Truyện Cổ Tích Sơn Tinh Thủy Tinh

Sơn Tinh – Thủy Tinh là một truyền thuyết nổi tiếng, lý giải về hiện tượng lũ lụt và chống lại lũ lụt hàng năm của người Việt Nam xa xưa. Mời các bạn và các em cùng đọc truyện cổ tích Sơn Tinh Thủy Tinh.

Nghe Audio Truyện Sơn Tinh Thủy Tinh

SƠN TINH THỦY TINH

Vua Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái tên gọi là Mỵ Nương, sắc đẹp tuyệt trần. Mỵ Nương được vua cha yêu thương rất mực. Nhà vua muốn kén cho nàng một người chồng thật xứng đáng.

Một hôm có hai chàng trai đến xin ra mắt nhà vua để cầu hôn. Một người ở vùng núi Ba Vì, tuấn tú và tài giỏi khác thường: chỉ tay về phía đông, phía đông biến thành đồng lúa xanh, chỉ tay về phía tây, phía tây mọc lên hàng dãy núi. Nhân dân trong vùng gọi chàng là Sơn Tinh. Còn một người ở mãi tận miền biển Đông tài giỏi cũng không kém: gọi gió, gió đến, vẫy tay ra phép thì nước ào ào dâng lên cao, thuồng luồng, ba ba, nổi lên đầy trên mặt nước. Chàng này tên gọi là Thủy Tinh.

Một người là chúa của miền non cao, một người là chúa của vùng nước thẳm, cả hai đều xứng đáng làm rể vua Hùng cả. Hùng Vương băn khoăn không biết nhận lời ai, từ chối ai. Nhà vua cho mời các quan lạc hầu vào bàn mà vẫn không tìm được kế hay. Cuối cùng, Hùng Vương phán rằng:

– Hai người đều vừa ý ta cả, nhưng ta chỉ có một người con gái, biết gả cho người nào? Ngày mai, nếu ai đem đồ sính lễ đến đây trước: một trăm ván cơm nếp, hai trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, thì được rước dâu về.

Hôm sau, bầu trời vừa hửng sáng, Sơn Tinh đã mang lễ vật đến trước, xin Vua Hùng gả công chúa Mị Nương. Vua Hùng rất hài lòng nên đã gả công chúa cho Sơn Tinh. Thủy Tinh đến sau, không lấy được vợ, đùng đùng nổi giận, đem quân đuổi theo, một hai đòi cướp lại Mỵ Nương.

Thủy Tinh hô mưa, gọi gió, làm thành dông bão đùng đùng rung chuyển cả đất trời, dâng nước sông lên cuồn cuộn tiến đánh Sơn Tinh. Nước ngập lúa, ngập đồng rồi ngập nhà, ngập cửa.

Sơn Tinh không hề nao núng, dùng phép màu bốc từng quả đồi, di từng dãy núi chặn đứng dòng nước lũ. Nước dâng lên cao bao nhiêu, Sơn Tinh lại làm cho đồi, núi mọc cao lên bấy nhiêu. Hai bên đánh nhau ròng rã mấy tháng trời liền, cuối cùng Thủy Tinh đuối sức phải rút quân về.

Từ đó, oán ngày càng thêm nặng, thù ngày càng thêm sâu, không năm nào Thủy Tinh không làm mưa làm bão, dâng nước lên đánh Sơn Tinh và lần nào Thủy Tinh cũng thua, phải bỏ chạy.

Hết truyện

Bàn thêm: Những lễ vật Vua Hùng đưa ra tất cả đều là sản vật trên đất liền cho thấy nhà Vua đã ngầm ý gả con gái mình cho Sơn Tinh. Bởi thế cho nên Thủy Tinh mới giận dữ như vậy.

Chàng Đốn Củi Và Con Tinh

– Mày muốn gì?

Đáp:

– Xin ngài làm ơn đi chặt chỗ khác, tha cho chúng tôi ở đây được yên ổn.

Thấy thế, chàng càng làm già:

– Không được. Tao hết hơi, hết sức mới tìm được cây gỗ này chặt về lấy tiền nuôi thân mà mày lại bảo tao đi đâu. Hãy cút ngay cho tao làm việc.

Con tinh thấy anh chàng lại giơ búa, hốt hoảng:

– Cây này với chúng tôi như bóng với hình, không thể nào rời được. Ngài hãy thương cho, chúng tôi sẽ xin kính biếu ngài một vật.

– Vật gì? Đưa ra đây. Mau! Nếu không thì đừng có trách.

Con tinh bảo chờ một lát, đoạn mang đến một cái mâm đồng và nói:

– Ngài chỉ cần gõ vào mâm ba tiếng là có ăn ngay, muốn thức ngon vật lạ bao nhiêu cũng có.

Nghe nói, anh chàng vô cùng mừng rỡ, vội nhận lấy mâm ra về, không quên hứa để cho con tinh được yên ổn.

Khi đi qua chợ, chàng ghé ngay vào quán cơm, nơi mà thường ngày mình vẫn đặt gánh củi nặng trước cửa vào một cái bánh, vài đĩa xôi ăn đỡ đói và đỡ mệt. Lần này, chàng có ý khoe với nhà hàng là từ nay mình sẽ không cần ăn chịu và cũng không cần ăn khổ như trước nữa. Nghĩ vậy, bèn đặt mâm của mình trước mặt vợ chồng chủ quán và mọi người, gõ lên ba tiếng. Tự nhiên trong long mâm tuôn ra những bát cơm, bát canh, những đĩa cá, thịt, giò, chả đầy tú ụ, những chén rượu cúc tràn trề, v.v…, toàn là những thức ăn chưa bao giờ được nếm. Trước con mắt ngạc nhiên của đám đông khách ăn trong quán, chàng đốn củi đắc chí mời họ cùng ngồi dự tiệc.

Ăn xong, say rượu, chàng nằm lăn ra giường làm một giấc ly bì. Lão chủ quán thấy thế thì động lòng tham lam. Thừa dịp mọi người tản đi, hắn vào buồng chọn một cái mâm giống với chiếc mâm màu nhiệm kia, rồi đánh tráo vào. Chàng đốn củi thức dậy không biết là mâm đã bị đánh tráo, hý hửng mang về. Sắp về tới làng, anh nghĩ bụng nên cho mọi người biết số phận của mình từ nay đã khác trước và nhân thể đãi làng xóm chén một bữa ra trò. Cho nên chàng rẽ ngay vào đính đánh trống gọi làng ầm ĩ. Tất cả mọi người từ ông tiên thứ chỉ cho đến anh mõ, ai nấy đều tưởng là có việc, lục tục đổ ra đình đông như hội. Anh chàng trịnh trọng lên tiếng:

– Không mấy khi cháu có bữa rượu, vậy mời quý cụ và đồng dân thượng hạ ngồi vào dự cuộc.

Nói rồi đặt mâm xuống chiếu, gõ lên thành mâm mấy cái. Nhưng anh ngạc nhiên thấy lần này mâm không còn mầu nhiệm như trước nữa. Chàng gõ mãi, gõ mãi, mâm vẫn trơ trơ bất động. Cho là đánh lừa mọi người, ông xã trưởng liền sai tuần đinh xông lại nện cho chàng một trận nên thân.

Trở về nhà, chàng đốn củi bực mình vô hạn. Chắc chỉ có con tinh nó lừa mình nên chuyện mới xảy ra như thế. Cho nên qua ngày mai, anh lại vác búa lên rừng tìm đến cái cây cũ ra sức giáng búa vào. Con tinh hốt hoảng chạy ra van lạy chí chết và xin tặng một con ngựa ỉa ra vàng để được tha tính mạng.

– Đưa ngay ra đây cho ta. Đồ lừa đảo!

Chàng quát lên như thế và chỉ lát sau một con ngựa đã hiện ra. Chàng cưỡi lên phi một đoạn để cho ngựa ỉa, quả nhiên có rất nhiều vàng vụn văng ra sáng giấp giới. Chàng mừng quá, giắt búa vào lưng và cưỡi ngựa ra về.

Đến chợ, chàng lại xuống ngựa, vào khoe với vợ chồng lão chủ quán:

– Lần này tôi có con ngựa vô cùng quý báu. Trong bụng nó là cả một kho vàng đấy ông bà ạ! Rồi nó sẽ làm cho mà xem!

Lão chủ quán thấy quả đúng như thế thì hoa cả mắt. Hắn sung sướng được chàng biếu trọn số vàng rơi ra. Nhưng hắn còn muốn được cả con ngựa. Hắn vội dọn cho anh một mâm đầy rượu thịt. Rồi chờ lúc anh chàng ngủ say, hắn lại đi tìm một con ngựa khác cũng có màu lông hung hung y hệt để thay vào, rồi dắt con kia đi biệt.

