Truyện Cổ Tích Tiếng Hàn Quốc Là Gì / Top 10 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Kovit.edu.vn

Học Tiếng Hàn Qua Truyện Cổ Tích Hàn Quốc: Con Suối Hồi Xuân

Thời gian đăng: 09/06/2018 09:26

Với mục đích giúp các bạn mới làm quen với tiếng Hàn có thêm tài liệu học phong phú, tiếng Hàn SOFL sẽ chia sẻ bài viết học tiếng Hàn qua truyện cổ tích Hàn Quốc: Con suối hồi xuân (젊어지는 샘물)

Học tiếng Hàn qua truyện cổ tích Hàn QUốc

Học tiếng Hàn qua truyện cổ tích Hàn QUốc

Học tiếng Hàn qua truyện cổ tích Hàn Quốc

Nội dung truyện: 젊어지는 샘물 “Con suối hồi xuân”

옛날 아주 깊은 산골에 마음씨 좋은 할아버지와 할머니가 살았어요: Ngày xửa ngày xưa, trong một khu rừng sâu có hai ông bà lão hiền lành, tốt bụng sống với nhau.

살림은 가난했지만, 부부는 사이가 좋았어요.: Dù cuộc sống có vất vả nhưng vợ chồng ông bà lão vẫn có cuộc sống rất hạnh phúc.

그러나 부부는 소원이 하나 있었어요. “으~자식이 하나만 있었으면~~”: Nhưng hai ông bà lại không có con nên có một ước nguyện đó là: “Giá như có được một mụn con”

어느날 할아버지가 나무를 갔다가 한마리 아름답고 이상한 새를 봤어요.: Bỗng một ngày, khi ông lão đi vào trong rừng và trông thấy con chim rất đẹp và kỳ lạ

그 새는 소리가 아주 곱고 예뻤어요. 새는 톡톡 튀며 고운 목소리로울면서 자꾸만 앞으로 가는 거에요: Chú chim có một giọng hót rất hay và thánh thót. Chú vừa mổ thức ăn vừa hót lanh lảnh và tiến về phía trước.

어느새 할아버지는 새를 따라 갔어요 그렇게 새를 쫓아가던 할아버지는우뚝 걸음을 멈추었어요. “오호~이런 깊은 산속에 옹달샘이 다 있네~”: Ngay lập tức, ông lão đi theo hướng của chú chim. Rồi ông bất ngờ dừng lại và ngạc nhiên: “Trời ơi! Có một con suối tận sâu trong cánh rừng này ư!”

할아버지는 두손을 모아서 샘물을 한번 떠 먹었어요.

Ông lão lấy hai tay của mình để uống một ngụm nước suối

“호~근대 왜 이렇게 어지럽지~”: oa sao lại chóng mặt thế này nhỉ?

할아버지는 잔듸 위에서 그만 스스르 잠이 들고 말았어요.: sau đó ông chìm vào một giấc ngủ dài trên bãi cỏ.

한참을 자다가 깨어보니 어느새 해는 지고 밝은 달이 떠 있었어요.: Sau khi ông tỉnh dậy sau giấc ngủ của mình, ông nhận ra trời đã tối.

할아버지는 부리나케 나뭇지게를 지고 집으로 돌아 왔어요.: Ông nhanh chóng vác gùi lên lưng và quay trở về nhà mình.

“왜 그렇게 보우?” “어~ 분명 우리 영감이 맞긴 맞는데~~”: Chuyện gì thế này? “Rõ ràng đây là chồng của tôi mà”

할머니가 등불을 가까히 밝혀보니 할아버지는 젊은 청년으로 변해 있었어요.: Bà lão vội vã cầm cây nến đưa lại gần để nhìn cho rõ. Ông lão đang thay đổi, trẻ lại và trở thành một chàng thanh niên.

거울을 본 할아버지도 깜짝 놓랐어요. “어~! 옹달샘에서 물 한 목음 마시고: Ông lão cũng nhìn vào trong chiếc gương và vô cùng ngạc nhiên.

