Truyện Cổ Tích Là Những Giấc Mơ Đẹp

Đề bài: Có người nhận xét: Truyện cổ tích là những giấc mơ đẹp. Em hãy giải thích nhận xét trên và dùng truyện Chử Đồng Tử để chứng minh.

– Truyện cổ tích tồn tại qua nhiều thế kỉ. Cho đến hôm nay, truyện cổ tích vẫn là người bạn của mọi người nhất là của tuổi thơ. Vì sao truyện cổ tích lại có sức sống lâu đến như vậy? Có nhiều lí do nhưng trong đó chủ yếu là do “truyện cổ tích là những giấc mơ đẹp” của người xưa.

– Truyện “Chử Đồng Tử” đã phản ánh giấc mơ về cuộc hôn nhân vượt ra ngoài khuôn khổ lễ giáo phong kiến, phản ánh truyền thống nhân đạo và khát vọng dân chủ của nhân dân ta.

1. Giải thích nhận xét: “Truyện cổ tích là những giấc mơ đẹp”

a. Truyện cổ tích là truyện kể về con người trong mối quan hệ xã hội và sinh hoạt gia đình trong thời cổ. Không phải lúc nào những mối quan hệ xã hội, những cảnh sống… cùng được như mong muốn của mọi người. Những lúc ấy, người ta thấy cần phải giải bày, thể hiện những ước mơ đó. Khi đó, họ tìm đến truyện cổ tích. Do đó, có thể nói: Truyện cổ tích là những truyện có hư cấu kì ảo về mọi hiện tượng trong giấc mơ.

b. Người xưa gởi gắm trong truyện cố tích những ước mơ về một cuộc sống sung túc, đầy đủ, no ấm qua những hình tượng niêu cơm Thạch Sanh ăn hết lại đầy, chiếc hài có thể bước một bước đến bảy dặm, chiếc thảm bay… Họ còn gởi gắm trong truyện cố tích về một cuộc sống tự do, hạnh phúc, công bằng ở nơi đó cái thiện luôn chiến thắng, chính nghĩa ắt sẽ thắng gian tà, những người tốt, giỏi, hiền đều được sung sướng (giàu có, lên ngôi vua, lấy công chúa, hoàng tử…), như Tấm dù chết đi sống lại vẫn gặp vua và trở thành hoàng hậu. Sọ Dừa cởi bỏlốt xấu xí, tìm được vợ và hưởng một cuộc sống sung sướng… những ước mơ đó rất đẹp, rất cao quý.

c. Những ước mơ trên không thể thực hiện được trong đời sống hàng ngày, nó chỉ có thể thực hiện được trong các truyện cổ tích nhờ lực lượng siêu nhiên, như thần, tiên, bụt… Điều đó có nghĩa là ở thời kì trước, thời xưa những điều ấy bao giờ cũng chỉ là một giấc mơ, không bao giờ biến thành sự thật. Tuy nhiên, chính nhờ có những giấc mơ đẹp mà truyện cổ tích trở thành niềm an ủi, thành nguồn động viên, thành người bạn đường tin cậy của nhân dân, từ thế kỉ này sang thế kỉ khác. Đó là một trong những lí do để nó trường tồn.

2. Giấc mơ đẹp trong truyện Chứ Dồng Tứ

a. Truyện Chử Đồng Tử kể lại cuộc hôn nhân giữa công chúa Tiên Dung và Chử Đồng Tử, đây là mối tình đẹp.

– Đẹp vì đó là mối tình thật sự của hai trái tim bất chấp mọi luật lệ khắc nghiệt của xã hội phong kiến về đẳng cấp, về địa vị xã hội. Tiên Dung khi lấy Chử Đồng Tử không có một băn khoăn nào vì mình là công chúa đã lấy anh thuyền chài nghèo rớt mồng tơi. Nàng bất chấp sự ngăn cản của vua cha, đó là một thiếu nữa có bản lĩnh.

– Đẹp vì đó còn là mối tình phóng khoáng diễn ra trong khung cảnh thiên nhiên rộng rãi, tươi đẹp, tình và cảnh hòa làm một. Tiên Dung gặp Chử Đồng Tử một cách bất ngờ tại một vùng trời nước bao la. Mối tình của họ đến cũng đột ngột và phóng khoáng như thiên nhiên nơi ấy.

– Đẹp vì nó hợp lòng người nên được từ người đến tiên giúp đỡ. Nhờ vậy mà vợ chồng Tiên Dung đã sống những ngày hạnh phúc, rồi lại cùng đắc đạo trở về cõi vĩnh hằng (bay lên trời).

b. Mối tình Tiên Dung và Chử Đồng Tử tuy đẹp nhưng không thể trở thành truyện thật trong xã hội xưa. Nó bị tư tưởng môn đãng hộ đôi ngăn cản. Trong truyện vua cha rất tỏ ra giận dữ Tiên Dung. Ông ta lập tức thi hành những biện pháp trừng phạt: gọi binh lính và người hậu vệ, rồi lại sai quân đến đánh. Đại diện cho quyền lực, sự từ chối của vua cha có ý nghĩa là sự từ chối của xã hội đối với mối tình Tiên Dung và Chử Đồng Tử.

– Mối tình Tiên Dung và Chử Đồng Tử chỉ có thể trở thành hiện thực trong câu truyện cố tích trên. Vì thế trải qua nhiều thế kỉ nó vẫn là giầc mơ đẹp. Mối tình ấy là lời phản kháng, lên án gay gắt lễ giáo phong kiến, là tiếng nói khao khát tự do yêu thương, đặt tình yêu lên tất cả (lễ giáo, quyền lực, tiền tài, danh vọng…). Nó trở thành tiếng nói khát vọng nhân đạo, dân chủ của nhân dân ta.

– Truyện cố tích xuất hiện từ thời xa xưa và tồn tại đên ngày nay vì nhiều lí do, trong đó có lí do truyện đã phản ánh những ước mơ đẹp của nhân dân.

– Truyện Chử Đồng Tử đã nêu lên giấc mơ của người xưa về những mối tình vượt lên trên mọi thứ lễ giáo, quyền lực.