Khi tỉnh dậy, chàng đốn củi vẫn không ngờ vực gì cả. Chàng lại nhảy lên ngựa cưỡi về đến đầu làng. Bụng bảo vệ: – “Lần trước vì con tinh khiến cho ta mang tiếng là đánh lừa mọi người. Lần này ta phải biếu bà con một ít vàng để bà con thấy ta thực bụng”. Thế rồi, chàng lại vào đình đánh trống ầm ĩ. Làng lại đổ ra đình. Chàng nói:

– Tôi lần này có con ngựa rất có phép ỉa ra vàng. Vậy mời làng ra đây để nhận cho tôi một ít của báu.

Đoạn chàng phi cho ngựa ỉa, nhưng con ngựa ấy thì làm gì mà có vàng. Nhìn thấy đống phân ngựa vãi ra không hơn gì những đống phân ngựa khác, các cụ cho là thằng cha đã xỏ xiên cả làng nên không nên được cơn tức giận. Cuối cùng, chàng bị làng tịch thu con ngựa và còn bị tuần nọc xuống đánh ba mươi roi.

Qua ngày hôm sau hắn lại dậy sớm vác búa lên rừng quyết trị cho con tinh một mẻ. Lần này chàng bổ những nhát búa rất dữ dội. Thấy con tinh hiện ra quỳ lạy khóc lóc, chàng quát to:

– Sao mày dám lừa ông làm ông mang oán với mọi người. Mâm và ngựa của mày chỉ là những của vứt đi, không đáng một đồng kẽm.

Con tinh hết sức phân trần, vạch tội lão chủ quán, rồi nói tiếp:

– Để tôi xin biếu ngài cái ống này, lúc về có thể lấy lại những của đã mất.

Hắn đưa ống ra và dặn:

– Cái ống này có phép làm cho bất kỳ bao nhiêu người cũng phải chống ngược lên trời nếu cầm ống chỉ lên không ba lần. Cho đến khi nào gõ xuống đất ba lần thì mọi sự trở lại như cũ.

Nghe bùi tai, chàng đốn củi lại dừng tay búa, cầm ống phép bắt con tinh phải chống đít lên trời xem thử, thấy quả nghiệm rồi mới ra về.

Đến chợ, chàng lại ghé vào quán cơm tươi cười hỏi mọi người:

– Các ông các bà có muốn chống chăng?

Vợ chồng lão chủ quán tưởng có món gì bở nên vội đáp:

– Cơm ăn no, trầu đầy đây, không chống để làm gì?

Lập tức cái ống mầu nhiệm đã bắt cả nhà lão chủ quán chống hai tay xuống đất, chân giơ lên trời không cụ cựa.

Chắc là lần này chàng đốn củi đã rõ mưu mô gian dối của mình nên cố tâm phạt mình với phép thuật thần dị, lão chủ quán van khóc hết lời. Hắn hứa trả lại mâm và ngựa để xin tha mạng. Anh chàng chỉ cần có mấy món bảo vật cũ, nên vui lòng làm phép tha cho cả nhà lão đứng dậy.

Khi châu đã về hợp phố, chàng phi ngựa nước đại trở về làng. Chàng không quên tiến vào đình thúc một hồi trống lớn mời làng như mấy lần trước. Thế rồi trước mặt quan viên và đồng dân thượng hạ, chàng đặt mâm xuống chiếu mời mọi người chia hàng ngồi vào.

Tiếng gõ mâm lúc này rất có hiệu quả. Cơm rượu và mọi thức ngon vật lạ tuôn ra đầy mâm đầy chiếu. Cả làng không đợi mời nhiều, ai nấy cắm đầu ăn uống mặc sức.

Ăn uống xong đâu đấy, chàng chỉ vào con ngựa và nói:

– Nếu quý cụ và mọi người vui lòng nhận một ít vàng tôi sẽ bảo con ngựa này làm ngay.

Không một người nào từ chối lòng tốt của chàng. Họ đứng ra hai hàng, mỗi người cầm một cái rá chực hứng phân ngựa. Quả nhiên, ngựa chạy đến đâu, người ta đổ xô nhau nhặt đến đấy vì họ thấy lấp lánh trên mặt đất bao nhiêu là vàng vung vãi.

Xong cuộc nhặt vàng, anh chàng giơ ống lên và hỏi:

– Bây giờ còn ống phép này, bà con ta ai muốn chống xin mời đứng về phía này.

Bấy giờ người đã no say lại được vàng giắt lưng, ai nấy chắc mẩm lại có món quà gì nữa, nên chẳng một ai từ chối. Ống vừa giơ lên, tất cả mọi người đều chổng đít lên trời, dù cố gắng thế nào cũng không buông xuống được.

Hôm ấy, không ngờ lại có lão trọc phú và con gái lão cũng có mặt ở đấy. Con gái lão là người đã làm cho chàng đốn củi chết mê chết mệt. Mọi ngày, tuy thấy anh nghèo khổ mà nàng vẫn tỏ lòng quyến luyến, những lúc chàng đến làm công cho lão trọc phú, hai bên từng có cơ hội gặp gỡ, chuyện trò. Nhưng đối với lão thì đừng có hòng tính chuyện lấy nhau. Bây giờ đây, thấy lão van như vạc, chàng tới thỉnh cầu lão gả con gái cho mình. Lão gật. Thế là chiếc ống lại gõ xuống đất buông tha tất cả mọi người.

Rồi đó, anh chàng đốn củi lấy được vợ như ý muốn. Với ba món bảo bối, chàng đi khắp thiên hạ giúp đỡ những người nghèo khổ và trị tội những bọn tham lam độc ác.

Nguồn: Truyện cổ tích Tổng hợp.

Truyện Cổ Tích Song Ngữ Hàn Việt: Chàng Mù Và Chàng Bại Liệt.

Truyện cổ tích song ngữ Hàn Việt đầu tiên mà chúng tôi giới thiệu đến các bạn đó là truyện chàng mù và chàng bại liệt:

“무슨 일인데 아침부터 그리 서두르나?”

“이러고 있을 때가 아니네, 어서 나갈 채비를 하게.”

“저 산 넘어 아주 용한 의원이 있단 얘기를 들었거든 자네의 아픈 다리를 고쳐줄지도 몰라”

“그래? 하지만 나는 걸을 수가 없고 자네는 볼 수가 없는데 무슨 수를 산 넘어 의원을 찾아간단 말인가?”

“자네가 내 눈이 되어주게! 난 자네의 발이 되어주겠네!”

장님은 앉은뱅이 친구를 업고 험한 산길을 부지런히 걸었습니다.

Ngày xưa trong một ngôi làng trong núi chỉ có một người mù hiền lành sinh sống. Vào một ngày nọ:

“Có ai không ạ?”

“Có chuyện gì thế? mới sáng mà gấp gáp như vậy hả?”

“Thật là không phải lúc, tôi rời đây ạ”

“Tôi nghe nói trên núi đó có một người giỏi nghề y có lẽ sẽ chữa được chân của cậu”

“Thật vậy hả? nhưng mà tôi đi không được, cậu lại không không nhìn thấy, ý của tôi là có là núi nào thì chúng ta vẫn có thể vượt qua đi tìm thần y”

“Tôi làm con mắt của cậu, cậu làm cái chân của tôi nha!”.

Thế là chàng người mù cõng chàng bạn liệt của mình cần mẫn đi qua đường núi nguy hiểm.

“괜찮은가? 마침 저기 연못이 있으니 좀 쉬어가세! 자네부터 시원하게 목을 축이게”

“아니 세상에! 황금! 연못 속에 커다란 황금이 있어”

“뭐? 황금이라고?” 장님은 더듬더듬 연못에 들어가 황금을 건졌습니다.

“이보게 자네가 먼저 보았으니 자네가 갖게”

“그게 무슨 소린가 자네가 나를 업고 이곳까지 왔으니 자네 거지”

두 친구는 서로 황금을 양보했습니다.

“Cậu không sao chứ? Vừa khéo chỗ kia có một cái ao, ta qua đó nghỉ chút đi, làm mát cổ họng cho cậu đã”

“Cảm ơn cậu”

“Ôi không trời ơi! Vàng! Bên trong ao có cục vàng rất lớn”

“Cái gi? Cậu nói vàng á?” chàng mù dò dẫm bướt vào trong ao và vớt ra thỏi vàng.

“Cái này cậu nhìn thấy trước tiên cho nên nó là của cậu”

“Cậu nói cái quỷ gì vậy vì cậu đã cõng tôi tới nơi này nên cậu sở hữu nó” Hai người nhường cục vàng cho nhau.

