Truyện Cổ Tích Trong Văn Học Dân Gian

Trước cách mạng Tháng Tám, ở nước ta, tên gọi cổ tích, hay truyện cổ, hay truyện đời xưa được sử dụng để gọi chung cho các thể loại truyện kể dân gian, bao gồm thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn và truyện cười. Về sau, khi công tác nghiên cứu văn học dân gian phát triển, truyện cổ được phân chia thành các thể loại truyện kể dân gian. Tuy nhiên, do bản chất nguyên hợp của văn học dân gian mà việc phân loại đã gặp nhiều khó khăn, ngày nay vẫn chưa thể đi đến thống nhất.

Trong khối truyện kể dân gian người Việt, cổ tích chiếm dung lượng trội hơn nhiều so với các thể loại khác. Một phần vì đặc trưng lịch sử, một phần vì đặc trưng xã hội và tính cách dân tộc mà cổ tích được lưu giữ hiệu quả hơn trong kho tàng truyện cổ người Việt.

Có thể hiểu cổ tích là “một thể loại truyện dân gian nảy sinh từ xã hội nguyên thủy nhưng chủ yếu phát triển trong xã hội có giai cấp với chức năng chủ yếu là phản ánh và lí giải những vấn đề xã hội, những số phận khác nhau của con người trong cuộc sống muôn màu muôn vẻ khi đã có chế độ tư hữu tài sản, có gia đình riêng (chủ yếu là gia đình phụ quyền), có mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh xã hội quyết liệt”1.

Mặc dù xuất phát từ thần thoại và thời kì thần thoại, song cổ tích không vì thế mà không thể thoát khỏi cái bóng lớn của thần thoại. Nếu “nhân vật thần thoại thường có ý nghĩa tượng trưng và thể hiện những nỗi gian khổ chung, những niềm hoan lạc chung, những lo âu chung và những ước mơ chung của thị tộc, bộ lạc” thì “truyện cổ tích xuất hiện phần lớn khi công xã thị tan rã và được thay thế bằng gia đình riêng lẻ”; nếu thần thoại có sự gắn kết gần gũi với tôn giáo nguyên thủy và thể hiện tinh thần tự do, ý thức dân chủ của con người khi xã hội chưa phân chia giai cấp thì cổ tích lại phản ánh tình trạng đấu tranh xã hội và thể hiện ý thức hệ của thời đại; nếu thần thoại xây dựng vẻ đẹp kì vĩ, hùng tráng, mĩ lệ, mang tầm vóc của toàn thể bộ lạc thì cổ tích lại hướng về những số phận, những ước mơ cải mệnh của con người trong cái hạn hữu chật hẹp của xã hội.

Trong tính nguyên hợp của văn học dân gian, sự gặp gỡ, hàm chứa nhau giữa các thể loại là hiện tượng không xa lạ. Trong đó, hiện tượng chuyển hóa chất liệu từ tác phẩm này sang tác phẩm khác, thể loại này sang thể loại khác tạo nên một dòng chảy thú vị. Chẳng hạn trường hợp hình tượng con rùa, nó xuất phát từ thần thoại trong vai thần biển, đã tái sinh trong thời đại truyền thuyết qua “An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy” và tiếp tục đời sống của mình trong cổ tích “Rùa và Thỏ”.

Vấn đề phân loại truyện cổ tích đến nay vẫn tồn tại như một thách thức. Có lẽ, đặc trưng nguyên hợp là trở lực vĩnh cửu trước mọi nỗ lực phân định văn học dân gian ở bất cứ cấp độ nào. Tuy nhiên, để quán xuyến được việc nghiên cứu, các học giả, theo cách nào đó, phải đưa ra kiến giải về việc phân loại cổ tích.

Nguyễn Văn Ngọc trong Truyện cổ nước Nam chia cổ tích thành 5 loại: những truyện thuộc về lối cổ tích hoặc dã sử; những truyện mà kết cục trở thành phương ngôn; những truyện thuần về văn chương; những truyện ẩn một triết lí cao xa và những truyện vui chơi cười đùa lí thú nhưng chưa phải tiếu lâm. Cách phân chia này đưa ra những tên gọi dài dòng, đồng thời có sự chồng lấn giữa các loại một cách phức tạp.

Theo Nghiêm Toản, cổ tích được chia làm 4 loại: truyện mê tín hoang đường; truyện luân lí ngụ ngôn; truyện phúng thế hài đàm và sự tích các thánh. Cách phân chia này đã sử dụng nội hàm của thuật ngữ truyện cổ. Các loại được phân chia thành tương ứng với các thể loại truyện kể dân gian, song chưa đầy đủ. Ngay cả thể loại cổ tích cũng không tìm thấy vị trí cụ thể trong cách phân chia trên.

Theo Hoàng Trọng Miên, cổ tích được chia làm 6 loại: cổ tích lịch sử; cổ tích phong tục; cổ tích tình cảm; cổ tích thế sự; cổ tích tôn giáo và cổ tích hoang đường. Thanh Lãng thì chia cổ tích thành 7 loại: cổ tích ma quỷ; cổ tích anh hùng dân tộc; cổ tích ái tình; cổ tích luân lí; truyện thần tiên; truyện phong tục và truyện khôi hài. Nguyễn Đổng Chi trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam chia cổ tích thành 3 loại: truyện cổ tích thần kì; truyện cổ tích thế sự và truyện cổ tích lịch sử.

Giáo trình Văn học dân gian của các trường Đại học Sư phạm chia cổ tích thành 3 loại: cổ tích hoang đường; cổ tích sinh hoạt và cổ tích lịch sử. Đinh Gia Khánh – Chu Xuân Diên trong giáo trình Văn học dân gian của trường Đại học Tổng hợp chia cổ tích thành 2 loại: cổ tích thế sự và cổ tích lịch sử. Nhóm tác giả Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ chia cổ tích thành 3 loại: cổ tích loài vật; cổ tích thần kì và cổ tích sinh hoạt.

Theo giáo trình Văn học dân gian của Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, căn cứ vào việc có hay không có yếu tố thần kì, có thể chia thành cổ tích thần kì và cổ tích hiện thực; căn cứ vào nội dung phản ánh, có thể chia thành cổ tích thế sự và cổ tích lịch sử.

Như vậy, vấn đề phân loại cổ tích hẳn là vô cùng phức tạp. Dù phân chia theo quan điểm nào thì bên cạnh những kiến giải hợp lí cũng tồn tại kèm theo những bất cập. Điều này xuất phát từ nhiều lí do. Trong đó, tính nguyên hợp của văn học dân gian là trở ngại tất yếu, không thể khắc phục. Với các cách phân loại đã trình bày, chúng tôi tán thành hơn cả quan niệm của Đinh Gia Khánh – Chu Xuân Diên. Đây là cách phân loại đơn giản, mặc dù không chi tiết, song đảm bảo được tính hệ thống trong phân loại. Hai bộ phận cổ tích thế sự và lịch sử có thể được minh định sáng rõ nhất. Hẳn nhiên, sự minh định ấy không bao giờ là sự tách biệt hoàn toàn.

Về vấn đề xác lập thể loại truyền thuyết và tiểu loại cổ tích lịch sử, đến nay vẫn chưa nhận được ý kiến thống nhất từ các nhà nghiên cứu. Có ý kiến không thừa nhận truyền thuyết là một thể loại văn học dân gian. Theo đó, những truyện kể dân gian có nội dung gắn với lịch sử được xếp vào tiểu loại cổ tích lịch sử. Tuy nhiên, trong tính hệ thống của các thể loại và truyện kể dân gian, cổ tích mang không khí sinh hoạt đời thường trong không gian hẹp hơn so với truyền thuyết. Truyền thuyết là một thu hẹp của thần thoại về không gian và thời gian. Song, với đặc thù biểu đạt, truyền thuyết gắn với không gian đất nước và thời gian lịch sử. Nó mang tầm vóc của cộng đồng, thay vì cổ tích mang giới hạn của những mối quan hệ cụ thể giữa một số ít người. Nhân vật truyền thuyết là nhân vật của cộng đồng, trong khi nhân vật cổ tích là đại diện cho tâm tình của một bộ phận người trong xã hội. Phân tích như vậy để thấy rằng những truyện kể có nội dung gắn kết với sự kiện hay nhân vật lịch sử, nó mang không khí truyền thuyết hơn là cổ tích. Vì vậy, chúng tôi tán thành ý kiến xem truyền thuyết là một thể loại văn học dân gian.

Cổ tích các dân tộc anh em thể hiện khá phong phú, sinh động phong tục, tập quán sinh hoạt văn hóa dân gian. Truyện “Quả Pa Pao” của người HMông, “Tung còn lấy vợ tiên” của người Tày kể về tục ném còn. Kề về các nhạc cụ dân gian có truyện “Sự tích chiếc kèn môi” của người HMông, “Sự tích chiếc kèn đá” của người Raglai. Truyện kể về sự tích các điệu múa thì có “Sự tích điệu múa công” của dân tộc Thái, “Sự tích điệu múa bắt ba ba” của người Dao.

Bộ phận cổ tích gắn liền với việc lí giải các sự vật trong thiên nhiên như “Sự tích dưa hấu”, “Sự tích trái sầu riêng”, “Sự tích cây huyết dụ”, “Sự tích hồ Ba Bể”, “Sự tích núi Vọng Phu”, “Sự tích núi Bà đội om”, “Sự tích núi Ngũ Hành”, “Sự tích sông Tô Lịch và sông Thiên Phù”…

Phần lớn cổ tích xoay quanh đề tài sinh hoạt gia đình, phản ánh và lí giải những xung đột, mâu thuẫn có tính riêng tư nhưng phổ biến giữa anh em trai: “Cây khế”, chị em gái: “Sọ Dừa”, giữa dì ghẻ con chồng và chị em cùng cha khác mẹ: “Tấm Cám”…

Những xung đột bên ngoài gia đình cũng chịu sự ảnh hưởng, chi phối từ những mâu thuẫn trong gia đình. Giải quyết các xung đột, mâu thuẫn trong gia đình là động lực giải quyết xung đột, mâu thuẫn xã hội.