Giải Thích Chứng Minh Truyện Cổ Tích Là Những Giấc Mơ Đẹp

Giải thích chứng minh Truyện cổ tích là những giấc mơ đẹp – Bài làm 1

Kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam vô cùng phong phú, mang vẻ đẹp nhân văn kỳ diệu. Là thần thoại, truyền thuyết hay cổ tích, tuy ra đời trong nhừng điều kiện xã hội khác nhau, nhưng tất cả đều phản ánh một cách đậm đà đời sống tinh thần và vật chất của cộng đồng, giải thích một cách hồn nhiên, chất phác các hiện tượng, nguồn gốc các sự việc quanh ta, ghi lại những thăng trầm, những biến cố lịch sử dân tộc qua bao huyền thoại bi hùng, tráng lệ. Có nhiều truyện cổ dân gian đã nói lên những khát vọng của nhân dân từ những thuở xa xưa về sức mạnh để chiến thắng mọi kẻ thù, ước mơ về ấm no, hạnh phúc. Đúng như có ý kiến cho rằng: Truyện cổ dân gian đem đến cho ta những giấc mơ đẹp.

Đọc truyện cổ dân gian, có lúc ta tưởng mình đang nằm mơ, gặp Thần Tiên, Bụt, Phật… Những giấc mơ đẹp ấy đối với tuổi thơ chúng ta thật là diệu kỳ, hạnh phúc. Truyện cổ dân gian như đã chắp cánh cho tâm hồn thơ bé chúng ta bay lên, để chúng ta được sống trong những khoảnh khắc thần tiên.

Thế giới các vị thần trong thần thoại đáng yêu. Ai đã một lần đến thăm núi Kinh Thiên ở tỉnh Hải Dương, dấu tích của thần Trụ Trời thuở hỗn độn mang lại đều có một cảm giác lâng lâng khó tả. Mỗi độ thu về, ngắm bầu trời xanh mênh mông, tôi lại mơ, lại nhớ, lại xôn xao trong lòng câu hát: Ông tát bể – Ông kể sao – Ông đào sông – Ông trồng cây – Ông xây rú – Ông trụ trời.

Và câu đồng dao:

Núi cao sông cũng còn dài

Năm… năm báo oán, đời đời đánh ghen?

Lễ vật Sơn Tinh dâng lên vua Hùng sao nhiều và quý hiếm thế? Voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao… là những báu vật đâu dễ tìm, đâu dễ có? Núi Tản Viên cao chót vót ở phía tây kinh thành Thăng Long là dấu tích, là chiến công hoá phép “nâng núi lên” của Sơn Tinh bảo vệ người đẹp, đánh thắng Thuỷ Tinh. Sơn Tinh là ước mơ của người xưa muốn có sức mạnh và phép lạ để chiến thắng lũ lụt thiên tai. Sơn Tinh … cũng là giấc mơ đẹp cho em, cho bạn, cho tuổi thơ gần xa:

Núi Tản như con gà cổ đại

Khổng lồ, mào đỏ thắp bình minh Mênh mông gọi nắng cho mùa chín

Từ buổi Sơn Tinh thắng Thuỷ Tinh.

Sẽ bất hạnh biết bao, nếu không được đọc, được nghe kể chuyện cổ? Sẽ hạnh phúc biết bao khi được nghe bà kể chuyện cổ tích? Vì đó là ngọn nguồn những giấc mơ đẹp tuổi thơ:

Chuyện con cóc, nàng tiên Chuyện cô tấm ở hiền Thằng Lý thông ở ác…

Mái tóc bà bị bạc

Con mắt bà thì vui

Bà kể đến muôn đời

Củng không sao hết chuyện…

(Xuân Quỳnh)

Chú Sọ Dừa chỉ có mắt, mũi…, không chân tay, chỉ biết lăn lông lốc mà không biết đi. Chú lại biết chăn bò giỏi. Chú tìm đâu ra mười tấm lụa đào, mười con lợn béo, mười vò rượu tăm và một chĩnh vàng cốm để làm sính lễ cưới cô út xinh đẹp con gái phú ông? Sọ Dừa… chàng trai lịch sự,… quan trạng nguyên…, một sự hoá thân nhiệm mầu đã trở thành giấc mơ đẹp của nhân dân, của những con người nhỏ bé” bất hạnh trong cõi đời.

Con chim phượng hoàng biết nói, rất tình nghĩa với lời hứa: Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng; ông tiên râu tóc bạc phơ đã ban cho anh Khoai câu thần chú Khắc nhập! Khắc xuất!; ông Bụt và đàn chim sẻ, chiếc giày thêu với hình ảnh cô Tấm xinh tươi gặp Hoàng tử trong ngày hội…, tất cả đều trở thành mơ ước tuyệt đẹp của nhân dân ta từ bao đời nay về ấm no hạnh phúc, về một sự đổi đời, cổ tích thần kỳ đã nuôi lớn tâm hồn ta bằng bao nhiêu niềm tin, bao ước mơ đẹp:

Ta Lớn lên bằng niềm tin rất thật

Biết bao nhiêu hạnh phúc có trên đời

Dẫu phải khi cay đắng dập vùi

Rằng cô Tấm cũng về làm hoàng hậu

Cây khế chua có đại bằng đến đậu

Chim ăn rồi trả ngon ngọt cho ta….

( Đất nước – Nguyễn Khoa Điềm)

Truyện cổ dân gian, nhất là truyền thuyết, với các yếu tố kỳ diệu, bao sự tích và hình tượng thần kỳ đã trở thành những bài ca yêu nước tráng lệ đem đến cho ta nhiều giấc mơ đẹp. Cái vươn vai của Thánh Gióng, từ một chú bé lên ba bỗng trở thành một tráng sĩ oai phong lẫm liệt. Ngựa sắt phun lửa, Gióng vung roi sắt đánh cho lũ giậc Ân tơi bời. Roi sắt gãy, Gióng nhổ tre làm vũ khí quật cho lũ giặc chết như ngả rạ. Đánh tan giặc,

Gióng đã bay về trời. Gióng là mơ ước của tuổi thơ Việt Nam ngàn đời:

Mỗi chủ bé đều nằm mơ ngựa sắt

Mỗi con sông đều muốn hoá Đại Bàng

(“Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?” – Chế Lan Viên)

Sự tích trăm trứng đã nhập hồn ta từ thuở trong nôi theo lời ru của mẹ. Lưỡi gươm khắc hai chữ “Thuận Thiên” là vật báu của Long Quân cho Lê Lợi mượn để đánh giặc Minh. Cái lẫy nỏ thần Kim Quy bắn một phát giết hàng van giặc. Triệu Quang Phục chống giặc Lương ở đầm Dạ Trạch được Rồng vàng tháo móng chân đem cho, và dặn: Cắm lên mủ đầu mâu, sẽ đánh đâu thắng đấy! Nhờ thế mà Triệu Quang Phục chém được đầu tướng giặc Dương Sằn, thu phục lại giang sơn.

