Truyện Cổ Tích Về Hồ Gươm / Top 2 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Kovit.edu.vn

Sự Tích Hồ Gươm

Truyện Sự tích Hồ Gươm

Sự tích Hồ Gươm là truyện truyền thuyết ca ngợi chiến thắng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và giải thích nguồn gốc tên gọi của Hồ Gươm ngày nay.

Vào thời giặc Minh [1] xâm lược nước ta, đi đến đâu chúng cũng tàn sát người dân vô tội, cướp bóc của cải của nhân dân. Cuộc sống của người dân vô cùng cực khổ, và lầm than. Thấy cuộc sống của nhân dân như vậy một số người có lòng yêu nước thương dân đã tụ họp lại với nhau cùng bàn bạc làm một cuộc khởi nghĩa để chống lại sự tàn ác và bạo ngược của quân Minh. Trong đó có nghĩa quân ở vùng Lam Sơn.

Tuy nhiên nghĩa quân cũng toàn là những người nông dân áo vải, binh khí thì thô sơ mà chưa thu hút được nhiều người nên chưa có đủ sức mạnh để chiến đấu lại quân giặc. Rất nhiều lần nghĩa quân đã đứng lên khởi nghĩa nhưng lần nào cũng bị quân Minh đánh cho bại trận. Đức Long Quân [2] nhìn thấy sự lòng chiến đấu quả cảm và tinh thần yêu nước của nghĩa quân, liền quyết định cho nghĩa quân mượn thanh gươm thần để tăng thêm sức mạnh và sĩ khí chiến đấu cho họ.

Hồi ấy, ở Thanh Hóa, có một người đi đánh cá dưới sông, khi kéo lên thấy lưới rất nặng. Anh ta nghĩ thầm trong bụng: “Phen này chắc là được nhiều cá lắm đây!”. Tuy nhiên khi lưới được kéo thì không có một con cá nào mà lại là một lưỡi gươm cũ. Anh ta liền vứt lưỡi gươm lại sông, lần thứ hai chàng kéo lại lưỡi gươm ấy lại vướng vào lưới. Lần này anh quăng đi xa hơn nữa.

Đến lần thứ ba kéo lưới lên vẫn là lưỡi gươm đó đó. Thấy lạ, anh liền cầm lưỡi gươm cũ lên và mang về để trong góc nhà. Người đó tên là Lê Thận – một người nông dân quê ở Thanh Hóa, có lòng yêu nước nồng nàn, từ lâu đã có ý muốn gia nhập cùng nghĩa quân Lam Sơn [3].

Lực lượng của nghĩa quân Lam Sơn cũng ngày càng đông, muốn chiêu binh thêm những người tài giỏi và có lòng yêu nước tham gia. Lê Thận có sức khỏe cùng với lòng yêu nước mong đánh đuổi giặc ngoại xâm từ lâu nên đã gia nhập nghĩa quân. Anh tham gia nhiều trận chiến quan trọng và góp nhiều công sức trong các trận thắng lớn nên được Lê Lợi tin tưởng.

Một lần Lê Lợi đưa quân qua vùng Thanh Hóa đã vào nhà Lê Thận để nghỉ ngơi. Vào tới nhà, Lê Lợi và mọi người thấy lưỡi gươm cũ vứt ở xó nhà của Lê Thận phát ra ánh hào quang sáng chói. Mọi người tiến lại cầm lên xem thì thấy trên lưỡi gươm có khắc hai chữ “thuận thiên” [4]. Tất cả vô cùng ngạc nhiên nhưng cũng không nghĩ đó là báu vật, chỉ nghĩ đó là lưỡi gươm bình thường mà thôi.

Thời gian sau, nghĩa quân tổ chức rất nhiều trận đánh trả quân Minh. Trong một đánh không may nghĩa quân bại trận, Lê Lợi bị quân giặc đuổi theo vào trong rừng sâu. Khi đang chạy trốn, ông nhìn thấy có một vật sáng chói trên cành cây. Lấy làm tò mò, ông liền trèo lên cành cây thì thấy một cái chuôi gươm nạm ngọc [5] sáng lấp lánh. Lại nhớ tới hôm ở nhà Lê Thận có lưỡi gươm phát sáng Lê Lợi liền cầm chuôi gươm về.

Vài hôm sau, gặp Lê Thận, Lê Lợi kể lại chuyện nhặt được chuôi gươm phát sáng và bảo Lê Thận cho mượn lưỡi gươm cũ. Không ngờ sau khi cho lưỡi gươm vào trong chuôi gươm thì lại vừa in như một cặp, lưỡi gươm trở lên sáng chói và sắc nhọn vô cùng.

Lê Thận và mọi người ở đó đều quỳ rạp dưới chân Lê Lợi mà rằng: “Có lẽ đây là gươm báu trời ban, giúp nghĩa quân đánh giặc xâm lược. Nay xin chủ tướng cầm gươm báu để lãnh đạo nghĩa quân đánh đuổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi nước ta, để cho muôn dân được hưởng cuộc sống yên bình”.

Lê Lợi nhận thanh gươm từ tay Lê Thận, hứa sẽ dốc hết lòng lãnh đạo nghĩa quân thuận theo ý trời.

Kể từ đó, nghĩa quân đánh đâu thắng đó, trăm trận trăm thắng. Dần dần lực lượng quân Minh bị suy tàn, nghĩa quân không còn phải trốn ở trong rừng nữa, mà chuyển sang đối đầu trực diện. Kho lương thực cũng ngày càng đầy đủ do đánh được quân giặc mà có càng giúp cho quân lính có khí thế chiến đấu hơn.

