Truyện Cổ Tích Cô Bé Lọ Lem Bằng Tiếng Anh / 2023 / Top 17 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Kovit.edu.vn

Truyện Cổ Tích Cô Bé Lọ Lem / 2023

Cô bé Lọ Lem, hay các bé thường hay gọi là công chúa Lọ Lem là một câu chuyện dân gian có tới hàng ngàn biến thể được biết đến trên toàn thế giới.

[the_ad id=”1585″]

Nhân vật chính là một cô gái trẻ tốt bụng phải sống trong hoàn cảnh bất hạnh. Các phiên bản cổ xưa nhất của truyện bắt nguồn từ Trung Quốc, và phiên bản châu Âu lâu đời nhất bắt nguồn từ nước ​​Ý.

Các phiên bản phổ biến nhất lần đầu tiên được xuất bản bởi Charles Perrault vào năm 1697, và sau đó bởi anh em nhà Grimm – chính là câu truyện mà các bé sẽ được nghe ngày hôm nay.

Truyện kể về một cô bé có tên là Êla, đây là một cô bé rất xinh đẹp và tốt bụng, cô có mái tóc màu vàng óng và cặp mắt xanh thăm thẳm. Cha mẹ mất sớm nên Êla phải sống chung nhà với bà dì ghẻ và 2 cô con gái riêng vô cùng xấu xí và xấu tính. Êla bị mẹ kế hành hạ bắt làm việc suốt cả ngày từ sáng đến tối, lúc nào cũng quanh quẩn trong bếp nấu nướng, quét dọn… Chính vì người ngợm lúc nào cũng lấm lem bụi bẩn nên mọi người gọi cô là Lọ Lem.

Ngày xửa ngày xưa ở một đất nước xa xôi có một người đàn ông giàu có nhưng goá vợ, sống trong một ngôi nhà rộng lớn cùng với cô con gái duy nhất tên là Êla. Người cha dành cho cô công chúa xinh đẹp tất cả tình yêu thương mà ông có và rất nhiều thứ mà cô bé nào cũng đều mong muốn có được: váy áo đẹp đẽ, một con ngựa và một con chó con. Tuy thế ông luôn tâm niệm rằng điều Êla cần nhất chính là sự chăm sóc của một người mẹ hiền. Vậy là người cha quyết định tái hôn với một người phụ nữ có hai cô con gái trạc tuổi con ông, hy vọng 3 đứa trẻ sẽ vui vẻ lớn lên cùng nhau.

Thật đáng buồn, người cha tốt bụng không may qua đời sớm, kể từ đó bà mẹ kế bắt đầu để lộ bản tính thật sự của bà. Bà ta là một người lạnh lùng khô khan, đặc biệt bà luôn ghét bỏ, chì chiết và ganh tị với sự xinh đẹp và nết na của Êla. Hai cô con gái của bà ta Anatisia và Drizella cũng xấu nết và xấu người hệt như mẹ của mình. Hai cô này ngày ngày ăn mặc đẹp đẽ, chải chuốt chỉn chu, còn Êla đáng thương thì phải mặc những bộ quần áo cũ kĩ, nhàu nhĩ, thô ráp và đeo khăn yếm của người đầy tớ. Cô bé phải làm đủ mọi việc nặng nhọc nhất trong nhà. Cô dậy từ trước lúc mặt trời mới chớm ló dạng ở đằng xa, gánh nước, đốt lò, nấu ăn và chùi dọn nhà cửa sân vườn. Khi xong việc, cô lủi thủi đến ngồi bên cạnh lò sưởi giữa những tro tàn và gỗ cháy, người ngợm lấm lêm, vì thế người đời gọi Êla là Cô Bé Lọ Lem.

Lọ Lem kết bạn với những chú chim ríu rít hót ngoài cửa sổ đánh thức cô dậy mỗi sớm mai. Cô làm bạn với những chú chuột nhắt ở chung phòng. Cô còn đặt tên và thuê thùa tặng cho chúng những bộ quần áo bé tí tẹo với mũ trùm đầu đáng yêu. Đám chuột nhắt vô cùng yêu mến cô vì cô thường cứu chúng ra khỏi những bẫy chuột hay nanh vuốt của Quỷ Sứ, tên con mèo có tính tình hung dữ của bà mẹ kế.

Công việc mỗi sáng của Lọ Lem là chuẩn bị đồ ăn tươm tất cho cả nhà, đổ đầy sữa cho con mèo, xương cho chú chó, lúa mạch cho con ngựa, bắp và ngũ cốc cho những con gà, ngỗng và vịt trong sân nông trại. Cô còn phải mang đĩa thức ăn sáng lên tận phòng cho bà mẹ kế, Anatasia và Drizella.

” Mang áo váy của tao đi ủi và đem về đây nội trong một giờ” Drizella ra lệnh, ” Đừng có quên khâu quần áo của tao, làm cho xong và đừng có hòng kéo lê cả một ngày trời” Anatasia đòi hỏi. Mẹ kế cũng gầm gừ trong miệng, ” Đem đồ bẩn đi giặt ngay. Sau đó thì làm sạch tấm thảm đỏ lớn ở phòng khách, chùi rửa các cửa sổ cho bóng loáng, và cả những tấm thảm lớn nhỏ khác.”

” Thưa mẹ vâng, vâng Drizella, vâng Anatasia. ” Lọ Lem vui vẻ trả lời và nhanh chóng đi làm công việc của mình không một chút than vãn hay buồn rầu.

Cô Lọ Lem (Tiếng Việt) / 2023

Dịch: Lương Văn Hồng, © Lương Văn Hồng

There was once a rich man whose wife lay sick, and when she felt her end drawing near she called to her only daughter to come near her bed, and said, “Dear child, be pious and good, and God will always take care of you, and I will look down upon you from heaven, and will be with you.” And then she closed her eyes and expired. The maiden went every day to her mother’s grave and wept, and was always pious and good. When the winter came the snow covered the grave with a white covering, and when the sun came in the early spring and melted it away, the man took to himself another wife.

The new wife brought two daughters home with her, and they were beautiful and fair in appearance, but at heart were, black and ugly. And then began very evil times for the poor step-daughter. “Is the stupid creature to sit in the same room with us?” said they; “those who eat food must earn it. Out upon her for a kitchen-maid!” They took away her pretty dresses, and put on her an old grey kirtle, and gave her wooden shoes to wear. “Just look now at the proud princess, how she is decked out!” cried they laughing, and then they sent her into the kitchen. There she was obliged to do heavy work from morning to night, get up early in the morning, draw water, make the fires, cook, and wash. Besides that, the sisters did their utmost to torment her, mocking her, and strewing peas and lentils among the ashes, and setting her to pick them up. In the evenings, when she was quite tired out with her hard day’s work, she had no bed to lie on, but was obliged to rest on the hearth among the cinders. And as she always looked dusty and dirty, they named her Cinderella.