Truyền thuyết lịch sử tuy mang yếu tố hoang đường nhưng nó đã diễn ra một cách bay bổng thần kỳ sức mạnh con người Việt Nam qua những chặng đường lịch sử vẻ vang. Ta lớn lên cùng truyền thuyết. Ta tự hào và yêu đất nước. Một đất nước có “nghìn núi trăm sông diễm lệ…”. Một đất nước có Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên… oai hùng.

Chúng ta sinh ra và lớn lên -dưới trời xanh và hương lúa được nuôi dưỡng bằng tình thương của cha, bằng sữa mẹ, bằng sự dạy bảo của thầy giáo. Tiếng đàn bầu, khúc dân ca, câu thơ Kiều của Nguyễn Du.. đã trở thành mảnh tâm hồn mỗi chúng ta. Bạn có nghe tiếng gà gáy trên hoang đảo:

ò… ó … o…

Phải thuyền quan trạng rước cô về?

Bạn còn có nhớ câu hát dân gian trong ngày hội Gióng:

Đứa thì sứt mủi, sứt tai

Đứa thì chết nhóc bởi gai tre ngà!

Thật vậy, truyện cổ dân gian đã đem đến cho ta những giấc mơ đẹp. Ta như nghe tiếng thầm thì của ông cha từ ngàn xưavọng nói về. Và ta càng yêu thêm truyện cổ. Một quyển sách ước. Một cây bút thần. Cái đàn thần và cái niêu cơm thần… của Thạch Sanh… đã trở thành mơ ước và hành trang trong tâm hồn mỗi em thơ.

Một dân tộc cần cù, dũng cảm, thông minh và tài hoa mới có một kho tàng truyện cổ dân gian đậm đà hấp dẫn thế.

Giải thích chứng minh Truyện cổ tích là những giấc mơ đẹp – Bài làm 2

I. Yêu cầu:

– Truyện cổ tích tồn tại qua nhiều thế kỉ. Cho đến ngày nay, truyện cổ tích vẫn là người bạn của mọi người nhất là của tuổi thơ. Vì sao truyện cổ tích có sức sống lâu bền như vậy? Có nhiều lí do nhưng trong đó có lí do: “truyện cổ tích là những giấc mơ đẹp” của người xưa.

– Truyện Chử Đồng Tử đã phản ánh ước mơ về cuộc hôn nhân vượt ngoài khuôn khổ lễ giáo phong kiến, phản ánh truyền thống nhân đạo và khát vọng dân chủ của nhân dân ta.

II. Giải quyết vấn đề

1. Giải thích nhận xét: “Truyện cổ tích là những giấc mơ đẹp”.

a. Truyện cổ tích là truyện kể về con người trong những mối quan hệ xã hội và sinh hoạt gia đình thời cổ. Không phải lúc nào những mối quan hệ xã hội, những cảnh sống… cũng được như mong muốn của mọi người. Những lúc ấy, người ta thấy cần phải giãi bày, phản ánh những ước mơ đó. Họ tìm đến truyện cổ tích. Do đó có người đã nói: truyện cổ tích là những truyện có hư cấu kì ảo về một hiện tượng trong giấc mơ.

b. Người xưa gởi gắm trong truyện cổ tích những ước mơ về một cuộc sống sung túc, đầy đủ no ấm qua những hình tượng niêu cơm Thạch Sanh ăn hết lại đầy, chiếc hài có thể bước một bước bảy dặm, chiếc thảm bay… Họ còn gởi gắm trong truyện cổ tích về một cuộc sống tự do, hạnh phúc, công bằng ở đó thiện luôn thắng ác, chính nghĩa thắng gian tà, những người tốt, giỏi, hiền đều được sung sướng (giàu có, lên ngôi vua, lấy công chúa, hoàng tử…) như Tấm dù chết đi sống lại vẫn gặp vua và trở thành hoàng hậu. Sọ Dừa sẽ cởi bỏ lốt xấu xí, tìm được vợ và hưởng cuộc sống sung sướng…

Những ước mơ đó rất đẹp, rất cao quý.

c. Những ước mơ trên không thể thực hiện được trong đời sống hàng ngày, nó chỉ có thể thực hiện được trong các truyện cổ tích nhờ các lực lượng siêu nhiên, như thẫn, tiền, bụt., điều đó có nghĩa là ở thời trước, thời xưa những điều ấy bao giờ cũng chỉ là một giấc mơ, không bao giờ biến thành sự thật, tuy nhiên, chính nhờ có những giấc mơ đẹp mà chuyện cỗ tích trở thành niềm an ủi, thành nguồn động viên, thành người bạn đường tin cậy của nhân dân, từ thế kỉ này sang thế kỉ khác. Đó là một trong những lí do để nó trường tồn.

2. Giấc mơ đẹp trong truyện “Chử Đồng Tử”

a. Truyện Chử Đồng Tử kể lại cuộc hôn nhân giữa công chúa Tiên Dung và Chử Đồng Tử, đây là mối tình đẹp.

– Đẹp vì nó là mối tình thật sự của hai trái tim bất chấp mọi luật lệ khắc nghiệt của xã hội phong kiến về đẳng cấp, về địa vị xã hội. Tiên Dung khi lấy Chử Đồng Tử không có một băn khoăn nào vì mình là công chúa đã lấy anh chàng thuyền chài nghèo rớt mồng tơi. Nàng bất chấp sự ngăn trở của vua cha, đó là một thiếu nữ có bản lĩnh.

– Đẹp vì nó là mối tình phóng khoáng diễn ra trong khung cảnh thiên nhiên rộng rãi, tươi đẹp, tình và cảnh hòa làm một. Tiên Dung gặp Chử Đồng Tử một cách bất ngờ tại một vùng trời nước bao la. Mối tình của họ đến cũng đột ngột và phóng khoáng như thiên nhiên nơi ấy.

” Đẹp vì nó hợp lòng người nên được từ người đến tiên giúp đỡ. Nhờ vậy vợ chồng Tiên Dung đã sống những ngày hạnh phúc, rồi lại cùng đắc đạo và trở về với cõi vĩnh hằng (bay lên trời).

b. Mối tình,Tiên Dung và Chử Đồng Tử tuy đẹp nhưng không thể trở thành truyện thật trong xã hội xưa. Nó bị tư tưởng phong kiến môn đăng hộ đối ngăn cản. Trong chuyện vua cha tỏ ra rất giận dữ Tiên Dung. Ông ta lập tức thi hành những biện pháp trừng phạt: gọi binh lính và người hầu về, rồi lại sai quân đến đánh. Đại diện cho quyền lực, sự từ chối của vua cha có nghĩa là sự từ chối của xã hội đối với mối tình Tiên Dung – Chử Đồng Tử.

