Truyện Cổ Tích Sự Tích Bánh Chưng Bánh Dày / Top 3 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Kovit.edu.vn

Sự Tích Bánh Chưng Bánh Dày

Bấy giờ là thời kì trị vì của vua Hùng. Nhưng vì tuổi vua càng ngày càng già hơn, thời gian ngồi ngai vàng cũng đã đằng đẵng biết bao năm trời. Có thể thấy được sức khỏe của bản thân ngày càng suy yếu hơn trước, nhà vua muốn chọn lấy một người để nối ngôi của mình. Nhà vua có tất cả là hai mươi người con trai. Và họ đều đã khôn lớn cả rồi. Vua nghĩ bụng:

– Nói về tài năng thì cũng nhiều đứa trội. Chính vì vậy nên ta phải lựa chọn thật cẩn thận mới được. Đặc biệt là phải làm sao cho bọn chúng không tranh giành với nhau.

Đó chính là điều mà nhà vua quan tâm, lo lắng nhất. Sau cùng, may là nhờ viên quân hầu hiến kế, nhà vua liền ra quyết định sẽ mở cuộc thi, căn cứ vào kết quả để mà lựa chọn người thừa kế ngai vàng. Vua Hùng cho gọi tất cả hoàng tử đến. Khi mà mọi người đã tề tựu đông đủ thì nhà vua mới phán rằng:

– Cha cũng biết mình sắp gần đất xa trời rồi. Nay cha muốn chọn một người trong số các con để truyền ngôi lại. Bây giờ các con, mỗi người hãy kiếm hoặc là tự làm lấy một món ăn để dâng lên cúng tổ tiên. Người nào có được món ăn ngon và vừa với ý ta nhất thì ta sẽ chọn người đó.

Sau khi nghe xong lời vua cha nói thì đám hoàng tử lập tức đua nhau sai người đi đến khắp mọi nơi để mà tìm lấy thức ăn quý. Bọn họ hết lên ngàn rồi lại xuống biển, lần mò chẳng sót một nơi. Bất kể là nghe nói có thứ gì ngon, lạ thì họ sẽ cố gắng tìm cho ra.

Trong số các hoàng tử thì có chàng hoàng tử thứ mười tám tên là Liêu. Từ khi còn nhỏ đã mồ côi mẹ, vì thế Liêu phải sống những ngày rất cô đơn cho đến tận khi trưởng thành. Trong khi anh em của chàng vội vã chạy đôn chạy đáo khắp nơi để tìm lấy những thứ của ngon vật lạ khắp nhân gian, thì chàng Liêu lại vẫn ung dung nằm khểnh tại nhà.

Không phải là chàng không muốn đi tìm, mà là chẳng có người nào giúp đỡ. Từ nay đến ngày thi chỉ còn lại đúng ba ngày, nhưng chàng Liêu vẫn chưa chuẩn bị được thứ gì cả.

Đêm hôm ấy, chàng Liêu vắt tay ngang trán rồi cố nhớ lại mấy bữa ăn ngon mà chàng từng được đến tham dự. Chàng cứ mải mê suy nghĩ mà ngủ quên từ lúc nào chẳng hay. Chàng mơ màng trông thấy mình và hai mươi mốt người anh em đang thi làm bánh cùng với nhau. Mỗi người đều có được một gian bếp nhỏ do nhà vua chuẩn bị sẵn.

Liêu cũng chưa biết là nên làm việc gì đầu tiên, đột nhiên từ trên trời có một vị nữ thần bay xuống và giúp chàng. Nữ thần nói với chàng:

– To lớn nhất thiên hạ chẳng gì sánh được với trời đất, mà quý báu nhất trên trần gian này chẳng gì bằng được gạo cả. Ta cũng đừng làm quá nhiều, chỉ cần làm đủ hai thứ bánh mang ý nghĩa nhất là được rồi. Hãy nhặt cho tôi chỗ nếp ấy, sau đó tìm cho tôi thêm ít đậu nữa.

Và rồi Liêu trông thấy nữ thần cứ lần lượt lấy ra từng tàu lá xanh và rộng. Sau đó nữ thần vừa gói bánh lại vừa giảng giải cho chàng:

– Bánh này là tượng trưng cho đất. Mà đất thì có cây, có núi rừng, có đồng ruộng nên màu phải xanh và hình dáng thì phải vuông vắn mới được. Trong bánh thì phải cho thịt, cho đỗ, ý nghĩa chính là đất có cỏ cây, có muông thú… Sau đó thì lấy nếp thơm kia đồ cho thật dẻo và giã ra để làm thứ bánh tượng trưng cho trời, có màu trắng, và hình dáng phải tròn mà khum khum như là vòm trời vậy…

Đến khi tỉnh giấc, Liêu bắt tay vào làm hai món bánh mà nữ thần đã dạy chàng ở trong mộng.

Cái ngày mà các hoàng tử đua nhau đem các món ăn về Phong Châu dự thi là ngày vô cùng náo nhiệt và đông vui ở đây. Người đến xem đông ngùn ngụt. Dân chúng ở khắp mọi miền đất nước đều đổ xô về để được tham dự cái Tết hiếm có này: mở đầu là cuộc thi về các món ăn giữa hai mươi hai vị hoàng tử, và kết thúc chính là lễ đăng quang ngai vàng của vị vua mới.