“안 되겠네 둘로 나눌 수도 없으니 그냥 두고 가세”

장님은 황금을 제자리에 놓고 앉은뱅이 친구를 업었습니다. 산 정상에 거의 올랐을 때였습니다.

“네 이놈! 냉큼 이리 오너라! 누군가 난데없이 호통을 쳤습니다. “다리가 아프니 나를 업어라!” 비단옷을 입은 양반이었습니다.

“나리 그럴 순 없습니다.”

“어허 당장 나를 업지 못할까?”

그러다 문득 황금이 떠올랐습니다. “산 아래 연못에 황금이 있습니다요.” “뭐? 황금? 그 말 틀림없겠지?” 양반은 뒤도 안 돌아보고 쌩 하니 달려갔습니다.

“Không được rồi hai người thì chia không được, chúng ta cứ mang nó theo trước đi đã rồi tính sau”

Chàng mù cất cục vàng và tiếp tục cõng chàng liệt. Lúc gần lên tới đỉnh núi thì:

“Này nay thằng kia lập tức lại đây cho ta” ai đó đột ngột quát lên.

“Chân ta đau và cõng ta mau” Thì ra là một người phú quý mặc áo gấm.

“Thưa ngài, tôi không thể làm như thế được”

“Ố? ngươi không thể cõng ta lên ngay bây giờ á?”

Đang lúc đó bỗng nhiên cục vàng lòi rớt ra ngoài.

“Trong một cái ao phía dưới núi có vàng đấy ạ”

“Cái gì? Vàng? Ngươi nói thật sao?” người phú quý đó nhìn cũng không nhìn lại cứ thế ào ào chạy nhanh xuống dưới núi.

연못에 도착한 양반은 황금을 찾기 시작했습니다. “으아 구렁이다!” 놀란 양반은 도망을 쳤습니다.

“감히 구렁이를 황금이라고 속이다니!”

양반은 장님과 앉은뱅이에게 크게 화를 내고 가버렸습니다.양반의 이야기를 장님은 앉은뱅이를 업고 연못으로 갔습니다. ”

Người phú quý kia sau khi đến cái ao lập tức tìm vàng. “á á con trăn”. Kẻ phú quý kia trong cơn kinh sợ đã bỏ chạy.

“Ngươi thật to gan dám nói dối con trăn là vàng”

Kẻ phú quý kia nổi trận lôi đình với chàng mù và chàng liệt rôi bỏ đi. Chàng mù nghe chuyện của người phú quý kia thì cõng chàng liệt trở lại cái ao.

“두 마리나 있단 말인가?”

“황금이 두 개나 있단 말일세!”

“뭐라고?” 장님이 깜짝 놀라자 앉은뱅이가 장님의 등에서 미끄러졌습니다. 우지끈 소리가 나더니 앉은뱅이의 다리가 펴졌습니다.

“Cậu nói có tới hai con trăn luôn á?”

“Ý tôi là có tới hai cục vàng luôn”

“Cậu nói cái gì?” chàng mù thốt lên kinh ngạc chàng liệt cũng bị trượt khỏi lưng chàng mù. Bỗng một tiếng răn rắc phát ra, chân chàng liệt được duỗi ra.

“세상에 내 다리가 쭉 펴졌네!” “그게 정말인가? ” “세상에 보이네 보여!” 놀란 장님은 눈을 번쩍 떴습니다. 앉은뱅이와 장님은 얼싸안고 기쁨의 눈물을 흘렸습니다. 두 사람은 황금을 팔아 큰 부자가 되었고 그 후에도 서로 아끼며 행복하게 살았습니다.

“Trời ơi, chân tôi duỗi thẳng được rồi nè”

“Cậu nói thật hả? …Ông trời ơi! Tôi nhìn được nè nhìn được nè!” Chàng mù kinh ngạc mở đôi mắt. Chàng mù và chàng liệt ôm ghì nhau mà khóc trong niềm hân hoan. Hai người bán số vàng đó đi và trở thành người giàu có, kể từ đó họ quý trọng lẫn nhau và sống thật hạnh phúc.

심술궂고 욕심이 많은 양반에게는 연못의 황금 대신 구렁이가 보였고 마음씨 착한 장님과 앉은뱅이에게는 황금이 2개로 늘어났고 서로의 병이 치료되기까지 했습니다. 아마 사이좋고 마음씨 착한 장님과 앉은뱅이에게 신이 주신 선물이 아닐까 싶은데요. 평소의 마음씨와 행동을 올바르게 하면 언젠가 좋은 일이 생길 거라는 교훈을 주는 듯싶습니다.

Kẻ phú quý kia với lòng tham lam và ganh ghét nên thay vì được thấy vàng trong ao thì thấy con trăn còn chàng mù và chàng liệt thì được cho đến 2 cục vàng và ngay cả bệnh cũng được chữa khỏi. Có lẽ bởi sự hòa thuận và tấm lòng hiền lành của chàng mù và chàng liệt nên Thần đã cho hai người 1 món quà. Điều giáo huấn muốn mang lại đó là trong cuộc sống nếu như hành động và tâm tính của ta ngay thẳng thì những điều tốt đẹp luôn xuất hiện.

Truyện cổ tích song ngữ Hàn Việt phần từ mới:

Truyện cổ tích song ngữ Hàn Việt trên với nhiều từ mới nhưng thông dụng và thường gặp trong cuộc sống hàng ngày sẽ giúp mọi dễ hiểu hơn khi đọc. Các cấu trúc câu cũng đơn giản, đa dạng nên mọi người có thể vận dụng linh hoạt vào giao tiếp.

Nguồn: chúng tôi chúng tôi dịch

Tran Phu The, Cau Tho Goi Tinh Ngot Ngao Huong Vi Phu Sa

 

trần văn sơn

 

TRẦN  PHÙ  THẾ

CÂU THƠ GỌI TÌNH NGỌT NGÀO HƯƠNG VỊ PHÙ SA

MIỀN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

 Nhà thơ Trần Phù Thế được nhiều người biết đến ở hải ngoại sau khi anh xuất bản hai tập thơ: Giỡn bóng chiêm bao [ 2003 ], Gọi khan giọng tình [ 2009 ], những bài thơ đăng trên các báo Khởi Hành, Văn Hóa Việt Nam, Thư Quán Bản Thảo …  và trên các trang báo điện tử như : Sáng tạo, Da màu, Phố Văn… Anh còn phụ trách trang thơ trên tuần báo Tuổi Trẻ ở Dallas – Texas. Thật ra, anh làm thơ đã lâu, lúc còn ở Việt Nam, từ thuở cắp sách đến trường, gần nửa thế kỷ nay. Năm 1962, anh cùng với Lâm hảo Dũng – Lưu Vân – Triệu Ngọc thành lập thi văn đoàn Cung Thương Miền Nam tại tỉnh Sóc Trăng,  về sau có thêm Nguyễn lệ Tuân – Trần biên Thùy, mục đích phổ biến thơ văn của nhóm trên các tạp chí văn nghệ Sài Gòn. Bài thơ đầu tiên của anh mang tựa NHẠC TRĂNG đăng trên báo VĂN vào thập niên sáu mươi với bút hiệu MẶC HUYỀN THƯƠNG. Cần phải nói thêm, tạp chí Văn là tờ báo văn học nghệ thuật  nổi tiếng  tại Việt Nam. Chủ nhiệm Nguyễn đình Vượng, thư ký tòa soạn Trần phong Giao, và sau là nhà văn Nguyễn xuân Hoàng. Bài vở chọn lọc cẩn thận, thơ văn đăng trên báo này rất có giá trị. Những nhà văn đã thành danh như Y Uyên, Lê văn Thiện… đều xuất thân từ tờ Văn. Anh còn có bài trên các tạp chí Thời Nay của Khánh Giang, Khởi Hành của Viên Linh… Năm 1967, anh định in tập thơ đầu tay “ Thầm yêu trộm nhớ ’’ nhưng không thực hiện được vì có lệnh nhập ngũ  vào  trường SQTB Thủ Đức.

