Học Tiếng Hàn Qua Truyện Cổ Tích Hàn Quốc: Con Suối Hồi Xuân

Thời gian đăng: 09/06/2024 09:26

Với mục đích giúp các bạn mới làm quen với tiếng Hàn có thêm tài liệu học phong phú, tiếng Hàn SOFL sẽ chia sẻ bài viết học tiếng Hàn qua truyện cổ tích Hàn Quốc: Con suối hồi xuân (젊어지는 샘물)

Học tiếng Hàn qua truyện cổ tích Hàn QUốc

Học tiếng Hàn qua truyện cổ tích Hàn QUốc

Học tiếng Hàn qua truyện cổ tích Hàn Quốc

Nội dung truyện: 젊어지는 샘물 “Con suối hồi xuân”

옛날 아주 깊은 산골에 마음씨 좋은 할아버지와 할머니가 살았어요: Ngày xửa ngày xưa, trong một khu rừng sâu có hai ông bà lão hiền lành, tốt bụng sống với nhau.

살림은 가난했지만, 부부는 사이가 좋았어요.: Dù cuộc sống có vất vả nhưng vợ chồng ông bà lão vẫn có cuộc sống rất hạnh phúc.

그러나 부부는 소원이 하나 있었어요. “으~자식이 하나만 있었으면~~”: Nhưng hai ông bà lại không có con nên có một ước nguyện đó là: “Giá như có được một mụn con”

어느날 할아버지가 나무를 갔다가 한마리 아름답고 이상한 새를 봤어요.: Bỗng một ngày, khi ông lão đi vào trong rừng và trông thấy con chim rất đẹp và kỳ lạ

그 새는 소리가 아주 곱고 예뻤어요. 새는 톡톡 튀며 고운 목소리로울면서 자꾸만 앞으로 가는 거에요: Chú chim có một giọng hót rất hay và thánh thót. Chú vừa mổ thức ăn vừa hót lanh lảnh và tiến về phía trước.

어느새 할아버지는 새를 따라 갔어요 그렇게 새를 쫓아가던 할아버지는우뚝 걸음을 멈추었어요. “오호~이런 깊은 산속에 옹달샘이 다 있네~”: Ngay lập tức, ông lão đi theo hướng của chú chim. Rồi ông bất ngờ dừng lại và ngạc nhiên: “Trời ơi! Có một con suối tận sâu trong cánh rừng này ư!”

할아버지는 두손을 모아서 샘물을 한번 떠 먹었어요.

Ông lão lấy hai tay của mình để uống một ngụm nước suối

“호~근대 왜 이렇게 어지럽지~”: oa sao lại chóng mặt thế này nhỉ?

할아버지는 잔듸 위에서 그만 스스르 잠이 들고 말았어요.: sau đó ông chìm vào một giấc ngủ dài trên bãi cỏ.

한참을 자다가 깨어보니 어느새 해는 지고 밝은 달이 떠 있었어요.: Sau khi ông tỉnh dậy sau giấc ngủ của mình, ông nhận ra trời đã tối.

할아버지는 부리나케 나뭇지게를 지고 집으로 돌아 왔어요.: Ông nhanh chóng vác gùi lên lưng và quay trở về nhà mình.

“왜 그렇게 보우?” “어~ 분명 우리 영감이 맞긴 맞는데~~”: Chuyện gì thế này? “Rõ ràng đây là chồng của tôi mà”

할머니가 등불을 가까히 밝혀보니 할아버지는 젊은 청년으로 변해 있었어요.: Bà lão vội vã cầm cây nến đưa lại gần để nhìn cho rõ. Ông lão đang thay đổi, trẻ lại và trở thành một chàng thanh niên.

거울을 본 할아버지도 깜짝 놓랐어요. “어~! 옹달샘에서 물 한 목음 마시고: Ông lão cũng nhìn vào trong chiếc gương và vô cùng ngạc nhiên.

한잠을 잔것 밖에 없는데~~”: Tôi không làm gì cả ngoài việc uống nước từ chính con suối ấy

이튼날 할머니도 이상한 샘물은 마시고 젊어졌어요.: Ngày hôm sau bà lão cũng đến con  suối kỳ lạ đó và cũng được trẻ ra.

하루는 산 넘어 왜딴집에 사는 홀아비 영감님이 찿아왔어요.: Một ngày kia, có một người đàn ông góa vợ đã tìm đến vợ chồng nhà ông lão.

영감님은 젊어진 부부를 보고 깜짝 놀랐어요.: Người đàn ông đó đã rất ngạc nhiên khi thấy vợ chồng ông lão được trẻ lại

마음씨 좋은 부부는 영감에게 이상한 샘물 이야기를 해 줬어요.: Vợ chồng ông bà lão tốt bụng đã kể lại câu chuyện về con suối cho người đàn ông góa vợ

“아~ 그럼 나도 젊어져야지”: “A – Tôi cũng muốn được trẻ lại”

영감님은 당장 옹달샘으로 달려갔어요.: Sau đó người đàn ông chạy một mạch đến con suối

“산너머 영감님이 왜 이렇게 안돌아오지?”: “Sao người đàn ông kia vẫn chưa thấy quay lại là sao?