Khi mặt trời vừa mọc, vua Hùng ngồi trên kiệu đi tới để làm lễ tế gia tiên. Nơi này cờ quạt, chiêng trống tưng bừng đến mức khiến mọi người đều cảm thấy nhức mắt rộn tai. Tất cả mọi người đều rất trông chờ, mong ngóng cho đến khi các giám khảo kia bình giá món ăn mà các hoàng tử dâng lên.

Giờ phút mà mọi người mong đợi cuối cùng cũng đến. Nhưng tất cả chả phượng, nem công, gan tê, tay gấu… mà các vị hoàng tử khác dâng lên đều chẳng thể sánh với hai món bánh có vẻ quê mùa của chàng hoàng tử Liêu.

Ban đầu lúc chàng dâng cỗ lên thì tất cả mọi người đều bĩu môi, lắc đầu, khuôn mặt ai cũng bày ra vẻ chê bai rõ rệt. Tuy nhiên, khi mà nếm xong thì thái độ của họ hoàn toàn thay đổi, không có bất cứ người nào lại không gật đầu mà tán thưởng cả. Ông Lạc tướng cũng phải xoa tay mà khen ngợi rằng:

– Đây chính là hương vị khác thường mà lại được làm từ chính những thứ tầm thường nhất.

Còn vua Hùng lại vô cùng ngạc nhiên khi nếm được miếng bánh lạ này. Nhà vua cũng ngắm nghía kĩ lưỡng tất cả những tấm bánh chưa được bóc khác. Sau đó thì vua cho gọi Liêu lên điện, rồi hỏi chàng về cách thức để làm ra những chiếc bánh này. Chàng thành thật tâu lên toàn bộ, kể cả giấc mộng hôm ấy nữa.

Đến quá trưa ngày hôm ấy thì vua Hùng công bố kết quả cuộc thi với tất cả con trai của mình: hoàng tử thứ mười tám đã giành được giải nhất và cũng sẽ là người nối ngôi vua. Vua Hùng đem hai món bánh kia giơ lên cao cho tất cả mọi người cùng nhìn xem, vua cũng nói rõ hết căn cớ, lí do mà mình lựa chọn món ấy là món đứng đầu trong tất cả các mâm cỗ ngày hôm nay. Nhà vua phán:

– Thứ bánh này chẳng những quý và ngon, nó còn mang rất nhiều ý nghĩa vô cùng đặc biệt nữa. Nó không chỉ bày tỏ được lòng hiếu thảo của con cái, tôn trọng kính yêu cha mẹ như là trời đất, mà nó còn chứa đựng tình thương yêu đối với ruộng đồng quê hương. Hơn nữa loại bánh này lại rất dễ làm, nó được làm từ những hạt ngọc quý giá nhất trong số những hạt ngọc trong trời đất này, mà tất cả những hạt ngọc này mọi người lại đều có thể tự làm ra được. Người có thể nghĩ ra được loại bánh này thì hẳn phải là người rất có tài…

Kể từ đó trở về sau thì hằng năm mỗi khi Tết đến là mọi người lại theo tục lệ mà làm hai thứ bánh ấy, họ gọi đó là bánh chưng và bánh giầy để dâng lên thờ cúng cho gia tiên.

Còn hoàng tử Liêu khi lên ngôi vua, lấy hiệu là Tiết Liêu Vương, là Hùng Vương đời thứ mười bảy. Nhưng vì cuộc thi ấy mà có không ít hoàng tử sinh ra lòng ghen ghét, ác cảm và đố kị với chàng Lang Liêu. Bởi vậy nên khi vua cha qua đời, người nào cũng giữ khư khư phần đất của mình. Sau đó họ còn làm hàng rào gỗ để rào xung quanh phần đất của mình làm kế cố thủ, cũng có ý muốn tranh giành cùng Tiết Liêu Vương.

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Truyện Cổ Tích Sự Tích Bánh Chưng Bánh Giầy

Phát biểu cảm nghĩ về truyện cổ tích Sự tích bánh chưng bánh giầy – Bài làm 1

Hàng ngày khi ăn cơm với các hạt gạo trắng mẩy, nở xốp và nóng hổi, em lại nghĩ đến câu chuyện Sự tích bánh chưng bánh giầy.

Chúng ta ai ai cũng biết hạt gạo đáng quý biết bao. Gạo như nột người mẹ hiền nuôi sống hàng trăm đàn con nhỏ, gạo rất giản dị mà quý nhất trên dời, chỉ có những người gần gũi và tạo ra hạt gạo, vất vả tối ngày trên đồng ruộng bao la, làm cho cây lúa từ xanh non chuyển thành màu vàng óng, cho những hạt thóc nặng trĩu bông thì mới được thần linh mách bảo, chỉ dẫn như Lang Liêu.

Các anh của Lang Liêu, tức mười chín ông Lang khác, hì hục ngày đêm miệt mài tìm sơn hào hải vị chỉ để mong được lên làm vua, họ đâu biết rằng có một thứ rất quen thuộc và nuôi sống họ hàng ngày chính là hạt gạo, có lẽ họ coi cái đó chỉ là sự bình thường vô dụng. Lang Liêu đang lo lắng không biết làm món gì để cúng Tiên Vương vì trong nhà chàng chỉ có lúa, gạo, khoai sắn thì được thần đến mách bảo: Hãy lấy gạo làm bánh mì lễ Tiên Vương. Lang Liêu thấy lời thần thật đúng, ai cũng có thể làm ra lúa gạo miễn là cần cù, chịu khó, các thứ của ngon vật lạ kia ăn mãi rồi cũng chán, còn lúa gạo thì không bao giờ chúng ta cảm thấy chán. Vua Hùng là người yêu nước thương dân, yêu ruộng lúa, đồng khoai nên hiểu sâu sắc ý nghĩa của hat gạo. Bánh hình vuông tượng đất, có cây cỏ muông thú, bánh hình tròn là biểu tượng của trời.