Chẳng bao lâu sau, dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi và nhờ gươm thần mà nghĩa quân đã đánh bại quân Minh. Giặc sợ hãi bỏ tháo chạy về phương Bắc [6], muôn dân lại được thái bình.

Sau khi đánh đuổi hết giặc Minh, Lê Lợi lên ngôi vua để trị vì và thống nhất đất nước.

Một năm sau, khi nhà vua cùng các bề tôi thân tín ngồi thuyền đi dạo trên hồ Tả Vọng trước kinh thành. Đức Long Quân sai rùa vàng lên để lấy lại thanh gươm thần.

Khi vua Lê Lợi cùng bề tôi trên thuyền ở giữa hồ thì bất ngờ từ dưới làn nước trong xanh, có một con rùa vàng ngoi đầu lên, cất tiếng:

– Thưa nhà vua, lúc trước Đức Long Quân có cho nhà vua mượn thanh gươm thần để đánh giặc. Nay nghiệp lớn đã hoàn thành, xin nhà vua hãy trả lại gươm thần!

Lê Lợi nghe xong, liền cởi thanh gươm bên mình ra, cầm hai tay và dâng lên trước mặt rùa Vàng. Thanh gươm bất ngờ bay khỏi tay nhà vua sang miệng rùa vàng. Rùa vàng ngậm lấy gươm, lặn xuống hồ biến mất.

Từ đó, hồ Tả Vọng được đặt tên là hay hồ Hoàn Kiếm [7].

Chú thích trong truyện Sự tích Hồ Gươm

[1] Giặc Minh: giặc phương Bắc triều đại nhà Minh (giặc Minh xâm lược nước ta từ năm 1407 đến năm 1427).

[2] Lam Sơn: nơi Lê Lợi khởi nghĩa, thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá.

[3] Đức Long Quân: tức Lạc Long Quân (đức: tiếng tôn xưng vua chúa, thần thánh,…).

[4] Thuận Thiên: t theo ý Trời; đây là tên thanh gươm. Sau chiến thắng quân Minh, Lê Lợi lấy hiệu là “Thuận Thiên”.

[5] Nạm ngọc: gắn ngọc vào (nạm: gắn, dát, đặt kim loại hay đá quý vào một đồ vật để trang trí).

[6] Phương bắc: chỉ Trung Quốc

[7] Hoàn Kiếm: có nghĩa là “trả lại gươm” (hoàn: trả; kiếm: gươm).

Truyện Cổ Tích Về Rapunzel

Ngày xửa ngày xưa, có một đôi vợ chồng nọ còn chưa có con, rất mong mỏi có được một mụn con. Bên cạnh nhà họ là nhà của một mụ phù thủy. Nhà mụ có một khu vườn với tường bao quanh, có một rất nhiều loại rau lạ mọc trong đó.

Một hôm, người vợ nhìn qua cửa sổ đằng sau nhà, người vợ thấy ở luống rau kia có loại rau rapunzel (rau ba lăng) mọc tươi mơn mởn, từ đó bà trở nên thèm được ăn thứ rau đó. Cơn thèm ngày càng tăng, rồi một hôm, đang đứng bên cửa sổ người vợ thấy choáng váng cả người và ngã lăn ra đất. Thấy vợ tái nhợt nằm đó, chồng lại bên và hỏi:

– Em yêu, em sao vậy?

Người vợ đáp:

– Trời, nếu em không được ăn một bữa rau ba lăng trồng ở vườn sau nhà chắc em chết mất.

Chồng rất thương vợ nên nghĩ:

– Tại sao lại để vợ mình chết nhỉ, cứ liều sang lấy, đến đâu thì đến.

Đợi trời xẩm tối, chồng trèo tường lẻn vào vườn lấy rau ba lăng về cho vợ. Vợ nấu ăn thật ngon lành. Hai đêm đầu, người chồng trèo qua tường vào trong khu vườn ấy để hái rau cho vợ trót lọt, nhưng tới đêm thứ ba, khi ông đang leo qua tường để về nhà, mụ phù thuỷ, tên là Dame Gothel, bắt được ông và quy cho ông tội ăn trộm. Ông van xin được tha, và người phụ nữ già đồng ý để ông đi, với điều kiện phải trao cho mụ đứa con sắp sinh sau đó của hai người.

– Ngươi có thể hái rau ba lăng như ngươi muốn, nhưng với điều kiện, đứa con vợ ngươi đẻ phải giao cho ta nuôi, ta chăm sóc nó như con đẻ của ta.

Tuyệt vọng, ông đành đồng ý. Khi người vợ có mang và đứa con gái được sinh ra, mụ phù thuỷ mang đứa trẻ đi và tự mình nuôi nấng, đặt tên em bé là Rapunzel. Rapunzel lớn lên trở thành cô bé xinh đẹp nhất thế gian với mái tóc vàng rất dài. Khi Rapunzel 12 tuổi, mụ phù thuỷ giam giữ nàng trong một toà tháp sâu thẳm trong rừng, không có bậc thang hay cửa ra vào, chỉ có một căn phòng và một chiếc cửa sổ. Khi mụ phù thuỷ tới thăm Rapunzel, mụ đứng cạnh toà tháp và gọi:

– Rapunzel, Rapunzel, hãy thả tóc của con xuống đi, để mẹ có thể bước lên những bậc thang ánh vàng.