“혹시 호랑이에게 잡혀먹힌게 아닐까요?: “Không nhẽ ông ta bị hổ ăn thịt mất rồi”

아침에 갔는데 아직도 안돌아오니 말이에요”: “Ông ta đã đi khỏi vào sáng nay và đến giờ chưa quay lại nữa”

두 부부는 걱정이 됐어요. “한번 가봅시다” 부부는 옹달샘으로 가 보았어요.: Ông bà lão bắt đầu lo lắng cho người đàn ông góa vợ kia.

멀리서 아기 우는 소리가 들렸어요. “응! 이 깊은 산속에 왠 아기가 다 있어!!“. Sau khi đi tìm kiếm, vợ chồng ông lão nghe thấy tiếng đứa trẻ khóc từ đằng xa. “Ừ – có tiếng đứa trẻ khóc ở rừng này”

가까히 가보니 아기는 보이지 않고 영감님이 입고 있던 옷만 보였어요.: Thử tới gần thì không thấy đứa trẻ đâu mà chỉ trông thấy chiếc áo người đàn ông góa vợ đã mặc.

“에이~~쯔쯔 예! 샘물을 너무 많이 마셨군~” 욕심을 부렸어요”: Này – Dừng lại đã! Ông ta đã uống quá nhiều nước con suối này rồi”

그 아기는 욕심을 부리지 않고 씩씩하게 무럭무럭 잘 자랐답니다: Và đứa trẻ lớn lên nhanh chóng trở thành người đàn ông mạnh mẽ và không còn tham lam nữa.  

Học tiếng Hàn cần có những bí quyết học hiệu quả

Những bài học nhận được sau câu chuyện này:

Bạn có thể tập cách đọc tiếng Hàn với những câu chuyện cổ tích song ngữ.

Học tiếng Hàn qua video hoạt hình để luyện nghe, vừa có bí quyết học hiệu quả.

Sử dụng thêm nhiều các loại câu cảm thán, câu thể hiện sự bất ngờ bằng tiếng Hàn

Bài học về ý nghĩa cuộc sống: Ở hiền ắt sẽ gặp lành và chớ có tham lam nếu không muốn nhận những hậu quả không đáng có.

Học tiếng Hàn qua truyện cổ tích là cách học phù hợp với những ai mới bắt đầu để dễ tiếp cận với từ vựng và ngữ pháp từ cách đơn giản nhất. Trung tâm tiếng Hàn SOFL hi vọng các bạn sớm chinh phục được tiếng Hàn

Sách Truyện Cổ Tích Hàn Quốc

동화 제목: 선녀와 나무꾼

밤이 되었어요. 나무꾼은 몰래 연못 근처로 가서 날개옷 하나를 숨겼어요. 묙욕을 마친 선녀들이 하늘로 올라가는데 한 선녀만 남았어요. Đêm xuống, anh tiều phu lén đến bên hồ nước và quả thật có các nàng tiên xinh đẹp tuyệt trần đang tắm dưới hồ. Anh tiều phu nhẹ nhàng lấy đi bộ xiêm y đẹp nhất. Sau khi tắm xong, các nàng tiên lần lượt lên bờ mặc lại xiêm y và bay về trời, duy chỉ có một nàng tiên không tìm được xiêm y nên không thể bay trở lại thiên đình.

나무꾼은 선녀와 결혼했어요. 두 명의 예쁜 아이도 낳았어요. 어느 날 밤, 나무꾼은 하늘을 보며 슬퍼하는 선녀를 보았어요. 나무꾼은 마음이 아팠어요. “아이 둘을 낳았는데 무슨 일이 생시겠어요?” Chàng tiêu phu và nàng tiên đó kết hôn với nhau, một vài năm sau, hai người đã có cùng nhau một đứa bé hết sức kháu khỉnh. Một đêm nọ, chàng tiều phu thấy người vợ tiên của mình nhìn lên bầu trời mà mặt buồn rười rượi. Điều đó khiến chàng rất đau lòng, chàng nghĩ thầm trong bụng: “Mình và cô ấy đã có chung với nhau hai đứa con rồi, chuyện gì có thể xảy ra được cơ chứ!” 나무꾼은 사슴의 말을 잊고 선녀에게 날개옷을 보여주 말았어요. 날개옷을 본선녀는 옷을 입어 봤어요. 그리고 아이 둘을 양팔에 안고 하늘로 올라가 버렸어요. Sau khi vợ hạ sinh đứa con thứ hai, do quá vui mừng, chàng tiều phu đã quên lời dặn của chú nai và đưa bộ xiêm y ngày xưa cho vợ xem. Ngay khi nhìn thấy bộ xiêm ý của mình, nàng tiên nói rằng muốn mặc thử một chút thôi. Nhưng sau khi khoắc bộ quần áo tiên vào người, nàng quay ra ôm hai đứa con vào lòng và bay thẳng lên trời.