Đó là hai loại bánh, bánh chưng và bánh giày, mà ta thường ăn vào dịp Tết ngày nay. Tên của hai loại bánh này giản dị mà chính xác. Đúng, người nối ngôi vua phải nối chí vua và Lang Liêu lên làm vua là vô cùng xứng đáng. Những thứ thịt, đậu, gạo tròn mẩy, căng trắng rất tươi tốt, ngon thơm còn nói lên một đất nước hùng mạnh, lúc nào cũng vui tươi, thơm nồng như vườn cây đầy nhựa sống không bao giờ héo tàn, thối rữa.

Cùng với hạt gạo đáng quý nên cả nước ta từ đó chăm nghề trồng trọt, cày sâu cuốc bẫm và lúa gạo từ đó càng phát triển hơn, càng đẹp đẽ hơn và càng thơm dẻo hơn. Em thấy một ông vua tốt, hiền thực sự phải một lòng vì dân vì nước, coi nước là nhà, coi dân là con như vua Hùng và Lang Liêu.

Bây giờ, mỗi khi ngồi bên bếp lửa, thưởng thức vị ngon thơm quyến rũ của hai loại bánh quý giá này, em lại nghĩ tới câu chuyện Sự tích bánh chưng, bánh giầy. Em rất tôn trọng những người lam lũ một nắng hai sương để làm nên lúa gạo nuôi sống con người, vì vậy em sẽ hạn chế làm vãi cơm từ hôm nay.

Phát biểu cảm nghĩ về truyện cổ tích Sự tích bánh chưng bánh giầy – Bài làm 2

Trong truyện cổ dân gian, sự xuất hiện của Thần, Tiên, Bụt, Phật,… đã tạo nên yếu tô” hoang đường, yếu tô” kì diệu. Những nhân vật siêu nhiên ấy nhằm giúi đỡ, độ trì người nghèo, bênh vực kẻ yếu, ban phép lạ cho người tốt, trừng phạt bọn xấu xa, gian ác trong cuộc đời. Truyện cổ “Sự tích bánh chưng, bánh giầy” cũng có nhân vật Thần. Thần xuất hiện trong giấc mộng, mách bảo cho Lang Liêu làm bánh để lễ Tiên Vương. Nói rằng: “Nhờ có Thần mách bảo mà Lang Liêu mới được nối ngôi vua” tuy đứng, nhưng chưa thật đầy đủ. Chưa thật đầy đủ ở điểm nào? Vì ý kiến ấy chưa đề cập đến yếu tố con người, vai trò con người. Đó là Lang Liêu và nhà vua.

Lang Liêu là một ông hoàng “chỉ chăm lo việc đồng úng trồng lúa, trồng khoai…”. Đó là một ông hoàng giàu nhân đức, rất cần cù, sông gần dân, biết trọng nghề nông là nghề căn bản của dân tộc. Ông mồ côi mẹ, một ông hoàng bị “lép vế” trong hoàng tộc nên mới được Thần hiến kế và độ trì. Chuyện kể Lang Liêu gặp Thần trong giấc mộng, cố nghĩa là Lang Liêu được lòng dân, bởi lẽ: “Thần bảo như nhân bảo”.

Lang Liêu là một con người rất sáng tạo. Thần chỉ nói về giá trị của gạo, và mách bảo Lang Liêu nên lấy gạo để làm bánh, chứ không chỉ vẽ cách thức cụ thể làm bánh ra sao – Thế nhưng Lang Liêu đã biết lấy gạo nếp đem vo sạch, lấy đỗ đãi và thịt lợn làm nhân, lấy lá giong gói thành bánh hình vuông đem nấu chín; biết đồ gạo nếp, giã nhuyễn, nặn thành hình tròn. Lang Liêu đã sử dụng chất liệu hương vị sẩn có của nhà nông, của quê hương xứ sở, sáng tạo thành 2 thứ bánh rất ngon. Anh rất xứng đáng nhận mọi phần thưởng cao quý.

Bánh của Lang Liêu sáng tạo nên không chỉ ngon mà còn mang nhiều ý nghĩa sâu xa, tốt đẹp. Bánh giầy tượng Trời; bánh chưng tượng Đất. Thịt mỡ, đậu xanh, lá giong là tượng cầm thú, cây cỏ muôn loài. Có thể nói đó là sự hòa hợp giữa con người với đất trời, thiên nhiên tạo vật. Lá giong bọc ngoài, mĩ vị để trong là ngụ ý đùm bọc nhau. Vua Hùng qua chiếc bánh chưng xanh gói bằng lá giong mà nêu cao bài học thương yêu đoàn kết. Nhà vua ngầm nhắc các hoàng tử và quần thần bài học giữ nước. Bánh chưng bánh giầy với biểu tượng cao quý ấy đã thể hiện cái tâm và cái tài, nhất là lòng trung hiếu của Lang Liêu. Lang Liêu đã làm vừa ý vua cha, biết nôi chí vua cha, xứng đáng được vua Hùng truyền ngôi báu, có Tiên Vương chứng giám.