– Mối tình Tiên Dung và Chử Đồng Tử chỉ có thể trở thành hiện thực trong câu chuyện cổ tích trên. Vì thế trải qua nhiều thế kỉ nó vẫn là giấc mơ đẹp. Mối tình ấy là lời phản kháng, lên án gay gắt lễ giáo phong kiến, là tiếng nói khao khát tự do yêu thương, đặt tình yêu lên trên tất cả (lễ giáo, quyền lực, tiền tài, danh vọng…). Nó trở thành tiếng nói của khát vọng nhân đạo, dân chủ của nhân dân ta.

III. Kết thúc vấn đề

– Truyện cổ tích xuất hiện từ thời xa xưa và tồn tại đến ngày nay vì nhiều lí do, trong đó có lí do truyện đã phản ánh những ước mơ đẹp của nhân dân.

– Truyện Chử Đồng Tử đã nêu lên giấc mơ của người xưa về những mối tình vượt lên trên mọi lễ giáo, quyền lực.

Chứng Minh Tấm Cám Là Một Truyện Cổ Tích Thần Kì

1. Có sự tham gia của yếu tố kì ảo, nhân vật thần kì:

Trong truyện vai trò của yếu tố kì ảo được chia làm 2 giai đoạn:

– Giai đoạn 1 (lúc Tấm chịu áp bức): giúp đỡ Tấm

+ Nhân vật thần kì Bụt có vai trò quan trọng: Tấm mất phần thưởng yếm đỏ → cho cá bống; mất cá bống → cho khăn, quần áo đẹp…cho cơ hội đổi đời; mất giày → cho cơ hội gặp vua và trở thành hoàng hậu…

+ Con vật thần kì: chim sẻ; vật thần kì: lọ tro xương cá bống… → giúp Tấm

2. Kết cấu đặc trưng là 3 phần: ban đầu là hoàn cảnh khổ sở buồn tủi của nhân vật chính, trải qua 1 chuỗi khó khăn thử thách cuối cùng được hạnh phúc…

– Hoàn cảnh của Tấm:

+ Mẹ chết, bố đi bước nữa

+ Thường xuyên bị mẹ con Cám hành hạ, bắt làm việc cực nhọc

– Quá trình đấu tranh giành hạnh phúc:

+ Vào cung vua vẫn bị mẹ con Cám tìm cách hãm hại (phân tích sơ lược)

+ Tấm đấu tranh bằng các lần hoá thân

→ Rút cục thì Tấm trở lại làm hoàng hậu và mẹ con Cám bị trừng trị.

– Mâu thuẫn gia đình mẹ ghẻ – con chồng: mẹ Cám thôi thì tìm mọi cách bắt Tấm làm việc nặng nhọc, luôn đối xử bất công; Tấm vào cung làm hoàng hậu mà vẫn khiến phải Tấm chết (chặt cây cau…) (kể và phân tích)

– Mâu thuẫn giữa Tấm và Cám: Cám lừa lấy giỏ tép của Tấm, tranh mất ngai hoàng hậu, Tấm hoá thành cái gì cũng tìm cách loại bỏ (kể và phân tích),…

→ Mâu thuẫn trong xã hội giữa cái thiện và ác → khẳng định thiện luôn thắng ác

1. Có sự tham gia của yếu tố kì ảo, nhân vật thần kì:

Trong truyện vai trò của yếu tố kì ảo được chia làm 2 giai đoạn:

– Giai đoạn 1 (lúc Tấm chịu áp bức): giúp đỡ Tấm

+ Nhân vật thần kì Bụt có vai trò quan trọng: Tấm mất phần thưởng yếm đỏ → cho cá bống; mất cá bống → cho khăn, quần áo đẹp…cho cơ hội đổi đời; mất giày → cho cơ hội gặp vua và trở thành hoàng hậu…

+ Con vật thần kì: chim sẻ; vật thần kì: lọ tro xương cá bống… → giúp Tấm

2. Kết cấu đặc trưng là 3 phần: ban đầu là hoàn cảnh khổ sở buồn tủi của nhân vật chính, trải qua 1 chuỗi khó khăn thử thách cuối cùng được hạnh phúc…

– Hoàn cảnh của Tấm:

+ Mẹ chết, bố đi bước nữa

+ Thường xuyên bị mẹ con Cám hành hạ, bắt làm việc cực nhọc

– Quá trình đấu tranh giành hạnh phúc:

+ Vào cung vua vẫn bị mẹ con Cám tìm cách hãm hại (phân tích sơ lược)

+ Tấm đấu tranh bằng các lần hoá thân

→ Rút cục thì Tấm trở lại làm hoàng hậu và mẹ con Cám bị trừng trị.

– Mâu thuẫn gia đình mẹ ghẻ – con chồng: mẹ Cám thôi thì tìm mọi cách bắt Tấm làm việc nặng nhọc, luôn đối xử bất công; Tấm vào cung làm hoàng hậu mà vẫn khiến phải Tấm chết (chặt cây cau…) (kể và phân tích)

– Mâu thuẫn giữa Tấm và Cám: Cám lừa lấy giỏ tép của Tấm, tranh mất ngai hoàng hậu, Tấm hoá thành cái gì cũng tìm cách loại bỏ (kể và phân tích),…

→ Mâu thuẫn trong xã hội giữa cái thiện và ác → khẳng định thiện luôn thắng ác

Mỗi Câu Chuyện Cổ Tích Là Giấc Mơ Đẹp Của Người Lao Động Xưa. Bằng Truyện Cổ Tích Tấm Cám, Anh/ Chị Hãy Làm Sáng Tỏ Ý Kiến Trên

I. Mở bài

(Học sinh tự làm)

II. Thân Bài 1. Thân phận và con đường đến với hạnh phúc của Tấm:

– Mồ côi, bị mẹ ghẻ và cô em gái cùng cha hắt hủi, đày đọc, làm lụng suốt ngày.

– Bản chất của mâu thuẫn giữa Tấm và Cám:

+ Mâu thuẫn gia đình:

→ Trong hai mâu thuẫn trên, mâu thuẫn Tấm – Cám là chủ yếu xuyên suốt toàn truyện, liên tục và ngày càng căng thẳng quyết liệt. Mâu thuẫn dì ghẻ con chồng chỉ đóng vai trò bổ sung, phụ trợ, không liên tục.