Suốt quá trình phát triển qua lịch sử lâu dài, những hình tượng nhân vật trong cổ tích không ngừng được nhào nắn lại, bổ sung thêm, đây là yếu tố giúp làm tăng tính khái quát và điển hình hóa cho hình tượng, phản ánh được nhiều vấn đề lịch sử của đời sống xã hội.

Triết lí sống là phần quan trọng trong kết cấu nội dung của thể loại. Vì ở đó phản ảnh chân thực sự đấu tranh không khoan nhượng của nhân dân lao động bị áp bức bóc lột, chống lại những thế lực xâm phạm quyền sống, quyền làm người của họ, đồng thời, khẳng định ý nghĩa, giá trị cao quý trong cuộc sống của họ thành triết lí.

Trước sự nghiệt ngã trong xã hội có giai cấp, người dân lao động đấu tranh chống lại những thế lực xâm phạm nhân quyền của họ; đồng thời tự khẳng định bằng cách nâng lối sống của mình lên thành một triết lí.

Trong cổ tích, phần cốt lõi nhất trong triết lí sống của nhân dân là tinh thần lạc quan, yêu đời, lòng ham sống, tình yêu thương và quý trọng đồng loại. Có thể truyện hướng đến sự ca ngợi, biểu dương những hành vi cao đẹp như tình nghĩa thầy trò trong “Sự tích đầm mực”; hay phê phán, lên án những hành vi trái quy chuẩn đạo đức xã hội, như lừa thầy, phản bạn, ăn ở hai lòng, hay những đứa con bất hiếu như “Cái cân thủy ngân”, “Đứa con trời đánh”…

Nói đến tinh thần lạc quan trong cổ tích người ta thường đề cập đến kết thúc của thể loại này, phần nhiều kết thúc có hậu. Kết thúc có hậu chỉ là một biểu hiện phổ biến nhất, không phải biểu hiện cao nhất cũng như duy nhất của tinh thần lạc quan, yếu tố chủ đạo được đề cập trong thể loại này.

Thực tế cho thấy, kho tàng cổ tích Việt Nam nói riêng, của nhân loại nói chung không phải tất cả đều có kết thúc có hậu. Và cũng không vì thế mà cho rằng những truyện kết thúc không có hậu là bi quan. Không ít cổ tích có kết thúc bi thảm, nhân vật chính diện hoặc phải chết hoặc ra đi về miền khổ ải đọa đày, nhưng đó là cái chết nhằm giúp tỏa sáng, khơi dậy tinh thần lạc quan, niềm tin đối với những phẩm chất tốt đẹp của những con người hiền lành, lương thiện, khẳng định những giá trị đạo đức cao quý giữa dòng tuần lưu vô tận của dòng chảy lịch sử nhân loại.

Triết lí sống của nhân dân trong cổ tích còn thể hiện ở sự thưởng công phạt tội được nhìn nhận và giải quyết theo yêu cầu đạo đức. Chàng Thạch Sanh có những hành vi đạo đức cao đẹp mà chắc chắn còn rất lâu mới có thể trở thành hiện thực một cách phổ biến trong xã hội loài người nói chung và trong xã hội Việt Nam nói riêng – đó là sự hào hiệp, vô tư, sẵn sàng xả thân vì việc nghĩa trong mọi tình huống. Từ quan niệm đó, nhân dân ta khẳng định triết lí “ở hiền – gặp lành”. Niềm tin ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ vừa là triết lí sống lạc quan, tích cực, vừa là ước mơ công lí và đạo đức. Tuy hình thức bề ngoài nó khá giống với giáo lí của nhà Phật nhưng nội dung phục vụ cho ý nguyện của nhân dân. Đó là chỗ dựa tinh thần vững chắc trong hoàn cảnh nghiệt ngã của nhân dân lao động.

Trong gia đình, mặc dù chịu nhiều đau khổ, thiệt thòi nhưng họ luôn sống có đạo đức. Đạo đức bộc lộ ở sự hiền hậu, thật thà, ngay thẳng, hiếu thảo, thủy chung, chịu thương chịu khó… Họ không hay và không thích trả thù những kẻ đàn anh, những người bề trên trong gia đình, dù những kẻ đó đã gây cho họ nhiều tổn thương, đắng cay, điêu đứng.

Nhân vật người em trong “Cây khế” mặc dù bị người bị người anh chiếm hết gia tài nhưng khi được chim thần đưa ra đảo lấy vàng và trở nên giàu có thì vẫn giữ nguyên tình anh em như trước. Hơn nữa, đã chỉ chỗ đảo vàng cho anh để anh cũng có đời sống sung túc. Còn Thạch Sanh dù bị Lí Thông lừa đảo năm lần bảy lượt một cách trắng trợn, bội nghĩa bạn bè nhưng khi có quyền binh trong tay vẫn sẵn sàng tha cho Lí Thông một con đường sống. Những điều nói trên nhằm bảo vệ quan hệ tình cảm, đạo đức huyết thống của gia đình thị tộc trong cổ tích.

Nạn nhân của những xung đột trong gia đình phụ quyền đang hình thành đáng lẽ phải đứng lên phá vỡ tôn ti trật tự bất công để xây dựng một kiểu gia đình khác, giải phóng mình khỏi những nỗi oan trái. Nhưng quy chuẩn xã hội đương thời không cho họ quyền được làm điều đó, nên họ chỉ có thể phủ nhận, chống lại những quan hệ áp bức, bóc lột của gia đình phụ quyền bằng cách quay về với những quan hệ tốt đẹp của gia đình thị tộc đã và đang trên bờ vực tan rã. Sự lí tưởng hóa những nhân vật đàn em là để củng cố những quan hệ gia đình lung lay, rạn nứt, nhằm cứu vãn nó, làm cho nó trở lại với thời kì “tổ ấm” xa xưa.

Nhưng mọi thứ không diễn ra một cách tốt đẹp như thế. Xã hội đương thời đầy rẫy bất công đã nhẫn tâm đưa họ vào những cạm bẫy, tai ương. Những người đàn em và những người bề dưới luôn chịu thiệt thòi, cay đắng mặc cho phẩm hạnh sáng ngời của họ là vì sự độc ác, vô đạo của những kẻ đàn anh, bề trên. Cổ tích phản ánh nỗi cùng quẫn của những kiểu nhân vật “đức hạnh nhưng bất hạnh” này trong việc tìm đường giải thoát cho mình. Nhưng ở một số truyện, sự sáng tạo của tác giả dân gian đã mang đến cho tác phẩm những làn gió mới, thể hiện ở phần kết thúc các nhân vật đàn em đã dám vượt qua khuôn khổ gia đình, tìm đến sự công bằng, hạnh phúc cho bản thân mình. Trí tưởng tượng của tác giả đã đưa con người khổ hạnh, bị áp bức bất công vượt biên giới gia đình, nhờ việc tạo ra, khai thác những hình tượng hư cấu, các yếu tố kì ảo như: Ông Tiên, Bà Bụt, Chim thần, Rắn thần, Vua, Công chúa, Hoàng tử… Tuy vai trò khác nhau nhưng những nhân vật ấy gắn liền với việc thể hiện lí tưởng thẩm mĩ của nhân dân. Đây là chiếc cầu nối giữa cuộc đời thực bất hạnh với cuộc đời hạnh phúc công bằng mộng tưởng của nhân vật chính diện. Nếu như các lực lượng thần – ảo góp phần thể hiện lí tưởng xã hội – thẩm mĩ, các nhân vật như vua chúa, hoàng tử, công chúa là phương tiện nghệ thuật, vừa là hiện thực vừa lí tưởng xã hội được hình tượng hóa. Các nhân vật đế vương trong cổ tích được phân thành hai loại đối lập: chính diện và phản diện, tức tốt và xấu. Vua tốt như ông vua trong truyện “Thạch Sanh”, “Tấm Cám”; còn vua xấu như ông vua trong truyện “Ai mua hành tôi”, vua xấu như ông vua Trang vương trong “Phạm Tải Ngọc Hoa”.

Loại truyện về những chàng trai khỏe, dũng cảm hay truyện dũng sĩ của các dân tộc nhằm ca ngợi những tấm gương tài hoa, hiệp nghĩa, những bậc anh hùng trong lao động và chiến đấu. Truyện “Cẩu Khây” của người Tày kể về bốn anh em kết nghĩa có sức khỏe phi thường, dùng sức khóe của mình tham gia lao động sản xuất, giúp đỡ đồng bào. Truyện “Chàng Voi con” của người Thái cũng có cốt truyện tương tự. Hay truyện “Chê Hấu” của người HMông kể về các chàng trai khỏe mạnh hợp sức khai phá đất đai, chế ngự thiên tai, lao động sản xuất. Mở đầu là chàng Nhổ Cây, đến chàng Cắt Tranh, tiếp theo là chàng Chê Hấu trồng trọt, sau đó là chàng Hút Nước chống lũ, cuối cùng là chàng Đục Đá làm cối xay để chế biến lương thực. Truyện “Cẩu Khây” chủ yếu ca ngợi kì tích làm thủy lợi, chế ngự thiên tai. Truyện “Chàng Voi con” ca ngợi kì tích săn bắn. Truyện “Chê Hấu” xây dựng một tập thể những người lao động có trình độ kĩ thuật cao, có sự phân công lao động hợp lí, hiệu quả. Đây là những con người tài ba trong xã hội nông thôn.