Nghe thấy những lời đó, Rapunzel quấn mái tóc dài vàng óng của nàng lên một cái móc cạnh cửa sổ, thả xuống chỗ mụ phù thuỷ, để mụ trèo lên phòng của nàng trên tháp. (Một dị bản khác của câu chuyện viết rằng mụ phù thuỷ có khả năng bay lên cao và cô bé không biết gì về mái tóc dài kì diệu của mình).

Nhiều năm trôi qua. Một ngày kia, một chàng hoàng tử cưỡi ngựa qua khu rừng và nghe thấy tiếng hát của Rapunzel vang ra từ trên tháp. Bị lôi cuốn bởi giọng hát trong mượt mà ấy, chàng liền đi tìm và thấy toà tháp cao, nhưng không biết lối vào. Chàng quay trở lại đó khá thường xuyên, lắng nghe giọng hát tuyệt vời ấy, và một ngày nọ chàng gặp Dame Gothel tới thăm toà tháp, và cuối cùng hoàng tử đã biết làm cách nào để tới được chỗ Rapunzel. Khi Dame Gothel đi khỏi, chàng gọi Rapunzel thả mái tóc của nàng xuống. Khi nàng làm như vậy, chàng trèo lên, giới thiệu mình với nàng.

Rapunzel chưa từng gặp người đàn ông nào trong đời nên rất hoảng sợ. Hoàng tử vui vẻ, nhã nhặn, dùng lời lẽ nhẹ nhàng kể cho Rapunzel nghe rằng chàng từ khi nghe nàng hát đến giờ lòng lúc nào cũng khao khát được gặp người hát. Rapunzel dần dần tĩnh tâm lại. Hoàng tử hỏi nàng liệu có thể sống bên nàng được không, nàng thấy chàng đẹp trai, khỏe mạnh nên cũng rất ưng, nàng đặt bàn tay mình vào trong lòng bàn tay chàng và nói:

– Em cũng rất muốn đi cùng với anh, nhưng em không biết làm cách nào để tụt xuống chân tháp. Nếu như mỗi lần đến thăm em, anh mang cho em một bó tơ, em lấy tơ bện thành dây chão, khi nào dây chão bện xong em sẽ tụt xuống chân tháp, anh đón em lên ngựa và hai ta cùng đi.

Họ cùng nhau tìm cách trốn khỏi toà tháp, thế là hàng đêm hoàng tử sẽ tới (để tránh mụ phù thuỷ tới vào ban ngày), và mang cho nàng bó tơ, để Rapunzel từ từ dệt một cái thang. Nhưng trước khi kế hoạch được thực hiện, Rapunzel đã vô tình để lộ chuyện nàng với hoàng tử. Một hôm Rapunzel hỏi:

Mụ phù thủy liền la mắng:

– Ái chà, mày là quân vô đạo, mày nói gì vậy, tao tưởng tao đã cách ly mày với thế giới bên ngoài rồi, không ngờ mày còn có thể đánh lừa được cả tao.

Trong ấn bản đầu tiên của Truyện cổ Grimm, Rapunzel ngây thơ nói rằng chiếc váy của nàng ở chỗ quanh bụng ngày càng chật quá (ám chỉ rằng nàng đang mang thai).

Trong cơn tức giận, Dame Gothel đã cắt mất mái tóc đẹp rất dài của Rapunzel và đuổi nàng tới sống ở một nơi vô cùng hoang vu, bắt nàng phải tự lo liệu cho cuộc sống của mình

Khi đêm đó hoàng tử đến như thường lệ, mụ phù thuỷ đợi sẵn và thả mái tóc của Rapunzel xuống để kéo chàng lên. Hoàng tử sợ hãi khi thấy người mình đang đứng trước mặt là mụ phù thuỷ chứ không phải là Rapunzel, giờ nàng đã ở một nơi không ai có thể tìm thấy được. Khi mụ tức giận nói với chàng rằng chàng sẽ không bao giờ được gặp lại Rapunzel nữa, hoàng tử đã nhảy xuống khỏi toà tháp trong tuyệt vọng và bị những ngọn gai bên dưới đâm làm mù mắt. Trong một phiên bản khác, mụ phù thuỷ đẩy hoàng tử xuống và chàng ngã vào những bụi gai, khiến đôi mắt chàng bị mù.

Nhiều tháng trời, hoàng tử lang thang khắp những vùng đất hoang vu nhất của vương quốc và cuối cùng cũng tới nơi Rapunzel sinh sống cùng với hai đứa trẻ nàng sinh đôi, một trai một gái. Một ngày kia, khi Rapunzel hát lúc đang gánh nước đi, hoàng tử nghe thấy giọng hát của nàng, và họ gặp lại nhau. Khi họ đang ở trong vòng tay của nhau, những giọt nước mắt của nàng đã chữa khỏi đôi mắt cho hoàng tử. Hoàng tử đưa nàng và những đứa con về vương quốc, và họ sống hạnh phúc mãi mãi về sau.

Trong một số phiên bản khác của câu chuyện, khi hoàng tử chạm tay vào, mái tóc thần kì của Rapunzel đã mọc lại dài và đẹp như trước.

Trong một dị bản khác, câu chuyện kết thúc với đoạn mụ phù thuỷ đã nhấc mái tóc của Rapunzel ra khỏi cái móc sau khi hoàng tử ngã xuống khỏi toà tháp, và mái tóc ấy đã trượt khỏi tay mụ rơi xuống chân tháp, khiến mụ bị kẹt lại trong toà tháp mãi mãi.