한잠을 잔것 밖에 없는데~~”: Tôi không làm gì cả ngoài việc uống nước từ chính con suối ấy

이튼날 할머니도 이상한 샘물은 마시고 젊어졌어요.: Ngày hôm sau bà lão cũng đến con  suối kỳ lạ đó và cũng được trẻ ra.

하루는 산 넘어 왜딴집에 사는 홀아비 영감님이 찿아왔어요.: Một ngày kia, có một người đàn ông góa vợ đã tìm đến vợ chồng nhà ông lão.

영감님은 젊어진 부부를 보고 깜짝 놀랐어요.: Người đàn ông đó đã rất ngạc nhiên khi thấy vợ chồng ông lão được trẻ lại

마음씨 좋은 부부는 영감에게 이상한 샘물 이야기를 해 줬어요.: Vợ chồng ông bà lão tốt bụng đã kể lại câu chuyện về con suối cho người đàn ông góa vợ

“아~ 그럼 나도 젊어져야지”: “A – Tôi cũng muốn được trẻ lại”

영감님은 당장 옹달샘으로 달려갔어요.: Sau đó người đàn ông chạy một mạch đến con suối

“산너머 영감님이 왜 이렇게 안돌아오지?”: “Sao người đàn ông kia vẫn chưa thấy quay lại là sao?

“혹시 호랑이에게 잡혀먹힌게 아닐까요?: “Không nhẽ ông ta bị hổ ăn thịt mất rồi”

아침에 갔는데 아직도 안돌아오니 말이에요”: “Ông ta đã đi khỏi vào sáng nay và đến giờ chưa quay lại nữa”

두 부부는 걱정이 됐어요. “한번 가봅시다” 부부는 옹달샘으로 가 보았어요.: Ông bà lão bắt đầu lo lắng cho người đàn ông góa vợ kia.

멀리서 아기 우는 소리가 들렸어요. “응! 이 깊은 산속에 왠 아기가 다 있어!!“. Sau khi đi tìm kiếm, vợ chồng ông lão nghe thấy tiếng đứa trẻ khóc từ đằng xa. “Ừ – có tiếng đứa trẻ khóc ở rừng này”

가까히 가보니 아기는 보이지 않고 영감님이 입고 있던 옷만 보였어요.: Thử tới gần thì không thấy đứa trẻ đâu mà chỉ trông thấy chiếc áo người đàn ông góa vợ đã mặc.

“에이~~쯔쯔 예! 샘물을 너무 많이 마셨군~” 욕심을 부렸어요”: Này – Dừng lại đã! Ông ta đã uống quá nhiều nước con suối này rồi”

그 아기는 욕심을 부리지 않고 씩씩하게 무럭무럭 잘 자랐답니다: Và đứa trẻ lớn lên nhanh chóng trở thành người đàn ông mạnh mẽ và không còn tham lam nữa.  

Học tiếng Hàn cần có những bí quyết học hiệu quả

Những bài học nhận được sau câu chuyện này:

Bạn có thể tập cách đọc tiếng Hàn với những câu chuyện cổ tích song ngữ.

Học tiếng Hàn qua video hoạt hình để luyện nghe, vừa có bí quyết học hiệu quả.

Sử dụng thêm nhiều các loại câu cảm thán, câu thể hiện sự bất ngờ bằng tiếng Hàn

Bài học về ý nghĩa cuộc sống: Ở hiền ắt sẽ gặp lành và chớ có tham lam nếu không muốn nhận những hậu quả không đáng có.

Học tiếng Hàn qua truyện cổ tích là cách học phù hợp với những ai mới bắt đầu để dễ tiếp cận với từ vựng và ngữ pháp từ cách đơn giản nhất. Trung tâm tiếng Hàn SOFL hi vọng các bạn sớm chinh phục được tiếng Hàn

Cổ Tích Tiếng Anh Là Gì

Cổ tích tiếng Anh là fairy tale, phiên âm ˈfeəri teɪl. Cổ tích là một thể loại văn học tự sự được dân gian sáng tác có xu thế hư cấu, bao gồm cổ tích thần kỳ, cổ tích thế sự, cổ tích phiêu lưu và cổ tích loài vật.