It happened one day that the father went to the fair, and he asked his two step-daughters what he should bring back for them. “Fine clothes!” said one. “Pearls and jewels!” said the other. “But what will you have, Cinderella?” said he. “The first twig, father, that strikes against your hat on the way home; that is what I should like you to bring me.” So he bought for the two step-daughters fine clothes, pearls, and jewels, and on his way back, as he rode through a green lane, a hazel-twig struck against his hat; and he broke it off and carried it home with him. And when he reached home he gave to the step-daughters what they had wished for, and to Cinderella he gave the hazel-twig. She thanked him, and went to her mother’s grave, and planted this twig there, weeping so bitterly that the tears fell upon it and watered it, and it flourished and became a fine tree. Cinderella went to see it three times a day, and wept and prayed, and each time a white bird rose up from the tree, and if she uttered any wish the bird brought her whatever she had wished for.

Now if came to pass that the king ordained a festival that should last for three days, and to which all the beautiful young women of that country were bidden, so that the king’s son might choose a bride from among them. When the two stepdaughters heard that they too were bidden to appear, they felt very pleased, and they called Cinderella, and said, “Comb our hair, brush our shoes, and make our buckles fast, we are going to the wedding feast at the king’s castle.” Cinderella, when she heard this, could not help crying, for she too would have liked to go to the dance, and she begged her step-mother to allow her. “What, you Cinderella!” said she, “in all your dust and dirt, you want to go to the festival! you that have no dress and no shoes! you want to dance!” But as she persisted in asking, at last the step-mother said, “I have strewed a dish-full of lentils in the ashes, and if you can pick them all up again in two hours you may go with us.” Then the maiden went to the backdoor that led into the garden, and called out, “O gentle doves, O turtle-doves, And all the birds that be, The lentils that in ashes lie Come and pick up for me!

The good must be put in the dish, The bad you may eat if you wish.”

The good must be put in the dish, The bad you may eat if you wish.”

And as there was no one left in the house, Cinderella went to her mother’s grave, under the hazel bush, and cried,

“Little tree, little tree, shake over me, That silver and gold may come down and cover me.”

Then the bird threw down a dress of gold and silver, and a pair of slippers embroidered with silk and silver. , And in all haste she put on the dress and went to the festival. But her step-mother and sisters did not know her, and thought she must be a foreign princess, she looked so beautiful in her golden dress. Of Cinderella they never thought at all, and supposed that she was sitting at home, arid picking the lentils out of the ashes. The King’s son came to meet her, and took her by the hand and danced with her, and he refused to stand up with any one else, so that he might not be obliged to let go her hand; and when any one came to claim it he answered, “She is my partner.”

And when the evening came she wanted to go home, but the prince said he would go with her to take care of her, for he wanted to see where the beautiful maiden lived. But she escaped him, and jumped up into the pigeon-house. Then the prince waited until the father came, and told him the strange maiden had jumped into the pigeon-house. The father thought to himself, “It cannot surely be Cinderella,” and called for axes and hatchets, and had the pigeon-house cut down, but there was no one in it. And when they entered the house there sat Cinderella in her dirty clothes among the cinders, and a little oil-lamp burnt dimly in the chimney; for Cinderella had been very quick, and had jumped out of the pigeon-house again, and had run to the hazel bush; and there she had taken off her beautiful dress and had laid it on the grave, and the bird had carried it away again, and then she had put on her little gray kirtle again, and had sat down in. the kitchen among the cinders.

The next day, when the festival began anew, and the parents and step-sisters had gone to it, Cinderella went to the hazel bush and cried,

“Little tree, little tree, shake over me, That silver and gold may come down and cover me.”

Then the bird cast down a still more splendid dress than on the day before. And when she appeared in it among the guests every one was astonished at her beauty. The prince had been waiting until she came, and he took her hand and danced with her alone. And when any one else came to invite her he said, “She is my partner.” And when the evening came she wanted to go home, and the prince followed her, for he wanted to see to what house she belonged; but she broke away from him, and ran into the garden at the back of the house. There stood a fine large tree, bearing splendid pears; she leapt as lightly as a squirrel among the branches, and the prince did not know what had become of her. So he waited until the father came, and then he told him that the strange maiden had rushed from him, and that he thought she had gone up into the pear-tree. The father thought to himself, “It cannot surely be Cinderella,” and called for an axe, and felled the tree, but there was no one in it. And when they went into the kitchen there sat Cinderella among the cinders, as usual, for she had got down the other side of the tree, and had taken back her beautiful clothes to the bird on the hazel bush, and had put on her old grey kirtle again.

On the third day, when the parents and the step-children had set off, Cinderella went again to her mother’s grave, and said to the tree,

“Little tree, little tree, shake over me, That silver and gold may come down and cover me.”

Then the bird cast down a dress, the like of which had never been seen for splendour and brilliancy, and slippers that were of gold. And when she appeared in this dress at the feast nobody knew what to say for wonderment. The prince danced with her alone, and if any one else asked her he answered, “She is my partner.”

And when it was evening Cinderella wanted to go home, and the prince was about to go with her, when she ran past him so quickly that he could not follow her. But he had laid a plan, and had caused all the steps to be spread with pitch, so that as she rushed down them the left shoe of the maiden remained sticking in it. The prince picked it up, and saw that it was of gold, and very small and slender. The next morning he went to the father and told him that none should be his bride save the one whose foot the golden shoe should fit. Then the two sisters were very glad, because they had pretty feet. The eldest went to her room to try on the shoe, and her mother stood by. But she could not get her great toe into it, for the shoe was too small; then her mother handed her a knife, and said, “Cut the toe off, for when you are queen you will never have to go on foot.” So the girl cut her toe off, squeezed her foot into the shoe, concealed the pain, and went down to the prince. Then he took her with him on his horse as his bride, and rode off. They had to pass by the grave, and there sat the two pigeons on the hazel bush, and cried,

“There they go, there they go! There is blood on her shoe; The shoe is too small, Not the right bride at all!”

Then the prince looked at her shoe, and saw the blood flowing. And he turned his horse round and took the false bride home again, saying she was not the right one, and that the other sister must try on the shoe. So she went into her room to do so, and got her toes comfortably in, but her heel was too large. Then her mother handed her the knife, saying, “Cut a piece off your heel; when you are queen you will never have to go on foot.” So the girl cut a piece off her heel, and thrust her foot into the shoe, concealed the pain, and went down to the prince, who took his bride before him on his horse and rode off. When they passed by the hazel bush the two pigeons sat there and cried,

“There they go, there they go! There is blood on her shoe; The shoe is too small, Not the right bride at all!”

Then the prince looked at her foot, and saw how the blood was flowing from the shoe, and staining the white stocking. And he turned his horse round and brought the false bride home again. “This is not the right one,” said he, “have you no other daughter?” – “No,” said the man, “only my dead wife left behind her a little stunted Cinderella; it is impossible that she can be the bride.” But the King’s son ordered her to be sent for, but the mother said, “Oh no! she is much too dirty, I could not let her be seen.” But he would have her fetched, and so Cinderella had to appear. First she washed her face and hands quite clean, and went in and curtseyed to the prince, who held out to her the golden shoe. Then she sat down on a stool, drew her foot out of the heavy wooden shoe, and slipped it into the golden one, which fitted it perfectly. And when she stood up, and the prince looked in her face, he knew again the beautiful maiden that had danced with him, and he cried, “This is the right bride!” The step-mother and the two sisters were thunderstruck, and grew pale with anger; but he put Cinderella before him on his horse and rode off. And as they passed the hazel bush, the two white pigeons cried,

“There they go, there they go! No blood on her shoe; The shoe’s not too small, The right bride is she after all.”