얼마 후에 사슴이 나타나서 말했어요. Chẳng bao lâu sau, chú nai quay lại tìm chàng tiều phu và nói:

“이제 선녀들은 목욕을 하러 내려오지 않아요. 두레박으로 물을 퍼 가요. 오늘 밤그 연못으로 큰 두레박이 내려올 거예요. 그 두레박을 타고 가면 선녀와 아이들을 만날 수 있을 거예요.” “Hiện giờ các nàng tiên không hạ phàm để tắm ở hồ nước trên núi nữa, thay vào đó họ dùng một cái gàu nước to để múc nước từ dưới hồ lên trên trời. Tối nay, một chiếc gàu lớn sẽ được thả từ trên trời xuống hồ để múc nước. Nếu chàng bám vào chiếc gàu đó thì có thể lên trời để gặp lại vợ và hai đứa con của mình.”

나무꾼은 사슴의 도움으로 하늘나라로 올라갔어요. 나무꾼은 하늘나라에서 선녀와 아이들을 만나 오래오래 행북하게 살았어요. Nhờ sự giúp đỡ của chú nai, chàng tiều phu đã lên được trên thiên đình và đoàn tụ với người vợ tiên của mình cùng với hai đứa con sinh đẹp. Cùng với nhau, họ sống cuộc sống hạnh phúc lâu dài mãi mãi trên thiên đình.

Hai thẻ thay đổi nội dung bên dưới.

Truyện Cổ Tích Là Gì?

Truyện cổ tích là gì?

Hãy kể tên một số truyện cổ tích mà em biết và thú vị

Truyện cổ tích là một trong những loại truyện cổ dân gian, ra đời khi xã hội đã phân chia giai cấp. Truyện cổ tích hay kể về cuộc đời một số kiểu nhân vật như: nhân vật bất hạnh, nhân vật dũngsĩ và có nhiều phép lạ, nhân vật thông minh hoặc ngốc nghếch, nhân vật động vật – người kì lạ,… Truyện cổ tíchthường mang yếu tố hoang đường. Nó thể hiện ước mơ và niềm tin của nhân dân về cái thiện thắng cái ác, cái tốt thay thế cái xấu, ước mơ về ấm no hạnh phúc.

Truyện cổ tích có kết cấu hai loại nhân vật đối lập (thiện/ác), kết thúc có hậu, thấm đượm triết lí dân gian: ở hiền gặp lành, ác giả ác báo, tham thì thâm, thật thà là cha mách qué, v.v…

Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam vò cùng phong phú. Những truyện cổ tích như “Tấm Cám”, “Sọ Dừa”, “Thạch Sanh”, “Cây tre trăm đốt”, “Cây khế”, “Em bé thông minh”,… được nhiều người biết và yêu thích.

2. Kể lại một truyện cổ tích mà em yêu thích. Nêu cảm nghĩ của em về truyện cổ tích ấy.

Ngày xửa ngày xưa, có hai anh em nhà kia, cha mẹ mất sớm để lại một gia tài nhiều ruộng vườn trâu bò. Người anh tham lam, người em hiền lành, siêng năng. Lấy lí do ai lo phận ấy, người anh chia gia tài. Bao gia tư điền sản, người anh chiếm hết, chỉ cho vợ chồng người em một mảnh vườn có cây khế ngọt và một túp lều.

Hai vợ chồng người em cần cù cuốc đất trồng rau và chăm bón cây khế, kiếm ăn lần hồi. Mùa hè năm ấy, cây khế trĩu quả, chín vàng óng. Hai vợ chồng người em khấp khởi mừng thầm. Bỗng một hôm, có con chim phượng hoàng bay đến. Chim ăn hết quả này đến quả khác. Người vợ từ trong lều chạy ra, nói với chim: “Vợ chồng tôi chỉ có một cây khế, chim ăn hết quả thì biết trông cậy vào đâu…”. Thật bất ngờ, chim cất tiếng nói: “Ăn một quả trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng”.

Theo lời chim dặn, người vợ may cho chồng một cái túi vừa đúng ba gang. Chỉ mấy hôm sau, quả nhiên phượng hoàng lại bay đến, xòe cánh đậu xuống sân. Người em ngồi lên lưng chim, chim cất cánh bay. Vượt qua bao cánh đồng, dòng sông, núi non, biển cả, chim đỗ xuống một hòn đảo lấp lánh bạc vàng, châu báu. Người em nhặt đầy một túi vàng. Chim lại chở người em về tận nhà. Vợ chồng người em trở nên giàu có.

Vợ chồng người anh biết chuyện, xin gạ đổi cho vợ chồng người em tất cả nhà cửa điền sản để lấy mảnh vườn và cây khế ngọt. Vợ chồng người em vui vẻ nhận lời.

Ít lâu sau, phượng hoàng lại bay đến ăn khế. Chim cũng nói với vợ chồng người anh: “Ăn một quả trả cục vàng, mang túi ba gang mang đi mà đựng”. Vốn tham lam, vợ chồng người anh may một cái túi rõ to sáu gang. Chim y hẹn bay đến đưa người anh đến đảo vàng. Anh ta lóa mắt lên, chọn và nhặt nhiều châu báu, lèn chặt vào cái túi sáu gang. Anh leo lên lưng chim; chim phải đập cánh nhiều lần mới bay lên được. Chim gắng sức bay qua biển; túi vàng quá nặng làm nghiêng cánh chim. Bất ngờ, người anh và cả túi vàng rơi tõm xuống biển, chết mất xác…