Cổ tích tiếng Anh là fairy tale, phiên âm /ˈfeəri teɪl/. Cổ tích là một loại truyện ngắn chủ yếu kể về các nhân vật dân gian hư cấu như tiên, yêu tinh, thần tiên, quỷ, người lùn, người khổng lồ, người cá và thường là có phép thuật.

Một số câu chuyện cổ tích hay và nổi tiếng trên thế giới như Nàng tiên cá, Bạch Tuyết và Bảy chú lùn, Cô bé lọ lem, Công chúa ngủ trong rừng.

Princess /prɪnˈses/: Công chúa.

Witch /wɪtʃ/: Phù thủy.

Hunter /ˈhʌntər/: Thợ săn.

Genie /ˈdʒiːni/: Thần đèn.

Crown /kraʊn/: Vương miện.

Castle /ˈkɑːsl/: Lâu đài.

Carriage /ˈkærɪdʒ/: Cỗ xe ngựa.

A collection of fairy tales was first published in 1812 by the Grimm brothers.

Một bộ sưu tập truyện cổ tích lần đầu tiên được xuất bản năm 1812 bởi anh em nhà Grimm.

We are not generally retelling the exact same story as the fairy tale world.

Chúng tôi không định kể lại câu chuyện chính xác trong thế giới cổ tích.

Marshall firmly believed that Into the Woods was a fairy tale for the post generation.

Marshall tin chắc rằng Khu rừng cổ tích sẽ là một câu chuyện cổ tích cho các thế hệ sau.

Some legends mention violent giants living on the earth before the flood.

Một số truyện cổ tích nói đến những người khổng lồ hung bạo sống trên đất trước khi có trận nước lụt.

I thought they were fairy tales for children until I was gifted that film.

Tôi cứ tưởng là chuyện cổ tích cho con nít cho đến khi tôi xem đoạn phim đó.

Bài viết cổ tích tiếng Anh là gì được tổng hợp bởi giáo viên trung tâm tiếng Anh SGV.

Truyện Cổ Tích – Là Gì Wiki

Truyện cổ tích (tiếng Anh: Fairy Tales; Hán Việt: 童話; Đồng Thoại) là một thể loại văn học được tự sự dân gian sáng tác có xu thế hư cấu, bao gồm cổ tích thần kỳ, cổ tích thế sự, cổ tích phiêu lưu và cổ tích loài vật. Đây là loại truyện ngắn, chủ yếu kể về các nhân vật dân gian hư cấu, như tiên, yêu tinh, thần tiên, quỷ, người lùn, người khổng lồ, người cá, hay thần giữ của, và thường là có phép thuật, hay bùa mê.

Đặc điểm

Về nội dung tư tưởng, truyện cổ tích thường mang tinh thần lạc quan, có hậu, trong đó kết thúc truyện bao giờ cái thiện cũng chiến thắng hoặc được tôn vinh, cái ác bị tiễu trừ hoặc bị chế giễu.[2] Là một thể loại truyền miệng, truyện cổ tích thường có nhiều dị bản. Sự dị bản hóa tác phẩm có thể được nhìn nhận do các dân tộc trên thế giới có những điểm chung nhất về văn hóa, lịch sử, sinh hoạt, lối sống; đồng thời cũng có những đặc điểm riêng trong nếp sống, đặc điểm lao động, sinh hoạt, điều kiện tự nhiên tùy từng dân tộc. Thêm vào đó những người kể truyện cổ tích thường mang vào các truyện họ kể những nét cá tính riêng, sự thêm thắt nội dung theo những ý đồ nhất định. Bắt đầu câu chuyện thường có câu mở màn “Ngày xửa ngày xưa”. Đôi khi, kết thúc có hậu như một đặc trưng của truyện cổ tích (với câu kết là: “… và họ sống hạnh phúc mãi mãi về sau“) cũng khiến khái niệm cổ tích trong tiếng Việt được tính từ hóa, mà những phát ngôn sau là ví dụ: cứ như cổ tích, đúng là cổ tích!.