(Theo: Wikipedia)

Cuộc trao đổi có vẻ bất thường ở đầu câu chuyện “Rapunzel” là một cách phát triển cốt truyện thường thấy trong truyện cổ tích, cũng từng được sử dụng trong truyện Jack and the Beanstalk, Jack đổi con cừu lấy những hạt đậu, và trong Người đẹp và quái vật, Belle tới chỗ quái vật (the Beast) để đổi lấy việc nó trả lại bông hồng. Thời xưa người ta tin rằng sẽ là khá nguy hiểm khi từ chối không cho phụ nữ mang thai được ăn thứ mà cô ấy mong muốn. Các thành viên trong gia đình thường vượt qua những quãng đường rất dài để thực hiện những mong muốn đó. Thèm được ăn rau diếp hay các loại rau như vậy cho thấy nhu cầu vitamin của cơ thể người phụ nữ. Theo cách giải thích của một nhà khoa học nghiên cứu về thực vật, có thể nhận thấy mụ phù thuỷ rõ ràng là một người có phép thuật hoặc một nhà dược học, người nắm được cách sản xuất và sử dụng một loại cây hoặc thuốc có thể chữa được những biến chứng khi mang thai cho mẹ của Rapunzel. Ergotics, opioids hoặc cannabis có thể xem là các ứng cử viên hàng đầu về loại cây trên trong phiên bản truyện của Ba Tư hay các phiên bản sau này của câu chuyện.

Một câu chuyện chịu ảnh hưởng từ truyện cổ tích “Rapunzel” của anh em Grimm là Petrosinella hay Parsley của Giambattista Basile trong bộ sưu tập truyện cổ tích của ông xuất bản năm 1634, Lo cunto de li cunti (Câu chuyện về những câu chuyện), hay Pentamerone. Truyện kể về một người phụ nữ đang mang thai rất muốn được ăn ít rau mùi tây (parsley) trong vườn của một nữ yêu tinh, sau đó bị bắt và buộc phải hứa cho nó đứa bé. Một câu chuyện tương tự được xuất bản tại Pháp bởi Mademoiselle de la Force, tên là “Persinette”. Giống như Rapunzel trong phiên bản đầu tiên của anh em nhà Grimm, Persinette mang thai trong thời kì hoàng tử tới thăm.

Đọc Truyện Cổ Tích Sự Tích Hồ Ba Bể Việt Nam Chọn Lọc Cho Bé

Chuyện xưa kể lại rằng, xã Nam Mẫu ngày trước mở hội “vô già” cúng Phật. Bởi vậy nên tất cả mọi người đều rất nô nức, kéo nhau đến xem rất đông. Ai ai cũng đều ăn chay và niệm Phật, còn làm rất nhiều những việc thiện khác, nào là buông cá, nào là thả chim… tất cả đều là hướng tới cầu phúc ở mấy ngày mở hội này. Vào ngày hôm ấy, đám hội đột nhiên xuất hiện một bà già nom có vẻ là rách rưới, đáng thương. Mọi người cũng chẳng hay biết bà già ăn mày này từ đâu mà tới đây. Nhưng bộ dạng bên ngoài của bà ta quả thật vô cùng gớm ghiếc, đáng sợ, chiếc áo choàng bên ngoài toàn là những mảnh vải nhỏ chắp vá lại với nhau, nhưng lại chẳng thể đủ để mà che đi tấm thân lở loét và gầy còm của mụ. Những vết lở loét lâu ngày không được vệ sinh nên bốc ra những mùi hôi thối vô cùng khó chịu và kinh tởm. Mụ đi vào trong đám hội ấy, vừa đi vừa thì thào:

– Tôi đói lắm mấy ông mấy bà ơi!

Trên tay còn cầm theo một cái rá nhỏ, mụ cứ giơ nó ra khắp nơi, khuôn mặt bẩn thỉu đầy vẻ khẩn thiết cầu xin. Tuy nhiên thì khi trời đã ngả về chiều mà bà già ăn mày đó vẫn chẳng xin được một chút gì. Mụ đi đến đâu là lại bị mọi người xua đuổi tới đó. Mấy người trẻ tuổi, đặc biệt là mấy cô gái nghĩ mụ ta là hủi nên cứ trốn tránh như là trốn tránh bệnh dịch vậy. Cứ hễ trông thấy mụ đi tới đâu là lại xô đẩy nhau rồi chạy nhanh tới chỗ khác.

Đương nhiên là mấy bà bận rộn sửa lễ cũng bực tức vô cùng. Họ ngừng lại tiếng khấn “Nam mô Phật” mà chửi rủa, mắng xối mắng xả mụ vì dám đi gần sát vào họ. Sau cùng thì thì đám hương lý phải sai bọn tuần phu đến mà đuổi mụ già ăn mày kia đi. Những trận roi vọt như mưa của đám tuần phu cứ đổ ập lên tấm thân gầy gò khiến mụ không cách nào kiên gan hơn được nữa, vì thế đành phải cố lê tấm thân già thoát li khỏi đám hội náo nhiệt kia.