Cảm nghĩ về truyện “Cây khế”

Truyện “Cây khế” thuộc loại truyện cổ tích thần kì. Hình ảnh con chim phượng hoàng biết nói tiếng người là hình ảnh kì diệu nhất, hấp dẫn nhất. Câu nói của chim, có vần vè như một câu ca. Chỉ nghe một lần là nhớ: “Ăn một quả trà cục vàng, may túi ba gang mang đi mà đựng”. Cả hai lần chim đều nói đúng như thế, với vợ chồng người em, với vợ chồng người anh, chim đều nói đúng như thế. Chim rất vô tư, khách quan, biết đền ơn đáp nghĩa, đã hai lần, chở người e và người anh đến đảo vàng, thực hiện đúng lời hứa “ăn một quả trả cục vàng”. Người em trở nên giàu có, người anh chết mất xác; hậu quả ấy là do người chứ đâu phải tại chim. Lòng tham của con người thì vô độ, mà sức chở của chim thần thì có hạn, chỉ chở được một người kèm theo một túi vàng ba gang. Con chim phượng hoàng trong truyện “Cây khế” là con chim thần, con chim tình nghĩa. Cái túi ba gang mà chim dặn người là một biểu tượng về một lời khuyên kín đáo: phải biết sống và ứng xử hợp lí không được quá tham, quá đà.

Cảnh 1 nói về chuyện chia gia tài. Qua hình ảnh người anh tham lam, nhân dân đã phê phán những sự thật mất hết tình nghĩa anh chị em trong gia đình về chuyện chia gia tài, của cải dễ làm cho con người trở nên xấu xa, thấp hèn. Người em đáng thương bao nhiêu thì người anh đáng chê bấy nhiêu.

Cảnh 2 là chuyện vợ chồng người em gặp chim thần. Cây khế ngọt với quả chín trĩu cành là thành quả lao động của hai vợ chồng người em. Chim phượng hoàng đến ăn khế, hứa “ăn một quả trả cục vàng”, đúng như cổ nhân khuyên: “Khi nên Trời giúp công cho”… Vợ chồng người em rất thật thà, tốt bụng. Chim dặn may túi ba gang thì may đúng túi ba gang. Người anh cần đổi cây khế ngọt thì cũng vui lòng ưng thuận. Vì thế, người em mới trở nên giàu có, hạnh phúc. Đúng là “ở hiền gặp lành”triết lí sống của dân gian vô cùng thấm thía.

Cảnh 3 là chuyện người anh đổi cây khế ngọt, gặp chim thần, may túi 6 gang… Chi tiết nào cũng biểu lộ một lòng tham quá đáng. Chim đâu có làm hại ai bao giờ. Chết mất xác bởi cái túi vàng 6 gang quá nặng. Tham thì thâm, đó là bài học ở đời.

Tóm lại, truyện “Cây khế” là một truyện rất hay. Nghe bà kể, hoặc đọc truyện mãi mà ta không chán. Bài học về đền ơn đáp nghĩa, niềm tin về ở hiền gặp lành, lời răn tham thì thâm càng trở nên sâu sắc với tất cả mọi người.

Trong bài thơ”Đất Nước”, Nguyễn Khoa Điềm có viết:

“Cây khế chua có đại bang đến đậu,

Chim ăn rồi trả ngon ngọt cho ta

Đất đai cỗi cằn thì người sẽ nở hoa

Hoa của đất, người trồnq cây dựngcửa

Khi ta đến gõ lên từng cánh cửa

Thì tin yêu ngay thẳngđón ta vào…”.

3. Kể lại một truvện cổ tích mà em đã nghe kể.

Phát biểu cảm nghĩ về truyện cổ tích đó.

Ngày xửa ngày xưa, anh Khoai nhà nghèo. Tính nết cần cù, chán thật. Anh đi ở cho một nhà giàu trong vùng. Phú ông vỗ vai Khoai và nói: “Mày làm lụng cho thật giỏi, rồi tao gả cô út cho mày!”.Cô út duyên dáng, xinh đẹp lắm! Khoai tưởng ông chủ thực lòng, nên đã ra sức làm lụng gấp năm, gấp mười trước đây. Ba năm sau, cô út càng lớn lên càng xinh đẹp.

Phú ông nuốt lời hứa cũ, gả cô út cho con trai viên cai tổng giàu nứt đố đổ vách. Thấy hai họ đang rục rịch làm lễ cưới, Khoai tìm gặp ông chủ để nói lên nỗi bất bình của mình. Phú ông ha hả cười, nói với anh:

“Anh vào rừng, chặt vê đây một cây tre trăm đốt, àể lùm đũa cưới, thì tao cho mày cưới cô út”