And when they had thus cried, they came flying after and perched on Cinderella’s shoulders, one on the right, the other on the left, and so remained.

And when her wedding with the prince was appointed to be held the false sisters came, hoping to curry favour, and to take part in the festivities. So as the bridal procession went to the church, the eldest walked on the right side and the younger on the left, and the pigeons picked out an eye of each of them. And as they returned the elder was on the left side and the younger on the right, and the pigeons picked out the other eye of each of them. And so they were condemned to go blind for the rest of their days because of their wickedness and falsehood.

Câu Chuyện Cổ Tích “Cô Bé Lọ Lem” Luôn Được Yêu Thích / 2023

Câu chuyện cổ tích “Cô bé Lọ Lem” với sự lung linh, huyền ảo của thế giới cổ tích cùng tình yêu lãng mạn, sự hài hước vui nhộn, từng được yêu mến ở khắp nơi trên thế giới. Đã có hàng ngàn phiên bản khác nhau thể hiện câu chuyện hấp dẫn này ở rất nhiều loại hình: Kịch, phim, múa ba-lê, phim hoạt hình… Và trên sàn diễn của Nhà hát Giao hưởng Nhạc Vũ Kịch TP.Hồ Chí Minh, vở ba-lê cổ điển “Cô bé Lọ Lem” đã trở thành chương trình biểu diễn được mong đợi hàng năm đối với cả các khán giả lớn tuổi và nhỏ tuổi tại TP.Hồ Chí Minh. Vở ba-lê này được tái diễn vào hai đêm 8 và 9/4/2016 tại Nhà hát Thành phố (số 7, Công trường Lam Sơn, Q.1, TP.HCM), có sự tham gia biểu diễn của các nghệ sĩ: Trần Hoàng Yến, Đàm Đức Nhuận, Nguyễn Phúc Hùng, Hồ Phi Điệp, Phạm Thế Chung, Chloe Glemot, Nguyễn Thu Trang, Phan Thị Hồng Châu, Đỗ Nguyễn Hải Anh…

Ngồi nhà, trong tâm trạng của một cô gái mới lớn, Lọ Lem tưởng tượng ra cảnh một cung điện nguy nga, rực rỡ, hoành tráng, cô ước gì mình cũng được tham dự để thấy mặt hoàng tử mà mọi người đồn thổi rằng rất đẹp trai, được nhìn thấy sự sống giàu sang của bậc vua chúa, quý tộc, công nương, công tử, ước mình có một chiếc váy đẹp, được khiêu vũ với hoàng tử, ước đủ thứ… nhưng những điều ước mơ đó chỉ có trong trí tưởng tượng của Lọ Lem. May mắn thay, bà Tiên đỡ đầu của Lọ Lem đã giúp cô đến được với buổi dạ hội dù rất muộn. Cô là người cuối cùng được hoàng tử nhìn thấy và mời khiêu vũ, sự dịu dàng và gương mặt thánh thiện của Lọ Lem đã làm hoàng tử say mê. Tuy nhiên, nhớ lời bà Tiên dặn, Lọ Lem phải ra về trước khi đồng hồ gõ 12 tiếng. Và lúc chạy khỏi hoàng cung, Cinderella đã đánh rơi lại một chiếc giày…

Với cảnh trí, ánh sáng sân khấu và trang phục lộng lẫy, những màn múa lung linh tuyệt đẹp, những màn hài hước, vui nhộn với kỹ thuật ba-lê điêu luyện trong âm nhạc đỉnh cao, vở ba-lê cổ điển “Cô bé Lọ Lem” có sức hấp dẫn và cuốn hút mạnh mẽ, xứng đáng là một món ăn tinh thần đặc biệt, góp phần làm đa dạng hơn đời sống văn hóa, nghệ thuật và giải trí tại TP.Hồ Chí Minh.

Năm 2013, nghệ sĩ – biên đạo múa người Na Uy Johanne Jakhelln Constant đã cùng với các nghệ sĩ Nhà hát Giao hưởng Nhạc Vũ Kịch TP.Hồ Chí Minh dàn dựng và giới thiệu tới khán giả vở vũ kịch nổi tiếng “Cô bé Lọ Lem” của Sergei Prokofiev. Đêm biểu diễn ra mắt của vở diễn vào tháng 8/2013 đã nhận được sự yêu mến của đông đảo khán giả và đánh giá rất cao của giới chuyên môn và truyền thông. Từ đó, vở vũ kịch này luôn nằm trong danh sách được yêu cầu của khán giả.

Khoảng những năm từ 1940 đến 1944, nhà soạn nhạc người Nga Sergei Prokofiev, một trong những nhà soạn nhạc nổi tiếng nhất của thời kỳ âm nhạc thế kỷ XX, đã viết tác phẩm âm nhạc cho ba-lê “Cô bé Lọ Lem”. Vở ba-lê đã trở thành một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông và cũng là một trong những vở ba-lê nổi tiếng nhất thế giới, đã có tới hơn 1.500 phiên bản biên đạo múa khác nhau cho “Cô bé Lọ Lem” trên tác phẩm âm nhạc của Sergei Prokofiev.

Vở ba lê “Cô bé Lọ Lem” được biểu diễn ra mắt vào năm 1945 tại Nhà hát Bolshoi với phần biên đạo múa của nhà biên đạo người Nga Rostislav Zakharov.

Nhà biên đạo múa nổi tiếng người Na Uy Johanne Jakhelln Constant, người đã có nhiều kinh nghiệm trong ba-lê cổ điển với gần 10 năm làm Giám đốc nghệ thuật cho Đoàn múa Ballet Quad Cities (Hoa Kỳ). Cô là người đầu tiên đã giúp cho các nghệ sĩ của Nhà hát Giao hưởng Nhạc Vũ Kịch TP.Hồ Chí Minh tự tin trình diễn hoàn chỉnh một vở ba-lê cổ điển. Nhà biên đạo múa nổi tiếng người Na Uy Johanne Jakhelln Constant cũng là người đã dàn dựng thành công vở vũ kịch “Kẹp hạt dẻ”, tạo được cảm tình tốt trong lòng khán giả TP.Hồ Chí Minh.

Nguyễn Minh – Ảnh: Kim SaTuần Báo Văn Nghệ chúng tôi số 396

Type Truyện Cô Lọ Lem Ở Việt Nam Và Một Số Nước Châu Á / 2023

Mở đầu

Tìm hiểu về type truyện này đã có nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề của truyện từ nhiều khía cạnh khác nhau và bằng nhiều phương pháp khác nhau. Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể trong sự so sánh truyện của Việt Nam với các nước ở Châu Á.