Bên cạnh đó người Việt còn có những truyện mang tính hiện thực hơn như truyện “Lê Như Hổ” có tài ăn khỏe, một buổi phát luôn ba mẫu cỏ, một ngày gặt xong hai mẫu lúa. Truyện “Yết Kiêu” ca ngợi tài lặn nhiều giờ trong nước để đánh bắt cá, lặn xuống biển đục thuyền giặc. Lại có những truyện đề cao sự khéo léo trong lao động như: “Ba chàng thiện nghệ”, “Người thợ mộc Nam Hoa”, “Bùi Cầm Hổ”… Đặc biệt như truyện “Phân xử tài tình” ca ngợi vị quan thông minh tài giỏi. Nhưng cốt truyện loại này khá hiếm trong thể loại cổ tích, vì đa số quan lại là đối tượng châm biếm, đả kích của cổ tích …

Nhân dân tin rằng, nếu những con người tài đức làm mẫu nhi thiên hạ, những người khỏe mạnh cường tráng đóng góp công sức lao động sản xuất thì cuộc sống này sẽ tốt đẹp hơn nhiều, nhân dân sẽ được sống đời bình yên, hạnh phúc.

2/ Đặc trưng nghệ thuật

Nhân vật hay vật thần kì là hiện thân của các thế lực mang sức mạnh thần diệu, phi phàm, đứng ra giúp đỡ nhân vật tuyến thiện hay cùng với nhân vật tuyến ác tạo ra sự hủy diệt cuộc sống. Nhân vật kì diệu thường gặp: Tiên, Bụt (Phật); vật kì diệu: Rùa thần, Chim thần, Cá Bống… hiện ra giúp đỡ người tốt thiệt thòi. Trái lại, Đại Bàng có thể bắt cắp bất kì cô gái đẹp nào, Trăn tinh có thể ăn thịt bất cứ ai… Đôi khi nhân vật hay vật thần kì là phép thử lòng người, phân định bản chất con người thiện ác như Đại Bàng hai lần xuất hiện trong cổ tích “Cây khế” đã tạo ra hai kết cục trái ngược nhau cho hai nhân vật thuộc hai tuyến thiện ác khác nhau, với hai anh em cùng một huyết thống nhưng tính cách thiện ác đối lập.

Nhân vật trong cổ tích trung gian và cổ tích hiện thực không phân tuyến hoặc phân tuyến không rõ. Nhân vật đôi vợ chồng trong truyện “Sự tích đá vọng phu” không phải là nhân vật phân tuyến. Nhân vật người vợ trong “Sự tích con muỗi” là nhân vật phân tuyến không rõ ràng giữa mối quan hệ với chồng và với tình nhân. Những truyện cổ tích lí giải về sự tích không hẳn là cổ tích thần kì, mà là dạng cổ tích trung gian, gần với cổ tích hiện thực. Nhân vật trong “Trương Chi”, “Gái ngoan dạy chồng”… không phải nhân vật lí tưởng hóa, không phân tuyến như nhân vật trong cổ tích thần kì. Nhân vật trong cổ tích thần kì thường không rõ tính cách. Nhân vật thuộc cùng một tuyến có tính cách hao hao giống nhau theo khuôn mẫu đã định.

Kết cấu cổ tích thường gặp là kết cấu đường thẳng. Cốt truyện tuân theo một trật tự nhất định từ trước đến sau, cái gì xảy ra trước kể trước, cái gì xảy ra sau kể sau. Cuộc đời Thạch Sanh trong cổ tích cùng tên đi theo một trình tự thời gian cụ thể, từ lúc đi đốn củi, qua thăng trầm, cưới công chúa, thuần phục chư hầu, được truyền ngôi báu… là một dạng của kết cấu này.

Loại kết cấu này có ưu điểm: dễ nhớ, đơn giản; nhược điểm: thiếu sinh động. Cổ tích với đặc trưng thể loại không thực hiện sự đảo ngược kết cấu, đôi khi làm giảm hiệu quả diễn đạt, gây nhàm chán.

Nghệ thuật xây dựng ngôn ngữ trong cổ tích cũng tương thích với đặc trưng và chức năng thể loại. Ngôn ngữ mang tính trần thuật, tính kể đặc trưng cho ngôn ngữ kể chuyện. Các câu tả và các đoạn đối thoại ít có mặt trong truyện. Hình thức tả chủ yếu mang tính phác họa những nét đặc trưng nhất của ngoại hình nhân vật. Ta chỉ biết chàng Thạch Sanh khỏe mạnh, thật thà, còn cụ thể chàng khỏe đến mức nào và thật thà ra sao cổ tích không đề cập. Đó cũng có thể là “độ không sáng tạo” dành cho độc giả, theo điểm nhìn hiện đại.

Về phương diện cú pháp, cổ tích thường có ba loại chủ yếu: câu tồn tại, câu luận, câu hoạt động. Câu tồn tại nhằm mục đích giới thiệu nhân vật: “Hồi ấy ở gần làng có anh học trò nghèo, bố mẹ chết sớm” (Lấy vợ cóc). Câu luận nhằm định tính, định danh nhân vật: “Chàng rất hay chữ, tuy chưa đỗ đạt gì, người ta cũng gọi chàng là Tú Uyên” (Tú Uyên). Phổ biến nhất vẫn là câu hoạt động.

Trong cổ tích, có môtip mở đầu và kết thúc. Mở đầu thường có câu: “Ngày xửa ngày xưa, đã lâu lắm rồi, tại một làng nọ…” hoặc “Ngày xưa, có một nàng công chúa xinh đẹp, nàng sống cùng vua cha trong cung điện tráng lệ nhưng nàng luôn cảm thấy không vui”. Câu mở đầu thường có sự xuất hiện của cả không gian và thời gian theo thủ pháp ước lệ.

Ngôn ngữ cổ tích không có chức phận xác định cụ thể không gian – thời gian, mọi thứ đều hiện lên mơ hồ: thời gian quá khứ xa xưa, không gian xa xôi đâu đó. Ngoài ra, cổ tích còn sử dụng ngôn ngữ của tục ngữ, ca dao… nhằm gây ấn tượng. Cổ tích chứa đựng các câu văn đa dạng, phong phú về kiểu câu, phong cách ngôn ngữ. Càng về sau câu văn cổ tích càng gần với phong cách văn học hơn.

Thời gian và không gian nghệ thuật trong truyện cổ tích cũng được xây dựng theo hệ quy chiếu thể loại, góp phần xác định diện mạo chung của thể loại. Không gian cổ tích là không gian đời thường, không gian sinh hoạt bao quanh cuộc đời nhân vật chính. Chính vì vậy, không gian còn mang tính chất khép kín, tức không quan tâm những nhân vật phụ, những diễn biến khác trong cuộc sống. Không gian cổ tích khó xác định giới hạn, nơi chốn, đặc điểm. Ta sẽ bắt gặp những không gian quen thuộc trong cổ tích, bởi vì các truyện thường được xây dựng trong một không gian hao hao nhau. Dường như cổ tích chỉ gọi tên địa danh bằng danh từ phiếm chỉ để không gian bớt mơ hồ, còn thực sự địa danh ấy đặc điểm ra sao thì cổ tích không quan tâm đến.

Thời gian cổ tích là thời gian vĩnh hằng, bất biến. Thời gian cổ tích kéo dài theo số phận của đời người. Khi nhân vật chính được giải phóng số phận, thời gian theo đó dừng lại. Tính chất ước lệ được thể hiện rõ trong thời gian cổ tích; chẳng hạn ta thường bắt gặp các thời điểm như: “một hôm”, “một ngày kia”, “ngày xửa ngày xưa”… Ngoài ra, ta có gặp thời gian ước định bằng tuần trăng, “Ba tuần trăng… Rồi sáu… rồi chín tuần trăng” (Sự tích hòn vọng phu). Thời gian trong cổ tích chỉ được gợi ra một cách mơ hồ, hầu như không xác định năm nào, đời vua nào…

Như vậy, không gian – thời gian trong cổ tích có tính ước lệ, áng chừng. Hai yếu tố này luôn đi cùng nhau, vì thời gian chỉ diễn tiến trong không gian nhân vật hoạt động. Trong cổ tích, mọi thứ thường mơ hồ xa xôi, nhưng đôi lúc rất quen thuộc như trong chính ngôi làng của mình là vì thế.

Đặc trưng nghệ thuật của cổ tích còn có sự đóng góp của các thủ pháp nghệ thuật. Trước hết, nghệ thuật phiếm chỉ, cũng tương tự kết cấu đường thẳng, nhằm phục vụ nhu cầu truyền miệng, cổ tích thường gạt bỏ những yếu tố khó nhớ. Do vậy, nhân vật, không gian, thời gian thường có tính phiếm chỉ. Trong cổ tích ít sử dụng danh từ riêng. Điều này khác với truyền thuyết, thường sử dụng danh từ riêng. Nhân dân không có nhu cầu đặt tên, gọi rõ nhân vật, chỉ muốn tạo dựng hình tượng những nhân vật có tính phổ quát cao, nhằm biểu đạt những ý nguyện của mình, mong ước về một cuộc sống tốt đẹp hơn, công bằng hơn. Một cụm từ thường được sử dụng trong cổ tích là: “ngày xửa ngày xưa”; một số danh từ phiếm chỉ thường gặp trong cổ tích như: một phú ông, một quý cô, một anh tiều phu nọ… Việc chỉ sử dụng danh từ phiếm chỉ như vậy có tác dụng tạo ra một mảnh đời, một số phận có tính khái quát cao.