 

Bút hiệu Mặc Huyền Thương không phải tự nhiên mà có, nó bắt đầu bằng hai chữ tình yêu. Cô bé mang tên Thương Huyền đã hớp hồn cậu học trò vừa mới lớn đang tuổi mộng mơ. Cậu lộn ngược tên Thương Huyền thành Huyền Thương rồi thêm chữ Mặc đặt trước chữ Huyền cho có vẻ thơ. Thật ra, theo tâm sự của nhà thơ, chữ Mặc có nghĩa im lặng, yêu  không dám nói. Tình yêu tuổi học trò bao giờ cũng e ấp, chỉ biết thẩn thờ nhìn người yêu trong tà áo dài nữ sinh thướt tha cắp sách đến trường, hoặc đôi khi gặp mặt thì ngần ngại mở lời, chỉ nói bâng quơ chuyện trên trời dưới đất. Và phải chăng bài thơ Nhạc Trăng là kỷ niệm một thời tuổi trẻ của nhà thơ về mối tình đầu đơn phương này :

  

Trăng nhập vào trăng lạnh tiếng đàn

Nghe sao giòn vỡ thủy tinh tan

Chơ vơ tiếng hát cao trừng vọng

Ta gửi hồn qua giấc hỗn mang

 

Rỉ máu lên từng giọt ngón tay

Ta thương hồn chết đã bao ngày

Trăng mơ chảy mượt từng chân tóc

Ta uống trăng vàng giọt giọt say

 

Trăng hát miên man buồn chậm chậm

Mây đời che khuất bóng trăng tan

Hồn ta treo cổ vầng trăng khuyết

Và chết vào đêm bóng nguyệt tàn

                         (  Nhạc trăng. TPT )

 

Cô bé Thương Huyền diễm phúc thật,  được  hóa thân thành vầng trăng, và thi sĩ đã ngụp lặn trong tiếng đàn trăng nghe như những mảnh vỡ thủy tinh hòa tan vào tiếng hát trăng buồn muôn thuở.  Bài Nhạc Trăng là tiếng lòng thổn thức bi thương đầy huyết lệ, thống thiết như  bài thơ   PHAN THIẾT – PHAN THIẾT của Hàn Mặc Tử: /Trăng vàng ngọc, trăng ân tình chưa phỉ / Ta nhìn trăng khôn xiết ngậm ngùi trăng / Ta vã tung thơ lên tận sông Hằng / Thơ phép tắc bỗng kên rên thống thiết / Hỡi Phan Thiết, Phan Thiết / Mi là nơi ta chôn hận nghìn thu, Mi là nơi ta sầu hận ngất ngư /.

 

Nhạc Trăng  ý và từ mượt mà, điêu luyện, vậy mà Trần phù Thế sáng tác vào cuối năm 1962, lúc đang học lớp đệ nhất trường trung học Hoàng Diệu – Sóc Trăng. Đây có phải là điềm báo hiệu cho những mối tình đầy sóng gió của thi sĩ sau này, hay là những nụ hoa bắt đầu chớm nở  trong khu vườn văn học nghệ thuật Việt Nam.

Người đẹp Thương Huyền sau hơn bốn mươi năm vắng bóng bỗng nhiên xuất hiện bất ngờ qua lời kể của Trần Phù Thế: “ Năm 2004. Võ Đức Trung của nhóm Văn Hóa Pháp Việt tại Paris, có mời tôi góp mặt trong tuyển tập thơ Một Phần Tư Thế Kỷ Thi ca Việt Nam Hải Ngoại 3. Sách phát hành một tháng sau. Tôi nhận được một phong thư gởi từ nước Germany trời Âu. Tôi ngỡ ngàng khi hai chữ Thương Huyền nằm trên góc trái bìa thư đập nào mắt tôi. Dễ chừng hơn bốn mươi năm không gặp nàng. Bây giờ bỗng nhiên xuất hiện. Tôi vội vàng xé phong bì với niềm xúc động. Tội đọc ngấu nghiến, những con chữ như nhảy múa dưới mắt tôi… Gia đình nàng vượt biên năm 1980 và hiện định cư tại Đức. Nàng cho biết ngày xưa có biết tôi làm thơ và đã từng thích thơ MHT nhưng không biết là bút hiệu của tôi…. Nàng cho biết đã đọc bài thơ “Tuổi Thơ Đại Ngãi” trong tuyển tập của Nhóm Văn Hóa Pháp Việt và bần thần suốt ngày. Những kỷ niệm thời thơ ấu như sống lại, hiển hiện trước mắt. Nàng bèn liên lạc với Võ Đức Trung xin địa chỉ tôi và đã viết thư cho tôi với lời cám ơn.  Đọc thư xong, niềm cảm khái dâng trào, tôi ngồi vào bàn viết và viết trong bốn mươi lăm phút là hoàn tất bài thơ “Bậu về”:

  

bậu về liếc mắt đong đưa

gió Xuân đầy mặt

như vừa chín cây

bậu về má đỏ hây hây

ta mười lăm đã lòng say bậu rồi

  

bậu còn

chơi ác nói cười

những câu dí dỏm

chết đời ta chưa

bậu về nhớ nắng thương mưa

hình như cây cỏ cũng ưa bậu về

 

như là có chút nắng hè

như là có cả

chùm me chua lừng

như là xoài tượng thơm giòn

thêm vào nước mắm chút đường khó quên.

 

bậu về

Đại Ngãi mình ên

bỏ quên kẹp tóc

bắt đền tội ta

bậu quên là tại bậu mà

tại sao bậu bắt đền ta một đời

 

tội này không chịu bậu ơi !

                (  Bậu Về – TPT )

 

Chữ BẬU rất nhiều nghĩa,  thường được  dùng  trong ca dao Việt Nam hoặc trong lời hát ru con của những bà mẹ  miền quê được Trần Phù Thế đem vào thơ  thật tài tình, vừa dí dỏm lại vừa nủng nịu  của lứa tuổi mộng mơ “ chùm me chua lừng – xoài tượng thơm giòn “. Một bài thơ tình tuyệt vời, từng câu từng chữ mộc mạc, bình dị như lời nói thường ngày rất gần gũi thủ thỉ bên tai : / bậu về / Đại Ngãi mình ên / bỏ quên kẹp tóc / bắt đền tội ta / bậu quên là tại bậu mà / tại sao bậu bắt đền ta một đời / tội này không chịu bậu ơi /. Hình ảnh chiếc kẹp tóc trong thơ sao mà dễ thương quá, khiến ta nhớ đến những mái tóc thề vừa chấm ngang vai, những tà áo dài trắng của những nữ sinh thời trung học… và chắc chắn ta không thể nào quên những dỗi hờn trách yêu : / bậu còn / chơi ác nói cười / những câu dí dỏm / chết đời ta chưa /.

 

Tôi và Trần Phù Thế có duyên văn nghệ với nhau vào cuối thập niên 1960. Trần Phù Thế làm trưởng ban 2  Liên đội… BCH đóng tại Bà Hom – Gia Định. Đại đội tôi trực thuộc Liên đội, và tôi là trung đội trưởng đóng quân tại mật khu Lý văn Mạnh. Biết tên nhau qua thơ văn đăng trên Văn, Khởi Hành, Thời Nay … nay lại là lính cùng chung đơn vị nên  lần đầu gặp mặt không hề có những rào đón, khách sáo xã giao  mà rất cởi mở, chân tình. Giờ đây đã hơn bốn mươi năm, tuổi đời đã trên dưới bảy mươi, trải qua một cuộc bể dâu : Trầm luân và khổ nạn, tình bạn chúng tôi cũng vẫn nồng ấm như ngày xưa cùng với những tình thân trong nước và ở hải ngoại như : Ngô Nguyên Nghiễm, Lưu Vân, Nguyễn Thành Xuân, Phạm Nhã Dự, Hà Thúc Sinh, Vũ Uyên Giang, Nguyễn lê La Sơn…

Nhắc đến những người bạn cùng thời mà không nhắc đến Khánh Giang và Dương Trữ La  thì quả là điều thiếu sót không thể nào tha thứ được có phải không Trần Phù Thế ? Hai anh là nhà báo, nhà văn chuyên nghiệp. Khánh Giang làm tổng thư ký bán nguyệt san Thời Nay, chủ nhiệm tuần báo Đời Nay. Dương Trữ La viết feuilleton trên các nhật Báo,  đồng thời cộng tác với tuần báo Khởi Hành, Đời Nay và một vài tờ báo khác.. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp nhau tại nhà Phạm nhã Dự ở Mười tám thôn vườn trầu Bà Điểm – Hốc Môn,  thảo trang của Ma Xuân Đạo ở Thạnh Lộc Thôn sát bờ sông Sài Gòn, hoặc  nhà  Khánh Giang ở Chợ Lớn, nhà Dương Trữ La tại con hẻm nhỏ đường Trần Quốc Toản… Chúng tôi đầy ắp những kỷ niệm với nhau, văn nghệ là lẽ đương nhiên còn đời thường rất nhiều lần  bên tách  trà  chung rượu.