→ Mâu thuẫn phát triển thành xung đột một mất một còn và dẫn đến thiện thắng ác, ác bị trừng trị đích đáng, thiện thỏa nguyện ước mơ.

b. Con đường đến với hạnh phúc của Tấm:

* Tấm luôn bị mẹ con Cám đối xử độc ác:

– Đi bắt tép :

Tấm chăm chỉ bắt được giỏ tép đầy, bị Cám lười biếng lừa chị đổ tép sang giỏ mình → về nhận thưởng (yếm đỏ).

– Đi chăn trâu :

Gạt Tấm đi chăn đồng xa, Cám giết cá bống (người bạn an ủi của Tấm) ăn thịt.

– Đi xem hội :

Mẹ con Cám trắng trợn trộn thóc với gạo bắt Tấm nhặt → dập tắt niềm vui được đi hội của Tấm

Được Bụt giúp, Tấm được đi hội và trở thành vợ vua.

Mẹ con Cám căm tức, tìm mọi cách hãm hại Tấm khi cô trở thành vợ vua.

– Tấm là người bất hạnh, ý thức được thân phận chỉ biết chịu đựng, yếu đuối thụ động, nhường nhịn và khóc.

– Mẹ con Cám: độc ác, nhẫn tâm, nhỏ nhen, lừa dối và hãm hại Tấm.

– Tấm luôn được sự trợ giúp của thần: Bụt xuất hiện an ủi, ban tặng vật thần kỳ:

+ Tấm mất yếm → Bụt cho cá bống

+ Tấm mất cá bống → Bụt chỉ cho hi vọng đổi đời

+ Tấm không được đi hội → chim sẻ đến giúp

+ Tấm bị chà đạp → Bụt đưa Tấm trở thành vợ vua.

( Hình ảnh con bống, con gà, đàn chim sẻ, chiếc giày có ý nghĩa quan trọng. Đặc biệt hình ảnh chiếc giày đánh rơi là một trong những chi tiết, hình ảnh độc đáo bởi nó không chỉ là sự tưởng đẹp mà là còn cầu nối, cái cớ để so sánh với cám, dẫn đến Tấm gặp Vua, trở thành Hoàng hậu,mở màn hoàng loạt tội ác của mẹ con Cám.)

– Ý nghĩa, vai trò của các thế lực thần linh:

Bênh vực kẻ yếu, đem lại công bằng, dân chủ, hạnh phúc của những người lao động nghèo khổ trong xã hội

Tấm đạt được hạnh phúc thể hiện triết lý dân gian : “ở hiền gặp lành”.

2. Cuộc đấu tranh quyết liệt giành lại hạnh phúc của Tấm:

– Mẹ con Cám: chặt gốc cau giết Tấm → đưa thế Cám vào thế chị vào làm hoàng hậu →giết chim vàng anh (hóa thân lần 1 của Tấm) vướt lông ra vườn → chặt cây xoan đào (hóa thân lần 2 của Tấm) → đốt khung cửi (hóa thân lần 3 của Tấm) → sợ hãi khi Tấm trở về → muốn xinh đẹp như Tấm.

– Khi bị mẹ con Cám tiêu diệt đến cùng (giế tTấm), Tấm đã quyết liệt phản kháng.

(Tấm về lo dỗ bố → trèo cau → ngã chết → hóa thành vàng anh → hót mắng Cám → bị giết → hóa cây xoan đào → bị chặt đóng khung cửi → khung cửi nguyền rủa tội cướp chồng của Cám → bị đốt → mọc thành cây thị → có một quả vàng thơm → về ở với bà lão → từ quả thị bước ra thành cô Tấm xinh đẹp → trở lại làm hoàng hậu.)

– Bị giết, Tấm vùng lên giành hạnh phúc, cô hoá thân thành: vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, cây thị (quả vàng thơm)

+ Bốn lần bị giết, bốn lần hóa thân của Tấm chứng minh sức sống mãnh liệt không thể bị tiêu diệt. Cái thiện không chịu chết oan ức trong im lặng, vùng dậy huỷ diệt cái ác.

→ Cuộc đấu tranh gay gắt giữa cái Thiện và cái Ác.

→ Quan niệm thiện thắng ác và tinh thần lạc quan,niềm tin vào chân lí, công bằng xã hội của người Việt xưa.

3. Ý nghĩa kết thúc truyện:

– Kết thúc truyện có hậu thể hiện triết lý: ” gieo gió gặp bão”, “ở hiền gặp lành”, “ở ác gặp dữ” và bài học cảnh báo: Đừng gây mâu thuẫn, thù oán.

– Con người phải tự mình bảo vệ hạnh phúc của mình, không tìm hạnh phúc ở cõi nào khác mà tìm hạnh phúc thực sự ngay ở cõi đời này.

– Hành động trả thù của Tấm là đích đáng vì mẹ con cám đã nhiều lần hại Tấm hòng tiêu diệt Tấm đến cùng, không cho Tấm con đường sống. Tấm phải trả thù thì mới có thể tồn tại. Mặt khác, mâu thuẫn của Tấm và mẹ con Cám không còn là mâu thuẫn gia đình mà là mâu thuẫn xã hội. Mâu thuẫn giữa thiện và ác, giữa người bóc lột và người bị bóc lột. Tóm lại, Tấm trả thù là để đòi lại quyền sống, quyền làm người.

III. Tổng kết

– Đằng sau xung đột dì ghẻ con chồng, truyện cổ tích Tấm Cám phản ánh mâu thuẫn sâu sắc giữa cái Thiện và cái Aùc, giữa nhân dân lao động và giai cấp bóc lột. Qua cách giải quyết xung đột, truyện nêu cao khát vọng, ước mơ được sống tự do, hạnh phúc, công bằng và tinh thần lạc quan của nhân dân lao động về cuộc sống.

– Đặc sắc nghệ thuật của truyện thể hiện ở sự chuyển biến của của hình tượng nhân vật: từ yếu đuối thụ động đế kiên quyết đấu tranh giành lại sự sống, hạnh phúc cho mình

Truyện Cổ Tích Tấm Cám

Giới thiệu truyện cổ tích Tấm Cám

Truyện cổ tích Tấm Cám đã rất quen thuộc với nhiều người từ thủa còn nằm trong nôi, phản ánh mong ước thiết tha của nhân dân thời xưa: “Ở hiền gặp lành”. Câu chuyện ngợi ca sức sống bất diệt và sự trỗi dậy mạnh mẽ của con người trước sự vùi dập của cái ác, đồng thời thể hiện niềm tin của nhân dân vào công lí và chính nghĩa.