Nghệ thuật tưởng tượng, hư cấu là một phần quan trọng nhằm giúp con người có thêm trợ lực để hoàn thành được mơ ước của mình. Dĩ nhiên kết quả cuối cùng như thế nào vẫn do bản chất, sự lương thiện hay lòng tham của con người quyết định. Anh canh điền chiến thắng phú ông, lấy được vợ nhờ sự giúp đỡ của Bụt, nhưng muốn có cây tre trăm đốt làm sính lễ, anh đã phải bỏ công sức trèo đèo lội suối, vất vả gian truân không ít. Hơn thế, dù cho hư cấu thế nào, các yếu tố thần kì vẫn phải tuân theo luân lí thông thường. Trong “Cây khế”, phượng hoàng đưa người ra đảo lấy vàng, giúp người trở nên giàu có sung túc, nhưng không phải muốn lấy bao nhiêu của cải cũng được. Thánh thần chỉ giúp đỡ những ai chăm chỉ lao động, nhưng gặp khó khăn. Yếu tố thần kì chỉ là phương tiện nhiệm mầu trong cổ tích, hiện thân của những mong ước quá sức của con người. Yếu tố thần kì giúp nhân vật cổ tích đạt được mong ước tốt đẹp, hợp luân lí; còn ta trong đời thực phải lao động không ngừng mới mong nhận được điều tốt đẹp.

Cổ tích là mơ ước của nhân dân lao động về xã hội tốt đẹp, công bằng, về đời người ấm no, hạnh phúc. Cổ tích cũng là những bài học về lòng thiện, tình yêu thương và đức tính chăm chỉ, cùng tài năng, dũng khí của con người. Đó là những ước mơ gần gũi, là động lực hiện thực mà con người có thể vươn tới.

Văn Học Dân Gian Quảng Trị

Quảng Trị là một vùng đất giàu có vốn văn hoá phi vật thể, trong đó văn học dân gian có vị trí hết sức đặc biệt. Văn học dân gian Quảng Trị là sản phẩm chứng tỏ sức sống mãnh liệt của dòng văn học truyền khẩu.

Xét giá trị nội dung và nghệ thuật, văn học dân gian Quảng Trị có những nét riêng, đóng góp cho văn học dân gian Việt Nam thêm phần phong phú. Văn học dân gian bao gồm nhiều thể loại (huyền thoại, huyền tích, tục ngữ, câu đố, truyện cười, tuồng hài…) song phong phú,đa dạng và giàu màu sắc địa phương và có thể phân thành 4 mảng chính là ca dao-dân ca, Tục ngữ-câu đố, Truyền thuyết-cổ tích-truyện trạng, hò vè.

Ca dao- dân ca của bất cứ miền nào trước hết cũng là tiếng ca của nghĩa tình, tiếng nói của yêu thương. Trong sinh hoạt gia đình, làng xã, lúc làm việc cũng như lúc nghỉ ngơi, khi tiếng nói của con tim đã đã ở cung bậc cao nhất, người lao dộng dùng lời ca để bày tỏ tâm tình trước cảnh vật, trước những biến diễn của cuộc đời và trao đổi tâm tình với nhau. Tính trữ tình, bởi vậy thấm đượm trong nội dung lẫn âm điệu của các khúc hát dân gian. Một chút buồn thoáng qua của con người trước cảnh vật:

Chim kêu ghềnh đá gẫm thân thêm buồn

Một tình cảm thành kính dâng lên cha mẹ:

Tôm rằn bóc vỏ bỏ đuôi Gạo de An Cựu mà nuôi mẹ già

Việc tìm kế sinh nhai nhưng người Quảng Trị luôn nhớ về quá khứ, nào công cha, nghĩa mẹ vô bờ bến, tình nghĩa vợ chồng keo sơn, gán bó dù sông cạn đá mòn:

Mẹ thương con qua cầu Ái Tử Vợ trông chồng lên núi Vọng Phu Một mai bóng xế trăng lu Con ve kêu mùa hạ biết mấy thu gặp chàng

Tất cả những biểu hiện khác nhau của mối quan hệ giữa con người với con người, tất cả những cung bậc phong phú, đa dạng, tinh tế của tình cảm con người, ca dao – dân ca đã “thấu đến chân tơ kẻ tóc” (chữ dùng của Xuân Diệu) và đã nói bằng một tiếng nói đằm thắm, sâu lắng, thiết tha. Tình cảm ấy mở rộng ra, nâng lên thành tình cảm đối với quê hương đất nước, thành tình cảm giai cấp, nghĩa đồng bào, và sau này trong thời đại mới là nghĩa quân dân, tình dân đối với Cách mạng, với Đảng, với Bác Hồ và tình nam Bắc ruột thịt. Những biểu hiện khác nhau ấy của tình riêng, nghĩa chung trong ca dao – dân ca miền nào cũng có. Vấn đề đặt ra là cần tìm ra những sắc thái riêng. “Những óng ánh riêng” trong cách biểu đạt tình cảm của ca dao dân ca mỗi miền.

Tiếp xúc với ca dao – dân ca Bình Trị Thiên, ta thấy có nhiều cách biểu đạt khác nhau về những khía cạnh tinh tế, phức tạp của tình cảm con người. Có bài ca dao hết sức mộc mạc, mộc mạc như là lời ăn tiếng nói hàng ngày, diễn đạt một tiếng long cũng hết sức giản dị, chân thực:

Đôi ta thương chắc mần ri Bọ mẹ mần rứa, eng thì mần răng?

Có trường hợp là một tiếng nói mạnh mẽ, quyết liệt đấu tranh cho một nguyện vọng, một ước mơ một sự trọn vẹn của nghĩa tình.

Thiếp thương chàng gươm vàng không sợ Súng bắn chin, mười lần duyên nợ không buông. Chẳng thà chịu tiếng cho luôn Gươm trường kề cổ không buông nghĩa chàng.

Song nhìn chung tiếng trong ca dao-dân ca Bình Trị Thiên, dù mỗi vùng sắc thái có khác nhau vẫn là tiếng nói đằm thắm giàu ân nghĩa chứ không thiên về rắn rỏi, mạnh mẽ, quyết liệt hoặc quá mộc mạc, trần tục…Cách diễn đạt lại thường nhẹ nhàng, bóng bẩy, có sự trau chuốt, gia công tỷ mỉ trong việc dùng chữ, đặt câu (sắc thái này thể hiện rất rõ trong ca dao dân ca vùng Huế -Thừa Thiên)

Kháng chiến chống ngoại xâm là một nội dung khá quan trọng. Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, ca dao dân ca Quảng Trị vẫn không ngừng phát triển để đáp ứng yêu cầu của thời đại. Cuộc kháng chiến chống Pháp đã vẽ nên những trang sử oai hùng của dân tộc, cho Quảng Trị mà các địa danh Triệu Sơn, Ba Lòng, Như Lệ là những nơi tiêu biểu cho phong trào kháng Pháp. Những nơi khác cũng đã từng in dấu chiến tranh tàn phá như dãy Trường Sơn, sông Thạch Hãn, Bích La Đông, An Hoà, Đại Hào, Phương Ngạn:

Ai về Bích La Đông khỏi lòng đau xót ruột Ai về An Hoà khỏi hậm hực thù Tây Mồ mả cha ông hắn cho xe xới, xe cày Bao nhiêu oan hồn nước mắt nghĩ lại trăm đắng nghìn cay căm thù.

Cần ghi nhận là dân ca cũng theo thời sự mà chuyển biến, phát triển. Chiến đấu để thống nhất, để được sống tự do, độc lập trên quê hương là niềm tin mãnh liệt của người dân Quảng Trị thể hiện rõ từ thời kháng chiến chống Pháp đến thời chống Mỹ. Ca dao dân ca Quảng Trị đã phản ánh một cách sinh động ý chí và tâm tình thiết tha ấy.

Như vậy, sự thêm bớt chữ trong các câu ca dao Quảng Trị là không có quy tắc mà hoàn toàn tuỳ theo cảm hứng của người hò, sao cho tròn ý nghĩa là được. Sự hợp vần trong các dao thường thay đổi, hết gieo vần lưng lại gieo vần chân, như quy luật hợp vần của thể lục bát và song thất lục bát, nhưng một số ít câu ca dao của Quảng Trị lại có lối gieo ở vần chân.

Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao Quảng Trị cũng khá phong phú. Ta sẽ gặp ở đây những loại từ đối nghĩa, đối ý trong dân ca đối đáp: – Bánh cả mâm răng gọi là bánh ít Trầu cả chợ răng nói trầu không Trai nam nhơn đối đặng sẽ làm chồng nữ nhi – Chuối không qua Tây răng gọi là chuối sứ ? Cây không biết chữ răng gọi là thông ? Nam nhơn đà đối đặng quyết làm chồng nữ nhi Trong lời hò đối đáp, lối ứng xử thật thông minh: Ngồi buồn nói chuyện trên non Một trăm thứ cá có con không thằng Khi chọc ghẹo nhau vẫn giữ lối văn nhã: Em mở khuôn ra cho anh đúc lấy lượng vàng Hoạ may may hoạ thiếp với chàng dùng chung – Anh về thưa với hai họ rõ ràng

Mời thân nhân lại, em mở khuôn vàng cho coi

Quảng Trị là vùng đất thành lập sau khi nước ta đã định hình hàng nghìn năm trước. Văn học dân gian vùng này là sản phẩm của những con người có gốc từ Thanh Nghệ truyền vào. Qua cuộc sống chung với dân bản địa ở vùng đất mới, dần dần con người ở đây mới tạo được một phong cách riêng. Sự giao lưu văn hoá thế tất phải xảy ra. Ca dao là thể loại để lại những dấu vết rõ rệt trong ngôn ngữ văn học

TỤC NGỮ – CÂU ĐỐ

Tục ngữ và câu đố là hai thể loại suy lý phổ biến ở Quảng Trị . Cũng như ở các nơi khác, tục ngữ Quảng Trị được phân làm hai tiểu loại: Các câu phản ánh kinh nghiệm của nhân dân về thời tiết và sản xuất. Các câu phản ánh kinh nghiệm của nhân dân về đời sống xã hội. Đây là phần quan trọng nhất là mọi người cần quan tâm khi viết về đề tài ca dao- tục ngữ

Nhìn chung, kinh nghiệm của nhân dân ở đau cũng tương tự như nhau. Ở Quảng Trị có những câu tục ngữ phản ánh kinh nghiệm của nhân dân về thời tiết như sau: Chớp ngã Cồn Tiên; Mưa liền một trộ; hoặc: Sấm Đầu mâu không cầu cũng đến.