Kế thừa các công trình nghiên cứu trên thế giới và mong muốn có một cái nhìn toàn diện hơn, trong bài báo này chúng tôi đi sâu nghiên cứu type truyện Cô Lọ Lem ở Việt Nam và một số nước châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc và đặc biệt là Ấn Độ theo phương pháp cấu trúc – loại hình, phương pháp phân tích so sánh type truyện và motif. Chúng tôi chủ yếu quan tâm đến sự tương đồng và khác biệt về nội dung, kết cấu và các motif cấu thành nên truyện, từ đó lý giải về văn hóa dân tộc ẩn chứa trong đó, tìm ra cội nguồn và hiểu được “đời sống thực” của truyện. Chúng tôi chọn một số truyện tiêu biểu để phân tích như: Tấm Cám (type Tấm Cám củaViệt Nam), Nàng Diệp Hạn, Muội Sẹo và Muội Xinh (type Cô Lọ Lem của Trung Quốc), Kông Chuy Pát Chuy (type Cô Lọ Lem – Kongwi và Patjwi của Hàn Quốc), Benizara và Kakezara (type Cô gái có duyên ngầm của Nhật Bản), Dêvkî Rânî (type Cô Lọ Lem của Ấn Độ)

1. Cấu trúc và nội dung của type truyện

Khi khảo sát các truyện trong type truyện cô Lọ Lem của Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Ấn Độ, chúng tôi nhận thấy có thể chia những truyện đó thành hai loại.

Loại thứ nhất gồm những truyện có cấu trúc đơn giản, có một lớp truyện, kết thúc ở chỗ cô gái con riêng sau khi thử giày hoặc thể hiện một tài năng gì đó, lấy được người chồng xứng đáng (thường là vua, hoàng tử hoặc người có địa vị cao). Còn mẹ con mụ dì ghẻ bị trừng phạt. Cấu trúc Type thuộc loại này gồm bốn phần chính: I. Cô gái con riêng và người chị em cùng cha khác mẹ; II. Sự giúp đỡ thần kì; III. Lấy được hoàng tử. IV. Sự trừng phạt. Loại cấu trúc đơn giản này thường có ở type truyện Cô Lọ Lem – Cô Tro Bếp của châu Âu, châu Phi còn ở Châu Á thì không nhiều.

Theo kết cấu này thì truyện của Nhật Bản (bản truyện tiêu biểu là Benizara và Kakezara – Chiếc đĩa đỏ và chiếc đĩa vỡ) [6, tr327-331] được xếp vào loại thứ nhất, chỉ dừng lại ở phần IV của nội dung type truyện. Truyện kể về cô gái con riêng Benizara chăm chỉ, tốt bụng và thông minh. Còn cô gái con mụ dì ghẻ độc ác là Kakezara thì lười biếng, xấu bụng và ngu dốt. Một ông chủ – quý ông giàu có tình cờ nhìn thấy cô gái mồ côi Benizara ở buổi xem kịch, trong trang phục kimônô rất đẹp do chiếc hộp thần kì của bà mẹ yêu tinh trong núi ban cho. Câu chuyện kết thúc ở chỗ ông chủ giàu có đi tìm cô. Ông nhận ra cô gái con riêng qua bài hát – bài thơ mà cô đã sáng tác và hát theo điều kiện thể lệ cuộc thi thực tế do quý ông đặt ra. Sau đó Benizara được đưa lên kiệu hoa đẹp về dinh thự của ông chủ. Còn Kakezara bị trừng phạt ngã xuống một con mương sâu mà chết khi mẹ cô muốn kéo cô đến dinh thự của quý ông giàu có kia.

Loại thứ hai gồm những truyện có cấu trúc phức tạp, đầy đủ, gồm hai lớp truyện trở lên, không kết thúc ở chỗ cô gái con riêng lấy được chồng giàu sang và sống hạnh phúc, mẹ con người dì ghẻ nhận sự trừng phạt mà có sự phát triển thêm nhiều motif, nhiều tình tiết về những khó khăn, thử thách đặt ra cho nhân vật, kể về cô gái con riêng hiền hậu, ngây thơ đó bị mẹ con mụ dì ghẻ tìm cách giết hại nhiều lần. Cấu trúc Type thuộc loại này gồm sáu phần chính: I. Cô gái con riêng và người chị em cùng cha khác mẹ; II. Sự giúp đỡ thần kì; III. Lấy được hoàng tử; IV. Sự hãm hại và hóa kiếp nhiều lần; V. Nhận ra và đoàn tụ; VI. Sự trừng phạt. [4, tr423-424]

Khác với truyện của Nhật Bản, truyện của Việt Nam, Hàn Quốc và Ấn Độ thuộc loại kết cấu thứ hai, đều gồm sáu phần và có thêm nhiều tình tiết phức tạp hơn. Cô gái con riêng sau khi lấy được chồng hoàng tử vẫn tiếp tục bị mụ dì ghẻ hãm hại và phải hóa kiếp nhiều lần dưới nhiều hình thức khác nhau. Sau cùng trở lại làm người đẹp hơn trước và đoàn tụ với chồng. Còn mẹ con mụ dì ghẻ cuối cùng bị trừng phạt thích đáng.

Trong truyện Tấm Cám của Việt Nam (bản kể của Vũ Ngọc Phan) [7, tr868-874], nhân vật Tấm – cô gái con riêng hiền lành ngây thơ và tốt bụng đã bị mẹ con mụ dì ghẻ hãm hại (chặt đổ cây cau khiến cho Tấm ngã xuống ao chết) để thay thế con gái mụ làm hoàng hậu. Cô gái con riêng đã phải hóa kiếp nhiều lần, biến hóa dưới nhiều hình thức: loài vật – cây – quả và sau cùng trở lại làm người đẹp hơn trước để đấu tranh giành lại hạnh phúc bị cướp đoạt. Cô gái mồ côi và người chồng được đoàn tụ sau một thời gian dài chia ly, đau khổ và tìm kiếm vô vọng. Cuối cùng mẹ con mụ dì ghẻ mới bị trừng phạt bằng cái chết.

Truyện Kông Chuy Pát Chuy của Hàn Quốc [13, tr 60-66] cũng kể về nhân vật Kông Chuy – cô gái con riêng tốt bụng đã bị mẹ con mụ dì ghẻ giết hại (Pát Chuy đẩy Kông Chuy ngã xuống ao gây ra cái chết của Kông Chuy) để thay thế Kông Chuy làm vợ quan huyện. Cô gái con riêng đã phải hóa kiếp hai lần, biến thành: bông hoa – viên ngọc đỏ và từ viên ngọc đỏ trở lại làm cô gái đẹp để đấu tranh giành lại hạnh phúc của mình. Kông Chuy đã nói rõ tội lỗi của Pát Chuy với quan huyện để quan huyện phân xử. Chính quan huyện đã giết chết Pát Chuy.