Nhớ đêm khai trương quán cà phê văn nghệ Phương tại đường Nguyễn Trãi, ca nhạc do ca sĩ Quốc Phong đảm trách với sự có mặt chung vui của Lâm Chương, Tô Đình Sự, Trần Phù Thế, Phạm Nhã Dự, Nguyễn Lê La Sơn …Tất cả đều mặc quân phục chỉ riêng có Khánh Giang và Dương Trữ La mặc đồ dân sự, không nhớ Lâm Chương hay Trần Phù Thế nói khích thế nào, hai anh về thay hai bộ đồ lính mới tinh cổ áo mang cấp bậc chỉnh tề. Thì ra hai anh là quân nhân biệt phái.

Nhà thơ Phạm Nhã Dự viết : “ Từ đó chúng ta tìm gặp nhau ở Khởi Hành hoặc Tin Sáng với Dương Trữ La lân la “ Cây Lý”  thân tình; ở Thời Nay với Khánh Giang, ngồi vỉa hè Phạm Ngũ lão bên “ dĩa cơm sườn và chai Vĩnh tòn ten “, cùng những bài chưa đăng đã trả tiền trước, ở Kim Sơn hay La Pagode ’’.  “Cùng những bài thơ chưa đăng đã trả tiền trước ’’, ý Phạm Nhã Dự đề cập đến con người Khánh Giang, rất hào sảng và rất phóng khoáng. Tôi nhớ rất rõ tòa soạn báo Thời Nay nằm trên đường Phạm Ngũ Lão, tầng một là nơi làm việc của Khánh Giang, tầng trệt dành riêng cho cô thư ký. Mỗi lần đến đưa bài anh đều bảo cô thư ký ứng tiền trước hoặc chờ anh lo xong bài vở rồi chúng tôi sẽ kiếm một cái quán nào đó hàn huyên tâm sự thâu đêm. Hai anh tửu lượng rất cao, uống không bao giờ  say. Có lần tại thảo trang của nhà văn Ma Xuân Đạo sát bờ sông Sài Gòn, Dương Trữ La sau một chầu nhậu nhảy xuống sông tắm bị lục bình quấn chân suýt chết đuối, tôi dân biển lội giỏi kè vai  dìu anh vào bờ. Giờ đây Dương Trữ La, Khánh Giang, Tô Đình Sự, Trần Kiêu Bạt, Quốc Phong … không còn nữa, nhưng mỗi lần nhắc đến  chúng tôi đều xót xa,  ngậm ngùi, tiếc thương cho  những người bạn tài hoa bạc mệnh không tiếp tục theo đuổi con đường mà các anh đã chọn lựa.

 

Nầy Sự, rượu tới phiên mày

uống say một trận cho đầy cơn mê

tuổi thanh niên cũng chẳng hề

Thằng ra chiến trận, thằng về áo quan

[ Tô Đình Sự -  uống rượu ở vườn trầu Bà Điểm – TPT ]

 

Khói sương là chốn vô thường

nắng mưa là chuyện âm dương của trời

tử sinh là lẽ con người

Bạt ơi, số mạng một đời như không

 

đục dòng thơ rượu khơi trong

ta nghe tiếng đứt, mệnh mông mênh chìm

hỏi mày nằm đó lặng im

bao quanh hương khói ai tìm hồn xưa

 

một đời quanh quẩn gió mưa

khăn sô đắp mặt sao thừa rượu cay

một đời hào phóng vung tay

lòng quên thiên hạ tình say bạn bè

[ Trần Kiêu Bạt – TPT ]

 

lục bát là thể thơ thuần túy Việt Nam, dễ làm khó hay không khéo sẽ thành vè. Người xưa đã lưu danh muôn thuở với những áng thơ lục bát bất hủ như Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du, Chinh Phụ Ngâm của Đoàn thị Điểm …Thời tiền chiến có Huy Cận, Nguyễn Bính…  Thập niên năm mươi sáu mươi có những nhà thơ làm lục bát rất hay như Cung Trầm Tưởng, Viên Linh, Hoàng Trúc Ly, Bùi Giáng, Trần Tuấn Kiệt, Phạm Thiên Thư, Trần Yên Thảo, Nguyễn Đức Sơn ( Sao Trên Rừng ) … Trần Phù Thế thật sự nặng nợ với thơ lục bát từ ngày anh định cư tại Mỹ vào thập niên chín mươi. Anh rấtmê thơ lục bát bằng chứng  anh làm rất nhiều thơ lục bát, hơn năm trăm bài thơ của anh  tôi đọc được, hai phần ba là thơ lục bát.

 

Anh còn thử nghiệm làm mới thơ lục bát bằng cách thay đổi hình thức thơ. Bài thơ hai câu :

 

 con chim nó gọi bạn tình

 còn ta gọi bậu một mình tàn hơi

 

 Phân   thành sáu câu :

 

 con chim

 nó gọi  bạn tình

 còn ta gọi bậu

 một mình

 tàn  

 hơi

 

 [Tàn hơi – TPT ]

 

  Bài ba câu :

 

 biết tận cùng nghĩa đau thương

 hiểu tận cùng lẽ vô thường tử sinh

 em ơi thấy bóng chẳng hình

 

 Phân thành  năm câu :

 

biết tận cùng  

nghĩa đau  thương

hiểu tận cùng lẽ vô thường tử sinh

em ơi

thấy bóng chẳng hình

 

 [ Biết – TPT ]

 

Và còn rất nhiều bài lục bát anh mở bài câu tám và chấm dứt câu tám :

 

lênh đênh chín cửa trăm năm cõi người

một lần lỡ bước rong chơi

ta thân phù thế một đời như không

[Bạt – TPT]

 

Bài mở câu sáu kết câu sáu :

 

một hôm lịch sử rụng đầu

cha Long Quân hỡi

mẹ Âu Cơ hời

con rồng phiêu bạt khắp nơi

 [lịch sử – TPT]

 

Bài thơ lục bát  ngắn hai ba câu  ngắt thành nhiều câu  rất cô đọng, giàu nhạc tính. Mỗi câu: một, hai hoặc ba …chữ  tạo nên một nhịp thơ mới thật lạ, âm điệu vừa phong phú lại vừa lơ lửng  chênh vênh, ẩn chứa  bên trong những  câu, chữ là ý thơ mênh mông vô tận. Nhà thơ Thiếu Khanh đã nhận định :

 

“Dường như những thể nghiệm đó cho thấy hình thức sáu chữ, tám chữ không hề là cái khuôn cứng ngắc gò bó trói buộc câu thơ, trái lại, trong giới hạn câu chữ đó tài năng của nhà thơ vẫn có thể làm cho thể thơ càng thêm uyển chuyển và giàu tính biến hóa khiến mỗi bài thơ có vẻ phá vỡ và thóat ra khỏi hình thức câu chữ của nó, hóa giải ranh giới ràng buộc của số câu số chữ, làm tăng thêm sự phong phú của âm điệu, nhạc điệu. Có lẽ thời gian sẽ giúp khẳng định giá trị của sự tìm tòi sáng tạo của anh, ít nhất là về cách xếp đặt mới cho thể thơ truyền thống quen thuộc nầy mà nhiều nhà thơ từng ngậm ngùi nhận xét: thơ lục bát dễ làm mà khó hay!”

                                     [ Thiếu Khanh : Thơ lục bát mới của Trần Phù Thế ]

 

 

Trần Phù Thế sinh ra, lớn lên tại Sóc Trăng, học  trường Hoàng Diệu – Ba Xuyên, trường Phan Thanh Giản – Cần Thơ và sau khi ra tù anh đã hơn mười năm phiêu bạt giang hồ khắp các tỉnh miền Tây trước khi định cư tại Mỹ,  nên những bài thơ tình của  anh  ngọt ngào hương vị  phù sa miền đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt chữ dùng trong thơ anh không pha trộn hai miền Trung – Bắc mà thuần túy chất giọng  miền Nam, đôi khi anh còn dùng những đặc ngữ miền Tây mộc mạc, chân chất thấm đượm tình quê  như : xa ngái, sao vậy cà, chua lừng, con nước nhửng, chết điếng, tuốt luốt… rất gần gủi thân thương.

 

Ta ghét mười năm ở xứ này

Mười năm đủng đỉnh lục bình quay

Như con nước nhửng dòng sông Hậu

Thương cả lần đi ứa máu đầy

[ ta ghét – TPT ]

 

Hai con trống mái giận nhau

Hai con chim mái làm sao vậy cà

 

Mấy lần

bước xuống

con đò

mà quên tuốt luốt

thăm dò cạn sâu

[ lục bát không đề – TPT ]

 

Những nơi anh dừng chân : Đại Ngãi – Hậu Thạnh – Cần Thơ – Sóc Trăng – Kiên lương – Mương Điều – Đường Đức – Trường Khánh – Hòn Me – Hòn Đất … anh đều để lại những bài thơ bát ngát, mênh mông cỏ nội hoa ngàn. Và thấp thoáng đó đây một vài mối tình chơi vơi như những cánh lục bình bập bềnh sóng nước Cửu Long.