Hiện nay trên internet có khá nhiều phiên bản khác nhau, Thế giới cổ tích xin giới thiệu bản kể có từ khá lâu, được trích nguồn trong “Văn học trích giảng lớp 7 – phổ thông” – năm 1973 của Đỗ Thận. Bản kể này được xem là gắn liền với tuổi thơ của rất nhiều thế hệ.

Lưu ý khi kể chuyện Tấm Cám

Do đối tượng độc giả của Thế giới cổ tích hướng đến là các bạn nhỏ, nên chúng tôi có sự sàng lọc kỹ lưỡng. Ở phần cuối của truyện cổ tích Tấm Cám không phải là một cái kết đầy “kinh dị” như trong phiên bản gốc.

Có thế vẫn còn nhiều ý kiến, quan điểm và tranh luận khác nhau về vấn đề này, nhưng những người biên tập của Thế giới cổ tích đã rất cân nhắc khi lựa chọn đoạn kết như vậy.

Tấm và Cám là hai chị em cùng cha khác mẹ. Tấm là con vợ cả, Cám là con vợ lẽ. Bố mất rồi, Tấm phải ở với dì ghẻ[1] là mẹ đẻ ra Cám.

Một hôm, dì ghẻ đưa cho hai chị em mỗi người một cái giỏ và bảo đi bắt tôm bắt tép. Mụ hứa rằng: “Đứa nào bắt được nhiều thì tao cho một cái yếm đỏ”.

Tấm và Cám cùng mang giỏ ra đồng. Tấm bắt được nhiều. Cám bắt được ít, Cám bảo chị:

Tấm tưởng thật, hụp xuống. Cám ở trên bờ trút lấy tôm tép của Tấm vào giỏ mình, rồi mang về trước. Tấm lên dòm vào giỏ, thấy mất cả, mới khóc hu hu, Bụt[2] hiện lên rồi hỏi: “Làm sao con khóc?” Tấm kể hết sự tình cho Bụt nghe rồi lại khóc, Bụt bảo Tấm nhìn xem trong giỏ còn gì không? Thì ra còn lại một con cá bống. Bụt liền bảo Tấm đem cá bống về thả xuống giếng nuôi, và dặn mỗi ngày cho ăn hai lần, mỗi lần một bát cơm. Khi cho bống ăn, phải gọi:

“Bống bống bang bang, Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta, Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa[3] nhà người”.

Tấm nghe lời Bụt dặn, đem bống về nuôi. Cứ đến bữa cơm thì hớt một bát, giấu vào thùng gánh nước, mang ra cho bống. Nghe lời gọi dịu dàng của Tấm, bống lại ngoi lên mặt nước ăn cơm. Ít lâu sau, mụ dì ghẻ biết liền sai Cám đi rình. Cám đi rình xem hết đầu đuôi, học lỏm được câu gọi bống, rồi về mách mẹ. Một hôm, mụ dì ghẻ lừa bảo Tấm:

Tấm tưởng thật, nghe lời dì ghẻ, hôm sau dắt trâu đi chăn ở cánh đồng xa làng. Thừa dịp đó, mẹ con Cám đem cơm ra giếng, đổ xuống và cũng lặp lại câu mà Tấm thuoèng nói khi gọi bống. Bống cũng bơi lên mặt nước, thì bị mẹ con Cám bắt lấy mang về làm thịt ăn.

Đến bữa cơm, sau khi ăn xong, theo lệ thường, Tấm mang thùng đi gánh nước và đem cơm cho bống. Nhưng bận này, gọi mãi không thấy bống đâu mà chỉ có một cục máu nổi lên. Thấy vậy Tấm ngồi khóc hu hu. Bụt hiện lên hỏi: “Làm sao con khóc?” Tấm thưa lại sự việc xảy ra. Bụt liền bảo: “Người ta đã bắt bống của con ăn thịt mất rồi. Con về nhà nhặt xương nó, mua lấy bốn cía lọ bỏ vào đấy rồi đem chôn xuống bốn chân giường con nằm”.

Tấm nghe lời Bụt, về nhà tìm xương bống; tìm mãi không thấy. Bỗng có một con gà trông gáy lên rằng:

Tấm lấy nắm thóc ném cho gà. Gà bới một chỗ thì thấy ngay xương cá, Tấm vội nhặt lấy, cho vào bốn cái lọ và chôn xuống chân giường.

Được ít lâu, nhà vua mở hội[4]. Hai mẹ con Cám sắm sửa quàn lành áo tốt đi xem hội. Mụ dì ghẻ không muốn cho Tấm đi, liền trộn một đấu thóc với một đấu gạo, bắt Tấm ngồi nhặt kỳ xong mới được đi. Tấm ở nhà tủi thân lại ngồi khóc. Bụt lại hiện lên hỏi. Tấm kể đầu đuôi câu chuyện, Bụt liền bảo: “Để ta cho một đàn chim sẻ xuống nhặt giúp cho con”. Tấm sợ chim ăn mất thóc gạo, sẽ phải đòn. Bụt biết ý, nói: “Rồi ta cấm chim không cho nó ăn thóc gạo của con. Con đừng sợ”.

Đàn chim sẻ sà xuống nhặt, chỉ nháy mắt là xong. Nhưng Tấm ngồi vào xó nhà, lại khóc. Bụt lại hỏi: “Làm sao con khóc?” Tấm thưa: “Con không có quần áo đẹp để mặc đi xem hội”. Bụt bảo: “Con đi đào những lọ chôn ở chân giường lên, muốn có quần áo đẹp như thế nào cũng có”. Tấm vui mừng đào các lọ lên, quả nhiên thấy chẳng những là có quần áo đẹp mà còn có cả một đôi giày thêu kim cương[5], một con ngựa hồng rất đẹp. Tấm mừng quá, thắng bộ[6] vào, đi giày, cưỡi ngựa ra xem hội.

Từ đằng xa, Cám trông thấy Tấm ăn mặc đẹp đẽ, vội mách mẹ. Mụ dì ghẻ không tin, nói: “Con Tấm nhà mà mà thắng bộ như thế à? Nó đương ngồi nhặt thóc, còn lâu!”.