Truyện cổ tích này đã giải thích nguồn gốc và tính nhân văn của bánh chưng, bánh giầy. Truyện đã biểu lộ niềm tự hào về một nét tuyệt đẹp: hương vị của đất nước ta rất phong phú, hương vị Tết cổ truyền dân tộc rất đậm đà. Và đó chính là bản sắc tốt đẹp của nền văn hóa, nền văn hiến Việt Nam.

Sâu xa hơn nữa, “Sự tích bánh chưng, bánh giầy” còn thể hiện ý thức lấy nước, lấy dân làm gốc, coi trọng nghề nông, quý hạt gạo, biết ơn tổ tiên, kính Trời, Đất với tất cả tấm lòng hồn hậu, chân thành của con người Việt Nam chúng ta,

Phát biểu cảm nghĩ về truyện cổ tích Sự tích bánh chưng bánh giầy – Bài làm 3

Truyền thuyết là một thể loại tiêu biểu của văn học dân gian, ông cha ta đã sáng tác rất nhiều các tác phẩm truyền thuyết, phong phú về đề tài cũng như nội dung, từ truyền thuyết người anh hùng, truyền thuyết về nòi giống, truyền thuyết dựng nước…Trong đó có một mảng lớn viết về các thói quen sinh hoạt cũng như nguồn gốc của các phong tục, thói quen đó. Truyền thuyết “Bánh chưng bánh giày” là câu chuyện giải thích sự ra đời của bánh chưng bánh giầy. Đồng thời cũng phản ánh được thành tựu của nền nông nghiệp lúa nước, thể hiện thái độ đề cao lao động, đề cao nghề nông và thể hiện được truyền thống thờ kính trời đất, tổ tiên của nhân dân ta.

Truyền thuyết bánh chưng bánh giầy xoay quanh việc truyền ngôi của Hùng Vương cho những người con trai của mình. Vì ngôi vị không thể tùy ý lựa chọn theo mong muốn chủ quan mà cần tìm ra người tài giỏi nhất, phù hợp nhất nên Hùng Vương đã ra lời chỉ dụ cho hai mươi người con trai của mình ” …Năm nay nhân lễ Tiên Vương, ai làm vừa ý ta, ta sẽ truyền ngôi cho”. Vua Hùng đã không lựa chọn con trai trưởng nối ngôi mình như bao vị vua Hùng khác, ngài đã đặt lợi ích của quốc gia dân tộc lên trên hết, đánh giá khách quan đúng tài năng, đức độ của từng người. Qua đó mới thực hiện truyền ngôi, ta có thể thấy đây là một vị vua rất sáng suốt, công minh, tạo điều kiện cho các con của mình thể hiện tài năng, đồng thời cũng chọn được người mà mình ưng ý nhất, có thể mang lại cho dân chúng cuộc sống ấm no, thái bình.

Khi đã nhận được chỉ dụ của vua cha, các hoàng tử đều cố gắng hết sức làm vừa ý vua cha, ai cũng mong mình được truyền ngôi báu, nhưng không biết ý vua cha như thế nào nên họ chỉ biết “…đua nhau làm cỗ thật hậu, thật ngon đem đến lễ Tiên Vương”. Các hoàng tử đều rất tất bật, ngược xuôi lo chuẩn bị mọi thứ tốt nhất. Riêng chỉ có Lang Liêu là không như vậy, chàng không vui vẻ, tất bật lên rừng xuống biển chuẩn bị như các anh của mình mà rất buồn rầu. Lang Liêu là con trai thứ mười tám của vua Hùng, mẹ chàng xưa kia bị vua cha ghẻ lạnh, rồi ốm chết. Nên, so với những người anh em của mình thì Lang Liêu có phần thiệt thòi hơn rất nhiều, cả về địa vị cũng như tình cảm của vua cha.

Nhận lệnh của vua cha, Lang Liêu đã rất lo lắng, bởi chàng không biết mang những lễ vật gì đến lễ Tiên Vương, cũng là dâng lên vua cha để tỏ lòng thành. Chàng không biết đến nhiều những thứ của ngon, vật lạ cũng không biết chuẩn bị những mâm cỗ thịnh soạn, sang trọng như các anh của mình. Bởi, từ khi trưởng thành chàng đã ra sống riêng thì chàng chỉ chăm lo cho chuyện đồng áng, trồng các loại nông sản như: lúa, khoai…Có thể nói những loại nông sản này gần gũi với cuộc sống của chàng nhất, cũng là có giá trị với chàng nhất, nhưng nếu đem những thứ này đến lễ Tiên Vương thì có chút tầm thường. Tuy nhiên, vì chàng là người hiền lành, tốt bụng nên đã nhận được sự giúp đỡ của thần.