Lại có những câu đề cập đến sản vật đặc biệt của từng địa phương. Chính qua những câu tục ngữ này, chúng ta lại càng hiểu sâu sắc hơn văn hoá vật chất của vùng đất Quảng Trị:

-Nem chợ Sãi, vải La Vang -Khoai quán Ngang, dầu tràm Đại Nại -Gạo Phước Điền, chiêng Sắc Tứ – Khoai từ Trà Bát, quạt chợ Sông -Cá bống Bích La, gà Trại Lộc…

Kinh nghiệm về đời sống xã hội có những câu thật xác đáng và thực tế:

-Chạy lóc xóc không bằng góc vườn -Nhiều nghề cá trê húp nác(nước)

Người miền núi cũng bày tỏ kinh nghiệm của họ:

– Đừng mau phai như hoa Toang-a-rát – Đừng chóng bạc như vôi – Xách bầu phải xem quai – Địu con phải xem vải buộc – Làm cỏ phải xem cán nắm

Về hình thức nghệ thuật, các câu tục ngữ ở Quảng Trị thường hợp vần theo lối yêu vận chứ không theo lối cước vận.

Câu đố Quảng Trị có thể phân thành những tiểu loại:

-Về những bộ phận cơ thể của con người -Về những hoạt động của con người -Về các con vật -Về các loại cây trái -Về các sự vật hiện tượng khác.

Qua những câu đố ấy, ta thấy được sự tinh vi trong những nhận xét về sự vật, con vật sống cạnh người, như đố về con gà trống:

Đầu rồng, đuôi phụng cánh tiên Ngày năm bảy mụ tối ngủ riêng một mình. Hoặc con chó : Khen ai nho nhỏ Mắt tỏ như gương Tối trời như mực Biết người thương ra chào

Có nhiều khi sự liên tưởng vô cùng sâu sắc. Đố về cau, trầu, vôi có câu:

Hai cây cao đã nên cao Một người dưới rào xa đã nên xa Ba người họp lại một nhà Kết duyên phu phụ duyên đà mặn duyên

Có thể nói sự thông minh dí dỏm, óc nhận xét tinh vi của người Quảng Trị đều được thể hiện trong câu đố:

Da non mà bọc lấy xương Lửa cháy trên đầu chúa chẳng thương Đêm năm canh tiêu hao mình thiếp Nghĩ đến đoạn trường nước mắt nhỏ sa ( Cây đèn sáp) Một mẹ sinh đặng ngàn con Trai có gái có , tài khôn rõ ràng Mặt trời đã xế vàng vàng Con xa ngái mẹ lại càng thương thay Cách nhau đã bốn năm ngày Con lại gặp mẹ mừng thay là mừng (Phiên chợ Cam Lộ)

Một số câu đố khác theo lối “đố tục giảng thanh” cũng thường được nhân dân Quảng Trị vận dụng để sáng tác.

Các truyền thuyết về đền- tháp- miếu- chùa như “Sự tích tháp Dương Lệ và tháp Trung Đan”, ” Đề Tương Hầu”, ” Miếu Tương Nghè”…đã vẽ lại một giai đoạn lịch sử lâu đời lúc thần linh còn ngự trị khá sâu sắc trong tư tưởng của nhân dân.. Qua các truyền thuyết đó, ta thấy được lòng tôn trọng văn hoá, biết ơn những vị có công với đất nước, quê hương

Truyện cổ tích lại mang một nội dung khác. Đó là những chuyện phản ánh tâm tư, nguyện vọng của con người, đề cập đến những tình cảm riêng tư trong sinh hoạt cá nhân, gia đình và xã hội. Hệ tư tưởng nho giáo có ảnh hưởng sâu sắc trong các truyện cổ. Nhiều truyện nêu bật các đức tính chung thủy, hiền hậu, đảm đang, cần kiệm. Truyện” Vác mía tìm dâu”, “Tình mẹ con” có mục đích khuyến dụ thanh niên nam nữ giữ gìn và phát triển những đức tính ấy để bảo vệ tình cảm, đạo đức trong cuộc sống gia đình. Truyện” Vợ làm quan cho chồng” đề cao người vợ khôn ngoan cũng là truyện có khuynh hướng đạo lý… Có thể nói các truyện cổ tích dân tộc kinh tại vùng đất Quảng trị dù phương thức diễn đạt khác nhau, có truyện mang tính thần kỳ, có truyện mang tính khôi hài… nhưng nhìn chung xu hướng trong các truyện cổ là đe cao đạo lý làm người.

So với truyện cổ dân tộc kinh thì truyện cổ miền núi Quảng Trị phong phú hơn. Một số truyện cổ tích có tính suy nguyên luận như ” Sự tích sao hôm sao mai” (taôi), ” Tình nghĩa gà vịt” (Vân kiều)…phản ánh sinh hoạt xã hội, có mục đích khuyến giáo đạo lý làm người, đề cao sự chung thuỷ, phê phán những hạng xảo trá, lừa đảo trong quan hệ gia đình, xã hội. Truyện cổ tích thần kỳ miền núi khá hấp dẫn ở những yếu tố người thần, vật thần. Truyện “Con voi thần” hấp dẫn ở nội dung độc đáo, thể hiện sự chất phác cùng sự dung dị trong nếp sống, nếp nghĩ của dân tộc miền núi.

Trong kho tàng truyện kể Quảng Trị, truyện cười cũng chiếm số lượng lớn và vô cùng phong phú. Đặc biệt vùng đất Như Lệ khô cằn lại tập hợp một khối lượng truyện cười đáng kể. Đáng chú ý hơn cả là Chuyện Trạng Vĩnh Hoàng . Nghệ thuật kể truyện Trạng Vĩnh Hoàng tuy cũng dùng biện pháp khoa trương, phóng đại, nhưng dựa trên cơ sở hiện thực như chuyện “Trâu đen trâu bạc” là để phóng đại dưa hấu ở Vĩnh Hoàng, chuyện “Mắc cọp mà cày” là để phóng đại việc người Vĩnh Hoàng ngày trước đi cày rất sớm và vùng này cũng nổi tiếng có nhiều cọp như ở Thuỷ Ba. Về phương thức phóng đại, người Vĩnh Hoàng không dùng lối trực tiếp mà diễn tả bằng lối gián tiếp. Để chỉ quả dưa khổng lồ, họ không so sánh quả dưa đó với vật thể nào mà diễn đạt một cách thông minh hơn: dưa mà đạn bắn vào mắc kẹt không ra được, cả đàn quạ chui vào ruột khoét dưa ăn, rồi mang cả dưa lẫn quạ bay lên cao.

Truyện Trạng Vĩnh Hoàng đã nêu bật được bản sắc độc đáo của con người Việt Nam ở Vĩnh Hoàng. Tuy là truyện Trạng nhưng vẫn có một giá trị hiện thực. Đây không phải là những truyện bông lơn, nói láo một cách hời hợt dễ dãi mà xây dựng từ những thành quả lao động và chiến đấu. Giá trị ấy cần phải được khẳng định khi xét đến mối tương quan của nó với các loại truyện khác như Trạng Quỳnh, Trạng Lợn…

HÒ VÈ

Hò địch vận ở Như Lệ vốn là biến điệu của hò mái nhì nhưng vang xa như tiếng ngân vút cao mạnh mẽ phát ra từ con tim yêu nước nồng nàn. Tiếng hò Như Lệ là nét độc đáo trong dân ca kháng chiến Quảng Trị, nó đã phát huy tác dụng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Trong thời kỳ chống Mỹ, tiếng hò kháng chiến lại được dịp vang xa. Nhiều câu hò hai bên bờ sông Bến Hải nói lên niềm ước vọng đất nước thống nhất. Chính ở vùng này đã hình thành nên một bộ phận văn học dân gian mang những đặc điểm riêng của một vùng đất bị chia cắt.

Sông Hiền Lương bên bồi, bên lở Cầu Hiền Lương bên nhớ bên thương Bao giờ giặc Mỹ hết phương Bắc Nam sum họp con đường vô ra.

Vè là một thể loại kể chuyện bằng văn vần phổ biến ở Quảng Trị, phát triển mạnh vào thế kĩ XIX. Vè Quảng Trị cũng như các nơi khác, phần lớn là những bài có dung lượng vừa phải được sáng tác theo thể lục bát, hoặc tứ tự, song thất lục bát. Một số bài nổi bật với nội dung mang tính xã hội sâu sắc. Đó là loại vè thế sự. Vè “Mẹ Hẹ” là một sáng tác độc đáo. Hình thức sáng tác gần như lối thoại kịch với lời đối đáp của hai nhân vật: cô Hẹ và quan huyện. Nội dung bài vè kể lại câu chuyện cô Hẹ vào tuổi xuân tình phơi phới đã bị quan huyện lừa phỉnh. Sau khi để lại một bầu thai cho cô Hẹ, quan huyện ấy đã tàn nhẫn đuổi cô Hẹ ra khỏi nhà. Cô Hẹ nuốt hận trở về nhà mẹ. Sau khi sinh nở, thấy cô vẫn còn xuân sắc, quan huyện lại giở trò tán tỉnh. Cô đã vạch trần thói bạc tình, bạc nghĩa của tên quan này bằng một ngôn ngữ cay chua, mang sắc thái địa phương đậm đà mà không phải bài vè nào cũng thể hiện được.