Vốn thật thà quá, Khoai tin ngay lời phú ông hứa. Anh vác dao hăm hở lên rừng đi chặt cây tre trăm đốt. Quá trưa tới chiều, đi hết khu rừng này tới khu rừng nọ, anh chẳng tìm thấy một cây tre trăm đốt nào! Hết leo núi lại lội khe, đói và mệt lả, Khoai tuyệt vọng, ngồi khóc. Chưa bao giờ anh buồn như vậy! Bỗng có một cụ già phúc hậu. râu tóc bạc phơ, tay chống gậy, đến gần Khoai, ân cần hỏi: “Cơ sự làm sao mà con khóc?” Nghe Khoai kể rõ đầu đuôi, cụ già bào anh đi chặt nhanh về một trăm đốt tre. Nhìn đống đốt tre, cụ già khẽ nói: “Khắc nhập! Khắc nhập”. Tức thì các đốt tre liên kết thành một cây tre dài trăm đốt. Khoai sung sướng quá, anh nghĩ tới cô út… Cụ già đã biến mất từ bao giờ! Loay hoay mãi vẫn không thể nào đưa cây tre dài ra khỏi rừng, anh lại ngồi xuống khóc. Cụ già lại hiện ra, bảo Khoai nín đi, rồi cụ khẽ đọc: ”Khắc xuất! Khắc xuất!”. Cât tre trăm đốt lại rời ra. Cụ khẽ dặn Khoai ghi nhớ câu thần chú và cách dùng cho linh nghiệm! Cụ già lại biến mất. Khoai bó các đốt tre lại, chạy như bay về nhà phú ông.

Khoai không tin mắt mình nữa. Đám cưới cô út với con trai viên chánh tởng đang diễn ra tưng bừng. Khách khứa ra vào ổn ào, tấp nập. Cỗ bàn linh đình! Khoai đặt hai bó tre xuống. Anh biết mình đã bị lừa! Phú ông đến bên Khoai cả cười mà bảo rằng: “Tao cần tre trăm đốt, chứ dâu cần hai bó ống tre? Anh rõ lẩn thẩn! Thôi vào ngồi cỗ đám cưới cô mày!”. Khoai tức lắm, khẽ đọc: “”`Khắc nhập! Khắc nhập!”.Tức thì các ống tre dính vào nhau, lão phú ông cũng dính chặt vào cây tre trăm đốt! Vừa đau vừa sợ hãi, lão ta kêu ầm lên. Viên chánh tổng, con trai hắn vội chạy đến, còn lớ ngớ, liền bị Khoai niệm thần chú, cả hai cha con lão lại dính chặt vào cây tre. Càng giẫy càng đau, la khóc om sòm! Quan khách hai họ nhìn thấy khiếp lắm, mạnh ai nấy chạy, bỏ dở cỗ bàn. Cả ba người mới biết Khoai là kẻ kì tài; có phép lạ, vừa khóc vừa van lạy Khoai rối rít. Một số người xúm lại xin Khoai tha cho ba người kia. Khoai ung dung khẽ đọc: “Khắc xuất, khắc xuất!”. Cây tre trăm đốt lại rời ra. Cha con viên cai tổng hú vía, chạy dài.

Phú ông thoát nạn. Lão bẽ mặt và sợ lắm. Lão phải y hẹn cho Khoai cưới cô út.

Phát biểu cảm nghĩ

Truyện “Cây tre trăm đốt” ở phần kết thúc như một màn hài kịch. Phú ông đã giàu lại có cô con gái xinh đẹp. Lão ta là một kẻ tham lam, đê tiện đã dùng con gái làm cái mồi để bóc lột anh trai cày quá thật thà. Chỉ ba năm sau, phú ông đã gả cô út cho con trai viên chánh tổng giàu có. Một lần nữa, lão ta lại đánh lừa Khoai một vố rất đau! Điều kiện cây tre trăm đốt làm đũa cưới mà lão ta đưa ra cho Khoai thực chất là một trò đại bịp. Khoai “hiền quá hóa ngu” nên anh mới tin lời hứa lão chủ. Anh thật đáng thương! Lão phú ông cũng như người nghe kể chuyện cổ tích từ xưa đến nay đều nghĩ rằng chẳng bao giờ anh trai cày thật thà chất phác này lại lấy được cô út!

Thế mà rốt cuộc, anh Khoai đã thắng cuộc. Anh trai cày nghèo khổ, quá chân thật, cần cù chịu khó làm ăn. Cái ước mơ lấy được vợ đẹp, con nhà giàu là một ước mơ đẹp, rất đời! Có lẽ vì thế, anh đã được Tiên ông độ trì? Câu thần chú: “Khắc xuất! Khắc nhập!” đã làm cho truyện “Cây tre trăm dốt” thấm đẫm màu sắc hoang đường, thần kì hấp dẫn.

Qua nhận vật Tiên ông có phép lạ giúp anh Khoai câu thần chú nhiệm mầu, để Khoai vừa vạch trần bộ mặt tham lam xảo trá của phú ông, vừa lấy được vợ đẹp, điều đó thể hiện một triết lí nhân sinh của nhân dân ta: “ở hiền gập lành”. Mặt khác, qua cách xử sự của Khoai, ta càng thấy rõ lòng nhân hậu và bao dung độ lượng của con người Việt Nam.

“Truyện cổ tích dân gian đem dến cho ta những giấc mơ dẹp”.

Kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam vô cùng phong phú, mang vẻ đẹp nhân văn kì diệu. Là thần thoại, truyền thuyết hay cổ tích, tuy ra đời trong những điều kiện xã hội khác nhau, nhưng tất cả đều phản ánh một cách đậm đà đời sống tinh thần và vật chất của cộng đồng, giải thích một cách hồn nhiên, chất phác các hiện tượng, nguồn gốc các sự việc quanh ta, ghi lại những thăng trầm, những biến cố lịch sử dân tộc qua bao huyền thoại bi hùng, tráng lệ. Có nhiều truyện cổ dân gian đã nói lên những khát vọng của nhân dân từ những thuở xa xưa về sức mạnh để chiến thắng mọi kẻ thù, ước mơ về ấm no, hạnh phúc.

Đúng như có ý kiến cho rằng: “Truyện cổ dân gian đem đến cho ta những giấc mơ đẹp”.

1. Trong lúc ngủ, ta thường gặp những giấc mơ. Có giấc mơ dữ dội. Có giấc mơ đẹp. Nằm trong nhà tù Tưởng Giới Thạch (1942-1943), Bác Hồ đã có lúc mơ:

“Mơ thấy cưỡi rồng lên thượng giới,

Tỉnh ra trong ngục vẫn nằm trơ”.

Đó là một giấc mơ đẹp nói lên khát vọng tự do. Đọc truyện cổ dân gian, có lúc ta tưởng mình đang nằm mơ, gặp Thần, Tiên, gặp Bụt, Phật… Những giấc mơ đẹp ấy đối với tuổi thơ chúng ta thật là diệu kì, hạnh phúc. Truyện cổ dân gian như đã chắp cánh cho tâm hồn thơ bé mỗi chúng ta bay lên, được sống trong những khoảnh khắc thần tiên.

Thế giới các vị thần trong thần thoại thật đáng yêu. Ai đã một lần đến thăm núi Kinh Thiên Trụ ở tỉnh Hải Dương, dấu tích của Thần Trụ Trời thuở hỗn mang để lại. Mỗi độ thu về, ngắm bầu trời xanh mênh mông, tôi lại mơ, lại nhớ, lại xôn xao trong lòng câu hát: “Ông Tát Bể – Ông Kể Sao – Ông Đào sỏi – Ông Trồng Cây – Ông Xây Rú – Ông Trụ Trời”.

Bạn có còn nhớ câu đồng dao:

“Núi cao sông hãy còn dài,

Năm năm báo oán, đời đời đánh ghen?”

Lễ vật Sơn Tinh dâng lên vua Hùng sao nhiều và quý hiếm thế? “Voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao…”là những báu vật đâu dễ tìm, đâu dễ có? Núi Tản Viên cao chót vót ở phía tây kinh thành Thăng Long là dấu tích, là chiến công hóa phép “nâng núi lên” của Sơn Tinh bảo vệ người đẹp, để đánh thắng Thủy Tinh. Sơn Tinh là ước mơ của người xưa muốn có sức mạnh và phép lạ để chiến thắng lũ lụt thiên tai. Sơn Tinh… cũng là giấc mơ đẹp cho em, cho bạn, cho tuổi thơ gần xa:

“Núi Tản như con gà cổ đại

Khổng lồ, mào đỏ thắp bình minh

Mênh mông rọi nắng cho mùa chín

Từ buổi Sơn Tinh thắngThủy Tinh”.

2. Sẽ là bất hạnh biết bao, nếu không được đọc, được nghe kể chuyện cổ? Sẽ hạnh phúc biết bao khi được nghe bà kể chuyện cổ tích? Bà và chuyện cổ tích là ngọn nguồn những giấc mơ đẹp tuổi thơ:

“Chuyện con cóc, nàng tiên

Chuyện cô Tấm ở hiền

Thằng Lý Thông ở ác…

Mái tóc bà thì bạc

Con mắt bà thì vui

Bà kể đến muôn đời

Cũng không sao hết chuyện…”

Chú Sọ Dừa chỉ có mắt, mũi… không chân tay, chi biết lăn lônglốc mà không biết đi. Chú lại biết chăn bò giỏi. Chú tìm đâu ra mười tấm lụa đào, mười con lợn béo, mười vò rượu tăm và một chĩnh vàng cốm đủ làm sính lỗ cưới cô út xinh đẹp con gái phú ông? Sọ Dừa… chàng trai lịch sự… quan Trạng nguyên,.., một sự hóa thân nhiệm màu đã trở thành giấc mơ đẹp của nhân dân, của những con người “nhỏ bé” bất hạnh trong cõi đời.

Con chim phượng hoàng biết nói, rất tình nghĩa với lời hứa: “Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang mang đi mà đựng”. Ông tiên râu tóc bạc phơ đã ban cho anh Khoai câu thần chú “Khắc nhập! Khắc xuất!”; Ông Bụt vàđàn chim sẻ, chiếc giày thêu với hình ảnh cô Tấm xinh tươi gặp Hoàng tử ngày hội… tất cả đều trở thành mơ ước tuyệt đẹp của nhân dân ta từ bao đời nay về ấm no hạnh phúc, về một sự đổi đời. Cổ tích thần kì đã nuôi lớn tâm hồn ta bằng bao niềm tin, bao ước mơ đẹp:

“Ta lớn lên bao niềm tin rất thật

Biết bao nhiêu hạnh phúc có trên đời

Dẫu phải khi cay đắng dập vùi

Rằng cô Tấm cũng về làm hoàng hậu

Cây khê chua có đại bàng đến đậu

Chim ăn rồi trả ngon ngọt cho ta…”.