Trong một đêm nằm ngủ chàng đã mộng thấy thần đến, và cho chàng những gợi ý quý báu cho lễ Tiên Vương sắp tới. Theo lời của thần thì “…trong trời đất,không có gì quý bằng hạt gạo. Các thứ khác tuy ngon, nhưng hiếm,mà người không làm ra được. Còn lúa gạo thì mình trồng lấy, trồng nhiều được nhiều. Hãy lấy gạo làm bánh mà lễ Tiên Vương”. Câu nói của thần vừa sự giúp đỡ đối với hoàng tử Lang Liêu, song đồng thời đây cũng là lời của dân chúng, thể hiện được thái độ coi trọng của mình đối với hạt gạo. Bởi gạo chính là sản phẩm của nền nông nghiệp lúa nước. Nên, đối với những người nông dân thì gạo vô cùng giá trị, đó là thành tựu của nền nông nghiệp. Mượn lời của thần, các tác giả dân gian muốn đề cao vai trò của gạo trong cuộc sống sinh hoạt của người dân, cũng như thái độ trân trọng của nhân dân đối với sản phẩm lao động đó.

Được sự gợi nhắc của thần, Lang Liêu đã rất vui mừng, càng nghĩ càng cảm thấy lời của thần đúng. Chàng bắt tay ngay vào làm món bánh thần nói đến để mang đến lễ Tiên Vương, đầu tiên đó là việc lựa chọn nguyên liệu làm bánh “chàng bèn chọn thứ gạo nếp thơm lừng, trắng tinh hạt nào hạt nấy tròn mẩy, đem vo thật sạch, lấy đậu xanh, thịt lợn làm nhân, dùng lá dong trong vườn gói thành hình vuông, nấu một ngày một đêm thật nhừ”. Món bánh này được làm từ nguyên liệu chính là gạo nếp, sản phẩm mà Lang Liêu đã cần mẫn làm ra. Các thứ nguyên liệu khác như thịt lợn, lá dong đều là những nguyên liệu sẵn có, có thể dễ dàng tìm kiếm trong cuộc sống của con người. Lang Liêu sử dụng những nguyên liệu sẵn có trong cuộc sống cùng với lời hướng dẫn làm một thứ bánh làm từ gạo thì chàng đã làm ra một món bánh đầu tiên, món bánh mà sẽ dâng lên vua cha trong lễ Tiên Vương.

Món bánh thứ hai chàng chế biến, cũng từ thứ gạo nếp ấy, nhưng đổi vị, đổi kiểu đi. Như vậy là chàng đã có hai món bánh mang đến dâng vua cha. Trong lễ Tiên Vương, những món ăn ngon như nem công chả phượng, cũng như các món ăn quý hiếm, được mang đến không thiếu thứ gì. Nhưng chỉ có món bánh của Lang Liêu mới thực sự làm vừa ý vua cha, rồi hai thứ bánh ấy được nhà vua lựa chọn để đem tế Trời, Đất cùng Tiên Vương. Không chỉ vậy, Vua Hùng còn đặc biệt đặt tên cho loại bánh có hình tròn là bánh giầy, loại bánh này sẽ tượng trưng cho trời, còn bánh hình vuông là tượng trưng cho đất, các thứ thịt mỡ, đậu xanh, lá dong là tượng cầm thú, cây cỏ muôn loài gọi tên là bánh chưng.

Và cũng nhờ hai loại bánh này mà Lang Liêu được vua cha truyền cho ngôi báu.Và cũng từ đó thì dân ta hình thành nên phong tục thờ bánh chưng, bánh giầy ngày Tết “thiếu bánh chưng, bánh giầy thiếu hẳn hương vị ngày Tết”. Như vậy, truyền thuyết này cũng là cách các tác giả dân gian lí giải về nguồn gốc ra đời cũng như ý nghĩa biểu tượng của những chiếc bánh chưng, bánh giầy. Đó không chỉ đơn thuần là những chiếc bánh quen thuộc trong đời sống sinh hoạt, mà đằng sau đó còn là cả một nếp sống văn hóa của con người Việt Nam. Câu chuyện cũng thể hiện được truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, đó là tín ngưỡng thờ Trời, Đất, những vật mà con người cho rằng có thể ảnh hưởng đến cuộc sống của họ, cũng như truyền thống thờ cũng ông bà tổ tiên, đó đều là những nếp sống, những phong tục tốt đẹp được duy trì đến tận ngày nay.

Như vậy, truyền thuyết “Bánh chưng bánh Giầy” là câu chuyện dân gian lí giải nguồn gốc của bánh chưng, bánh giầy. Thể hiện được niềm tự hào của dân tộc Việt Nam về thành tựu của nền nông nghiệp lúa nước, cũng như về những phong tục tập quán, truyền thống lâu đời của dân tộc từ bao đời nay, đó là truyền thống uống nước nhớ nguồn, truyền thống thờ kính tổ tiên, tín ngưỡng thờ Trời, đất.

Bài Văn Thuyết Minh Về Bánh Chưng Ngày Tết Lớp 9, 10

Bài văn thuyết minh về bánh chưng ngày tết của học sinh giỏi lớp 9, 10 và cách lập dàn ý thuyết minh về chiếc bánh chưng chi tiết.

I. Dàn Ý Thuyết Minh Về Bánh Chưng Ngày Tết Ngắn Gọn

Giới thiệu khái quát về chiếc bánh chưng

2. Thân bài thuyết minh về chiếc bánh chưng lớp 10

a. Nguồn gốc lịch sử, xuất xứ của bánh chưng

– Bánh chưng là một loại bánh quen thuộc, gần gũi và có từ lâu đời ở nước ta, mang những đặc trưng riêng của văn hóa Việt Nam.