Sau khi đã rời khỏi nơi tổ chức hội, bà già ăn mày ấy lại thất thểu mà lê từng bước một vào trong xóm. Tình cảnh ở đây cũng chẳng có gì khác biệt với đám hội kia, cứ hễ mụ bước vào nhà ai thì lại bị họ nghi là bị hủi nên bị xua đuổi vô cùng tàn nhẫn. Những nhà giàu có hơn thì đóng cửa thật chặt, bọn họ còn kêu người đem chó dữ thả ra để đuổi mụ đi cho nhanh.

May mắn khi đi tới chỗ ngã ba thì mụ ta lại gặp được hai mẹ con góa bụa vừa mới đi chợ trở về. Trông thấy bà già ăn mày đáng thương nên người mẹ liền đón mụ về nhà, còn lấy cơm nguội trong nhà cho ăn.

Buổi khuya ngày hôm đó, khi hai mẹ con góa bụa chuẩn bị đi ngủ thì lại thấy bà già ăn mày kia gọi cửa. Khi mở cửa ra thì mụ liền xin được ngủ nhờ lại nhà một đêm, bởi vì tất cả những chỗ khác mọi người đã cấm cửa hết, chẳng ai chịu cho mụ vào trong ngủ nhờ cả.

Hai mẹ con nhà này nghe vậy thì thương hại, cũng vui lòng mà cho bà già ăn mày được vào trong nhà, lại còn lấy thêm cơm ra cho ăn uống tử tế, sau lại còn lấy chiếu ra trải lên chõng để mụ được ngả lưng một đêm. Còn cả hai mẹ con thì lại ôm nhau nằm nghỉ tạm ở chỗ khác.

Bà già ăn mày kia vừa nằm xuống là ngủ ngay lập tức, hơn nữa tiếng ngáy của mụ nghe như là tiếng sấm vậy. Lúc ấy hai mẹ con góa bụa nhìn ra chỗ chõng thì bỗng thấy nơi đó sáng rực trong đêm tối. Nơi chõng ấy không còn là bà già ăn mày cả người lở loét, yếu đuối nữa, mà nơi ấy bây giờ chính là một con giao long to lớn đang cuộn tròn thân mình thành một đống lớn, đầu của nó gác lên trên xà nhà, còn đuôi thì lại thò xuống dưới đất.

Nhìn thấy cảnh này thì người mẹ cũng kinh hãi đến rụng rời chân tay, nhưng bởi vì nghĩ đến nhà của mình lại hoàn toàn cách biệt nơi xóm làng, đến lúc này cũng chẳng biết kêu cứu với ai. Vì vậy đành kéo chăn trùm kín hết cả hai mẹ con, trong lòng đã phó mặc cho số phận may rủi của mình.

Tuy nhiên thì sáng ngày hôm sau tỉnh lại, người mẹ nhìn về phía cái chõng thì chẳng còn trông thấy con giao long đêm qua xuất hiện đâu nữa. Nơi đó vẫn là bà già ăn mày nghèo khổ, mụ ta đang chuẩn bị rời đi. Trước lúc nói lời từ giã thì mụ đột nhiên nói với hai mẹ con góa bụa là:

– Tất cả chúng nó mang tiếng là thờ Phật nhưng thực chất ra chính là buôn Phật mới đúng. Bởi vậy nên rất đáng phải hứng chịu lấy trầm luân. Còn hai mẹ con nhà ngươi thì thực tốt bụng. Ta cho gói tro này, hãy nhận lấy và đem nó đi rắc đều chung quanh nơi ở, đêm này thì chớ rời đi đâu. Nếu đi thì tốt nhất hãy lên nơi đỉnh núi cao nhất để mà tránh nạn.

Người mẹ vô cùng lo lắng khi nghe những lời nói ấy, trong lòng băn khoăn nên liền hỏi thêm:

– Vậy tôi phải làm như thế nào mới có thể cứu được mọi người?

Bà già ăn mày chần chừ một chút, sau đó lấy một hạt thóc từ trong túi áo ra và cắn làm đôi rồi đưa hai mảnh vỏ trấu cho người mẹ và dặn rằng:

– Có hai mảnh trấu này thì có thể giúp cho hai mẹ con nhà ngươi có thể làm việc thiện rồi.

Người mẹ vốn còn định hỏi thêm nữa nhưng bà già ăn mày ấy vụt một cái đã biến mất hoàn toàn rồi. Ngẩn ngơ một chút rồi hai mẹ con góa bụa vội vàng làm theo những lời căn dặn của bà già ăn mày kia. Họ cũng không quên kể lại câu chuyện ấy cho tất cả những người ở xung quanh cùng biết. Nhưng nghe xong thì tất cả bọn họ đều nghĩ người mẹ ngớ ngẩn, cho rằng đó chỉ là một câu chuyện nhảm nhí không hơn không kém nên chỉ cười xòa mà bỏ qua.

Buổi tối ngày hôm đó, chính giữa nơi đám hội vô cùng náo nhiệt ấy, đúng vào lúc mà tất cả các thiện nam cùng tín nữ tấp nập cùng cúng bái thì đột nhiên có một dòng nước từ chính giữa nơi đàn tràng phun lên từ dưới lòng đất. Dòng nước ấy phun ngày một mạnh hơn, khiến cho mọi đất đá ở xung quanh đều dần lở sụt.

Mọi người ở đây đều ngơ ngác chẳng hiểu chuyện gì, lại cứ ngỡ đó là phép màu của Phật hiển linh, bởi vậy nên ra sức mà cúng bái, lạy lấy lạy để. Tuy nhiên thì dòng nước kia càng lúc càng mạnh hơn, nó nuốt trọn cả người cùng vật xung quanh. Chẳng bao lâu nước đã ngập như cái ao lớn.