Trong truyện Dêvkî Rânî của Ấn Độ [12, tr160-164], vào ngày ấn định làm đám cưới, bà mẹ kế đã cắm một cây kim dài, nhọn được phù phép vào đầu cô gái con riêng xinh đẹp là Dêvkî Rânî, khiến cô biến thành một con chim nhỏ rực rỡ, bay vút vào không trung rồi sau đó bà mẹ kế đưa con gái mình thế chỗ. Cuối cùng Dêvkî Rânî được trở lại làm người, đoàn tụ và kết hôn với tiểu vương. Hai người chung sống hạnh phúc cùng con bò mãi mãi. Còn người mẹ kế và con gái Mutkulî Rânî bị tiểu vương trừng phạt bằng cách cắt mũi và tai rồi đuổi cả hai mẹ con ra khỏi vương quốc.

Riêng truyện của Trung Quốc, qua khảo sát chúng tôi thấy tồn tại cả hai dạng kết cấu của type truyện Cô Lọ Lem. Truyện Nàng Diệp Hạn của Trung Quốc [8, tr226-228] cũng có kết cấu đơn giản như truyện của Nhật Bản. Truyện dừng lại ở chỗ nàng Diệp Hạn đi vừa chiếc giày vàng và được vua Đà Hãn đem về nước cùng với nắm xương cá. Hai mẹ con mẹ ghẻ của Diệp Hạn thì bị phi thạch từ trên trời bắn trúng và chết cả hai. Tuy nhiên, truyện có thêm đoạn cuối nói về việc “vua Đà Hãn cần nhiều vàng bạc châu báu, đòi hỏi ở xương cá nhiều quá, cho nên một năm sau nắm xương cá không hiệu nghiệm nữa. Vua bèn đem chôn xương cá ở bờ biển, lấy một trum đấu hạt châu chôn theo, chung quanh lát vàng. Về sau, nhà vua bị bề tôi phế truất. Nhà vua ra chỗ chôn xương cá ngày trước tìm vàng ngọc, nhưng nước biển đã cuốn đi mất tất cả…” [8, tr228].

Trong khi đó, truyện Muội Sẹo và Muội Xinh [11, tr222-226] của dân tộc Hán Trung Quốc có thêm phần sau giống truyện của Việt Nam, Hàn Quốc và Ấn Độ. Cô gái con riêng Muội Xinh sau khi bị Muội Sẹo đẩy xuống giếng giết hại đã phải hóa kiếp thành chim sẻ và cây tre, rồi sau đó mới trở lại làm người. Muội Xinh còn phải trải qua nhiều thử thách do Muội Sẹo đặt ra để so tài như: dẫm lên quả trứng gà, trèo lên bậc thang dao, thi nhảy vạc dầu. Cuối cùng, cô gái con riêng mới giành được chiến thắng. Còn mẹ con mụ dì ghẻ bị trừng phạt: cô em chết do rơi xuống vạc dầu nóng bỏng, dì ghẻ chết do sợ hãi khi nhìn thấy cái đầu cháy đen của con.

Cũng phải nói thêm rằng, type truyện Cô Lọ Lem của Trung Quốc có rất nhiều bản truyện. Theo học giả Trung Quốc Lưu Hiểu Xuân: “Hiện đã nắm được 72 dị bản của 21 dân tộc Trung Hoa” [11, tr6]. Trong luận án tiến sĩ ” So sánh kiểu truyện Cô Lọ Lem của một số dân tộc miền Nam Trung Quốc với kiểu truyện Tấm Cám của Việt Nam“, Đường Tiểu Thi cũng đã khảo sát 47 bản truyện của miền Nam Trung Quốc. Hầu hết các truyện của Trung Quốc đều có kết cấu phức tạp gồm sáu phần như trên. Đây là lý do tại sao trong bài viết này, chúng tôi lại chọn hai bản truyện của Trung Quốc để phân tích. Căn cứ vào quy luật phát triển từ đơn giản đến phức tạp của kết cấu truyện, chúng tôi đồ rằng dạng truyện kết thúc ở chỗ cô gái lấy chồng và mẹ con mụ dì ghẻ bị trừng phạt là dạng truyện cổ hơn như truyện nàng Diệp Hạn. Đây được cho là văn bản cổ nhất của Trung Quốc do Đoàn Thành Thức đời Đường ghi trong cuốn Dậu Dương tạp trở ghi chép về type truyện này. Còn những truyện sau này ở dạng phức tạp hơn, có thêm phần tiếp theo của truyện.

Như vậy, xét về mặt kết cấu của những truyện này, chúng ta thấy có sự khác nhau khá rõ. Những phần tiếp theo của truyện đã giúp tăng thêm sự hấp dẫn, sự sinh động đầy kịch tính của cốt truyện. Nó phản ánh cuộc đấu tranh giữa những xung đột trong gia đình nhưng cũng là cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội cũ đầy gay go, gian khổ – mà nhân vật chính – cô gái con riêng tốt bụng phải trải qua những biến cố cực kỳ ác liệt để cuối cùng chiến thắng, giành lại được hạnh phúc và cuộc sống tốt đẹp. Điều này thể hiện lý tưởng thẩm mỹ của tác giả dân gian trên mặt trận chống lại cái ác.

2. Những motif cơ bản của type truyện

Qua khảo sát type truyện Tấm Cám của Việt Nam và Cô Lọ Lem của Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, chúng tôi thấy có một số motif chính xuyên suốt các type truyện. Đó là các motif:

– Đứa trẻ mồ côi bị ngược đãi

– Sự giúp đỡ của các thế lực siêu nhiên

– Motif sự tái sinh, thay đổi hình dạng

– Cái thiện được ban thưởng và Cái ác bị trừng phạt

2.1. Motif Đứa trẻ mồ côi bị ngược đãi

Cô gái con riêng mồ côi trong type truyện ” Tấm Cám ” của Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ đều ở trong hoàn cảnh phải sống với mụ dì ghẻ độc ác và cô con gái lười biếng của mụ. Cô gái con riêng phải làm quần quật suốt cả ngày trong lúc mẹ con mụ dì ghẻ sống ăn chơi nhàn nhã. Không những thế, cô gái mồ côi còn bị mắng chửi vô cớ, bị hắt hủi, bị chà đạp. Cô gái con riêng ngây thơ, hiền lành luôn bị mẹ con mụ dì ghẻ lừa dối và xúc phạm.

Trong truyện Tấm Cám của Việt Nam, cô con gái riêng – Tấm “phải làm lụng quần quật suốt ngày; còn Cám được mẹ nuông chiều, chơi dông dài ngày nọ qua ngày kia”. Cô bị con gái mụ dì ghẻ trút mất giỏ cá, bị mụ dì ghẻ lừa đi chăn trâu “đồng xa” để bắt mất con bống cô nuôi, bị mụ dì ghẻ lừa trèo lên cây cau hái quả để cúng bố rồi chặt đổ cây để giết cô gái.

Trong truyện Kông Chuy Pát Chuy của Hàn Quốc, cô gái con riêng bị mụ dì ghẻ lừa đưa cho một cái cuốc gỗ sắp gãy bảo đi cuốc nương.

Trong truyện Benizara và Kakezara của Nhật Bản, cô gái con riêng Benizara cũng bị bà mẹ kế đối xử “rất độc ác”. Mụ sai cô vào rừng nhặt hạt dẻ nhưng lại đưa cho cô “một chiếc giỏ bị thủng đáy” còn đưa cho con gái mụ một chiếc giỏ tốt.

Cô gái con riêng trong truyện Dêvkî Rânî của Ấn Độ bị mẹ kế đối xử rất tàn nhẫn “bắt em phải chịu đủ mọi sỉ nhục”. Ngày qua ngày, cô bé đi chăn bò với một mẩu bánh khô làm đồ ăn và ít (hoặc không) quần áo che chở khỏi nắng, mưa.

Trong truyện Nàng Diệp Hạn của Trung Quốc thì sau khi cha chết, mẹ ghẻ hành hạ cô gái con riêng, “thường sai cô đi hái củi ở những nơi nguy hiểm và gánh nước ở những chỗ sâu” [8, tr 226]. Mụ còn sai cô đi gánh nước ở xa để bắt cá mổ ăn.

Trong lúc mẹ con mụ dì ghẻ ăn mặc đẹp đẽ để đi dự lễ hội ( Tấm Cám, nàng Diệp Hạn), hoặc đi về bên ngoại ăn tiệc ( Kông Chuy Pát Chuy), đi xem kịch ( Benizara và Kakezara) thì mụ dì ghẻ độc ác giao cho cô gái con riêng những nhiệm vụ nặng nề và bắt cô phải hoàn thành. Những nhiệm vụ đó thường là: phải giã ba thúng thóc và ba thúng kê, bắt đổ đầy nước vào cái chum bị thủng đáy, bắt nấu cơm trong cái nồi thủng trôn ( Kông Chuy Pát Chuy); ở nhà coi vườn ( nàng Diệp Hạn); làm một số lượng công việc lớn ( Benizara và Kakezara) hay nhặt thóc trộn gạo, nhặt kê trộn đậu, cắt cỏ…trong type truyện Tấm Cám của Việt Nam.

Cô gái con riêng không những bị đối xử bất công mà còn liên tục bị mụ dì ghẻ hãm hại, phải chết đi sống lại nhiều lần, phải hóa kiếp nhiều lần để cuối cùng mới được trở lại làm người. Motif Đứa trẻ mồ côi bị ngược đãi vừa có ý nghĩa phê phán giai cấp bóc lột vừa phản ánh những hình thức thử thách đặt ra cho nhân vật.

Motif Sự giúp đỡ của các thế lực siêu nhiên hay Sự trợ giúp thần kì

Motif sự giúp đỡ của các thế lực siêu nhiên có ở nhiều truyện dân gian thể hiện qua những motif tình tiết như: sự thử thách của những vị thần cải trang, sự phù trợ của đồ vật thần, cây thần, loài vật thần, sự giúp đỡ của Tiên, của Bụt. Motif này phản ánh nhu cầu tâm lý tự nhiên của con người trước những khó khăn thử thách đặt ra trong cuộc sống. Sự trợ giúp thần kì thể hiện qua thế lực siêu nhiên thần thánh có quan hệ mật thiết với tôn giáo tín ngưỡng của nơi mà truyện kể đó ra đời và lưu truyền. Motif này có sự kết hợp giữa nhu cầu tâm lý của con người trước thế giới hiện thực đầy chông gai thử thách và tôn giáo tín ngưỡng riêng của từng dân tộc. Đây cũng là sản phẩm của trí tưởng tượng của tác giả dân gian, thể hiện lý tưởng nhân đạo của tác giả dân gian.

Trong truyện của Việt Nam, thế lực siêu nhiên đó là Bụt (Đức Phật), hiện lên khi cô Tấm cần sự giúp đỡ. Bụt chỉ cho Tấm mang cá bống về nuôi, mang xương cá bống về chôn, sai đàn chim đến giúp đỡ Tấm hoàn thành những công việc mà mụ phù thủy giao, ban thưởng cho Tấm quần áo đẹp để Tấm đi dự hội.

Thế lực siêu nhiên đó bà mẹ yêu tinh đã giúp cô gái con riêng tìm đường về nhà khi cô đi nhặt hạt dẻ trong rừng và lạc vào nhà của yêu tinh (truyện Nhật Bản); là con trâu hóa thân của người mẹ giúp cô gái gỡ đống tơ rối, phân loại vừng và đậu xanh (truyện Trung Quốc); là người xõa tóc từ trên trời xuống giúp đỡ cô gái, chỉ cho cô đem xương cá cất đi để khi cần cầu nguyện sẽ được tất cả (truyện Trung Quốc) (trong bản dịch của Đinh Gia Khánh trong Sơ bộ tìm hiểu truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám dịch là “người đầu trọc từ trên trời xuống”, giáo sư Kiều Thu Hoạch đã chỉnh lý đoạn dịch sai này trong bài báo Sơ bộ tìm hiểu truyện Tấm Cám của Trung Quốc đăng trên Tạp chí Văn hóa dân gian, số 4/1996).

Trong truyện của Hàn Quốc, cô gái con riêng được thế lực siêu nhiên trong hình dạng con bò đen (bà mẹ đẻ đầu thai) từ trên trời bay xuống cày giúp; con cóc bít hộ đáy nồi, con rắn bít hộ đáy chum, lũ chim giã hộ thóc và kê.

Truyện của Ấn Độ, thế lực siêu nhiên là con bò già của người mẹ đã mất. Con bò già nuốt miếng bánh khô của cô gái và nhả ra cho cô những thức ăn ngon lành bổ dưỡng, ban cho cô gái hình dáng xinh đẹp và luôn chăm sóc, giúp đỡ cô như một người mẹ những lúc cô gặp khó khăn.

Trong thế giới tinh thần của con người, thế giới siêu nhiên luôn tồn tại bên cạnh thế giới thế tục. Yếu tố siêu nhiên trước hết có nguồn gốc từ tín ngưỡng phong tục cổ như tín ngưỡng vật linh, Tô tem giáo. Sau này do sự ảnh hưởng của những tôn giáo khác như Phật giáo, Đạo giáo, đạo Hindu…mà có thêm những nhân vật phù trợ khác nhau như Bụt, đạo sĩ, Tiên gắn với tôn giáo tín ngưỡng của nơi mà bản kể đó lưu truyền.

Motif sự giúp đỡ của các thế lực siêu nhiên vừa mang chức năng trợ thủ cho nhân vật cô gái con riêng nhưng “cũng là trợ thủ cho tác giả dân gian thoát khỏi những bế tắc của hiện thực”[8, tr89]. Tuy nhiên, nhân vật không hoàn toàn phụ thuộc vào sự giúp đỡ của thế lực siêu nhiên. Trái lại, họ vẫn phải tự mình quyết định số phận, tự mình vượt qua thử thách. Các thế lực siêu nhiên chỉ đóng vai trò là người hoặc vật “phù trợ”, “trợ thủ” cho nhân vật chứ không có vai trò quyết định.

Motif này bắt nguồn từ quan niệm về linh hồn của người nguyên thủy. “Người xưa tin rằng, ông bà cha mẹ sau khi chết đi trở thành linh thiêng và thường tìm cách phù trợ cho con cháu. Đó là cơ sở của việc thờ cúng vật tổ, của tô tem giáo thời công xã thị tộc nguyên thủy. Mỗi thị tộc thờ cúng một vật tổ; vật đó có thể là cây cỏ, nhưng thường là động vật. Vật đó là vật quen thuộc ở địa vực cư trú của từng thị tộc: chim, rắn, cá, sư, tử, gấu, bò tót…” [8, tr46]

Khảo sát type truyện Cô Lọ Lem của Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc và Ấn Độ, chúng ta thấy sự thay đổi hình dạng, sự tái sinh diễn ra ở hai nhân vật cô gái con riêng và nhân vật người mẹ. Việc người mẹ sau khi chết đi hóa thành con vật linh thiêng để phù hộ cho con mình là một ký ức về vật tổ, về tô-tem giáo.

Trong truyện của Trung Quốc, người mẹ hóa thành con trâu để ở bên con gái (truyện Muội Sẹo và Muội Xinh). Trong truyện của Hàn Quốc và Ấn Độ, con bò là hiện thân của người mẹ. Sau khi chết, người mẹ biến thành con bò đen từ trên trời bay xuống cho Kong Chuy áo, giày, kiệu, người hầu (truyện Kong Chuy Pát Chuy).

Con bò, linh hồn của người mẹ trong truyện của Ấn Độ sau khi bị giết còn biến thành đạo sĩ Brâhman ban cho cô gái “tỏa sáng” ở bất cứ nơi nào cô đến, “khóc ra ngọc trai” và “cười rơi ra hồng ngọc” [12, tr162].

Sự thay đổi hình dạng của cô gái con riêng cũng diễn ra nhiều lần trong truyện của các nước châu Á: hóa kiếp thành con chim sẻ, cây tre ( Muội Sẹo và Muội Xinh); hóa kiếp thành bông hoa, viên ngọc đỏ ( Kong Chuy Pát Chuy); biến thành con chim nhỏ trong truyện Dêvkî Rânî của Ấn Độ. Đặc biệt trong truyện Tấm Cám của Việt Nam, cô Tấm đã chết đi sống lại bốn lần dưới hình thức chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, quả thị để sau cùng mới trở lại kiếp người.

Theo quan niệm của người Ấn Độ, học thuyết về sự tái sinh bắt nguồn từ một huyền thoại nguyên thủy. Theo huyền thoại này thì “khi linh hồn từ mặt đất trở về trời, phải đi qua mặt trăng và phải ở đấy một thời gian. Sau đó, người thì được lên trời, người thì lại phải quay về mặt đất qua các trận mưa. Khi các linh hồn đến thì mặt trăng tròn đầy và khi các linh hồn ra đi thì mặt trăng lại khuyết. Đó là huyền thoại về thuyết tái sinh dạng sơ khai nhất. Theo thuyết này thì các linh hồn đều bị bắt giữ trong thế giới vật chất, nếu bị trừng phạt thì con người có thể hóa thân thành các thú vật hung dữ” [2, tr111]. Sau này, Phật giáo và Bàlamôn giáo đã tiếp thu lấy những tín ngưỡng nguyên thủy đó và nâng lên thành những giáo lý của mình. Tuy nhiên trong các type truyện Cô Lọ Lem – Tấm Cám, việc nhân vật chết đi sống lại nhiều lần, “liên tục biến hình” là do ảnh hưởng của tín ngưỡng nguyên thủy chứ không bắt nguồn từ thuyết luân hồi của Phật giáo. Trong nhiều bản truyện của Type truyện Cô Lọ Lem ở châu Á, linh hồn cô gái con riêng nhập vào con chim – cô gái bị giết chết và biến thành một loài chim đẹp. Phật giáo không thừa nhận có linh hồn khác với tín ngưỡng dân gian quan niệm có linh hồn. Phật giáo quan niệm có thuyết luân hồi nhưng từng kiếp trong quỹ đạo luân hồi ấy không cùng một chủ thể. Theo Đạo Phật, con người trong kiếp luân hồi mà bị đày làm loài vật thì đó là một sự trừng phạt.

Motif Cái thiện được ban thưởng và Cái ác bị trừng phạt

Motif cái thiện được ban thưởng và cái ác bị trừng phạt là một đặc điểm cấu tạo của truyện cổ tích thần kì, thể hiện quan niệm “Ở hiền gặp lành, ác giả ác báo” của nhân dân.

Trong type truyện Cô Lọ Lem của Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc và Ấn Độ, motif cái thiện được ban thưởng thể hiện ở chỗ cô gái con riêng là cô gái bản tính trong sáng, hiền lành, tốt bụng, thông minh, bị đối xử bất công, luôn sẵn lòng làm việc tốt và cuối cùng là nhận được sự giúp đỡ và được hạnh phúc.

Trong truyện của Nhật Bản, cô gái con riêng đã không ngần ngại bắt chấy rận, chải đầu, phục vụ bà mẹ yêu tinh một cách vui vẻ khi bà yêu cầu; cô gái thể hiện trí thông minh và tấm lòng thánh thiện khi làm một bài thơ giản dị mà đầy ý nghĩa cao đẹp, chiến thắng cuộc thi tài mà ông chủ giàu có đặt ra. Cô gái được ban thưởng chiếc hộp thần kì chính vì biết cách đối xử tốt với vị thần trong hình dạng bà lão, chủ nhân của ngôi nhà trong rừng khi cô bị lạc vào đó. Cô gái được ban thưởng: lên kiệu hoa vè dinh ông chủ chính vì sự thông minh và tâm hồn cao thượng của cô (truyện Benizara và Kakezara).

Cô bé Dêvkî Rânî ngoan ngoãn, chịu thương chịu khó trong truyện Dêvkî Rânî của Ấn Độ được ban thưởng dưới hình thức: được linh hồn của người mẹ dưới hình dạng con bò giúp đỡ mỗi khi cô cần đến. Con bò nhả ra đầy ắp thức ăn ngon lành và bổ dưỡng nuôi lớn cô bé. Đạo sĩ Bà la môn (hiện thân của người mẹ) ban cho cô bé vẻ đẹp của mặt trăng và mặt trời. Cuối cùng, cô bé được kết hôn với tiểu vương và sống hạnh phúc mãi mãi.

Cô Tấm trong truyện Tấm Cám của Việt Nam đã làm cho ông Bụt (Đức Phật) thương cảm mà giúp đỡ và ban thưởng vì sự ngây thơ, hiền lành và tốt bụng. Cô chăm chỉ làm việc, cô yêu quý và hết lòng chăm sóc con cá bống, cô có hiếu với người cha đã mất, cô bền bỉ đấu tranh khi bị hãm hại, cô đảm đang và khéo tay. Cô Tấm đã nhận được sự ban thưởng dưới hình thức: nhận được sự giúp đỡ của Bụt mỗi khi gặp khó khăn, Bụt hóa phép cho xương cá biến thành quần áo đẹp, ngựa và đôi giày để cô đi dự hội. Sự ban thưởng lớn nhất đối với Tấm là được làm vợ vua, được vua nhận ra nhờ miếng trầu têm hình cánh phượng đẹp và khéo của cô, được trở lại làm người đẹp hơn trước sau bao lần thay đổi hình dạng. Cuối cùng cô gái được đoàn tụ và sống hạnh phúc với vua. Chính vẻ đẹp về tâm hồn và thể chất đã đem đến hạnh phúc cho cô.

Những nhân vật cô gái con riêng tốt bụng tiêu biểu cho lý tưởng của nhân dân về những con người nhân hậu, có lòng yêu thương con nguời và loài vật, trung thực và kiên cường. Những con người như thế xứng đáng được giúp đỡ và được ban thưởng. Đó là quan niệm rõ ràng của nhân dân về cái thiện và về cuộc đấu tranh bảo vệ cái thiện.

Tồn tại song song với motif cái thiện được ban thưởng là motif cái ác bị trừng phạt. Hai motif này đều có cấu trúc nguyên nhân và kết quả. Nguyên nhân của cái ác thường là do lòng tham và sự đố kị. Qua khảo sát type truyện Cô Lọ Lem của Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ, chúng tôi nhận thấy cái ác và sự trừng phạt biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, ở những mức độ khác nhau.

Trong truyện của Trung Quốc, mẹ con mụ dì ghẻ bị phi thạch từ trên trời bắn trúng và chết cả hai ( nàng Diệp Hạn). Cô em bị rơi xuống vạc dầu chết, còn mụ dì ghẻ chết vì nhìn thấy cái đầu cháy của con ( Muội Sẹo và Muội Xinh).

Trong truyện của Ấn Độ, mẹ con mụ dì ghẻ bị tiểu vương trừng phạt bằng cách cắt mũi và tai họ rồi đuổi cả hai mẹ con ra khỏi vương quốc (truyện Dêvkî Rânî).

Riêng truyện Tấm Cám của Việt Nam, mức độ trừng phạt ta thấy nặng hơn: Cám chết do tắm nước sôi và mẹ Cám chết do ăn phải thịt con.

Tội ác càng man rợ thì hình thức trừng phạt càng khủng khiếp. Mẹ con mụ dì ghẻ không những đối xử bất công với cô Tấm mà còn giết hại cô chết đi sống lại nhiều lần nên sự trừng phạt cũng nặng nề hơn.

Motif cái thiện được ban thưởng và cái ác bị trừng phạt đã thể hiện lý tưởng nhân đạo và công bằng của tác giả dân gian trước cuộc đấu tranh của cái thiện chống lại các ác, thể hiện nguyện vọng của người dân lao động cái thiện phải thắng cái ác.

Kết luận

Như vậy, qua khảo sát nội dung, kết cấu và những motif chính cấu thành nên cốt truyện của một số truyện tiêu biểu trong type truyện Cô Lọ Lem ở một số nước châu Á: Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ, chúng tôi nhận thấy type truyện này ở các nước có nhiều nét tương đồng và dị biệt. Từ đó cho thấy quy luật vận động trong sáng tác dân gian, trong quá trình nẩy sinh và lưu truyền đã có sự bổ sung và sửa đổi theo điều kiện lịch sử – xã hội và hệ tư tưởng ở các dân tộc. Trong quá trình giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, bên cạnh sự bảo lưu các yếu tố văn hóa của cư dân bản địa còn là sự bổ sung vào đó những yếu tố mới cho phù hợp với thực tế xã hội của dân tộc mình.

Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á. Từ nền tảng cơ tầng văn hóa Đông Nam Á, dân tộc Việt Nam vẫn luôn giữ được những nét truyền thống của văn hóa bản địa kết hợp cùng những yếu tố giao thoa với các nền văn hóa khác như giao thoa văn hóa với Ấn Độ và Trung Hoa trong tiến trình phát triển. Việt Nam và Trung Quốc là những nước gần nhau về địa lý, có nhiều nét tương đồng về văn hóa và cội nguồn dân tộc. Còn Việt Nam và Nhật Bản, Hàn Quốc tuy cách nhau về địa lý, khác biệt nhau về cấu trúc xã hội, tiến trình lịch sử và tính cách dân tộc, song trong nhiều phương diện văn hóa, Việt Nam và Nhật Bản, Hàn Quốc lại có những điểm tương đồng. Điều đó có thể lý giải bởi ba nước đều nằm trong khu vực Đông Á, Châu Á; đều có sự giao lưu tiếp biến văn hóa với Trung Hoa và Ấn Độ. Cơ sở hình thành và chi phối những điểm tương đồng về kiểu truyện dân gian trong văn hóa Việt Nam và một số nước châu Á chính là cơ tầng văn hóa dân gian với một phức thể văn hóa lúa nước và ở thái độ tiếp nhận cởi mở, hòa đồng nhiều luồng tư tưởng văn hóa khác nhau của cư dân châu Á.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nguyễn Tấn Đắc (2001), Truyện kể dân gian đọc bằng type và motif, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

Đỗ Thu Hà (2015), Giáo trình văn học Ấn Độ, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

Nguyễn Thị Huế chủ biên (2012), Từ điển Type truyện dân gian Việt Nam, NXB Lao động, Hà Nội.

Đặng Văn Lung (Chủ biên) (1998), Lưu Thị Sinh, Đặng Linh Chi, Chi liêu, Trần lệ Cung, Truyện cổ Hàn Quốc, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, tr. 238-246

Nguyễn Thị Nguyệt (2010), Khảo sát và so sánh một số típ và mô típ truyện kể dân gian Việt Nam – Nhật Bản, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

Nhiều tác giả (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam), (2004), Tổng tập văn học dân gian người Việt, tập 6, Truyện cổ tích thần kỳ, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.

Đinh Gia Khánh (1999), Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám, Nxb Hội Nhà Văn, Hà Nội.

Jeon Hye Kyung (2009), Nghiên cứu so sánh truyện Kông Chuy Pát Chuy của Hàn Quốc và truyện Tấm Cám của Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 3/2009, tr72-87.

Park Yeon Kwan (2001), Bước đầu so sánh truyện cổ tích Việt Nam và Hàn Quốc, luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.

Đường Tiểu Thi (2008), So sánh kiểu truyện Cô Lọ Lem của một số dân tộc miền Nam Trung Quốc với kiểu truyện Tấm Cám của Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Văn học, Khoa Văn học, Trường ĐHKHXH và NV, ĐHQGHN.

D. H. Wadia (1894), Folklore in Western India, Indian Antiquary, vol XXIII, Bombay (Dévki Rání, tr 160 – 164)

Viện Nghiên cứu văn hóa tinh thần Hàn Quốc (sưu tầm) (1984), Tổng quan văn học truyền khẩu Hàn Quốc 1-9, Viện Nghiên cứu Hàn Quốc học Trung ương xuất bản, tr60 – 66.