– Bánh chưng là loại bánh duy nhất ở nước ta có lịch sử lâu đời trong ẩm thực của người Việt còn được nhắc lại ở sử sách cho đến tận ngày hôm nay.

– Nguồn gốc ra đời của bánh chưng gắn liền với truyền thuyết “Bánh chưng bánh giầy”, về Lang Liêu và vua Hùng thứ sáu

b. Nguyên liệu và cách làm

– Nguyên liệu:

+ gạo nếp – một loại gạo dẻo và có vị thơm để làm vỏ bánh.

+ Nhân bánh được là sự kết hợp giữa đậu xanh, thịt lơn và dưa hành.

+ Lá chuối hoặc lá dong và lạt để gói bánh

+ Một số nguyên liệu phụ khác như tiêu, muối…

– Các bước làm bánh chưng:

Gạo nếp phải được làm sạch sẽ và ngâm với nước để gạo được mềm và dẻo hơn.

Đậu xanh được làm sạch vỏ và được nấu chín nhuyễn với một ít muối.

Thịt lợn được cắt thành miếng nhỏ và ướp với gia vị để tạo độ thơm.

Lạt buộc cần được làm thành sợi dài và mỏng

+ Gói bánh chưng: Bánh chưng được gói bằng tay nhờ vào các khuôn bánh được làm sẵn từ trước

Yêu cầu khi luộc bánh phải đủ thời gian, không quá ngắn mà cũng không quá dài.

Người ta thường luộc bánh trong khoảng thời gian tám đến mười giờ, tùy vào loại gạo nếp được sử dụng

+ Sau khi bánh đã được nấu chín, người ta vớt bánh ra để nguội và như có thể sử dụng luôn.

Tùy vào khẩu vị của mỗi vùng, miền mag bánh chưng có thể thêm vào hoặc bớt đi một số nguyên liệu.

c. Cách sử dụng và vai trò, ý nghĩa của chiếc bánh chưng trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân Việt.

– Bánh chưng là nét độc đáo trong văn hóa ẩm thực của người Việt.

– Biểu tượng cho tấm lòng biết ơn ông bà tổ tiễn và sự trân trọng những điều bình dị, tinh túy trong trời đất.

– Bánh chưng là loại bánh không thể thiếu trên bàn thờ, trong mâm cơm cúng tổ tiên mỗi dịp Tết đến xuân về.

– Bánh chưng đã trở thành một nét đẹp không thể thiếu trong tâm thức của mỗi người con đất Việt.

Khái quát lại vai trò, ý nghĩa của chiếc bánh chưng và cảm nghĩ của bản thân về chiếc bánh chưng.

II. Bài Viết Thuyết Minh Về Chiếc Bánh Chưng Lớp 9, 10

Câu ca dao ấy cất lên chắc hẳn sẽ gợi lên trong mỗi người dân trên đất nước Việt Nam từ già cho tới trẻ, từ trai cho tới gái hình ảnh chiếc bánh chưng – một loại bánh dân dã, quen thuộc, thân quen mà rất đỗi cao quý và ngập tràn ý nghĩa đối với mỗi người con đất Việt.

2. Thân bài thuyết minh về cái bánh chưng

Như chúng ta đã biết, bánh chưng là một loại bánh quen thuộc, gần gũi và có từ lâu đời ở nước ta, mang những đặc trưng riêng của văn hóa Việt Nam. Có thể nói, bánh chưng là loại bánh duy nhất ở nước ta có lịch sử lâu đời trong ẩm thực của người Việt còn được nhắc lại ở sử sách cho đến tận ngày hôm nay. Nguồn gốc ra đời của bánh chưng gắn liền với truyền thuyết “Bánh chưng bánh giầy”, về Lang Liêu và vua Hùng thứ sáu. Chuyện kể rằng, sau khi đánh tan giặc Ân xâm lược, vì muốn chọn được người kế vị xứng đáng, vua Hùng thứ sáu đã tổ chức cuộc thi giữa các con của mình với yêu cầu ai làm cho vua cha vừa lòng, tìm được lễ vật phù hợp để dâng lên lễ tế thì sẽ được truyền ngôi cho. Trong khi các anh của mình lên rừng, xuống biển tìm kiếm bao nhiêu sơn hào hải vị, của ngon vật lạ thì Lang Liêu – người con út lại không biết nên lấy gì làm lễ vật để dâng lên vua cha vì chàng chả có gì ngoài lúa gạo. Nhưng thật may mắn thay cho chàng, chàng nằm mộng và được thần chỉ cho cách lấy gạo, đậu và thịt để làm bánh. Loại bánh chàng làm ra hình tròn thì gọi là bánh giầy tượng trưng cho trời, bánh chưng hình vuông, tượng trưng cho đất. Và rồi, cuối cùng, Lang Liêu chính là người làm hài lòng vua cha, chàng được truyền ngôi và cũng kể từ đấy, bánh chưng ra đời và trở thành nét biểu tượng độc đáo trong văn hóa ẩm thực Việt Nam, thể hiện lòng biết ơn, quý trọng của con cháu với ông bà tổ tiên và với trời đất.

