của mình cho Công vì Công quá vụng về. Nhưng mực đã tô rồi không thể làm gì được nữa, tức quá Quạ mắng cho Công một trận rồi cùng Quạ Khoang bay đi. Cũng kể từ khi đó, Quạ không bao giờ chơi với Công nữa.

Chính vì lý do trên mà chúng ta thấy ngày nay, loài công với bộ lông rất đẹp và sặc sỡ. Đi đâu họ hàng nhà Công cũng rất hãnh diện với vẻ đẹp của mình. Nhưng ngược lại, dòng dõi nhà Quạ thì lại đen thui như mực từ đầu tới chân, trong đó có Quạ Khoang là còn một chút ngấn trắng ở cổ do không bị mực thấm. Vì cảm thấy mặc cảm cho vẻ ngoài xấu xí của mình nên đi đâu Quạ cũng than thở: “Quạ xấu hổ, Quạ xấu hổ”.

Ý nghĩa sự tích quạ và công – truyện cổ tích hay về loài vật

Qua sự tích quạ và công ta thấy, Quạ khéo tay, tốt bụng sẵn sàng tô điểm cho Công thật đẹp và lại vui lòng chia xẻ thuốc vẽ của mình cho Quạ khoang nhưng Quạ lại có tính xấu là tham ăn. Vì nôn nóng giục công vẽ nhanh để con đi lấy phần thịt, lại gặp Công vụng về, lúng túng, xấu tính mà Quạ phải suốt đời khoác bộ lông cánh đen thui như mực.

– – Truyện cổ tích Việt Nam hay nhất cho bé

– – Truyện cổ tích ca ngợi những con người lao động chân chính

– Truyện cổ tích Ali Baba và 40 tên cướp với cách kể mang tính giáo dục cho trẻ em

Giáo Án Chính Tả

THIẾT KẾ BÀI GIẢNG MÔN: CHÍNH TẢ Tiết: GIÓ I. Mục tiêu Kiến thức: Nghe và viết lại chính xác bài thơ Gió. Kỹ năng: Trình bày đúng hình thức bài thơ 7 chữ với 2 khổ thơ. Làm đúng các bài tập chính tả phân biệt s / x, iêc / iêt. Thái độ: Ham thích học môn Tiếng Việt. II. Chuẩn bị GV: Bảng phụ viết sẵn nội dung bài tập 2. HS: Vở, bảng con. III. Các hoạt động Hoạt động của Thầy Hoạt động của Trò 1. Khởi động (1’) 2. Bài cũ (3’) Thư Trung thu Yêu cầu HS viết các từ sau: chiếc lá, quả na, cái nón, lặng lẽ, no nê, (MB): cái tủ, khúc gỗ, cửa sổ, muỗi, (MN). GV nhận xét và cho điểm HS. 3. Bài mới Giới thiệu: (1’) Trong giờ học chính tả này, các con sẽ nghe cô (thầy) đọc và viết lại bài thơ Gió của nhà thơ Ngô Văn Phú. Sau đó, chúng ta sẽ cùng làm một số bài tập chính tả phân biệt âm s / x, phân biệt vần iêc / iêt. Phát triển các hoạt động (27’) v Hoạt động 1: Hướng dẫn viết chính tả a) Ghi nhớ nội dung đoạn viết Gọi 3 HS lần lượt đọc bài thơ. Bài thơ viết về ai? Hãy nêu những ý thích và hoạt động của gió được nhắc đến trong bài thơ. b) Hướng dẫn cách trình bày Bài viết có mấy khổ thơ? Mỗi khổ thơ có mấy câu thơ? Mỗi câu thơ có mấy chữ? Vậy khi trình bày bài thơ chúng ta phải chú ý những điều gì? c) Hướng dẫn viết từ khó Hãy tìm trong bài thơ: + Các chữ bắt đầu bởi âm r, d, gi; + Các chữ có dấu hỏi, dấu ngã. Đọc lại các tiếng trên cho HS viết vào bảng. Sau đó, chỉnh sửa lỗi cho HS, nếu có. d) Viết bài GV đọc bài, đọc thong thả, mỗi câu thơ đọc 3 lần. e) Soát lỗi GV đọc lại bài, dừng lại phân tích các chữ khó cho HS soát lỗi. g) Chấm bài Thu và chấm một số bài. Số bài còn lại để chấm sau. v Hoạt động 2: Hướng dẫn làm bài tập chính tả Bài 1 Gọi HS đọc đề bài, sau đó tổ chức cho HS thi làm bài nhanh. 5 em làm xong đầu tiên được tuyên dương. Bài 2 Hướng dẫn HS chơi trò chơi đố vui: Hai HS ngồi cạnh nhau làm thành một cặp chơi. Các HS oẳn tù tì để chọn quyền đố trước. HS đố trước đọc 1 trong các câu hỏi của bài để bạn kia trả lời. Nếu sau 30 giây mà không trả lời được thì HS đố phải đưa ra câu trả lời. Nếu HS đố cũng không tìm được thì hai bạn cùng nghĩ để tìm và từ này không được tính điểm. Mỗi từ tìm đúng được 10 điểm, bạn nào có nhiều điểm hơn là người thắng cuộc. 4. Củng cố – Dặn dò (3’) Nhận xét tiết học. Yêu cầu các em viết sai 3 lỗi chính tả trở lên về nhà viết lại bài cho đúng. Hát 4 HS lên bảng viết bài, cả lớp viết vào giấy nháp. HS dưới lớp nhận xét bài của các bạn trên bảng. 3 HS lần lượt đọc bài. Bài thơ viết về gió. Gió thích chơi thân với mọi nhà: gió cù anh mèo mướp; gió rủ ong mật đến thăm hoa; gió đưa những cánh diều bay lên; gió ru cái ngủ; gió thèm ăn quả lê, trèo bưởi, trèo na. Bài viết có hai khổ thơ, mỗi khổ thơ có 4 câu thơ, mỗi câu thơ có 7 chữ. Viết bài thơ vào giữa trang giấy, các chữ đầu dòng thơ thẳng hàng với nhau, hết 1 khổ thơ thứ nhất thì các một dòng rồi mới viết tiếp khổ thơ thứ hai. + Các chữ bắt đầu bởi âm r, d, gi: gió, rất, rủ, ru, diều. + Các chữ có dấu hỏi, dấu ngã: ở, khẽ, rủ, bổng, ngủ, quả, bưởi. Viết các từ khó, dễ lẫn. Viết bài theo lời đọc của GV. Soát lỗi, sửa lỗi sai và ghi tổng số lỗi ra lề vở. 2 HS làm bài trên bảng lớp. Cả lớp làm bài vào Vở Bài tập Tiếng Việt 2, tập hai. Đáp án: hoa sen, xen lẫn, hoa súng, xúng xính làm việc, bữa tiệc, thời tiết, thương tiếc. HS chơi trò tìm từ. Đáp án: + mùa xuân, giọt sương + chảy xiết, tai điếc Có thể cho HS giải thêm một số từ khác: + Buổi đầu tiên trong ngày. (buổi sáng)/ Màu của cây lá. (sông)/ Hạt nhỏ, mầu đỏ nâu, có trong nước sông. (phù sa)/ Từ dùng để khen người gái có khuôn mặt đẹp (xinh) + Tên một loại cá. (cá giếc) v Bổ sung: v Rút kinh nghiệm: