Truyện Cổ Tích Song Ngữ Hàn Việt / Top 5 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Kovit.edu.vn

Truyện Cổ Tích Song Ngữ Hàn Việt: Chàng Mù Và Chàng Bại Liệt.

Truyện cổ tích song ngữ Hàn Việt đầu tiên mà chúng tôi giới thiệu đến các bạn đó là truyện chàng mù và chàng bại liệt:

“무슨 일인데 아침부터 그리 서두르나?”

“이러고 있을 때가 아니네, 어서 나갈 채비를 하게.”

“저 산 넘어 아주 용한 의원이 있단 얘기를 들었거든 자네의 아픈 다리를 고쳐줄지도 몰라”

“그래? 하지만 나는 걸을 수가 없고 자네는 볼 수가 없는데 무슨 수를 산 넘어 의원을 찾아간단 말인가?”

“자네가 내 눈이 되어주게! 난 자네의 발이 되어주겠네!”

장님은 앉은뱅이 친구를 업고 험한 산길을 부지런히 걸었습니다.

Ngày xưa trong một ngôi làng trong núi chỉ có một người mù hiền lành sinh sống. Vào một ngày nọ:

“Có ai không ạ?”

“Có chuyện gì thế? mới sáng mà gấp gáp như vậy hả?”

“Thật là không phải lúc, tôi rời đây ạ”

“Tôi nghe nói trên núi đó có một người giỏi nghề y có lẽ sẽ chữa được chân của cậu”

“Thật vậy hả? nhưng mà tôi đi không được, cậu lại không không nhìn thấy, ý của tôi là có là núi nào thì chúng ta vẫn có thể vượt qua đi tìm thần y”

“Tôi làm con mắt của cậu, cậu làm cái chân của tôi nha!”.

Thế là chàng người mù cõng chàng bạn liệt của mình cần mẫn đi qua đường núi nguy hiểm.

“괜찮은가? 마침 저기 연못이 있으니 좀 쉬어가세! 자네부터 시원하게 목을 축이게”

“아니 세상에! 황금! 연못 속에 커다란 황금이 있어”

“뭐? 황금이라고?” 장님은 더듬더듬 연못에 들어가 황금을 건졌습니다.

“이보게 자네가 먼저 보았으니 자네가 갖게”

“그게 무슨 소린가 자네가 나를 업고 이곳까지 왔으니 자네 거지”

두 친구는 서로 황금을 양보했습니다.

“Cậu không sao chứ? Vừa khéo chỗ kia có một cái ao, ta qua đó nghỉ chút đi, làm mát cổ họng cho cậu đã”

“Cảm ơn cậu”

“Ôi không trời ơi! Vàng! Bên trong ao có cục vàng rất lớn”

“Cái gi? Cậu nói vàng á?” chàng mù dò dẫm bướt vào trong ao và vớt ra thỏi vàng.

“Cái này cậu nhìn thấy trước tiên cho nên nó là của cậu”

“Cậu nói cái quỷ gì vậy vì cậu đã cõng tôi tới nơi này nên cậu sở hữu nó” Hai người nhường cục vàng cho nhau.

“안 되겠네 둘로 나눌 수도 없으니 그냥 두고 가세”

장님은 황금을 제자리에 놓고 앉은뱅이 친구를 업었습니다. 산 정상에 거의 올랐을 때였습니다.

“네 이놈! 냉큼 이리 오너라! 누군가 난데없이 호통을 쳤습니다. “다리가 아프니 나를 업어라!” 비단옷을 입은 양반이었습니다.

“나리 그럴 순 없습니다.”

“어허 당장 나를 업지 못할까?”

그러다 문득 황금이 떠올랐습니다. “산 아래 연못에 황금이 있습니다요.” “뭐? 황금? 그 말 틀림없겠지?” 양반은 뒤도 안 돌아보고 쌩 하니 달려갔습니다.

“Không được rồi hai người thì chia không được, chúng ta cứ mang nó theo trước đi đã rồi tính sau”

Chàng mù cất cục vàng và tiếp tục cõng chàng liệt. Lúc gần lên tới đỉnh núi thì:

“Này nay thằng kia lập tức lại đây cho ta” ai đó đột ngột quát lên.

“Chân ta đau và cõng ta mau” Thì ra là một người phú quý mặc áo gấm.

“Thưa ngài, tôi không thể làm như thế được”

“Ố? ngươi không thể cõng ta lên ngay bây giờ á?”

Đang lúc đó bỗng nhiên cục vàng lòi rớt ra ngoài.

“Trong một cái ao phía dưới núi có vàng đấy ạ”

“Cái gì? Vàng? Ngươi nói thật sao?” người phú quý đó nhìn cũng không nhìn lại cứ thế ào ào chạy nhanh xuống dưới núi.

연못에 도착한 양반은 황금을 찾기 시작했습니다. “으아 구렁이다!” 놀란 양반은 도망을 쳤습니다.

“감히 구렁이를 황금이라고 속이다니!”

양반은 장님과 앉은뱅이에게 크게 화를 내고 가버렸습니다.양반의 이야기를 장님은 앉은뱅이를 업고 연못으로 갔습니다. ”

Người phú quý kia sau khi đến cái ao lập tức tìm vàng. “á á con trăn”. Kẻ phú quý kia trong cơn kinh sợ đã bỏ chạy.

“Ngươi thật to gan dám nói dối con trăn là vàng”

Kẻ phú quý kia nổi trận lôi đình với chàng mù và chàng liệt rôi bỏ đi. Chàng mù nghe chuyện của người phú quý kia thì cõng chàng liệt trở lại cái ao.

“두 마리나 있단 말인가?”

“황금이 두 개나 있단 말일세!”

“뭐라고?” 장님이 깜짝 놀라자 앉은뱅이가 장님의 등에서 미끄러졌습니다. 우지끈 소리가 나더니 앉은뱅이의 다리가 펴졌습니다.

“Cậu nói có tới hai con trăn luôn á?”

“Ý tôi là có tới hai cục vàng luôn”

“Cậu nói cái gì?” chàng mù thốt lên kinh ngạc chàng liệt cũng bị trượt khỏi lưng chàng mù. Bỗng một tiếng răn rắc phát ra, chân chàng liệt được duỗi ra.

“세상에 내 다리가 쭉 펴졌네!” “그게 정말인가? ” “세상에 보이네 보여!” 놀란 장님은 눈을 번쩍 떴습니다. 앉은뱅이와 장님은 얼싸안고 기쁨의 눈물을 흘렸습니다. 두 사람은 황금을 팔아 큰 부자가 되었고 그 후에도 서로 아끼며 행복하게 살았습니다.

“Trời ơi, chân tôi duỗi thẳng được rồi nè”

“Cậu nói thật hả? …Ông trời ơi! Tôi nhìn được nè nhìn được nè!” Chàng mù kinh ngạc mở đôi mắt. Chàng mù và chàng liệt ôm ghì nhau mà khóc trong niềm hân hoan. Hai người bán số vàng đó đi và trở thành người giàu có, kể từ đó họ quý trọng lẫn nhau và sống thật hạnh phúc.

심술궂고 욕심이 많은 양반에게는 연못의 황금 대신 구렁이가 보였고 마음씨 착한 장님과 앉은뱅이에게는 황금이 2개로 늘어났고 서로의 병이 치료되기까지 했습니다. 아마 사이좋고 마음씨 착한 장님과 앉은뱅이에게 신이 주신 선물이 아닐까 싶은데요. 평소의 마음씨와 행동을 올바르게 하면 언젠가 좋은 일이 생길 거라는 교훈을 주는 듯싶습니다.

Kẻ phú quý kia với lòng tham lam và ganh ghét nên thay vì được thấy vàng trong ao thì thấy con trăn còn chàng mù và chàng liệt thì được cho đến 2 cục vàng và ngay cả bệnh cũng được chữa khỏi. Có lẽ bởi sự hòa thuận và tấm lòng hiền lành của chàng mù và chàng liệt nên Thần đã cho hai người 1 món quà. Điều giáo huấn muốn mang lại đó là trong cuộc sống nếu như hành động và tâm tính của ta ngay thẳng thì những điều tốt đẹp luôn xuất hiện.

Truyện cổ tích song ngữ Hàn Việt phần từ mới:

Truyện cổ tích song ngữ Hàn Việt trên với nhiều từ mới nhưng thông dụng và thường gặp trong cuộc sống hàng ngày sẽ giúp mọi dễ hiểu hơn khi đọc. Các cấu trúc câu cũng đơn giản, đa dạng nên mọi người có thể vận dụng linh hoạt vào giao tiếp.

Nguồn: chúng tôi chúng tôi dịch

Truyện Cười Song Ngữ Hàn Việt P.2

한 병원에서 한 사나이가 건강진단을 하는데 의사선생이 소변을 받아오란다.

그는 재빨리 집에 가서 큰 병에 가득 소변을 담아왔다.

의사선생 : “무슨 검사하는데 이렇게 많이 가지고 오셨습니까? ”

남자: “흠, 이왕 가져 왔으니 그대로 해 봅시다.”

검진결과 아무 이상이 없어 사나이는 재빨리 가족에게 전화를 걸었다.

“여보, 우리가족 모두 건강하단다…. 마음 푹 놓으라고”

Một người đàn ông đến khám sức khỏe ở một bệnh viên, vị Bác sĩ bảo sẽ đến lấy nước tiểu.

Nghe xong người đàn ông nhanh chóng chạy về nhà và mang đến bệnh viện một bình đầy nước tiểu.

Bác sĩ: “Anh đến khám cái gì mà mang đến một bình nhiều như thế ạ?”.

Người đàn ông: “À. đằng nào cũng mang đến rồi, Bác sĩ cứ thế mà khám xét nghiệm đi ạ”.

Kết quả khám không có bệnh nào cả, người đàn ông nhanh chóng gọi điện về nhà:

재빨리: nhanh chóng

건강진단: kiểm tra sức khỏe

소변: nước tiểu

마음 놓다: yên tâm, yên lòng.

Truyện cười song ngữ Hàn Việt:

한 남자가 사랑하는 여자에게 결혼하자고 하자 여자가 말했다.

“저는 용기있고 머리도 좋은 남자와 결혼하고 싶어요.”

“지난번 보트가 뒤집혔을 때 제가 당신을 구해주지 않았습니까?

그걸로 제가 용기가 있다는 건 충분히 증명되지 않았나요?”

“그건 됐어요. 하지만 머리가 좋아야 한다는 조건이 남아 있어요.”

“그거라면 염려 탁 놓으십시오. 그 보트 뒤집은 게 바로 저거든요.”

Một người con trai bảo với người người gái mà cậu ta yêu rằng hãy kết hôn cùng cậu ta. Cô gái trả lời rằng:

“Tôi chỉ muốn kết hôn với một người con trai dũng cảm và thông minh”

“Lần trước lúc thuyền bị lật, anh đã cứu em không phải sao? cái đó không tính là chứng cớ đầy đủ cho lòng dũng cảm của anh sao?”

“Thế cũng được, nhưng còn điều kiện phải thông minh nữa cơ”

“Nếu thế thì em đừng lo lắng, vì cái người làm lật thuyền chính là anh”. (Anh thông minh quá phải không?)

Nguồn: chúng tôi

Truyện cười song ngữ Hàn Việt:

한 여자가 늦둥이를 낳았어요. 친척들이 모여 아이를 보자고 하자 여자가 말했어요.

잠시 후에 다시 친척들이 아이를 보자고 했어요. 그 때도 여자는 고개를 저었어요.

친척들이 궁금해져서 여자에게 언제 아이를 볼 수 있냐고 물었어요.

“아이가 울면 보여줄게.”

“왜 아이가 울 때만 볼 수 있죠?”

그러자 여자가 자신도 답답한 듯 가슴을 치며 울먹였어요.

“어디에 뒀는지 기억이 않나잖아~”

그래서 친척 모두 기절 했답니다…

Có một người phụ nữ lớn tuổi rồi mới sinh được một đứa con. Họ hàng tập trung đến và đề nghị cho họ được xem mặt đứa trẻ. Người phụ nữ trả lời rằng: “Giờ vẫn chưa được ạ”.

Một lúc sau đó, họ hàng lại nói hãy cho họ xem đứa trẻ thì người phụ nữ này lắc lắc đầu. Họ hàng thắc mắc hỏi người phụ nữ khi nào họ mới có thể nhìn thấy đứa trẻ. Lúc này người phụ nữ đáp rằng: “Khi nào nó khóc, con sẽ cho mọi người xem nó ạ”.

“Tại sao chỉ khi nào nó khóc tụi tui mới có thể xem nó?”

Lúc này người phụ nữ vừa đấm ngực như thể bị khó thở vừa méo máo khóc:

“Con không nhớ là mình đặt nó chỗ nào cả”.

Nghe vậy tất cả họ hàng ngất tại chỗ.

Tại một cánh đồng, có một con thỏ đang tìm thức ăn thì phát hiện ra một củ cà rốt. Nó chạy nhanh đến để bắt lấy củ cà rốt, nhưng củ cà rốt tinh mắt nhanh chóng bỏ chạy mất. Kết quả con thỏ không bắt được.

Lúc đó bỗng có một củ cải rớt ra từ xe hiến máu. Lần này con thỏ sau khi thấy củ cải, để tránh đánh mất lần nữa, nó nhanh chóng chạy lại bắt lấy củ cải và nói rằng:

“Nè cà rốt! ngươi nghĩ ngươi rút hết máu ra thì ta không biết ngươi là cà rốt hả?”

Truyện cười song ngữ Hàn Việt:

학생이 제과점을 지나갔다. 그런데 제과점 앞 새장 속에 있던 앵무새가 갑자기

“어이! 학생!” 하고 부르는 것이다. 학생이 신기해서 앵무새를 쳐다보자 앵무새가 다시

“거, 되게 못생겼네.” 하는 것이다. 다음날 학생이 제과점을 또 지나갔다.

그런데 또 앵무새가 “어이! 학생!” 하고 부르는 것이다.

그러더니 “거, 되게 못생겼네.” 하는 것이다.

학생은 하도 화가 나서 제과점 주인을 찾아가

앵무새 버릇을 고치라고 따졌다. 다음날 학생이 제과점 앞을 지나갔다.

하지만 또!! 앵무새가 “어이! 학생!” 하는 거다!!!!

학생이 너무 화가 나서 앵무새에게 “왜!!!” 하고 소리쳤다.

Một vị học sinh đi ngang qua một cửa hàng bánh kẹo. Bỗng có một con vẹt ở trong chuồng chim trước cửa hàng thốt lên rằng:

“Này học sinh!”

Vị học sinh này cảm thấy kì lạ nên ngước nhìn nó chằm chằm, đột nhiên con vẹt nói rằng:

“Ngươi thật là xấu đau xấu đớn”

Ngày hôm sau, vị học sinh lại đi ngang qua cửa hàng và con vẹt nó cũng tiếp tục gọi:

“Này học sinh! Ngươi xấu xí quá đi thôi!”

Nghe vậy vị học sinh nổi giận đùng đùng tìm chủ cửa hàng nói chuyện ra cho ra lẽ, bảo hãy dạy dỗ nó lại, sửa chữa cái tật xấu đó.

Ngày hôm sau, vị học sinh này lại đi ngang qua. Nhưng một lần nữa con vẹt thốt lên:

“Này học sinh!”

Cơn giận của vị học sinh này bốc lên, quay qua gào lên “Cái quái gì nữa hả?”

Con vẹt: “Ngươi biết mà”

Truyền cười song ngữ Hàn Việt: Ngươi muốn ước cái gì? – 소원을 말해봐

어느 날 한 아가씨가 길에서 요술 램프를 주웠다. 램프를 쓱쓱 문지르니 요정이 나타나서 말했다. “소원을 들어드리겠습니다. 단 한 가지만입니다.” 그녀는 고민이 되었다. 돈도 가지고 싶고, 남자도 만나고 싶고, 결혼도 하고 싶었다. 그런데 갑자기 기발한 생각이 떠올랐다. “그래, 한번에 말하면 되겠다. “돈, 남자, 결혼!” 그 아가씨는 ‘정신이 돈 남자’와 결혼했다.

Vào một ngày nọ, có một cô gái trên đường nhặt được cây đèn ma thuật. Cô gái xoa xoa sờ nén nó, đột nhiên một yêu tinh xuất hiện và nói rằng: “Ta sẽ cho ngươi điều ước, nhưng chỉ có duy nhất một điều ước mà thôi”.

Cô gái rối rắm. Tiền cô cũng muốn, đàn ông cô cũng muốn, cả kết hôn cô cũng muốn có. Lúc này bỗng cô nãy ra một ý tưởng, cô nói:

“Được thôi, nếu chỉ duy nhất được ước một lần thì là: “Tiền, đàn ông, kết hôn!”

Kết cuộc cô gái kết hôn với một người điên.

(정신이 돌다 + 남자 = 정신이 3 từ này theo thứ tự đều có trong nguyện ước và sau 3 từ này sẽ là từ kết hôn 결혼. Yêu tinh đã làm đúng y như nguyện ước của cô gái rồi còn gì) ( hết mơ mộng đèn thần)

쓱쓱: xoa xoa, mân mê

요술 램프: đèn ma thuật

정신이 돌다: hóa điên

Truyện cười song ngữ Hàn Việt: Băng cát-sét miễn phí: 공짜 카세트테이프

Một cậu bé trên đường nhặt được băng cát-sét, không có ghi kí hiệu hay đề mục gì trên đó cả, cậu mang nó về nhà.

Cậu bé: “Chị ơi! không tốn tiền mà cũng có cái băng catset nè chị. Chi xem đi.”

Chị gái: “Của ai vậy? Của ca sĩ nào đó sao?”

Cậu bé: “Nó không viết là của ai cả. Chúng ta bật xem thử một đoạn đi chị”.

Cậu bé cùng chị gái với một tâm trạng hưng phấn mở băng catset ra nghe.

Và rồi băng catset phát ra âm thanh như thế này:

“Cải thảo rẻ đây ~~~ Củ cải đây~~

Dưa chuột tươi đây ~~ cà rốt cũng có đây ~~ Mại zô ~~”

(đọc xong hết muốn nhặt đồ rơi)

어떤 여자가 버스 안에서 방귀가 몹시 마려웠다. 그런데 다행히 베토벤의 운명교향곡이 나오고있었다.

짠짠짠 짜안 ~ 하는 그 음악에 맞추어 방귀를 뀌었다.

그랬더니 사람들이 모두 그 여자를 쳐다 보는 것이 아닌가!!!

알고 보니, 그여자는 이어푼을 꽂고 있었다

Một cô gái nọ khi đang đi trên xe bus thì muốn đánh rắm không thể nhịn được. Thật may lúc đó có nhạc giao hưởng định mệnh của Beethoven đang vang lên.

Cô gái bắt kịp nhip điệu Tằng tằng tằng…tằ..ng… của bài hát đó và đánh rắm toạc toạc toạc…to..ạc…

Và thế rồi không hiểu sao tất cả mọi người nhìn chằm chằm vào cô ấy!!!

Hóa ra cô ấy đang đeo tai phone.

쳐다 보다: Nhìn chằm chằm

chúng tôi dịch

는 듯이 như là , như thể là, như…

Nguồn: Internet.

Truyện Song Ngữ Hàn Việt: Vị Tướng Quân Ăn Bám

Truyện song ngữ Hàn Việt: Vị tướng quân ăn bám: 밥만 먹는 밥벌레 장군

옛날 어느 마을에 한 총각이 살았습니다. 사람들이 그 총각을 밥벌레 장군이라고 놀렸습니다.

Ngày xưa có một người đàn ông chưa vợ sống tại một ngôi làng. Mọi người trong làng gọi người này là tướng quân ăn bám.

왜냐하면, 매일 밥만 먹고 빈둥빈둥 놀기 때문입니다. 밥도 한두 그릇 먹는 게 아니라 가마솥 (nồi ) 통째로 먹어 치웁니다.

Tại sao mọi người gọi vậy à? Bởi vì người này mỗi ngày chỉ ăn và lêu lổng chơi bời. Người này không phải ăn chỉ là một hay hai bát cơm mà quét sạch cả một nồi đầy.

그래서 몸집도 엄청 큽니다. 그런데 힘은 어찌나 없는지 밥그릇 하나도 들지 못합니다.

Vì vậy mà người này rất bự con. Nhưng sức thì chẳng có mấy, ngay cả nhấc một cái bát cơm cũng nhấc không nổi.

밥만 먹고 똥만 싸니 집안 살림이 거덜 나게 생겼습니다. 걱정된 부모님은 밥벌레 장군을 불러 놓고 말했습니다.

Vì chỉ ăn không ngồi rồi nên cuôc sống gia đình xuất hiện nguy cơ tan vỡ. Cha mẹ của vị tướng này với đầy nỗi lo đã gọi đến và nói:

“얘야, 더는 널 먹여 살릴 수가 없구나, 집을 나가서 네 힘으로 살아 보아라 집을 나온 밥벌레 장군은 밥을 얻어먹고 다녔습니다.

“Con à! Con không thể sống mà chỉ có ăn thêm nữa, con hãy rời nhà và hãy sống bằng chính sức của con”. Vị tướng quân ăn bám ăn không một bữa rồi rời đi lang thang.

하루는 깊은 산골의 한 초가집을 지나가고 있었습니다. ‘여기서 밥을 얻어먹을 수 있으면 좋겠다’ 담 너머를 기웃거리고 있는데 아낙네 ( phụ nữ, đàn bà)가 나오더니 말했습니다.

Một ngày nọ vị này đi ngang qua một nhà tranh nằm sâu trong núi. “Nếu ở đây có thể ăn chực một bữa thì tốt biết mấy”, rồi liên tục ngoái nhìn qua hàng rào thì môt người phụ nữ bỗng xuất hiện và nói:

“이리 들어오시지요!” 아낙네는 남편이 호랑이한테 잡아 먹혀 세 아들이 호랑이를 잡으러 날마다 산에 간다는 이야기를 해주었습니다.

“Vào lối này ạ!” Ngườ phụ nữ này kể cho vị tướng này rằng bà có người chồng bị con hổ bắt ăn thịt, ba đứa con của bà mỗi ngày đều vào núi để bắt hổ.

“부디 부탁입니다. 힘이 세 보이시니 호랑이를 잡아주세요!” 아낙네는 밥벌레 장군에게 간곡히 부탁했습니다.

“Mong ngài giúp đỡ! Trông ngài thật cường tráng xin hãy bắt giùm con hổ”. người phụ nữ tha thiết nhờ vị tướng ăn bám.

“그까짓 호랑이쯤은 한 손으로도 잡을 수 있답니다!” 아낙네는 기뻐하며 맛있는 음식들을 대접했습니다. 밥벌레 장군은 음식을 게 눈 감추듯 먹어 치웠습니다.

“Con hổ nhỏ bé ấy thì một tay của tôi thôi cũng có thể bắt được” người phụ nữ này nghe vậy mừng quá đã chiêu đãi bằng những món ăn ngon. Vị tướng này trong nháy mắt đã quét sạch thức ăn.

또 한 상 또 한 상, 밥벌레 장군은 계속해서 먹어 치웠습니다.

Một bàn lại một bàn ăn, cứ thế vị tướng liên tục quét sạch.

저녁 무렵 호랑이를 잡으러 갔던 삼 형제가 돌아왔습니다. “호랑이를 잡을 수 있게 도와주십시오.”

Màn đêm buông xuống, ba huynh đệ đi bắt hổ đã trở về. ” Xin ngài hãy giúp chúng tôi bắt hổ”.

속으로 뜨끔했지만, 고개를 끄덕였습니다. 다음날 밥벌레 장군은 삼 형제와 함께 산으로 올라갔습니다.

Vị tướng lo sợ trong lòng nhưng vẫn gật đầu. Ngày hôm sau vị tướng này cùng với ba huynh đệ leo lên núi

“우리는 산 위로 올라가서 호랑이를 몰 테니 장군님은 여기서 지키고 있다가 호랑이가 내려오면 때려잡아 주십시오”

“Chúng tôi leo lên trên núi rồi đuổi con hổ xuống, tướng quân hãy trấn giữ ở đây khi con hổ chạy xuống ngài hãy đánh gục nó rồi bắt nó giúp chúng tôi với ạ”

산 위로 올라간 삼 형제는 소리를 지르며 호랑이를 몰아냈습니다.

Ba huynh đệ leo lên núi vừa la hét lên thì con hổ đã lén chạy

장군은 겁이 나기 시작했습니다. “호랑이야 이리 오지 말고 저리 가거라 제발 오지마 호랑이는 장군 쪽으로 뛰어 내려 왔습니다.

장군은 옆에 있는 나무 위로 올라갔습니다. 호랑이도 장군을 향해 나무 위로 훌쩍 뛰어올랐습니다.

Vị tướng này leo lên cái cây bên cạnh. Con hổ cũng nhanh chóng nhảy lên cái cây hướng vị tướng quân.

이때 겁에 질린 장군은 물똥을 쌌습니다. 어마어마한 물똥이 호랑이를 향해 날아갔습니다.

Lúc này vị tướng quân kinh hoàng và đã ị ra ngoài. Một đống phân nước khủng khiếp, con hổ chạy tránh đi.

호랑이는 물똥 벼락을 뒤집어쓰고 나뭇가지에 코가 찔렸습니다.

Nhưng con hổ trong nháy mắt bị trùm kín bởi phân nước và mòm bị đâm bởi nhánh cây.

“아야 흑흑흑” 삼 형제가 내려오니 호랑이가 나뭇가지에 걸려 울고 있었습니다.

“Á á Hức hức hức” khi ba huynh đệ xuống núi thì con hổ đã bị treo trên nhành cây và đang gầm rú.

“호랑이를 잡아주셔서 감사합니다.” “하하 이 정도로 뭐” 밥벌레 장군은 이 일로 매일 맛있는 밥을 먹을 수 있게 되었습니다.

“Cảm ơn ngài đã bắt con hổ” “Ha ha khách sáo quá”. Vị tướng này nhờ việc này mà có thể ăn cơm ngon mỗi ngày.

밥 먹는 거 빼( trừ)고는 잘하는 거 하나 없는 밥벌레 장군은 결국에 삼 형제의 아버지를 죽인 호랑이에게 복수합니다.

Vị tướng quân này trừ việc ăn ra thì không có lấy một việc nào làm cho ra hồn cuối cũng đã báo thù con hổ cho người bố đã chết của ba huynh đệ.

Nguồn: chúng tôi chúng tôi dịch

Truyện Cổ Tích Song Ngữ: Thánh Gióng

LEGEND OF THE HEAVENLY KING OF PHU-DONG (THÁNH GIÓNG)

In the reign of Emperor Hung-Vuong the Sixth, Vietnam was a peaceful and prosperous country. The Red River was always crowded with boats. Paddy fields extended to the horizon. People were happy.

(Vào thời đại của Vua Hùng thứ sáu, Việt Nam là một đất nước hòa bình và thịnh vượng. Sông Hồng luôn tấp nập thuyền qua lại. Những cánh đồng lúa mở rộng đến chân trời. Mọi người dân đều có một cuộc sống hạnh phúc.)

Then suddenly, from the North came the An invaders. On their war paths, they burned down cities, murdered innocent people and committed all kinds of cruel acts. They destroyed most of the country and made life miserable for the people.

(Bỗng nhiên, từ phương Bắc, giặc Ân tràn tới. Trên con đường xâm lược nước ta, chúng đốt cháy các thành phố, giết hại những người vô tội và thực hiện những hành vi độc ác. Chúng đã phá hủy hầu hết đất nước và làm cho cuộc sống của người dân trở nên khốn khổ.)

The army of the emperor could not stop the enemy. Emperor Hung-Vuong sent messengers everywhere, trying to find someone who could drive the An invaders out. Young men gathered around those messengers, and listened to the appeal of the emperor. But nobody seemed to be able to save the country.

(Quân đội của hoàng đế không thể ngăn chặn kẻ thù. Hoàng đế Hùng Vương gửi sứ giả đến khắp mọi nơi, cố gắng tìm một người có thể đánh đuổi quân xâm lược. Thanh niên tụ tập để nghe sứ giả truyền lệnh của hoàng đế. Nhưng không ai có thể cứu được đất nước.)

At the time, in the village of Phu-Dong, lived an old couple with their baby son. Their son was already three years old, and yet, he could neither sit up, nor could he say a word. His old parents were very unhappy.

(Vào thời điểm đó, tại làng Phù Đổng, có một cặp vợ chồng già sống với một người con trai. Con trai của họ đã được ba tuổi, nhưng chưa bao giờ ngồi dậy hay cất tiếng nói. Cha mẹ già của cậu rất đau khổ.)

One day, the emperor’s messenger came to the village. He started to read the appeal out loud. Giong, as the boy was named, sat up. He called out his parents and told them he wanted to talk to the messenger. Although the old father was greatly surprised at his son’s sudden ability to talk, he rushed out to ask the messenger to come inside.

(Một ngày nọ, sứ giả của hoàng đế đến làng và truyền lệnh của hoàng thượng. Gióng liền ngồi dậy. Cậu gọi cha mẹ và nói với họ rằng cậu muốn nói chuyện với sứ giả. Mặc dù người cha già đã rất ngạc nhiên khi con trai mình bỗng dưng biết nói, nhưng ông vẫn vội vã ra ngoài để yêu cầu sứ giả vào trong.)

Before the messenger could say anything, Giong asked the man to return to the capital and told the emperor that he needed an iron horse, an armor and an iron rod to fight the An invaders. The words from the little boy sounded so clear and so powerful that the messenger quickly obeyed and went back to the imperial court.

(Trước khi sứ giả có thể nói bất cứ điều gì, Gióng yêu cầu người đó quay lại kinh đô và nói với hoàng đế rằng cậu cần một con ngựa sắt, áo giáp sắt và một thanh sắt để chống lại quân xâm lược Ân. Những lời nói của cậu bé nghe rất rõ ràng và mạnh mẽ đến nỗi sứ giả nhanh chóng vâng lời và trở về triều đình.)

At the request of the messenger, the emperor ordered that all iron from the imperial warehouse be made available He called in every blacksmith of the country to the capital. There, they worked day and night melting down the iron. Then they made a huge horse, a large armor and a long rod of iron.

(Theo yêu cầu của sứ giả, hoàng đế ra lệnh rằng tất cả sắt từ nhà kho hoàng gia sẽ được sử dụng và nhà vua đã kêu gọi mọi thợ rèn của đất nước đến kinh đô. Ở đó, họ làm việc ngày đêm để nung chảy những thanh sắt. Sau đó, họ làm một con ngựa khổng lồ, một bộ giáp lớn và một cây gậy sắt dài.)

During this time, at the village of Phu-Dong, Giong started to eat. He ate more and more each day and he grew up very fast. People in the village had to bring more rice to feed Giong who finished one large pot of rice after another. He finally grew up to be a giant.

(Trong lúc này, tại làng Phù Đổng, Gióng bắt đầu ăn. Cậu ăn nhiều hơn và nhiều hơn nữa mỗi ngày và lớn lên rất nhanh. Người dân trong làng phải mang thêm gạo để cho Gióng ăn xong một nồi cơm lớn. Cuối cùng, Gióng lớn lên thành một người khổng lồ.)

Then came the day when the imperial guards brought the iron horse, the armor and the rod to Phu-Dong. Giong stood up, stretched his arms and put on the armor. He seized the rod and quickly mounted the iron horse. Soldiers and young men from the village followed him to the front.

(Sau đó, đến ngày khi các vệ sĩ hoàng gia mang ngựa sắt, áo giáp và thanh đến Phù Đổng, Gióng đứng dậy, duỗi tay và mặc áo giáp. Cậu nắm lấy cây gậy và nhanh chóng ngồi lên con ngựa sắt. Những người lính và thanh niên từ làng đi theo cậu.)

Giong rode off on his horse. The iron horse roared like thunders and breathed fire from its nostrils Behind were soldiers carrying swords and lances vowing to fight the enemies.

(Gióng cưỡi ngựa. Con ngựa sắt gầm gừ như sấm sét và thở ra từ lỗ mũi. Phía sau là những người lính mang kiếm với quyết tâm chống lại quân xâm lược.)

When he saw the enemies, Giong sped forward, charging straight into to the An invaders. The fire from the nostrils of the iron horse burned many enemy soldiers to death, Giong struck at the enemies with his iron rod. The enemy soldiers soon broke ranks and fled, leaving behind their dead and wounded.

(Khi nhìn thấy kẻ thù, Gióng lao về phía trước, lao thẳng vào quân xâm lược Ân. Ngọn lửa từ lỗ mũi của con ngựa sắt đốt cháy nhiều binh lính địch đến chết, Gióng đánh vào kẻ thù bằng cây gậy sắt của mình. Quân lính địch nhanh chóng phá vỡ hàng ngũ và chạy trốn, để lại vô vàn người chết và bị thương.)

The enemies were reinforced with their best generals. Giong again rode into the battle and killed most of the An generals. As a result, the iron rod in his hand broke and became useless.

(Quân xâm lược được hỗ trợ bởi các tướng lĩnh tốt nhất. Gióng một lần nữa đi vào trận chiến và giết chết hầu hết các tướng Ân. Kết quả là, thanh sắt trong tay cậu vỡ ra và trở nên vô tác dụng.)

Giong pulled scores of bamboo trees from a nearby forest and used them to fight the enemies. Then the trees broke, he pulled up others along the way. The last enemy general was killed with those bamboo trees. The invaders were defeated.

(Gióng liền lấy những cây tre trong làng làm vũ khí chống lại kẻ thù. Tướng quân của địch cuối cùng bị giết bởi những cây tre đó. Những kẻ xâm lược đã bị đánh bại.)

Giong ordered his soldiers to return to the capital to bring the victorious news to the emperor. Then Giong rode his iron horse up the Soc Son mountain where he removed his armor and disappeared. People believed he went up to heaven.

(Gióng ra lệnh cho binh lính của mình trở về kinh đô để mang tin tức chiến thắng cho hoàng đế. Sau đó Gióng cưỡi ngựa sắt của mình lên núi Sóc Sơn, cậu trút bỏ áo giáp của mình và biến mất. Mọi người đều nghĩ rằng cậu đã về trời.)

Emperor Hung-Vuong thought it was God who had sent Giong down to save the country. He gave orders that a temple be built in memory of Giong. He also awarded Giong the title of Heavenly King of Phu-Dong. A temple can still be found not far from the place where he ascended to heaven, and every year there is a festival to honor Giong.

(Hoàng đế Hùng Vương nghĩ rằng đó là Đức Chúa Trời đã sai Gióng xuống để cứu nước. Ngài ra lệnh cho một ngôi đền được xây dựng để tưởng nhớ Gióng. Ngài cũng trao tặng Gióng danh hiệu Vua Thiên Thượng của Phù Đổng. Ngôi đền được đặt ngay tại nơi Gióng đã ra đi, và hàng năm có một lễ hội để tôn vinh Gióng.)

Nguồn: Sưu Tầm