Bánh chưng là loại bánh dân dã, quen thuộc với mỗi người dân Việt Nam, bởi vậy nguyên liệu để làm nó cũng rất bình dị, gần gũi. Trước hết, để làm được bánh chưng không thể thiếu gạo nếp – một loại gạo dẻo và có vị thơm để làm vỏ bánh. Nhân bánh được là sự kết hợp giữa đậu xanh, thịt lợn và dưa hành. Ngoài ra, khi làm bánh cũng cần có là chuối hoặc lá dong và lạt để gói bánh cùng một số nguyên liệu phụ khác như tiêu, muối. Thông thường, để làm ra được một chiếc bánh chưng người ta cần phải trải qua nhiều công đoạn khác nhau, đòi hỏi sự tỉ mỉ, cẩn thận và khéo léo của người làm bánh. Đầu tiên đó là công đoạn chuẩn bị nguyên liệu. Những nguyên liệu kể trên phải được sơ chế một cách kĩ càng, chu đáo. Gạo nếp phải được làm sạch sẽ và ngâm với nước để gạo được mềm và dẻo hơn. Đậu xanh được làm sạch vỏ và được nấu chín nhuyễn với một ít muối. Thịt lợn được cắt thành miếng nhỏ và ướp với gia vị để tạo độ thơm. Ngoài ra, lạt buộc cần được làm thành sợi dài và mỏng. Sau khi đã chuẩn bị nguyên liệu theo yêu cầu, người ta bắt đầu gói bánh. Bánh chưng được gói bằng tay nhờ vào các khuôn bánh được làm sẵn từ trước. Đồng thời, để làm nên một bánh chưng ngon còn yêu cầu khi luộc bánh phải đủ thời gian, không quá ngắn mà cũng không quá dài. Thông thường, người ta thường luộc bánh trong khoảng thời gian tám đến mười giờ, tùy vào loại gạo nếp được sử dụng. Sau khi bánh đã được luộc chín người ta vớt bánh ra và để nguội, như vậy là đã có một chiếc bánh chưng ngon, đẹp rồi. Thêm vào đó, tùy vào khẩu vị của mỗi vùng, miền mag bánh chưng có thể thêm vào hoặc bớt đi một số nguyên liệu.

Bánh chưng là nét độc đáo trong văn hóa ẩm thực của người Việt. Nó biểu tượng cho tấm lòng biết ơn ông bà tổ tiễn và sự trân trọng những điều bình dị, tinh túy trong trời đất. Bánh chưng là loại bánh không thể thiếu trên bàn thờ, trong mâm cơm cúng tổ tiên mỗi dịp Tết đến xuân về. Bánh chưng đã trở thành một nét đẹp không thể thiếu trong tâm thức của mỗi người con đất Việt. Chắc có lẽ bởi vậy mà mỗi người con đất Việt ở xa quê, mỗi dịp Tết đến người ta vẫn cùng nhau tự gói hay mua về những chiếc bánh chưng để thờ cúng và cùng nhau thưởng thức như một cách để nhớ, để gìn giữ và lưu truyền nét đẹp văn hóa của dân tộc.

Tóm lại, bánh chưng là loại bánh cổ truyền, có ý nghĩa sâu sắc trong đời sống của hàng triệu, hàng triệu người con đất Việt. Dù thời gian có trôi đi, cuộc sống của con người ngày càng phát triển và có thêm nhiều món ăn, loại bánh mới nhưng không bất cứ thứ gì có thể thay đổi được vị trí, ý nghĩa của chiếc bánh chưng trong văn hóa và trong ẩm thực của người dân Việt Nam.

thuyết minh về bánh chưng

thuyết minh bánh chưng

thuyết minh về bánh chưng ngày tết

thuyết minh về bánh chưng lớp 10

thuyết minh về bánh chưng ngày tết học sinh giỏi

thuyết minh về món ăn ngày tết lớp 10

thuyết minh về món bánh chưng

thuyết minh về chiếc bánh chưng ngày tết

thuyết minh về cái bánh chưng

Bình Luận Facebook

.

Top 8 Bài Thơ Về Bánh Chưng Ngày Tết Hay Nhất

Mỗi độ xuân về nhớ quê

Nhớ mẹ hiền, nhớ mùi cám lên hương thơm.

Hoa đào nở, én bay trong gió

Ve vẫy gọi mầm xanh.

Tết mẹ gói bánh tét

Lá chuối xanh mỗi lớp một niềm vui

Bánh năm nay đẹp không kém gì con gái mẹ!

Làn da mịn màng quyến rũ.

Pháo nổ ngoài hiên

Xác đỏ bay vào dòng hạnh phúc

Bị vu khống tôi theo chồng ở lại

Xa một người mẹ dịu dàng, hàng ngàn dặm của những đám mây.

Ngôi mộ tròn xưa vẫn còn đây!

Từng hạt xôi thiếu bàn tay mẹ

Mười năm trọn vẹn trong cuộc đời tôi lặng lẽ

Đồng thời tập thay mẹ gói bánh chưng.

Đất nước con người rời rạc là… hạnh phúc

Thêm đậu không quá lỏng, không dính.

Đấu tranh với trái tim sâu sắc

Lặng thầm như mẹ ngày xưa

Bánh chín mềm, mưa lợp ngoài trời

Như chân mẹ ngàn năm trước.

Tôi thầm cầu nguyện bên ngọn nến

Bánh chưng như muốn nói thành lời

Mùa xuân đang đến! Con mời mẹ!

Một ngọn nến cười đầy ấm áp

Trong nỗi nhớ thương, nước mắt tuôn rơi

Bánh trong tay tôi khẽ nghẹn ngào

Tôi thường đợi bạn trong cõi mơKhi màn đêm buông xuống, đừng quên mẹ!