Cho tới tận lúc này thì mọi người mới hốt hoảng hết cả, lập tức bỏ hết lễ bái mà xô đẩy nhau chạy trốn. Nhưng họ đã không thể nào chạy xa hơn được. Đất vốn bằng phẳng dưới chân họ nay đã nứt nẻ hết, những rung động mạnh xô họ ngã ngang ngã dọc. Đột nhiên có một tiếng ầm ầm vô cùng dữ dội, tất cả đất đá, cùng nhà cửa, và cả người, vật cũng đều bị dòng nước kia nhấn chìm hết cả, nước cứ thế tung tóe làm mù cả vùng trời rộng lớn.

Giữa lúc ấy, từ dưới mặt nước bay lên một con giao long rất lớn, nó cứ thế mà bay vòng chung quanh khu vực xã Nam Mẫu. Khắp nơi đất đá lở sụt, mọi thứ đều bị dòng nước cuốn phăng thì nền nhà, chuồng gà, chuồng lợn ở chỗ mẹ con góa bụa lương thiện kia vẫn cứ dâng cao dần theo mực nước.

Nhìn cảnh nước lụt cuốn phăng hết mọi thứ thì hai mẹ con vô cùng đau sót, họ liền lấy hai mảnh trấu mà bà già ăn mày đưa cho lúc trước ra. Khi họ đặt chúng xuống dưới nước thì cả hai mảnh trấu ấy đột nhiên hóa ngay thành hai chiếc thuyền. Sau đó, hai mẹ con ấy chẳng quản gió mưa, chẳng sợ nước lũ, vẫn vững vàng tay chèo để đi hết mọi nơi và cố hết sức để cứu giúp cho những người gặp nạn.

Nơi đất bị sụt đi và bị nước lấp đầy ấy chính là hồ Ba Bể – Bắc Cạn ngày nay. Nơi nền nhà của hai mẹ con góa bụa kia chính là hòn đảo nho nhỏ ngay chính giữa hồ, người địa phương ở nơi này vẫn quen gọi nó là Pò Già Mải.

Truyện Cổ Tích Vua Heo

Vua heo

Ngày xửa ngày xưa có một cậu bé mồ côi, quần áo rách rưới lang thang đi ăn xin khắp nơi, có lần đến ngôi làng nọ, có một người thấy cậu cũng nhanh nhẹn bèn mang cậu về nhà nuôi để sai vặt. Cậu ngoài làm người ở ra còn hay nghịch ngợm lấm lem nên mọi người chế giễu gọi cậu là thằng Heo. Mặc cho mọi người chê, Heo vẫn không mảy may quan tâm. Bao nhiêu năm trôi qua, năm nào cũng hạn hán lũ lụt, mấy đứa trẻ nhà nghèo bằng tuổi cậu không ốm yếu thì cũng gầy tong teo, ấy thế mà Heo vẫn sống khỏe mạnh và ngày càng lớn. Năm lên mười lăm tuổi, Heo lui đến ở với một vị quan lớn.

Heo khỏe mạnh lại nhanh nhẹn nên quan ưng lắm, sai tất thảy mọi việc. Một hôm, vị quan lớn bắt Heo múc một chậu nước để kì chân cho quan. Lúc Heo sờ vào chân của quan, quan chỉ tay vào mấy cái nốt ruồi của mình và nói:

– Mày có nhìn thấy không? Đây là ba nốt ruồi son quý của ông đấy, mày rửa chân ông cẩn thận, làm xước ba nốt ruồi của ông thì cả họ nhà mày cũng không đền được cái tướng quý báu đấy đâu.

Heo ta nghe quan lớn nói vậy thì mới vạch áo cho quan lớn nhìn những nốt ruồi son của mình và nói:

– Quan lớn mới có mỗi ba cái nốt ruồi son thôi mà đã cẩn trọng giữ gìn như báu vật đến vậy. Quan nhìn xem, con có tận chín cái nốt ruồi son đây này.

Quan lớn ngạc nhiên nhìn thấy tận chín cái nốt ruồi son ở đằng sau lưng Heo thì chột dạ: “Ôi trời đất! Mình có ba cái nốt ruồi son thôi mà gia thế đã được thế này, cái thằng người ở bẩn thỉu kia lại có đến tận chín cái. Sau này nó không làm Vua thì ắt cũng quan to chức lớn, ta lại dưới chướng nó thì còn mặt mũi nào nữa. Ta phải giết nó đỡ gây hậu họa về sau”.

Thế rồi vài ngày sau, quan lớn giao cho đứa hầu gái một gói thuốc độc và dặn rằng:

– Hôm nay xới cơm cho thằng Heo ăn thì phải rắc ngay gói thuốc độc này vào bát, để ai biết được chuyện ta cho Heo trúng độc ra ngoài thì ngươi sẽ chết ngay tức khắc.

Cô hầu gái cầm lấy gói thuốc độc từ tay tên quan mà lòng đau như cắt, cô và Heo làm người hầu trong nhà đã bao năm nay, có gì cũng giúp đỡ nhau, lần này quan ép cô giết Heo, cô không biết phải làm như thế nào. Buổi hôm ấy, Heo sách giỏ ra chợ mua một ít giấy bút cho chủ. Về đến nhà thì cô hầu gái đang cho đàn Heo ăn. Đang đói bụng, Heo vơ vội bát cơm định cho vào miệng thì nghe tiếng cô vừa gõ vào chiếc máng lợn vừa mắng:

– Heo ôn! Heo ôn! Heo ăn Heo sẽ chết, mà Heo không ăn thì Heo cũng sẽ chết!