Lịch sử nghiên cứu

Những nhà nghiên cứu và sưu tầm văn học dân gian từ thế kỷ 19 ở Đức, thuộc trường phái thần thoại học, như Schelling, anh em nhà Schlegel, anh em nhà Grimm xem truyện cổ tích là “những mảnh vỡ của thần thoại cổ”[2]. Các nhà nghiên cứu so sánh chú ý đến sự trùng hợp các sơ đồ cốt truyện và motip riêng lẻ trong truyện cổ tích của các dân tộc khác nhau.

Bên cạnh đó, những người theo trường phái nhân loại học (hay còn gọi là tiến hóa luận) ở Anh nửa sau thế kỷ 19, như E. Tylor, A. Lang, J. Frazer xây dựng lý thuyết về cơ sở thế sự và tâm lý của cái mà họ gọi là “các cốt truyện tự sinh của truyện cổ tích”[2], nhấn mạnh rằng truyện cổ tích trùng hợp đồng thời với sự tồn tại của hoang dã. Theo trường phái thần tượng học mà đại biểu là Mar Müller, Gaston Paris, Angelo de Gubarnatic, trong cổ tích có sự lan truyền của thần bí cổ đại, thần thoại về mặt trời, thần thoại về bình minh. Trường phái văn hóa với các đại biểu như Benfey, Consquin lại đi tìm nguồn gốc cổ tích dân gian ở Ấn Độ. Bên cạnh đó, trường phái nghi thức chủ nghĩa gồm nhiều các nhà bác học Anh cho rằng cổ tích là những nghi thức cổ truyền còn tồn tại dấu vết đến ngày nay[3].

Nhà nghiên cứu Lazăn Săireanu người Rumani phân loại truyện cổ tích của các dân tộc Roman nói chung và truyện cổ tích Rumani nói riêng thành hai nhánh chính là truyện thần thoại hoang đường và truyện tâm lý[3]. Trong mỗi nhánh ông lại phân chia thành nhiều ngành và dưới các ngành lại là các thể loại, các kiểu, chẳng hạn ngành “ba anh em trai”, gồm kiểu anh em sinh đôi và kiểu anh em kết nghĩa; ngành “đàn bà trong lốt cây cỏ”, ngành “thú vật trả nghĩa” v.v.

Các dạng

Tùy thuộc vào đề tài của tác phẩm, truyện cổ tích có thể được chia ra:

Cổ tích thần kỳ: Truyện cổ tích thần kỳ giai đoạn đầu thường gắn với thần thoại và có ý nghĩa ma thuật. Có thể bắt gặp các đề tài như dũng sĩ diệt trăn tinh (rắn, rồng v.v.) cứu người đẹp; quan hệ dì ghẻ và con riêng; đoạt báu vật thần thông; người con gái đội lốt thú kỳ dị bí mật giúp đỡ chồng; v.v.

Cổ tích phiêu lưu: Truyện cổ tích phiêu lưu thường trình bày các cuộc phiêu lưu kỳ lạ của nhân vật chính, và việc giải thích các cuộc phiêu lưu này thường mang tính giả tưởng.

Cổ tích loài vật: Có nhân vật chính là các loài vật hay muôn loài với thủ pháp nhân hóa, truyện cổ tích loài vật là một trong những thể loại truyện cổ tích phổ biến nhất, có ở hầu hết các dân tộc trên thế giới. Nhiều tác phẩm trong số đó xuất xứ từ giai đoạn xã hội chưa phân chia giai cấp, còn gắn với tín ngưỡng vật tổ. Truyện cổ tích loài vật, theo thời gian, dần dần mất đi tính chất thần thoại và ma thuật, tiệm cận với thể loại truyện ngụ ngôn giáo huấn ở giai đoạn về sau.

Thể loại khác: Ngoài 3 nhóm truyện cổ tích nói trên, có thể bắt gặp các truyện bịa, tức loại cổ tích mang tính chơi kham, quấy đảo, trêu chọc, lường gạt và vu vơ.