Tác giả: Lê Hoàng Trúc

Tết gần đến, mình đặt bánh chưng

Gọi lại mùa Xuân xưa

Địa điểm cuối năm khắp cả nước

Đường nào cũng thấy lá xanh

Vòi nào cũng lúa, đậu xung quanh

Bàn tay nhẹ nhàng trò chuyện râm ran

Khuôn mặt vui vẻ, nụ cười thân thiện

Xóa đi nỗi buồn năm cũ

Nhớ năm nào dùng sổ ưu tiên

Mẹ có thể mua thêm vài cân thịt

Bánh bao gói lại thêm cả nhà háo hức

Lá xanh úa vàng … Yêu thương, bánh chưng!

Ngồi quanh nồi bánh chưng đang bốc khói

Nghi hương thơm ngàn năm quen thuộc

Dù chỉ một năm một lần

Cũng đã khắc ghi một đời trong vô vàn kỷ niệm …

Sương sớm, nhặt bánh lên giàn.

Nặn hình vuông thành một cạnh sắc nét

Gói đầy đủ trong bánh:

Ngày mai cuộc sống bình yên và êm ả hơn

Ôi tại sao một giấc mơ lại… đơn giản

Bây giờ bọn trẻ có hiểu điều đó không

Bạn có biết bạn yêu nhiều như thế nào không

Bánh chưng cho ngày Tết?

Tôi nhớ lâu lắm rồi cả nước mới có ngày

Chìm trong làn khói mờ ảo

Thắp sáng từ nồi bánh chưng của vạn nhà Việt!

Bánh chưng của tôi – Tôi cất tiếng gọi tha thiết

Bao giờ xa xôi bánh chưng!

Tác giả: Thùy Anh

Ngày xưa ở Văn Lang,

Vua thứ sáu có Lang Liêu.

Nhà vua muốn một điều,

Là thay đổi cách xử lý nước non.

Sau đó quyết định chọn đứa trẻ,

Thi nấu những món ăn ngon.

Hương vị sang trọng trên thế giới,

Trời tính sao được.

Nhưng thật tuyệt,

Lang Liêu giúp gì?

Trong khi suy nghĩ phải làm gì,

Có một ông già nhắc nhở tôi điều gì đó.

Thông thường điều đó có nghĩa là rất nhiều,

Bánh chưng ngày Tết khiến nhiều người yêu thích.

Không ai chê bánh dày,

Bánh nếp thơm dẻo nhân đậu xanh.

Tượng trưng cho mặt đất xanh,

Bánh bao gói lá xanh thành hình.

Nhận xôi hình tròn,

Bánh dày là hình ảnh trời cho.

Thực phẩm quý giá biết bao,

Lang Liêu được thăng chức cực cao.

Mùa xuân muộn đến khắp mọi miền,

Người ta thấy bánh chưng bánh dày.

Tác giả: Lê Hoa Trang

Mưa to trên ngõ

Xuân nối tóc mẹ

Nỗi buồn dài và ngắn

Bóng chiều nông thôn

Bánh chưng xanh vẫn thế

Hương thơm ngọt ngào từ tận đáy lòng

Dây thời gian bạc

Tròn vuông buộc phải nhìn

Ai về nhà nức nở

Chỉ cần nhìn thấy nụ cười của hoa anh đào

Không hiểu có gì tuyệt vời

Vầng hào quang mơ mờ ..!

Tác giả: Mai Nhật Nguyên

Đồng xanh bên ngoài

Bên trong xôi có hành lá và tiêu

Gói tri ân, gói yêu thương

Thơm từ thời Lang Liêu đến nay.

Nguồn: Sưu tầm

Tác giả:Tiến sĩ Thơ buồn Phan Thành LongLớp Trợ lý Khai thác Dầu khí K54Đại học Mỏ Địa chất Hà Nội

Em đi chợ mua đồ về làm bánh

Tết đến rồi cũng đón về quê

Thịt lợn đậu xanh

Tất cả đều đầy đủ và ngon

Về đến nhà, tôi bắt đầu nướng

Sân khấu vẫn gọn gàng như ngày nào mẹ dạy con

Chỉ có điều cuối cùng được thay thế bằng sợi nylon

Và lá chuối thay thế bằng một số tấm nỉ

Ở bên này, Berlin, tôi không tìm thấy thẻ đó

Không có sợi rách từ tre

Nhưng mẹ ơi, con vẫn gói bánh chưng.

Nồi áp suất thay cho chảo trên lửa

Đến giao thừa, lòng ngờ ngợ.

Một nỗi nhớ nhà, một nỗi nhớ

Tôi vẫn cố gắng mỉm cười và vô tình rơi nước mắt

Gọi là lại nghẹn, bánh chưng xanh.

Tác giả: Đặng Ngọc Ngân

Tết gần đến, mình đặt bánh chưng

Gọi lại mùa Xuân xưa

Địa điểm cuối năm khắp cả nước

Đường nào cũng thấy lá xanh

Vòi nào cũng lúa, đậu xung quanh

Bàn tay nhẹ nhàng trò chuyện râm ran

Khuôn mặt vui vẻ, nụ cười thân thiện

Xoá đi những nỗi buồn năm cũ.

Nguồn: Sưu tầm