 

Một lần ở lại lỳnh quỳnh

đêm nghe cá quẩy bờ kinh  tám ngàn

xác xơ đầu ngỏ cuối làng

hòn me, hòn đất héo vàng tuổi xanh

 

em đi cỏ úa hồn anh

ngày về như thể mỏng tanh cánh chuồn

một lần ở lại Kiên Lương

khói xi măng thở bụi đường hà tiên

[ lỳnh quỳnh – TPT ]:

 

 

phải chăng Hậu thạnh mù xa

khúc sông xóm ngọn, cây đa, cái đình

ta về mắt ướt điêu linh

phải chăng người cũ hiện hình đâu đây

 

lòng đau biết mấy đêm dài

ta đau biết mấy ngàn ngày quê hương

đi lên, đi xuống con đường

bước lê cái bóng tà dương một mình

 

ta về gió thổi hiển linh

[ Hậu Thạnh – TPT ]

 

Nhà thơ Phan Xuân Sinh nhận định về  ngôn ngữ miền nam trong thơ Trần Phù Thế như sau :

Thơ anh vừa sâu sắc vừa lắng đọng. Vừa chua chát nhưng cũng vừa vị tha, độ lượng. Trong thơ anh hiện rõ cái nét chơn chất của người miền nam lục tỉnh hiền hòa, chất phác  Cái ngôn ngữ mộc mạc được anh đưa vào thơ một cách tự nhiên và làm câu thơ trở thành duyên dáng mượt mà.

[ Một góc nhìn : giọng miền nam lục tỉnh trong thơ Trần Phù Thế –

Phan Xuân Sinh ]

 

Nếu ai hỏi tôi nhớ bài thơ nào của Trần Phù Thế nhất, tôi sẽ không ngần ngại trả lời đó là bài ĐỜI TA. Không những tôi mà cả vợ tôi đều thuộc  lòng, thỉnh thoảng tôi đọc cho cả nhà nghe mọi người không cầm được nước mắt. Đây không phải là một tuyệt tác, nhưng bài thơ đã nói lên được phần nào  đời tôi, đời bạn…những người lính VNCH, sau khi cọng sản Bắc việt xé bỏ hiệp định Paris và cưỡng chiếm miền nam ngày 30/4/75, đều chung số phận nghiệt ngã như nhau. Sống chết trong khói lửa chiến tranh. Khổ nhục trong các trại tù cọng sản. Và sau khi  ra tù một số không ít anh em ngậm đắng nuốt cay khi phải đối diện với sự thật đau lòng, gia đình ly tán, cha mẹ vợ con không biết lưu lạc phương trời nào, còn sống hay đã chết ; cộng thêm sự kềm kẹp khắc nghiệt của bọn công an phường xã, nhưng vẫn âm thầm chịu đựng, ngẩng cao đầu không chịu khuất phục trước bạo quyền cọng sản.

 

Bài thơ ĐỜI TA dài 66 câu, 16 đoạn mỗi đoạn 4 câu, ghi lại một phần đời của tác giả, thời gian bắt đầu từ ngày vào tù năm 1975 và ra tù từ trại GIA TRUNG năm 1982. Nói đến trại tù Gia Trung là nói đến sự vô nhân, độc ác cùng cực của bọn cầm thú lên làm người. Chúng đánh tù bằng thanh sắt gõ kẻng báo hiệu giờ lao động, ra lệnh cho bọn trật tự là tù hình sự cùng chúng luân phiên đấm đá những người mà chúng ghét, bất luận thành phần nào, kể cả tu sĩ và những người đáng tuổi cha ông chúng.  

 

chiều xuống sương mù bay lãng đãng

bảy năm không án tù Gia Trung

Bảy năm vắt kiệt đời trai trẻ

Mây trắng Trường Sơn mỏi núi rừng

 

Thà chết như là con kiến nhỏ

Còn hơn hèn mọn kiếp lao tù

chiều nay mây oán trên đầu núi

Hãy chở lòng ta đến hư vô

  …………………………………….

 

Trong lúc bạn ta còn nằm lại

Trên đồi hiu quạnh đất Gia Trung

Gió mưa rát mặt không nhang khói

Hồn lạnh bơ vơ giữa núi rừng

                   (   ĐỜI TA – TPT )

 

Tôi từ trại Nam Hà chuyễn vào trại Gia Trung cuối năm 1981, bị bệnh nặng nên được đưa lên bệnh xá nằm ở phòng lao chờ chết. Nguyễn Hải Chí [ họa sĩ Choé ] làm ở phòng Văn hóa thỉnh thoảng  thăm tôi . Anh đã từng bị biệt giam nhiều tháng chỉ vì táy máy tay chân, trong giờ nghỉ lao động anh vẽ trên cát thằng tù ốm trơ xương, cái đầu là củ khoai lang sùng nham nhở. Anh và tôi tâm sự rất nhiều. Người mà anh nhắc đến nhiều nhất là nhà thơ Viên Linh  và tạp chí Khởi Hành. Nhà thơ Viên Linh đặt bút hiệu Choé cho anh. Khởi Hành đăng tranh biếm họa của anh. Bắt đầu từ đó anh đã trở thành một họa sĩ nổi tiếng không những ở trong nước mà cả thế giới. Chúng tôi dự định khi ra tù sẽ vượt biên. Mộng của anh sẽ viết một phim truyện bằng tranh đại ý cho Max – Lênin – Stalin – Mao Trạch Đông – Hồ Chí Minh tranh dành ngôi vị Diêm vương dưới âm phủ, kết cuộc âm mưu bại lộ, Max bị quỷ sứ cắt lưỡi, còn những tên khác bị vất vào chảo dầu sôi… Tiếc thay anh mất sớm nên không thực hiện được hoài bảo của mình.

 

Cũng chính  nơi trạm xá này, tôi đã chứng kiến tận mắt cảnh cai tù trút những đòn thù dã man trên thân thể ốm trơ xương như thây ma của anh em tù nhân. Tôi không bao giờ quên được hình ảnh một vị mục sư khả kính, áo quần bê bết máu, mặt mũi sưng vù nằm sóng soãi trên nền cát mặc cho bọn trật tự và bọn cán bộ đánh đập dã man cho đến khi ngất xỉu. Trung tá Nguyễn văn Thanh bị đánh chết báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, nhà thơ Hà Thượng Nhân, Nguyễn sỹ Tế, Trần Tuấn Kiệt, Trần Dạ Từ, ký giả Dzoãn Bình … …

 

Nhà thơ Trần Phù Thế ở tù tại Gia Trung nên người viết  tạm ghi lại một phần rất nhỏ về những sự tra tấn khốc liệt của bọn cai tù cọng sản. Muốn biết thêm cảnh lao tù của cọng sản khắc nghiệt như thế nào xin đọc trường thiên bút ký Đại Học Máu của nhà văn Hà Thúc Sinh, Đáy Địa Ngục của nhà văn Tạ Tỵ, Thép Đen của Nguyễn Chí Thiệp… và kể cả bút ký của các nhà văn Miển Bắc sống trong chế độ cọng sản như Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên, Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn …

 

Trong tù,  không biết ngày nào được tha, tương lai mờ mịt nên chúng tôi đã chuẩn bị tinh thần rất vững vàng cho những tình huống xấu nhất có thể xẩy ra, kể cả cái chết. Và với người đầu ấp tay gối, có thể vì hoàn cảnh xã hội đưa đẩy đến bước đường cùng, cũng có thể thanh xuân tràn trề sức sống  không chờ đợi được, bước thêm một bước nữa cũng là chuyện  bình thường. Chúng tôi không hề oán trách dù trong lòng hết sức xót xa, đau đớn. Tuy nhiên, phần đông những người mẹ, người vợ có chồng tù tội dưới chế độ Cọng sản đều làm tròn thiên chức của một người đàn bà Việt Nam, thủ tiết chờ chồng, và dù chồng có chết trong tù cũng vẫn một lòng một dạ thủy chung thờ chồng nuôi con.