Cổ tích và thần thoại

Trong folklore thái cổ, rất khó phân biệt ranh giới giữa truyện cổ tích và thần thoại. Phần lớn các nhà nghiên cứu đều cho rằng truyện cổ tích xuất xứ từ thần thoại[2]. Những truyện cổ tích đầu tiên bộc lộ sự liên hệ về cốt truyện đối với các thần thoại, nghi lễ và các tập tục của bộ lạc nguyên thủy. Đó là các mô tip đặc trưng cho thần thoại tô tem (tín ngưỡng vật tổ) phản ánh trong loại truyện cổ tích loài vật; là sự kết hôn giữa những sinh thể kỳ dị, tạm thời bỏ lốt thú để mang mặt người, như người vợ (và những dị bản truyện cổ tích muộn hơn là người chồng), để giúp đỡ bạn đời của mình một cách bí mật thường bắt gặp trong truyện cổ tích thần kỳ; là việc đi tới những thế giới khác để giải thoát tù nhân, có sự tương đồng với những thần thoại và truyền thuyết nói về các phiêu du của những saman (pháp sư) trong truyện cổ tích phiêu lưu v.v.

Những thần thoại có cơ sở nghi lễ hoặc vốn là một phần của lễ thức có thể biến đổi thành truyện cổ tích, do sự đứt gãy những liên hệ trực tiếp của các thần thoại đó với sinh hoạt của bộ lạc. Việc bãi bỏ sự hạn chế đối tượng có thể kể lại thần thoại, việc cho phép cả phụ nữ và trẻ em (những người không hành lễ) được kể thần thoại đã dẫn đến sự phi thần thoại hóa nguyên bản và cổ tích hóa thần thoại: sự từ bỏ, có thể không cố ý, các yếu tố linh thiêng và thay vào đó là những nội dung hấp dẫn khác, như quan hệ gia đình của các nhân vật, những chuyện đánh lộn, cãi cọ của họ v.v. đã thay đổi thần thoại cổ sơ thành cổ tích.

Chú thích

Thompson, Stith. Funk & Wagnalls Standard Dictionary of Folklore, Mythology & Legend, 1972 s.v. “Fairy Tale”

2,0 2,1 2,2 2,3 2,4 2,5

150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân biên soạn, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, H. 2003

3,0 3,1

Artur Gorvei, Những khái niệm về văn hóa dân gian T. 1, Lê Đình Cúc dịch từ trang 99 đến 141 cuốn “Văn học dân gian” Bucarét, Minerva, 1976 (Litetura populară, Editura Minerna, Bucareşti 1976). Bản dịch viết tay, 50 trang, 23 cm, được Khương Việt Hà đánh máy lại ngày 20 tháng 8 năm 2003. Ký hiệu Thư viện Viện Văn học là DL 406. Tóm lược từ trang 24-29 trên bản đánh máy.

Tham khảo

Mục từ Truyện cổ tích trong 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân biên soạn, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, H. 2003. Từ trang 349 đến trang 359.

E. M. Mê-lê-chin-xki, phần Dẫn luận, trong Nhân vật trong truyện cổ tích hoang đường, Nguyễn Văn Giao và Phan Hồng Giang dịch, Nhà xuất bản Văn hóa phương Đông, M. 1958.

Arturn Gorvei, phần Cổ tích, truyền thuyết và hoang đường, trong Những khái niệm về văn hóa dân gian; T. 1, Lê Đình Cúc dịch từ cuốn “Văn học dân gian” Bucarét, Minerva 1976 (Litetura populară, Editura Minerna, Bucareşti 1976).