Cô vừa gõ mạnh vừa nói đi nói lại tới ba lần liền. Anh chàng Heo nghe thấy cô hầu gái quát đàn Heo thì cảm giác có điều không lành bèn lân la đến chỗ cô hầu gái dò hỏi:

– Tôi sắp gặp chuyện gì đáng lo sao? Cô nói cho tôi biết đi.

Cô hầu gái đáp:

– Sau này Heo đừng quên tôi thì tôi sẽ nói cho Heo biết.

Heo gật đầu đồng ý. Cô hầu cầm tay Heo kéo ra một góc khuất rồi kể hết đầu đuôi câu chuyện cho Heo nghe và bảo:

– Heo mau chạy trốn đi, đừng để quan lớn biết được, nếu không không những Heo chết mà tôi cũng chết.

Cảm tạ ơn cứu mạng của cô hầu gái vô cùng, Heo ôm lấy cô hầu gái và nói:

– Sau này nếu như tôi làm nên thì cô hãy tìm tới ta, nhưng nhớ khi đến thì để mái tóc lù xù như này tôi mới nhận ra được.

Heo bỏ chạy thật xa, đến làm thuê cho một lão trọc phú. Trọc phú thấy Heo đến xin việc, nhìn cũng nhanh nhẹn tháo vát nhưng chưa biết phân công cho Heo làm việc gì nên hắn bắt trông nom mấy đứa con chơi bời lêu lổng của hắn. Heo vui vẻ chấp nhận, trông mấy đứa nhỏ không quá vất vả nhưng mấy đứa này lại nghịch ngợm vô cùng, Heo lúc nào cũng phải kè kè bên chúng để chăm sóc. Có lần không may để một đứa nghịch bẩn, Heo bị trọc phú mắng nhiếc thậm tệ. Tuy nhiên Heo vẫn kiên nhẫn chịu đựng không cãi lại lời nào.

Một hôm, lão trọc phú thấy mấy đứa con hắn không có gì chơi nên hắn bảo Heo:

– Mày hãy bò ra sân làm ngựa để cho các con tao cưỡi. Có thế mới đáng đồng tiền bát gạo tao thuê mày.

Cực chẳng đã Heo phải bò ra để làm ngựa, hết đứa lớn rồi đến đứa nhỏ leo lên lưng Heo để cưỡi, chúng nó tỏ ra rất thích thú. Đến hôm sau chúng lại đòi cưỡi, đứa con lớn của lão trọc phú nhảy phốc một cái lên lưng Heo, nó kéo tai, Heo vẫn cố chịu đựng. Một lúc sau, nó lấy một cái roi quật mạnh vào đít Heo, vừa quật nó vừa kêu “nhoong nhoong” như kiểu cưỡi ngựa thì Heo tức giận đùng đùng, Heo quay tay ra sau gạt nó một cái, thằng bé đang ngồi bị gạt mạnh văng xuống đất vỡ đầu chảy máu rồi chết. Heo hốt hoảng: “Mình đánh chết con trọc phú rồi, tí nữa là đến lượt mình cũng phải chết theo”, nghĩ thế Heo vội vàng bỏ trốn luôn.

Heo bỏ đi rất xa, tới tận một ngôi chùa ở trên núi. Heo xin sư trụ trì được cắt tóc quy y đi theo cửa phật. Vị sư đang cần người khéo léo, giỏi leo trèo để lau chùi các pho tượng phật nên đã nhận Heo ở lại chùa. Một hôm, vị hòa thượng thấy những phần kẽ chân kẽ tay của những pho tượng bám đầy bụi bặm, nghĩ là Heo mải chơi không chịu lau chùi nên đã mắng Heo một trận, hao thấy thế thì ức lắm. Hôm sau Heo tỉ mỉ lau kĩ nhưng các pho tượng vẫn không sạch được vì những kẽ đó rất khó chùi. Bực mình Heo trợn mắt nhìn pho tượng và quát:

– Mau nhấc tay lên cho ta lau.

Pho tượng gỗ bỗng giơ tay lên trời, lau xong Heo lại quát:

– Duỗi chân ra mau, không ta cho ăn một gậy bây giờ.

Pho tượng phật đang ngồi tự dưng nhổm dậy duỗi chân ra để cho Heo lau. Chỉ một loáng là các pho tượng đều sạch bóng. Lau xong tất cả, Heo lại hô các pho tượng trở về như vị trí ban đầu. Ngày nào lau chùi Heo cũng làm như vậy, cho đến một hôm, mệt quá nên lau chùi xong Heo bỏ vào giường ngủ mà quên mất không hô cho các pho tượng trở lại vị trí ban đầu. Buổi tối khi các hòa thượng lên chùa để tụng kinh thì ai nấy giật mình nhìn tướng tá các pho tượng, cái thì giơ tay, cái thì nghiêng mình, thật là một cảnh tượng chưa bao giờ có, sư trụ trì cho gọi Heo lên và hỏi:

– Tại sao các pho tượng lại trở nên kì quái thế này?

Heo lễ phép đáp:

– Là con không lau được các kẽ tượng nên mới bảo chúng làm như thế đó ạ.