 

Vợ ta hãy nhớ lời ta dặn

Mai mốt bặt tin đừng đi tìm

cải tạo, đi tù coi như chết

coi như vĩnh biệt phút ban đầu

 

một mai em thấy lòng son trẻ

vẫn còn nóng hổi chuyện thanh xuân

thì em cứ bước thêm bước nữa

ta chúc cho em phúc vạn lần

 

khuyên em là giả, em đi thật

hai đứa con khờ đói bơ vơ

hai đứa con khờ ba bốn tuổi

cha tù mẹ bỏ sống bơ vơ

              (    Đời Ta – TPT )

 

 Nhà thơ Lê Phi Ô nghiến  răng cắn nát môi lấy máu viết thành thơ : / vợ bỏ con thơ theo cán bộ / Đồng tiền đánh đổi cả nhục vinh / Hỡi ơi canh bạc đời đen đỏ / Mỹ nhân hề chén rượu tàn canh /Tiếng gọi Việt chúng tôi / Cảnh nhà  Trần Phù Thế bi thảm hơn nhiều. Chồng tù tội. Vợ ôm cầm sang thuyền khác bỏ hai con nhỏ mới lên ba bốn tuổi  bơ vơ không nơi nương tựa, lang thang, đói rách. Ông bà nội tuổi già sức yếu lặn lội tìm cháu nhiều tháng trời mới gặp được hai cháu đang ăn mày giữa chợ.  Điều bi thảm nhất ở đây là hai cháu  ăn xin ở hai nơi khác nhau, khi gặp lại ông cháu chị em chỉ còn biết ôm nhau khóc. Viết những dòng này mà tay tôi run run bồi hồi xúc động, dù tôi biết hiện nay hai cháu định cư tại Mỹ cùng cha theo diện HO, cuộc sống ổn định, hạnh phúc bên chồng con.

       

em đi một tiếng không giao lại

hai đứa con thơ cho mẹ chồng

bà đi tìm cháu bao ngày tháng

gặp cháu ăn mày giữa chợ đông

con chị ôm em mừng khóc ngất

nội ôm hai cháu lệ lưng tròng

 

ta về đứa chị theo bà nội

bán chuối ven sông với chiếc xuồng

bảy năm vắng mẹ, cha tù tội

con trải thân đời với gió sương

  

còn con gái nhỏ cùng ông nội

chăn vịt trên đồng mới gặt xong

tuổi thơ đội nắng, hai màu tóc

nắng cháy đời con, cháy cả lòng

                  

ta về hai trẻ nhìn ngơ ngác

xa lạ bừng trong mắt trẻ thơ

nước mắt còn đâu. Còn nước mắt

ôm con mà khóc tự bao giờ

 

thưa ba, thưa mẹ, con tạ tội

ba khổ mẹ rầu những bảy năm

lịch sử chơi con đòn đau điếng

bảy năm tù tội nặng nghìn cân

                (Đời ta – TPT )

 

Vâng, lịch sử không những chơi ta một đòn đau điếng mà còn chơi cả dân tộc chúng ta một đòn đau điếng có phải không Trần Phù Thế ? Giờ đây, sống ở xứ người, nhìn về quê hương Việt Nam mà lòng đau như cắt. Xã hội băng hoại. Đạo đức suy đồi. Biển, đảo, đất, rừng dần dần mất về tay Trung Cộng. Vậy mà bọn sâu bọ Ba Đình vẫn sống phè phỡn, nhởn nhơ trên mồ hôi, nước mắt, và xương máu của đồng bào. Chúng còn đánh đập dã man, bắt nhốt vào tù những người yêu nước đã can đảm đứng lên đáp lời sông núi, cất cao tiếng nói bảo vệ giang sơn, tổ quốc.

 

Đọc một câu thơ hay sướng cả tuần. Đọc một đoạn thơ hay sướng cả năm. Đọc một bài thơ hay sướng cả đời. Không nhớ câu nói này của ai, nhưng rất đúng với những người yêu thơ và nặng nợ với thơ.  Thời kháng chiến có Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan, Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác, Tây Tiến của Quang Dũng, Tống Biệt Hành của Thâm Tâm …,  vào thập niên 50, 60 còn có rất  nhiều bài thơ của Cung Trầm Tưởng, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền, Hoàng Trúc Ly, Viên Linh, Tuệ Sĩ, Tô Thùy Yên… mà trong bài viết ngắn này người viết không thể trích ra hết được ; đã vượt thời gian lưu danh muôn thuở. Thơ Trần Phù Thế có rất nhiều câu hay, đoạn hay, và bài Bậu Về rất hay theo thiển ý của người viết, không biết sau này sẽ ra sao ? Thời gian sẽ trả lời. Nhà thơ Trần Phù Thế có lẽ khi làm thơ không nghĩ đến điều này, được – thua – còn – mất chỉ là một thoáng phù du có phải không Trần Phù Thế ? Anh vẫn tiếp tục đi theo con đường anh đã chọn lựa, dệt những vần thơ tình ngọt ngào hương vị phù sa miền đồng bằng sông Cửu Long.

 

 

TRẦN  VĂN  SƠN

ĐƯỜNG TRÚC THƯ TRANG

1 / 2013

 

 

art2all.net

 

Truyện Cổ Tích Việt Nam: Chàng Cóc

Chàng Cóc

Ngày xưa, trong một bản vắng, có hai vợ chồng nọ đã sống qua nhiều mùa nương mà chưa có con nối dòng. Họ buồn rầu như cỏ tranh già ngày nắng. Ngày ngày, người vợ thắp hương cầu khấn mong trời thương cảnh nghèo đơn chiếc ban cho một đứa con. Quả nhiên, ít lâu sau, người vợ có thai. Hai vợ chồng mừng lắm. Họ mong ngày mong đêm đứa con sớm ra đời. Nhưng chẳng may người chồng lại bị ốm rồi chết, mắt chưa được nhìn con. Người vợ rất buồn nhưng cứ nghĩ đến đứa con sắp ra đời, lòng lại nguôi nguôi.

Mười ba lần trăng lặn rồi mười ba lần trăng mọc, đứa bé trong bụng mới tròn tháng. Không ngờ, sau một cơn đau bụng dữ dội người vợ hóa lại đẻ ra một con Cóc xấu xí. Người vợ sợ lắm nhưng không nỡ bỏ đứa con của mình. Ngày ngày bà lên rừng đào củ mài để nuôi Cóc, mong cho Cóc chóng lớn. Ngày qua tháng lại, cóc lớn dần và trở thành một chàng Cóc cường tráng. Rồi mẹ Cóc cũng lại qua đời. Từ đó Cóc phải tự mình làm lụng nuôi thân.

Đọc truyện cổ tích: Chàng Cóc

Hồi ấy ở gần nhà Cóc có tên Khoàng Tý. Nhà Khoàng Tý có ba cô con gái đã đến tuổi lấy chồng. Đã bao nhiêu lần, Khoàng Tý mở hội để kén chọn con rể. Nhiều chàng trai đẹp đến để thi tài. Nhiều con nhà giàu mang trâu, ngựa đến để hỏi nhưng chưa ai làm Khoàng Tý ưng bụng. Lần ấy chàng Cóc tìm đến xin để làm con rể Khoàng Tý. Vừa thấy Cóc, Khoàng Tý đã giận dữ hét lên:

– Con Cóc xấu xí kia, ai cho mày đến hỏi con gái ta! Có cút ngay đi không?

Cóc vẫn bình tĩnh nói rõ ý định của mình. Khoàng Tý giận lắm, nhưng vẫn ra điều kiện:

– Nếu mày bắn một mũi tên xuyên chín con chim mang về đây thì tao sẽ gả con gái cho.

Chàng Cóc nhận lời, rồi mang cung tên đi, vào rừng săn chim. Hôm ấy trời nổi gió dữ dội. Lá to lá nhỏ rơi ào ào, cây đổ ngổn ngang, nhiều thú vật bị chết. Đến một gốc cây to cạnh con suối lớn, chàng Cóc thấy chín con chim bị gió bão quật chết từ lúc nào. Chàng liền nhặt lấy xâu vào một mũi tên rồi đem về dâng lên Khoàng Tý. Khoàng Tý phục chàng Cóc lắm. Nó lại ra thêm một điều kiện:

– Lần này mày phải kiếm liền một lúc chín gánh củi về đây. Được vậy ta sẽ gả con gái cho. Nếu không tao sẽ đánh cho mày một trận.

Khoàng Tý yên trí rằng Cóc nhỏ bé, yếu ớt thế chắc chẳng mang được chín gánh củi về cùng một lúc. Lúc ấy nó sẽ đánh cho Cóc đến chết.

Hiểu được lòng dạ Khoàng Tý, nhưng chàng Cóc chẳng chút ngần ngại. Sáng sớm hôm sau, khi ông mặt trời chưa ngủ dậy, chàng đã sắp sẵn quang gánh, giả vờ đi vào rừng lượm củi. Một láy sau, chàng Cóc trở về nói với ba cô gái:

– Tôi vào rừng kiếm củi chẳng may đâm phải cái gai ở đầu ngón chân cái. Đau quá tôi phải về đây nhờ ba cô nhổ giúp. Tôi nhớ ơn nhiều lắm.