Xoay quanh thể loại này có những giai thoại mà mỗi khi quây quần bên ấm chè xanh hoặc đôi phút giải lao nơi đồng áng thường được người dân truyền tụng. Chuyện ông Bộ ở làng Gia Độ và O Thơi ở làng Xuân Thành là một trong số đó. Ông Bộ là người nho nhã, có vốn nho học. Tuy đã có gia đình nhưng lại rất say mê hò hát. Còn O Thơi là một gái chưa chồng, tài sắc vào đám nhất vùng thời ấy. Một hôm, gặp O Thơi quang gánh di chợ qua cánh đồng giáp hai làng, ông Bộ nổi hứng cất câu hò:

“Buôn bán chi chi rày lời mai lỗ, vất quách thúng rỗ theo anh. Một mai công toại danh thành, ta ngồi chung kiệu hành đó đây”

Không hề chần chừ nghĩ ngợi lâu, O Thơi cất giọng hò đối lại ngay lập tức:

“Chữ thánh hiền dược mấy pho mấy bộ, dám huênh hoang xuất lộ vi hành? Một mai đỗ đạt thành danh, đã có O Tam thể nó đợi anh kết nguyền”

Ông Bộ đỏ mặt vì câu hò cay độc. Ai đời đường là một đấng trượng phu ra rứa lại cho rằng chỉ có con mèo tam thể mới lấy anh!

Vẫn cái máu mê gái lại mê hò, một hôm vợ ông Bộ chuyển bụng sắp sinh, nhà lại hết dầu, vợ ông bảo ông xuống chợ mua dầu. Vừa ra đến đầu ngõ gặp cô Thơi đang đang mò cá. Hai người đối đáp đến nổi quên cả mặt trời đã xuống núi. Bỗng ông Bộ cất lên một câu hò trêu chọc rằng:

“Cảm thương cho Em sớm thì lăn đồng cạn, chiều lại lặn đồng sâu. Con tôm con tép liệu được mấy đồng xu”.

O Thơi hò đáp lại:

“Chứ làm ra năm trự mười đồng, trước ngon cơm anh sau lành áo mẹ để tỏ tấm lòng nàng dâu”.

Cũng cần đề cập thêm một nội dung khác cũng khá phong phú của vè Quảng Trị, đó là vè kháng chiến. Cuộc kháng chiến chống ngoại xâm kéo dài bao nhiêu năm trên đất Quảng Trị khô cằn là đề tài cho hàng trăm bài vè phản ánh những nỗi khổ cực của người dân trong cuộc chiến tranh xâm lược, nêu bật tinh thần chiến đấu ngoan cường của nhân dân ở một vùng đất có truyền thống đấu tranh.

Bao năm tháng qua, văn học dân gian Quảng Trị đã sống cùng nhịp sống của dân tộc bằng tiếng nói hồn hậu, trung thực của mình, ngân vang bằng giọng hò thiết tha, trìu mến thân thương cho đến ngày nay.

Nguồn Internet

Văn Học Dân Gian Thời Covid

Trong đó, nhại hịch (Hịch toàn quốc kháng dịch Covid-19). Nhại lý lịch trích ngang (Lý lịch trích ngang của em Vy). Nhại dân ca quan họ (bài Còn duyên, Kyo York ca sĩ người Mỹ hát). Nhại hề chèo (bài khoảng 50 câu): Loa, loa, loa, loa/ Chiềng làng chiềng chạ/ Thượng hạ tây đông/ Phụ nữ đàn ông/ Đồng lòng chống dịch/ Tạm dừng sở thích/ Đừng đi du lịch/ Hãy ở một nơi/ Đừng ra khỏi ngõ/ Ở đâu yên đó/ Đừng có đi xa/ Vi rút cô na/ Vô nhà thì khốn… Nhại thần chú: Nam mô cô rô na/ Xa ta ra/ Xa thiệt xa/ Xa bà ra… Nhại bài khấn trong nghi lễ thờ cúng (bài khoảng 50 câu): Cẩn tấu… Cẩn cẩn tấu!/ Con lạy chín phương trời/ Con lạy mười phương đất/ Con lạy chư vị mười phương/ Con lạy từ biên cương/ Con lạy ra hải đảo/ Con lạy thần cảnh báo/ Con lạy chúa đừng lây/ Lạy từ Đông sang Tây/ Tao lạy mày Covid/ Này cái đồ chết tiệt/ Sao dám đến Việt Nam/ Từ Trung Quốc tràn sang/ Rồi lang thang nước Nhật/ Mày hành khất nước Hàn/ Gây hoảng loạn Iran/ Làm điêu tàn nước Ý/ Lại tàn sát nước Mỹ…

Có thể nói, tính thời sự là một đặc điểm của văn học dân gian đương đại nói chung và văn học dân gian thời Covid (chữ dùng của T.T.T) nói riêng.

Áp sát cuộc sống, những tác phẩm văn học dân gian đã phản ánh một cách vô cùng sinh động bức tranh toàn cảnh của xã hội thời Covid với những nỗi lo trĩu nặng (Nghe tiếng ho lo hơn nghe tiếng súng). Nhịp điệu sống bỗng như chậm lại, nhu cầu con người trở nên tối giản: Chẳng mong sung sướng cao sang/ Chỉ mong cuộc sống bình an mỗi ngày.

Văn học dân gian cũng cho thấy sự nhanh nhạy (Vạn sự như Lào), tài ứng phó, cách tư duy, bản lĩnh, kinh nghiệm ứng xử của một dân tộc luôn phải đối diện với chiến tranh, thiên tai và dịch bệnh: Tiếng hát át tiếng ho; Chống giặc thì phải xông pha/ Chống dịch thì phải ngồi nhà nhớ không?

Bao trùm trong toàn bộ văn học dân gian thời Covid là tinh thần chống dịch như chống giặc. Tin tưởng vào chủ trương sáng suốt của Đảng và Chính phủ, đặt quyền lợi cộng đồng lên trên hết, toàn dân một ý chí cùng nhau quyết tâm vượt qua đại dịch; chung sức, đồng lòng, nguyện sẻ chia khó khăn với những người ở tuyến đầu chống dịch: Thương Chính phủ, thương ngành y/ Thương người lính chống cô vi đêm ngày/ Chúng ta cố gắng chung tay/ Chớ quên phòng dịch ở ngay trong nhà.

Rõ ràng, nhờ phát huy tối đa sức mạnh của một sân chơi văn hóa mang tính dân chủ cao, nhờ biết tận dụng được ưu thế của công nghệ hiện đại, văn học dân gian đã nhanh chóng trở thành một kênh truyền thông ích dụng, hấp dẫn với những đóng góp độc đáo và hiệu quả cho chiến dịch chống dịch Covid hôm nay.

Nếu trước đây Miệng thế gian như làn sóng bể thì giờ đây những tác phẩm văn học dân gian mộc mạc được ra đời trên cơ sở của quan niệm mỹ học cái đẹp nằm trong cái giản dị vẫn đang góp phần không nhỏ vào việc chuyển tải kịp thời những nội dung quan trọng: chủ trương, đường lối của Đảng, Chính phủ, những kịch bản và biện pháp phòng chống dịch của ngành y tế bằng một cách thật gần gũi, tự nhiên nên dễ dàng thấm sâu vào mọi tầng lớp nhân dân: Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào/ Đang ở chỗ nào ngồi nguyên chỗ đó; Hỡi quốc dân, hỡi đồng bào/ Yêu nước xin chớ đi vào đi ra/ Yêu nước xin hãy ở nhà/ Khẩu trang sát khuẩn nhắc ta nhắc mình; Muốn cho Covid tránh xa/ Xin hãy ở nhà đừng có ham vui…

Mặt khác, do tận dụng thời gian rảnh rỗi, lực lượng trí thức có nhiều điều kiện để tham gia vào quá trình sáng tạo và tiếp nhận vì thế văn học dân gian đã phát triển nhanh hơn cả về số lượng và chất lượng; chất trí tuệ, chất hài không ngừng được gia tăng.

Riêng cái tên Covid viết tắt, sang tiếng Việt đã được cắt nghĩa một cách đầy sáng tạo: COVID = Cắt giảm chi tiêu + Ổn định cuộc sống + Vệ sinh sạch sẽ + Ít tụ tập + Đầu tư sức khỏe và trí tuệ.

Còn truyện cười Nước nào thoát được tử thần lại cho thấy cơ sở và niềm tin vững chắc sẽ chiến thắng đại dịch của dân tộc chúng ta. Truyện kể rằng:

Một con tàu đi trên đại dương giữa lúc sóng to gió lớn, có nguy cơ bị đắm. Mọi hành khách hoảng sợ kêu cứu. Tử thần hiện lên và nói:

– Các ngươi nghe đây. Nếu kẻ nào ném vật gì đó xuống biển mà ta không thể tìm thấy thì kẻ đó sẽ được sống.

Hành khách người Ý ném chiếc kim xuống biển. Thần nhanh chóng tìm thấy. Hành khách người Ý phải chết.

Hành khách người Mỹ ném xuống biển sợi tóc. Thần cũng tìm thấy ngay. Hành khách người Mỹ không được cứu.

Hành khách người Trung Quốc ném tay không. Thần phát hiện phạm luật nên không thể không chết.

Hành khách người Việt bình tĩnh ném một vật khá to hình tròn xuống nước. Thần lặn xuống mò mãi, mò mãi vẫn không thấy, bèn hỏi:

– Mày vừa ném gì vậy?