Lúc Tấm đi qua bờ hồ, vô ý sẩy chân, đánh rơi một chiếc giày xuống nước. Vừa lúc ấy, voi nhà vua đi qua, bỗng dừng lại kêu rầm rĩ. Vua sai lính lội xuống hồ xem có gì cản trở. Quân lính xuống hồ mò, tìm một lúc, vớt được một chiếc giày đàn bà thêu rất xinh, liền đưa lên trình vua. Vua ra lệnh truyền tin cho tất cả đàn bà, con gái, ai đi xem hội mà ướm[7] giày vừa chân thì vua lấy làm vợ. Các cô thi nhau ướm thủ. Chẳng ai đi vừa cả. Mãi sau đến lượt Tấm, thì giày với chân vừa như in. Vua mừng lắm, sai thị vệ lấy kiệu rước nàng về cung.

Đến ngày giỗ bố, Tấm về nhà làm giỗ. Mụ dì ghẻ lập tâm giết Tấm, bèn sai Tấm trèo lên hái cau để mang cúng bố. Tấm trèo lên gần tới ngọn, mụ ở dưới đẵn gốc cây. Thấy động, Tấm vội hỏi: “Dì làm gì ở dưới ấy thế?” Mụ liền nói dối: “Dì đuổi kiến cho con đấy” và cứ tiếp tục chặt. Tấm đang hái cau thì cây đổ, Tấm ngã xuống ao cạnh đấy, chết đuối. Mụ dì ghẻ vội lấy quần áo đẹp của Tấm mặc vào cho Cám và đưa Cám bào cung[8] thế chị.

Tấm chết hóa ra con vàng anh, bay đến đậu ở vườn nhà vua. Thấy Cám đang giặt quần áo cho vua, chim vàng anh liền hót:

Đến lúc Cám đem phơi, chim vàng anh lại hót:

Vua nghe thấy tiếng chim hót, lạ lắm, bèn nói với chim:

Vàng anh nghe thấy thế, tức khắc bay bào tay áo vua. Từ đó, vua thả chim vào một cái lồng sơn son thiếp vàng, hằng ngày vui chơi với chim, không đoái hoài gì đến Cám nữa.

Cám tức lắm, vội về nhà kể cho mẹ nghe. Mẹ nó xui bắt chim làm thịt ăn. Cám liền về cung sai lính giết chim ăn, rồi vứt lông ra vườn. Lông chim lại hóa ra hai cây xoan đào tươi tốt. Vua thấy cây đẹp, lấy làm thích, sai mắc võng đào[9] để nằm chơi hóng mát.

Cám lại về mách mẹ. Theo lời mẹ xui, Cám lại bắt lính đẵn hai cây xoan xuống, lấy gỗ đóng khung cửi. Nhưng cứ mỗi lần Cám ngồi vào dệt vải thì cái khung cửi lại kêu lên:

Cám sợ quá về nhà mách mẹ, mẹ lại xui sai lính đốt khung cửi đi, rồi đổ tro ra đường cái. Không ngờ đám tro lại hóa ra một cây thị xanh tươi, cây thị chỉ có một quả thật to, thơm nức.

Một hôm, có bà lão hàng nước qua đấy thấy quả thị liền nói:

Bà lão vừa dứt lời, quả thị rụng ngay vào bị. Bà vội vàng mang về nhà, để ở đầu giường, lấy làm quí lắm. Ngày nào bào lão cũng phải đi chợ mua hàng về bán. Cứ mỗi lần ở chợ về, bà lão đều ngạc nhiên, vì thấy có sẵn cơm canh để phần tươm tất, lại có cả chậu nước nữa… Cửa nhà rất sạch sẽ, gọn gàng.

Bà rắp tâm[10] rình xem. Một hôm, đi chợ được nửa đường, bà liền quay trở lại. Gần đến nhà, bà rón rén tới sát của, nhìn qua khe liếp[11], thấy một cô gái đẹp như tiên đang làm bếp. Bà lão mừng quá, chạy vào ôm chầm lấy. Vì lộ cơ[12], cô tiên không biến đi được nữa.

Bà lão tìm quả thị, thì chỉ thấy còn cái vỏ, liền xé vụn ra rồi giấu đi.

Từ bấy giờ, hai người sống với nhau và thương yêu nhau như hai mẹ con.

Một hôm, vua ra hồ dạo chơi, qua hàng nước, thấy có một bà lão phúc hậu, liền ghé vào. Vua bỗng nhìn thấy những miếng trầu têm rất khéo và đẹp, giống như những miếng trầu trước Tấm vẫn têm. Vua mới hỏi bà lão: “Trầu này ai têm?”. Bà lão bảo chính tay bà têm. Nhưng vua gặng hỏi[13] mãi, bà đành thú thật là con gái bà têm. Vua ước ao được xem mặt. Bà lão gọi con gái ra, thì chính là Tấm. Được gặp vợ, vua mừng rỡ, sai quân lính rước về cung.

Về đến cung, Tấm kể rõ sự tình cho nhà vua nghe, nhà vua tức giận sai người đem mẹ con Cám lên xử tội, nhưng Tấm thương cảm, xin nhà vua tha cho họ. Nhà vua truyền chỉ đuổi mẹ con Cám ra ngoài cung. Vừa ra khỏi thành, giông tố ập đến, mẹ con Cám bị sét đánh chết giữa đồng.[14]

Theo bản của Đỗ Thận Nguồn: Văn học trích giảng lớp 7 – phổ thông (1973)

Chú thích trong truyện cổ tích Tấm Cám

Dì ghẻ: cũng là mẹ ghẻ, mẹ kế, tức là người vợ sau của cha kế tiếp người vợ cả đã chết.

Bụt: tức Phật. Theo trí tưởng tượng của người đời xưa, Bụt thường hiện lên để giúp đỡ người tốt gặp phải hoạn nạn.

Cháo hoa: cháo trắng, nấu toàn bằng gạo, hạt gạo nở to ra.

Mở hội: ý nói tổ chức ngày hội vui.

Kim cương: một thứ đá quí, rất cứng và trong suốt, thường dùng làm đồ trang sức… Giày thêu kim cương: giày có đính các hạt kim cương lóng lánh trông rất đẹp.

Thắng bộ vào: ý nói diện quần áo đẹp.

Ướm: thử xem có vừa không.

Cung: chỉ nơi ở của vua, còn gọi là cung cấm, cung điện.

Võng đào: cũng nói võng điều, võng màu đỏ. Đời trước vua quan mới được dùng võng đào.

Rắp tâm: có ý định, lập tâm.

Liếp: phên đan bằng nứa hay tre.

Lộ cơ: ý nói lộ bị mật

Gặng hỏi: cũng nói hỏi gặng, hỏi đi hỏi lại cho kỳ được.

Để phù hợp với lứa tuổi độc giả, Ban Biên tập Thế giới cổ tích đã thay đổi lại nội dung đoạn kết.