(“Đất Nườc” – Nguyễn Khoa Điềm)

3. Truyện cổ dân gian, nhất là truyền thuyết, với các yếu tố kì diệu, bao sự tích và hình tượng thần kì đã trở thành những bài ca yêu nước tráng lệ đem đến cho ta nhiều giấc mơ đẹp. Cái vươn vai của Thánh Gióng, từ một chú bé lên ba bỗng trở thành một tráng sĩ oai phong lẫm liệt. Ngựa sắt phun lửa, Gióng vung roi sắt đánh cho lũ giặc Ân tơi bời. Roi sắt gãy, Gióng nhổ tre làm vũ khí quật cho lũ giặc chết như ngả rạ. Đánh tan giặc, Gióng đã bay về trời. Gióng là mơ ước của tuổi thơ Việt Nam ngàn đời:

“Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt,

Mỗi con sômg đều muốn hóa Bạch Đằng”.

(“Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?” – Chế Lan Viên)

“Sự tích trăm trứng”đã nhập hồn ta từ thuở trong nôi theo lời ru của mẹ. Lưỡi gươm khắc hai chữ “Thuận Thiên” là vật báu của Long Quân cho Lê Lợi mượn để đánh giặc Minh. Cái lẫy nỏ thần Kim Quy bắn một phát giết hàng vạn giặc. Triệu Quang Phục chống giặc Lương ở đầm Dạ Trạch được Rồng Vàng tháo móng chân đem cho và dặn: “Cắm lên mũ đầu mâu, sẽ đánh đâu thắng đấy!”. Nhờ thế mà Triệu Quang Phục chém được đầu tướng giặc Dương sằn, thu phục lại giang sơn.

Truyền thuyết lịch sử tuy mang yếu tố hoang đường nhưng nó đã diễn tả một cách bay bổng thần kì sức manh Việt Nam, truyền thống yêu nước, anh hùng của đất nước và con người Việt Nam qua những chặng đường lịch sử vẻ vang. Ta lớn lên cùng truyền thuyết. Ta tự hào và yêu thêm đất nước. Một đất nước có “nghìnnúi trăm sông diễm lệ…”.Một đất nước có Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên… oai hùng.

Chúng ta sinh ra và lớn lên dưới trời xanh và hương lúa được nuôi dưỡng bằng tình thương của cha, bằng sữa mẹ, bằng sự dạy bảo của thầy cô giáo. Tiếng đàn bầu, khúc dân ca, câu thơ Kiều của Nguyễn Du… đã trở thành mảnh tâm hồn mỗi chúng ta. Bạn có nghe tiếng gà gáy trên hoang đảo:

Phải thuyền quan Trạng rước cô tôi về?”

Bạn còn có nhớ câu hát dân gian trong ngày hội Gióng:

“Đứa thì sứt mũi, sứt tai,

Đứa thì chết nhóc bởi gai tre ngà!”?

Thật vậy, truyện cổ dân gian đã đem đến cho ta những giấc mơ đẹp. Ta như nghe tiếng thầm thì của ông cha từ ngàn xưa vọng nói về. Và ta càng yêu thêm truyện cổ. Một quyển sách ước. Một cây bút thần. Cái đàn thần và cái niêu cơm thần… của Thạch Sanh… đã trở thành mơ ước và hành trang trong tâm hồn mỗi em thơ.

Một dân tộc cần cù, dũng cảm, thông minh và tài hoa mới có một kho tàng truyện cổ dân gian đậm đà, hấp dẫn thế!

Nguồn: chúng tôi

Cổ Tích Tiếng Anh Là Gì

Cổ tích tiếng Anh là fairy tale, phiên âm ˈfeəri teɪl. Cổ tích là một thể loại văn học tự sự được dân gian sáng tác có xu thế hư cấu, bao gồm cổ tích thần kỳ, cổ tích thế sự, cổ tích phiêu lưu và cổ tích loài vật.

Cổ tích tiếng Anh là fairy tale, phiên âm /ˈfeəri teɪl/. Cổ tích là một loại truyện ngắn chủ yếu kể về các nhân vật dân gian hư cấu như tiên, yêu tinh, thần tiên, quỷ, người lùn, người khổng lồ, người cá và thường là có phép thuật.

Một số câu chuyện cổ tích hay và nổi tiếng trên thế giới như Nàng tiên cá, Bạch Tuyết và Bảy chú lùn, Cô bé lọ lem, Công chúa ngủ trong rừng.

Princess /prɪnˈses/: Công chúa.

Witch /wɪtʃ/: Phù thủy.

Hunter /ˈhʌntər/: Thợ săn.

Genie /ˈdʒiːni/: Thần đèn.

Crown /kraʊn/: Vương miện.

Castle /ˈkɑːsl/: Lâu đài.

Carriage /ˈkærɪdʒ/: Cỗ xe ngựa.

A collection of fairy tales was first published in 1812 by the Grimm brothers.

Một bộ sưu tập truyện cổ tích lần đầu tiên được xuất bản năm 1812 bởi anh em nhà Grimm.

We are not generally retelling the exact same story as the fairy tale world.