– Tôi ném viên C sủi.

– Siêu quá! Tao chịu mày!

Thế là như tử thần đã hứa, hành khách người Việt được thoát tử.

Điều cần bàn là cách chuyển tải những nội dung mang tính thời sự, thiết thực cho chiến dịch chống Covid của văn học dân gian rất độc đáo: hài và hóm, sinh động và ích dụng. So với văn học dân gian cổ truyền, nội dung của nó thu hẹp lại rất nhiều. Phần vì đã có các phương tiện truyền thông khác đảm đương, phần vì tại thời điểm nước sôi lửa bỏng này bộ phận văn học dân gian chỉ tập trung vào nhiệm vụ phòng chống dịch. Dĩ nhiên, do tính thời sự và một số lý do khác nên văn học dân gian thời Covid chưa thể có được sự thông tuệ và minh triết của văn học dân gian trước Cách mạng Tháng Tám. Còn văn học dân gian trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ giàu tính sử thi nên nghiêm trang và thiếu cái hài. So với văn học dân gian thời kỳ Đổi mới (sau 1986), tiếng cười hôm nay ít có ý nghĩa trào phúng, ít nhằm mục đích phê phán. Những truyện cười như Nói sau lưng (cười thói xấu nói sau lưng của nhiều người Việt) là rất hiếm hoi.

Nhìn chung tiếng cười trong văn học dân gian thời Covid nghiêng về tính giải trí, nhằm giúp con người giảm stress, giảm bớt áp lực khi phải đối diện với đại dịch đáng sợ: Phát xít như con Covid (thành ngữ), Đứa nào tính trốn cách ly/ Bà cho một phát, hết đi hết bò (ca dao), Nhầm vợ (truyện cười)… Khá nhiều tiếng cười khôi hài kiểu nói vần vè: Tôi là Lê Phương Liên/ Tôi vẫn sống bình yên/ Ăn vừa và ngủ đủ/ Tinh thần vẫn vô biên… Hay Tôi là Sường/ Năm trên giường/ Không ra đường/ Miễn lên phường… Hay trong truyện cười Nhầm vợ: Một anh chồng chở vợ ra siêu thị mua đồ. Giữa thời Covid ai cũng đeo khẩu trang kín mít. Lúc lâu sau thấy một người phụ nữ khệ nệ xách hàng ra và nhảy lên ngồi sau xe mình, người chồng nọ bèn nổ ga phóng ngay về nhà. Đến khi dừng xe cả hai mới biết là họ đã bé cái nhầm.

Cũng đã có những cái cười hóm hỉnh, tinh quái, ỡm ờ được gợi từ một yếu tố thanh thanh tục tục nào đó: Chưa đi chưa biết Vân Đồn/ Đi thì phải nhớ dùng cồn mà xoa/ Những nơi lắm bướm nhiều hoa/ Nhớ mang một lọ mà xoa cái cồn/ Nhà văn dấp dính tâm hồn/ Chỗ nào cũng nhớ dùng cồn mà xoa.

Song có thể nói, giọng điệu chủ âm của văn học dân gian thời Covid là khẳng định ngợi ca, là tiếng nói của mặt trận kêu gọi toàn dân đoàn kết tương thân tương ái yêu thương thiêng liêng hai tiếng đồng bào: Một yêu đừng có ra ngoài/ Hai yêu đừng có rủ ai vào nhà/ Ba yêu tỉa lá chăm hoa/ Bốn yêu giữ dáng điệu đà như xưa/ (…)/ Mười yêu biết sống thảnh thơi mỗi ngày.

Qua khảo sát sơ bộ, chúng tôi thấy, đóng góp của văn học dân gian cho cuộc sống thời Covid độc đáo, thú vị và không phải không quan trọng. Công đầu thuộc các tác giả lớn tuổi, những người từng trải có đủ bản lĩnh, bình tĩnh đón nhận và dám mỉm cười trước những thử thách cam go. Lối nói tếu táo nhí nha nhí nhố của lũ tuổi teen đáng yêu kiểu phê như con tê tê, đen như que kem, đỏ như cây cơ không được bôi lơ… cách đây không lâu đã từng xuất hiện như nấm trên mạng xã hội, giờ có vẻ như thưa thớt.

(vannghequandoi.com.vn)

”Bài Viết Chuyên Đề Văn Học Dân Gian”

Đây là những bài viết có sự đầu tư về thời gian, công sức. Tuy mới làm quen với kiểu bài nghị luận văn học của bậc THPTnhưng các em chứng tỏ có sức viết bền bỉ, dẫn chứng phong phú, so sánh mở rộng, liên hệ thực tế sinh động.

Đề 1:

Truyền cổ tích là những giấc mơ. Theo em, nhân dân lao động gửi gắm những giấc mơ nào vào truyện cổ tích.

Bài làm của học sinh Ngô Phương Liên 10D2

Truyện cổ tích là một trong những loại truyện cổ dân gian ra đời khi xã hội phân chia giai cấp. Truyện cổ tích hay kể về cuộc đời của một số kiểu nhân vật như: nhân vật bất hạnh, nhân vật có nhiều phép lạ, nhân vật thông minh hoắc ngốc ngếch,… Truyện cổ tích thường mang yếu tố hoang đường, nó thể hiện ước mơ và niềm tin của nhân dân về cái thiện cái ác, cái tốt thay thế cái xấu ước mơ về ấm no hạnh phúc.

Truyện cổ tích là những giấc mơ đẹp, là một thế giới thần tiên, đầy phép nhiệm màu, nó thể hiện những khát vọng tự do, hạnh phúc và công bằng xã hội. Đọc truyện cổ tích, ta bắt gặp những giấc mơ đẹp của người lao động xưa. Vâng có khi nào ta tự hỏi tại sao họ phải mơ ước không? Con người xưa ta mơ khi thực hiện không đáp ứng được sự mong mỏi, cho nên phải hướng về một thế giới khác, tươi đẹp hơn, đúng như mong đợi của họ. Người xưa cũng vậy, cuộc sống của họ là một bể khổ tưởng như khó lòng thoát ra khỏi được. Một cuộc sống luôn bị áp bức chiến tranh, một cuộc sống bị đè nén bóc lột cả về thể chất lẫn tinh thần. Họ phải làm việc cực nhọc ngày qua ngày năm qua năm những luôn phải chịu đói khổ cực nhọc như anh nông dân nghèo Thạch Sanh… Họ luôn bị khinh thường rẻ rúng, bị tước đoạt quyền được yêu thương, quyền làm người như Cô Tấm, Sọ Dừa… Vì thế họ phải mơ. Khát vọng công bằng trong xã hội, một khát vọng thường trực mà ta luôn gặp trong truyện cổ tích. Dễ dàng thấy nhân vật chính nằm trong chuyện là những con người riêng, những người dị dạng xấu xí, những kẻ làm thuê, những người nghèo khó… họ bị ngược đãi. Cô Tấm bị dì ghẻ hắt hủi, bắt làm việc tối ngày, anh nông dâ bị phú ông lừa bóc lọt sức lao động một cách thậm tệ. Sọ dừa bị mọi người coi ngường, không được coi ngường, không được coi là người. Nhưng họ có thể làm gì được nay chỉ là thân phận thấp cổ bé họng, thân phận con sâu con kiến? Bởi thế họ luôn mơ ước có những thế lực siêu nhiên như ông Bụt, cô tiê, vua thủy tề hay chiếc đàn thần, nồi cơm thần… Sự xuất hiện của những vị thần tiên này đào tạo lên sự công bằng trong truyện cổ tích. Sự công bằng ở đây tức là sự chiến thắng của cải thiện trước những thế lực đen tối, tội ác. Chính vì thế trong truyện ta mới bắt gặp những kết thúc có hậu, Thạch Sanh nghèo lấy được công chúa, cô Tấm đáng thương trở thành hoàng hậu. Rõ ràng dây là khát vọng của họ, mơ ước của họ những chỉ là giấc mơ không có thật nhưng cũng đủ để họ giảm bớt những âu lo của tháng ngày lao động vất vả.

Không chỉ dừng ở đó, người xưa còn ao ước được tự do hôn nhân, tự mình quyết định lấy hạnh phúc của mình. ƯỚc mơ này là chính đáng, bởi xã hội phong kiến đã trói buộc con người đặc biệt là người phụ nữ trong các luật lệ hà khắc như ” cha mẹ đặt đâu con ngồi đó nam nữ thụ thụ bất thân”, “tam tòng tứ đức”. Vì thế mà tự do hôn nhân có thể coi như mơ ước rất quan trọng đối với người xưa. Nói về vấn đề này Chử Đồng Tử hay cụ thể hơn là cuộc hôn nhân Chử Đồng Tử – Tiên Dung là một minh chứng hùng hồn, đây là mối tình đẹp. Đẹp vì đó là mối tính thực sự của hai trái tim bất chấp mọi luật lệ hà khắc của xã hội phong kiến về đẳng cấp, về địa vị xã hội. Tiên Dung khi lấy Chử Đồng Tử không có một băn khoăn nào vì mình là một công chúa đã lấy anh thuyền chài nghèo rớt mùng tơi.Nàng bất chấp sự ngăn cản của vua cha, đó là một thiếu nữ có bản lĩnh. Tiên Dung gặp Chử Đồng Tử một cách bất ngờ tại một vùng trời bao la. Mối tình của họ cũng đột ngột và phóng khoáng như thiên nhiên vậy. Đẹp là vì nó hợp với lòng người nên được thần tiên giúp đỡ. Nhờ vậy, mà vợ chồng Tiên Dung đã sống những ngày hạnh phúc, rồi lại cùng trở về cõi vĩnh hằng. Mối tình Tiên Dung và Chử Đồng Tử chỉ có thể trở thành hiện thực trong truyện cổ tích mà thôi. Vì thế trải qua nhiều thế kỉ nó vẫn là giấc mơ đẹp, là tiếng nói khao khát tự do yêu thương, đặt tình yêu lên tất cả.