Template:Thể loại Commons

Thể loại:Thể loại văn học Thể loại:Hư cấu Thể loại:Văn hóa dân gian Thể loại:Thần tiên Thể loại:Phương pháp thuyết phục‎

oc:Conte

Truyện Cổ Tích Là Gì? Đặc Điểm, Đặc Trưng Của Truyện Cổ Tích

Đây được xem là một thể loại truyện mang nét tự sự dân gian, các yếu tố trong truyện đều sử dụng nghệ thuật kỳ ảo để thể hiện sự nhìn nhận, đánh giá của mọi người về cuộc sống, xã hội từ xa xưa. Đồng thời truyện cổ tích cũng bộc lộ quan điểm về sự công lý, công bằng cho xã hội bấy giờ về một cuộc sống tốt đẹp hơn cho nhân dân lao động. Các hình thức chủ yếu của truyện cổ tích đó là: Truyện cổ tích mang tính chất phiêu lưu: nội dung của các thể loại truyện này đó là hành trình khám phá, phiêu lưu ký của nhân vật và các cuộc phiêu lưu này đều hoàn toàn là giả tưởng. Cổ tích thần kỳ: là cốt truyện mang xu hướng hư ảo, thần kỳ về các con vật sự việc hoàn toàn không có trong cuộc sống như chằn tinh, mãng xà,… Hay là người đội lốt thú vật, quả thị như truyện Tấm cám… Cổ tích loài vật: Nhân vật chính của các truyện cổ tích này không phải lầ con người mà là các con vật, muôn loài với phép nhân hoá thì nội dung của truyện cũng hướng tới bài học làm người, đạo lý xã hội. Một số thể loại truyện cổ tích nổi tiếng mà bạn nên biết đó là:

Đây có lẽ là truyện cổ tích mà bất kỳ trẻ nhỏ hay người lớn nào cũng đều biết đến mỗi khi nhắc đến tên nó. Truyện cổ tích này tập trung vào nhân vật Tấm với tính cách ngoan hiền, tốt bụng nên luôn có được sự giúp đỡ từ ông bụt. Còn đối lập với nhân vật tấm là hai nhân vật phản diện mẹ con Cám, hai nhân vật này đầy mưu mô, xảo quyệt và rất ác độc nhiều lần cố tình hãm hại Tấm. Tuy nhiên, hai mẹ con Cám lại có kết cục không tốt đẹp, còn Tấm thì lại có cuộc sống hạnh phúc đầy đủ. Đây là kết cục có hậu của truyện thể hiện qua câu nói của ông cha ta “Ở hiền gặp lành”.

Mọi câu chuyện cổ tích đều là một bài học ý nghĩa về cách sống, cách làm người và quy luật nhân quả về cuộc sống. Các kết thúc của tất cả câu truyện cổ tích đều mang tư tưởng, niềm tin về đạo lý sống ở hiền gặp lành, tinh thần luôn vui vẻ, lạc quan dù cuộc sống có khó khăn và vất vả bao nhiêu. Ngoài ra, các bài học đạo đức cũng được lòng ghép khéo léo vào cốt truyện để nhắc nhở mỗi ai đọc truyện cổ tích nên sống có ý nghĩa, tốt hơn.

Đặc trưng này có lẽ là quan trọng nhất trong các nội dung của truyện cổ tích. Những yếu tố ảo tưởng, hư cấu đã góp phần tạo nên sự thú vị, lôi cuốn cho các câu chuyện cổ tích Việt Nam. Các yếu tố này góp phần dẫn dắt câu chuyện di đến phần cao trào, nhằm giải quyết các xung đột, vấn đề trong truyện và nó cũng giúp cho các ước mơ của những nhân vật trung tâm của truyện thực hiện được khát vọng, ước mơ mong muốn của mình.

Một điều mà các bạn có thể dễ dàng nhận thấy trong các nội dung của truyện cổ tích đó là việc xây dựng hình tượng nhân vật chính luôn là người hiền lành, bị kẻ ác ức hiếp, luôn chịu sự thua thiệt áp bức từ các tầng lớp cao hơn…Và qua tất cả các kiếp nạn thì cuối cùng các nhân vật chính của truyện sẽ có kết cục đẹp. Qua cách xây dựng nhân vật của truyện cổ tích thì tác giả còn gửi gắm một thông điệp cho các bạn đọc đó là đạo lý của ông cha ta “Ở hiền gặp lành” đồng thời thể hiện một khát vọng cho nhân dân lao động về cuộc sống công bằng, hạnh phúc.