Chúng tôi không định kể lại câu chuyện chính xác trong thế giới cổ tích.

Marshall firmly believed that Into the Woods was a fairy tale for the post generation.

Marshall tin chắc rằng Khu rừng cổ tích sẽ là một câu chuyện cổ tích cho các thế hệ sau.

Some legends mention violent giants living on the earth before the flood.

Một số truyện cổ tích nói đến những người khổng lồ hung bạo sống trên đất trước khi có trận nước lụt.

I thought they were fairy tales for children until I was gifted that film.

Tôi cứ tưởng là chuyện cổ tích cho con nít cho đến khi tôi xem đoạn phim đó.

Bài viết cổ tích tiếng Anh là gì được tổng hợp bởi giáo viên trung tâm tiếng Anh SGV.

Sự Tích Con Cóc – Truyện Cổ Tích Hàn Quốc

Một ngày mùa xuân, Hổ thức dậy và nhìn thấy một chú Cóc đang ngồi chồm hỗm trên đám cỏ phía dưới tảng đá mà nó đang nằm tắm nắng. Hổ gọi to: – Cóc, mày đang làm gì vậy? Cóc trả lời: – Chào anh Hổ, tôi đang hít thở không khí trong lành của mùa xuân. Thời tiết thật đáng yêu. Hãy nghe tiếng chim hót. Nó khiến cho tôi muốn làm một thứ gì đó thật đặc biệt. Hổ nhảy xuống khỏi tảng đá: – Ồ! Ta hiểu. Chúng ta hãy làm gì đó đi. Cóc hỏi: – Anh có ý kiến gì không? Hổ trả lời: Một lát sau nó đứng lên và nói: – Mày biết không, vào mùa xuân con người thường làm bánh và đi leo núi, họ ăn bánh và ngắm phong cảnh. Cóc đồng tình: – A, đúng rồi, ý kiến đó rất hay. Thế là Hổ và Cóc bắt đầu làm bánh gạo với đậu đỏ, hạt dẻ, vừng và táo. Chúng háo hức cho bánh vào nồi hấp và đặt lên bếp. Khi mùi bánh thơm ngào ngạt bắt đầu bốc lên Hổ nghĩ tới việc phải chia bánh với Cóc. Nó nói: – Chúng ta đánh cuộc đi. – Đánh cuộc hả? Con Hổ xảo trá đáp lại: – Ừ. Một sự đánh cuộc sẽ khiến mọi việc hay hơn. Người nào thắng sẽ được ăn cả chỗ bánh. Cóc cảm thấy rất khó chịu. Nó hiểu rằng Hổ muốn nhằm mục đích gì. Nhưng nó cũng hiểu rằng nếu nó không đồng ý cá cược thì Hổ sẽ nổi giận và có thể sẽ điên lên mà ăn thịt cả nó nên nó đành trả lời: – Được thôi. Chúng ta sẽ đánh cuộc sao đây? – Chúng ta sẽ lăn cái nồi hấp này từ đỉnh núi xuống và người nào bắt kịp nó thì sẽ được ăn cả nồi bánh được không? Cóc biết rằng chẳng có cách nào nó có thể thắng được Hổ nhưng nó chợt nghĩ được ý hay và nó nói với Hổ: – Đó thật là một ý kiến rất thú vị. Người thắng cuộc sẽ được ăn tất cả chỗ bánh. Hổ cười đắc thắng: – Tất nhiên rồi. Khi bánh trong nồi đã chín, Hổ và Cóc cùng mang nồi bánh lên đỉnh núi. Tới đỉnh núi Hổ hô to: – Sẵn sàng chạy! Và lăn mạnh cái nồi xuống rồi nó phi theo xuống núi nhanh như một mũi tên. Bánh tung ra khỏi nồi, khi cái nồi lăn xuống núi, Cóc vừa nhảy xuống vừa nhặt bánh ăn, từng cái, từng cái một. Tới khi xuống chân núi thì bụng nó đã căng tới mức tưởng sắp vỡ ra. Xuống tới chân núi Hổ thèm thuồng liếm mép và vồ lấy cái nồi. Nó nhìn vào trong nồi và giật mình. NÓ tức giận đập cái nồi xuống đất vỡ tan. Mãi sau Cóc mới xuống tới chân núi, nó ngọt ngào hỏi Hổ: – Bánh có ngon không? Anh ăn hết rồi à? Hổ gầm lên: – Trong nồi chẳng có cái bánh nào. Cóc ngây thơ hỏi: – Không còn cái nào ư? – Ừ chẳng còn cái nào hết. Tôi điên quá đập vỡ cái nồi rồi. Cóc đáp: Hổ cầm lấy cái bánh và hét lên: – Mày dám nghĩ là Chúa Sơn Lâm này lại ăn cái bánh rơi vãi sao? Nó ném mạnh cái bánh xuống đất. Cái bánh bật lên và đập vào lưng Cóc. Đó là lý do tại sao lưng Cóc lại có những chấm lấm tấm như hạt gạo còn bụng nó lúc nào cũng căng như cái trống.

Nguồn: Tổng hợp

Sách đọc nhiều nhất

Review sách hay, sách hay nên đọc tại Sách Hay 24H