Soạn bài Tấm Cám lớp 10

Truyện cổ tích Tấm Cám từ lâu đã được đưa vào giảng dạy trong sách giáo khoa ngữ văn lớp 10, tập 1. Đây là vừa là truyện cổ tích thần kỳ, vừa là truyện cổ tích thế sự tiêu biểu và đặc sắc trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Cũng như phần lớn các truyện cổ tích thế sự khác, Tấm Cám đề cao công lí đồng thời là điều mong ước thiết tha của nhân dân lao động thời xưa trong mối quan hệ xã hội là: “Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác”.

“Mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời dì ghẻ lại thương con chồng.”

Về hình thức nghệ thuật, truyện Tấm Cám mang nhiều hình ảnh, chi tiết ý vị, đậm đà màu sắc dân tộc và dân gian: từ hình ảnh các loài vật gần gữi như con cá bống nuôi trong giếng, con gà mái bới xương, đàn chim sẻ nhặt thóc, con voi của nhà vua, con chim vàng anh biết nói… cho tới hình ảnh các loài cây cối quen thuộc như cây cau trong vườn nhà Tấm, cây xoan đào trong cung vua, cây thị bên bờ đường, quả thị của bà lão hàng nước… và cả những hình ảnh các đồ vật hàng ngày như chiếc giỏ xúc tép của Tấm, chiếc khung cửi bằng gỗ xoan đào, cái võng của nhà vua, miếng trầu têm cánh phượng của bà lão hàng nước, và đặc biệt là chiếc giày nạm kim cương xinh đẹp của Tấm, v.v… Tất cả với những hình ảnh đầy ý vị đó đều gắn bó rất mật thiết với từng bước phát triển số phận của Tấm – nhân vật trung tâm trong truyện, và đều để lại cho mọi người những ấn tượng sâu sắc, kì thú, khó có thể quên được.

Ngoài ra, những lời ăn tiếng nói có vần điệu của người và nhận vật trong truyện (gà, chim, khung cửi, quạ…) theo phong cách dân gian lại tạo cho câu chuyện một không khí giao cảm hài hòa giữa thế giới tự nhiên và con người trong thời cổ xưa, do đó có sức lôi cuốn lạ thường đối với người nghe truyện.

Phân tích nhân vật tấm trong truyện Tấm Cám

Mụ dì ghẻ: Cách bóc lột của mụ (dùng cái yếm đỏ để dử Tấm). Lòng độc địa nham hiểm của mụ (bắt bống của Tấm: bống tượng trưng cho cái gì? Lấy rựa đẵn gốc cau, để cho con mình thay Tấm làm Hoàng hậu, giết chim vàng anh, chặt cây xoan đào, đốt khung cửi, kỳ tiêu diệt được Tấm mới thôi).

Tấm: Tính cách hiền lành, chất phác, cần cù, nhẫn nại, yêu lao động, luôn luôn chịu đựng và hy vọng. Tấm đối với bà lão hàng nước, Tấm đối với chồng như thế nào?

Cám: Đại diện cho nhân vật phản diện, ghen ăn tức ở. Là chi em cùng cha khác mẹ, nhưng Cám đã dùng những thủ đoạn nào với Tấm?

Bụt: Bụt tượng trưng cho cái gì? Trong chuyện đời xưa, tại sao thường có sự can thiệp của Trời, Phật, Bụt?

Ông vua: Quan niệm của nông dân trong thời phong kiến đối với vua như thế nào? Tại sao? Tác phong của nhà vua trong truyện (vào quan uống nước, ăn trầu, lập hoàng hậu bất cứ với người giai cấp nào).

Những nhân vật phụ: Gà, Quạ cũng đứng về phe chính nghĩa.

Bố cục khi soạn bài Tấm Cám

Câu chuyện có thể chia làm 4 đoạn chính với nội dung cụ thể như sau:

Đoạn 1: Mẹ con Cám dối trá, cướp công của Tấm

Đoạn này bước đầu giới thiệu với chúng ta các nhân vật chính trong truyện (Tấm, Cám, mụ dì ghẻ và ông Bụt) trong cuộc tranh chấp đầu tiên mở đầu cho mối mâu thuẫn sẽ ngày càng phát triển gay gắt, quyết liệt trong các đoạn sau.

Đoạn 2: Tấm đi dự hội đánh rơi chiếc giày đẹp, được nhà vua kén làm vợ.

Ở đoạn này, kịch tính bắt đầu phát triển cao hơn, dồn dập hơn, chủ yếu qua hai tình tiết chính: một là việc Bụt tận tình giúp đỡ cho Tấm đi dự hội của nhà vua mở, hai là việc Tấm đánh rơi chiếc giày đẹp, là đầu mối cho toàn bộ diễn biến câu chuyện đầy kịch tính và đầy yếu tố kì lạ về sau.

Đoạn 3: Mẹ con Cám gian ác, nham hiểm, quyết tâm hãm Tấm để cướp đoạt hạnh phúc của Tấm.

Trọng tâm của truyện cổ tích Tấm Cám là ở đoạn này. Tình tiết của câu chuyện diễn biến mỗi lúc một phức tạp, sôi nổi, kịch tính của truyện cũng phát triển ngày càng cao hơn, thể hiện cuộc xung đột diễn ra hết sức gay gắt giữa một bên là mrj con mụ dì ghẻ quyết “hủy diệt” cuộc sống của Tấm để cướp đoạt bằng được hạnh phúc của nàng, và một bên là Tấm chống cự lại quyết liệt dã tâm nham hiểm của hai người họ (“Kẽo cà kẽo kẹt, lấy tranh chồng chị, chị khoét mắt ra”…); dù phải “hóa kiếp” tới bốn lần thành chim muông, cây cỏ, cuối cùng Tấm vẫn hiện trở lại thành người để giành lại quyền sống và quyền hưởng hạnh phúc.

Đoạn 4: Mẹ con Cám bị trừng phạt đích đáng.

Tấm hiện hình trở lại thành người và lại được vua đón về cung. Nhưng vẫn còn Cám – đứa em cùng cha khác mẹ hết sức bất nhân bất nghĩa, vẫn còn mụ dì ghẻ cực kì độc ác, nham hiểm; nghĩa là vẫn còn mâu thuẫn và mâu thuẫn càng phát triển lên tới đỉnh cao. Sau bốn lần thất bại liên tiếp, liệu Tấm sẽ đối xử với mẹ con Cám như thế nào? Trừng trị hay khoan dung?