Những ước mơ trên không thể thực hiện được trong đời sống hằng ngày, nó chỉ có thể thực hiện được trong các truyện cổ tích nhờ những phép nhiệm màu. Tuy nhiên, chính nhờ có những giấc mơ đẹp mà truyện cổ tích trở thành niềm an ủi, thành nguồn động viên, thành người bạn tin cậy của nông dân từ thế kỉ này sang thế kỉ khác, Vâng có một nhà văn nổi tiếng đã từng nói “chuyện cổ tích là những giấc mơ đẹp”, giấc mơ nuôi dưỡng nhân cách con người. Truyện cổ tích không có thạt nhưng giấc mơ cổ tích là đôi cánh kì diệu để nâng đỡ cho nhân cách của con người ngay trong ngập ngụa đau khổ đời thường, là điểm tựa để họ sống và hi vọng một ngày mai giấc mơ không còn là giấc mơ nữa.

Khép lại những câu chuyện cổ tích thần kì, ta lại trở về hiện thực đương thời với biết bao chuyển động như nó vốn có. Ngày nay khi thế giới đã bước vào một thời đại hoàn hảo, có thể nói nơi mà chúng ta đang sống giống như một thế giới thần tiên vậy, ngày xưa trong truyện cổ tích những ước muốn xa hoa hay nhà cao cửa rộng còn xa vời nhưng ngày nay chúng ta có thể có được một cách dễ dàng. Trong xã hội ngày nay, khi mà mọi điều kiện về cả vật chất lẫn tinh thần của con người đều đã tiền bộ và vượt xa hơn rất nhieuf so với thời kì khi mà những truyện cổ tích ra đời, liệu rằng trong thế giới thực này, còn có những câu chuyện cổ tích thực sự? Ngay trong thực tế đã chứng minh, vẫn còn tồn tại rất nhiều câu chuyện cổ tích trong đời thực. Mọt cô bé đến từ bang hẻo lánh của Mĩ, em bị mù, điếc và không nói nói được. Từ lúc em sinh ra bị mọi người kì thị và mơ ước được đến trường còn quá xa vời với em, nhưng một điều kì lạ xảy ra một bác sĩ đi làm từ thiện đã giúp em từ từ học chữ nổi bằng những động lực cố gắng không ngừng nghỉ, em đã từ từ nói được và nghe được. Điều này chắc hẳn đã chạm đén tim của mỗi người chúng ta. Tuy cuộc sống không như một giấc mơ vậy nên hãy tự tạo nên giấc mơ riêng của mỗi người và biến giấc mơ đấy thành sự thật.

Ngày nay những giấc mơ đã thành sự thật ngoài đời và những giấc mơ cổ tích lại tiếp tục gieo mầm cho những giấc mơ mới của ngày hôm nay. Những câu chuyện cổ tích dậy tuổi thơ ta biết ước mơ, khát vọng, biết tin vào những giấc mơ chân chính để sống trong cuộc đời.

(Xem tiếp đề và bài số 2)

Sân Khấu Hóa Tác Phẩm Văn Học Dân Gian

Tạo niềm say mê, hứng thú, tính tích cực, chủ động, sáng tạo cho học sinh trong việc học và sự năng động, tự tin khi tham gia các hoạt động tập thể là nhu cầu và cũng là mục đích của hoạt động giáo dục nói chung và việc học tập các tác phẩm Văn học dân gian nói riêng.

Nói đến Văn học dân gian không thể không tính nguyên hợp như một đặc trưng cơ bản. Tính nguyên hợp của văn học dân gian biểu hiện ở chỗ: Văn học dân gian không chỉ là nghệ thuật ngôn từ thuần túy mà là sự kết hợp của nhiều phương tiện nghệ thuật khác nhau. Sự kết hợp này là tự nhiên, vốn có ngay từ khi tác phẩm hình thành. Một bài dân ca trong đời sống thực của nó, không chỉ có lời mà còn có nhạc, điệu bộ, lề lối hát… Biểu hiện rõ nét nhất của tính nguyên hợp là tính diễn xướng. Diễn xướng là trình bày, biểu diễn tác phẩm. Tính diễn xướng gắn liền với Văn học dân gian như điều kiện sống còn, nhờ diễn xướng mà tác phẩm được truyền đến đông đảo quần chúng nhân dân. Chính trong biểu diễn, các phương tiện nghệ thuật của tác phẩm văn học dân gian mới có điều kiện kết hợp với nhau tạo nên hiệu quả thẩm mỹ tổng hợp.

So với Văn học viết, Văn học dân gian luôn được diễn xướng bằng nhiều hình thức khác nhau ở những môi trường sinh hoạt dân gian khác nhau (nghi lễ, lao động, sinh hoạt). Để làm sống lại tác phẩm Văn học dân gian trong môi trường diễn xướng ấy thì hình thức sân khấu hóa tác phẩm dân gian là một hoạt động trải nghiệm thú vị, bổ ích, phù hợp với đặc trưng thể loại.

Kịch Tấm Cám – Lớp 11 Anh

Trong Chương trình Ngữ văn 10, các em được tiếp xúc với 4 thể loại tự sự dân gian là sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười. Với những tác phẩm này, ngoài việc học kiến thức trên lớp, giáo viên có thể hướng dẫn các em đọc kỹ văn bản sau đó chọn lựa một số trích đoạn hay chuyển thể thành kịch bản văn học và nhập vai các nhân vật để biểu diễn trên sân khấu. Trên cơ sở nền tảng của cốt truyện dân gian, bằng trí tượng và khả năng sáng tạo của mình các em có thể chuyển thể thành các trích đoạn kịch nói, ca kịch vừa mang hơi thở dân gian vừa mang nét trẻ trung mới mẻ, sự hài hước, dí dỏm, đáng yêu mà không phá vỡ ý nghĩa của cốt truyện, những bài học về nhân sinh, đạo lý làm người của dân tộc. Ngoài ra giáo viên cần hướng dẫn học sinh tìm hiểu trang phục, ngôn ngữ, lối sống của người Việt thời đại mà tác phẩm hình thành thông qua sách báo, Internet, và các nguồn khác để có thể phục chế lại một cách sống động nhất bối cảnh xã hội, văn hóa cũng như cách trang phục, ngôn ngữ của các nhân vật.

Hầu hết các tác phẩm tự sự dân gian đều có thể chuyển thể thành kịch bản dưới dạng các trích đoạn để trình diễn trên sân khấu như: Nghêu sò ốc hến, Quan âm Thị Kính, xã trưởng mẹ Đốp, Thị Mầu lên chùa… tuy nhiên để bám sát chương trình Ngữ văn lớp 10, giáo viên nên hướng dẫn các em xây dựng kịch bản từ các tác phẩm được học như thi Đam San, truyền thuyết “Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy”, truyện cổ tích “Tấm Cám”, truyện cười “Nhưng nó phải bằng hai mày”… Xây dựng kịch bản đòi hỏi các em phải đọc, nghiên cứu kỹ tác phẩm, nắm bắt được ý nghĩa nhân sinh, những bài học triết lý đạo đức mà tác giả dân gian gửi gắm nên đây là cơ hội để các em khắc sâu hơn những kiến thức được học trong giờ chính khóa. Đồng thời qua trí tưởng tượng và khả năng sáng tạo của các em, tác phẩm dân gian sẽ có thêm màu sắc mới đầy vui tươi dí dỏm, gần gũi hơn cách cảm, cách nghĩ của giới trẻ hôm nay. Từ đó các em sẽ thấy yêu hơn, hứng thú hơn khi tiếp nhận văn học dân gian.

Kịch Sơn Tinh Thủy Tinh – Lớp 6A

Với hình thức sân khấu hóa tác phẩm dân gian bên cạnh hoạt động diễn kịch, giáo viên cần hướng dẫn học sinh sưu tầm các bài hát dân ca ba miền và luyện tập để trình diễn trên sân . Ca dao dân ca là những câu hát thể hiện tâm tư, tình cảm của người lao động. Ca dao là lời thơ dân gian còn dân ca là những câu hát kết hợp lời thơ và âm nhạc. Vì thế để ca dao dân ca thực sự sống trong lòng người thì hoạt động diễn xướng ca dao là hết sức cần thiết. Với khả năng diễn xuất, trang phục, sự hỗ trợ của âm thanh, ánh sáng, màu sắc trên sân khấu những bài ca dao dân ca sẽ trở nên duyên dáng, lung linh hơn. Các em sẽ có cảm nhận khác hơn khi các em học trên không gian lớp học và chỉ tiếp xúc với văn bản ngôn từ của tác phẩm.

Múa Hồn quê – Lớp 10 A

Có thể nói sân khấu hóa tác phẩm dân gian là một hình thức trải nghiệm bổ ích, hấp dẫn, phát huy khả năng sáng tạo của học sinh thông qua việc các em tự chọn lựa tác phẩm, tự sáng tác kịch bản, tự thiết kế sân khấu phù hợp với không gian của tác phẩm dân gian xưa. Hình thức này cũng rèn luyện nhiều kĩ năng mà trong chương trình học khó có thể thực hiện được như: làm việc nhóm, đóng vai, viết kịch bản, thiết kế sân khấu…

Sân khấu hóa tác phẩm dân gian giúp học sinh và giáo viên được đặt mình vào “trường sáng tạo” và “trường thưởng thức” các tác phẩm dân gian của nhân dân lao động, từ đó có cách cảm nhận, đánh giá tốt hơn về những giá trị của Văn học dân gian.