Lần này vị sư lại càng bất ngờ hơn. Ông thầm nghĩ bụng: “Chỉ có thiên tử mới có thể ra lệnh được. Chắc chắn sau này Heo sẽ lên làm Vua, ta mà giấu nó trong đây, sau này quan quân truy nã thì ta sao tránh khỏi tội lớn”. Nghĩ thế ông cho người bí mật lên báo quan. Nhưng lúc quan quân đến Heo đã chạy thật xa, một chú tiểu đồng tốt bụng đã nhanh nhẹn báo cho Heo biết sự tình nhắc Heo bỏ trốn thật mau.

Heo cứ chạy mãi chạy mãi, đến một huyện kia, Heo lại xin làm hầu cho một phú thương. Trước nhà phú thương có trồng một hàng cau, cây nào cây nấy xếp hàng nhau thẳng tăm tắp. Hàng cau này chính là hàng cao phát lộc cho ông ta nên ông ta chăm sóc rất chu đáo, thuê Heo về ông giao nhiệm vụ cho Heo hàng ngày phải xách nước tưới cau. Một hôm, Heo mệt quá ngồi nghỉ dưới gốc cau, Heo buột miệng chỉ vào ba cây cau và nói:

– Cây này là cây cha, cây này là cây mẹ, còn cây này là cây con!

Bỗng nhiên, ba cây cau đang thẳng tắp ngang nhau thì trở nên lớn bé cao thấp khác nhau. Cây cha thì cao và lớn hơn tất cả, còn cây con lùn tè, buồng có nó còn gần chạm tới mặt đất. Sang ngày hôm sau, phú thương thấy hàng cau mình sảy ra sự lạ bèn gọi Heo đến hỏi cho ra nhẽ. Heo đáp:

– Là tôi ngỗi chỉ tay vào chúng nói thế nên chúng thay đổi như vậy đó.

Phú thương cười ngặt nghẽo, nào có ai ra lệnh được cho cây bao giờ, nhưng cũng bảo Heo:

– Nếu đúng là mày ra lệnh cho chúng thì mày hãy biến chúng về vị trí như cũ xem.

Heo trợn mắt bảo hắn:

– Lời tôi nói ra rồi sẽ không rút lại đâu. Quân tử nói một là một, một lời nói ra nặng tựa ngàn cân.

Phú thương nghe vậy thì tức lắm, điên tiết cầm gậy đuổi đánh Heo. Heo bỏ chạy thục mạng, dù có mệt mỏi, đói đến lả đi Heo vẫn không dám dừng lại vì sợ bị bắt lại đánh đạp. Mãi đến nửa đêm, vừa mệt vừa buồn ngủ, Heo chui đại vào một nhà nọ để kiếm chỗ ngả lưng. Trong nhà la liệt là người, không còn chỗ cho Heo ngủ, nhìn bên cạnh có bàn thờ Long Thần vừa vặn nằm, lại có cả chiếu manh nên Heo vứt tượng Long thần xuống đất trèo lên bàn ngủ ngon lành. Sáng hôm sau Heo dậy sớm, ra khỏi nhà tiếp tục đi.

Khi chủ nhà thức dậy, đã thấy tượng Long thần nằm ở dưới đất, trên bàn thờ thì có dấu vết người nằm mà chưa dọn dẹp nên ai nấy cũng đều thấy làm lạ, hỏi ai dám vứt tượng Long Thần xuống đất thế này thì không ai nhận. Mọi người lau chùi lại bàn thờ rồi đưa tượng Long thần lên chỗ cũ. Nhưng khi họ nhấc tượng lên thì không tài nào nhấc nổi. Họ ngơ ngác nhìn nhau không biết nói gì, chủ nhà vội cho mời một thượng đồng đến xem bà ta thì thay lời Long thần nói rằng:

– Ta ở đất của nhà Vua, Vua đặt ta ở đâu thì ta ở yên chỗ đó.

Nghe thấy thế, ai nấy đều tin rằng thiên tử đã đến ngủ tại nhà mình tối qua. Tin này truyền đi một cách nhanh chóng trong dân chúng. Mọi người đều phấn khởi vì sắp có một minh chúa xuất hiện cứu giúp sinh linh đang đau khổ trong cảnh lầm than cơ cực của nước nhà lúc bấy giờ.

Heo bỏ chạy lên núi thì gặp một toán giặc, Heo liền xin họ cho gia nhập đi đánh, càng ngày càng lập nhiều chiến tích. Nhờ có trí thông minh và khả năng trời phú sai khiến được cả Thần Phật thì Heo được cả sơn trại tôn làm trại chủ. Càng ngày càng có nhiều anh em xin đi theo. Heo chỉ đạo quân mình chống đối với quân của triều đình, nhiều trận đánh Heo chiến thắng làm cho quân triều đình thất bại thảm hại. Đất đai của Heo ngày càng được mở rộng mãi. Chàng tự xưng Vua, thiết lập hệ thống quan và binh lính triều đình. Từ đó mọi người hay gọi chàng là Vua Heo.

Một ngày nọ khi đi qua tỉnh năm xưa, bỗng có một cô gái ra chặn đường xin bái kiến, quân lính mang cô đến gặp Vua Heo, Vua Heo nhận ra cô gái có mái tóc lù xù năm xưa đã cứu mạng mình thì lập tức mang nàng về kinh và phong làm hoàng hậu. Vua Heo sống hạnh phúc bên hoàng hậu, nhân dân dưới triều Vua Heo thì an nhàn, ấm no hạnh phúc, mọi người ca tụng Vua không ngớt…