Nghe vậy, hai cô chị bĩu môi, nhổ nước bọt vào lưng Cóc rồi bỏ đi. Chỉ có cô em út là chẳng nói chẳng rằng, lặng lẽ đến khêu gai cho chàng Cóc. Cô đã khêu lâu lắm mà gai chẳng ra. Lúc bấy giờ Cóc mới bảo rằng:

– Cô tốt bụng lắm nhưng khêu thế không được đâu! Phải cầm búa bửa mạnh thì gái mới chịu ra.

Cô út nghe nói vậy lấy làm ngạc nhiên lắm. Nàng sợ Cóc đau nên không giám. Nàng đành phải nói cho cha biết. Mới nghe nói Khoàng Tý cũng ngạc nhiên chẳng kém gì cô con gái út. Nhưng chỉ một lúc sau Khoàng Tý lại thấy vui trong bụng. Hắn nghĩ rằng: thế thì Cóc sẽ phải chết. Hắn liền gọi người làm mang cho hắn một cái búa thật to, to nhất trong nhà. Nhìn thấy vua mang búa hằm hằm đi đến, Cóc đã biết ý ác của nhà vu. Khoàng Tý đến nơi, chẳng nói chẳng rằng cứ thế giơ búa nhằm vào đầu Cóc mà bổ thật mạnh. Chàng Cóc nhanh nhẹn lánh sang một bên và thưa:

– Không! Tôi nhờ Khoàng Tý bổ vào ngón chân cái chứ có phải bổ bào đầu tôi đâu?

Lần thứ hai rồi lần thứ ba, Khoàng Tý đều nhằm vào đầu Cóc mà bổ. Nhưng cả ba lần Cóc đều tránh được. Thất lạ, Khoàng Tý thầm nghĩ: “Hay ta bổ vào ngón chân cái của nó xem sao”. Khoàng Tý lền bổ mạnh vào ngón chân cái của chàng Cóc. Bổ xong, mệt quá, mồ hôi Khoàng Tý đầm đìa, mắt hoa lên. Hắn phải ngồi phịch xuống đất, nhắm mắt lại để thở. Khi mở được mắt ra thì Khoàng Tý thấy trước mặt mình chín gánh củi to và khô. Chàng Cóc bảo Khoàng Tý:

– Đấy tôi đã mang về chín gánh củi rồi, Khoàng Tý gả con gái cho tôi đi.

Lần này thì Khoàng Tý không thề chối cãi được nữa. Hắn đành phải gọi ba đứa con gái của mình đến và hỏi:

– Đứa nào muốn làm vợ Cóc?

Hai cô chị thi nhau cười giễu Cóc. Hết chê chàng da xù xì, lung gù lại chê là mùi hôi thối. Chúng không thèm trả lời, nhổ nước bọt vào lưng cóc rồi bỏ đi. Cô em út thì chẳng nói chẳng rằng cứ ngồi im lặng. Thấy vậy, Khoàng Tý bực lắm, hỏi:

– Thế nào? Mày muốn lấy Cóc à?

Cô gái lặng lẽ gật đầu. Cuối cùng Khoàng Tý đành phải ưng thuận cho con gái út lấy chàng Cóc xấu xí. Lúc tiễn hai vợ chồng Cóc, Khoàng Tý gọi con gái lại gần và bảo:

– Ta sẽ đưa cho con một cái chày đá và một con ngựa, đến giữa đường, con phải ném chết cóc rồi đánh ngựa quay trờ về. Phải nhớ lời ta dặn đấy.

Trên đường về nhà, Cóc dắt ngựa nhảy đi trước còn vợ Cóc cưỡi ngựa theo sau. Đi được một quãng xa, vợ Cóc xuống ngựa và nói với chồng:

– Cha em không ưng bụng cho em sống cùng chàng đâu. Bụng cha em ác lắm, khác với bụng em nhiều, nhưng chàng đừng buồn, em không làm khác ý muốn của mình đâu. Nói hết câu, cô gái ném cái chày đá xuống vực rồi xuống ngựa cùng đi bộ với Cóc về nhà. Hai vợ chồng sống trong một túp lều tranh lụp xụp, rách nát. Hàng ngày, Cóc vẫn một mình phát nương làm rẫy. Vợ Cóc thương chồng lắm. Một lần nàng theo chồng đi ra nương. Đến nơi, nàng nhìn mãi mà không thấy chồng đâu, chỉ thấy một chàng trai khỏe, đẹp đang mải mê làm nương. Người vợ mải nhìn chàng trai, bàn chân vô tình đâm phải cành lá khô dưới đất. Thấy động, chàng trai lập tức chạy trốn vào một bụi cây gần đấy. Vợ Cóc lạ quá liền rượt theo, thì chẳng thấy chàng trai đâu mà chỉ thấy một con Cóc ngồi chồm chỗm dưới gốc cây mục. Vợ ra làm nương tiếp. Vừa làm, nàng vừa nghĩ; không biết chàng trai kia là ai mà lại đến nương làm hộ nhà mình.

Ngày qua tháng lại đã đến ngày hội lớn ở trong vùng. Trai gái trong bẳn mặc những bộ váy áo thật đẹp, thật sặc sỡ để đi dự hội. Thấy mình xấu xí, Cóc không muốn đi chơi với vợ. Chàng dục vợ đi trước còn mình đi sau. Vợ Cóc đi rồi, ở nhà , Cóc liền lột vỏ biến thành một chàng trai trẻ đẹp, rồi theo đường tắt đi đến hội. Lũ làng ai cũng trầm trồ, đổ mắt nhìn về phía chàng. Khi thấy chàng đánh quay tài giỏi quá mọi người dồn đến xem chật vòng trong vòng ngoài. Con gái thì muốn được tung còn với chàng, con trai thì muốn được đọ quay với chàng. Ở trong cuộc vui mà vợ Cóc buồn lắm. Nàng chờ mãi chẳng thấy chồng đến. Nàng định bỏ về nhà, nhưng lúc đi qua đám đông nàng ghé nhìn vào chỗ người đang chơi quay thì bỗng nhận ra chàng trai phát nương ngày nào. Nàng đến gần chàng trai định hỏi chuyện thì chàng bỏ chạy về hướng nhà Cóc. Lũ làng đổ xô chạy theo sau. Mọi người vào nhà chẳng thấy chàng trai nữa, chỉ thấy một con Cóc nằm thở phì dưới gầm giường.

Một lần khác trong vùng lại có hội. Cóc lại giục vợ đi trước. Còn mình đi sau. Lần này vợ Cóc đi đến nửa đường thì quay về nhà. Quả nhiên nàng nhìn thấy một tấm da Cóc ở dưới gầm giường. Chẳng chút chần chừ, nàng liền chạy lại cầm lấy tấm da ném vào lửa. Lúc ấy ở đám hội đang vui, tự nhiên chàng Cóc thấy người bỗng nóng rực lên, biết có chuyện xảy ra chàng bèn chạy ngay về nhà. Vừa vào đến cửa chàng đã ngửi thấy mùi khét, bèn lấy que khều đống lửa thì thây tấm da đã cháy hết. Từ đó Cóc mãi mãi hóa thành người và vợ chồng Cóc sống bên nhau đầm ấm.

Từ ngày mất vỏ, chàng Cóc làm lụng thật vất vả. Mọi việc chàng đều phải nhờ vào hai bàn tay. Lúa trên nương của hai vợ chồng Cóc không tốt như trước nữa. Gạo trong nhà của hai vợ chồng Cóc mau hết hơn. Họ phải đi đào củ mài ở trên rừng để ăn. Một hôm chàng Cóc nói với vợ:

– Vợ chồng mình khổ nhiều quá rồi. Bây giờ tôi không muốn nàng phải ăn củ mài ở trên rừng mãi, phải mặc áo rách mãi. Nàng ở nhà, tôi sẽ đi buôn một chuyến xa. Chỉ một lần trăng lên tôi sẽ trở về thôi!

Thế rồi sáng hôm sau chàng Cóc từ biệt người vợ xinh đẹp ra đi, trong tay chỉ có vài đồng bạc nén. Chàng phải đi xa, xa lắm. Trên đường chàng gặp một Xê sư. Xê sư biết Cóc là người tài giỏi tốt bụng nên muốn giúp chàng đạt được ý muốn. Xê sư hỏi:

– Chàng trai đi đây vậy?

Chàng Cóc lễ phép cúi đầu chào rồi đáp:

– Nhà con nghèo, con phải đi buôn một chuyến xa!

Xê sư lại nói:

– Thế thì con hãy đi theo ta!

Trên đường đi, hai người gặp một dòng sông đoạn giữa trong còn ở đầu dòng và cuối dòng lại đục ngầu. Chàng Cóc lạ lắm, bèn hỏi Xê sư:

– Tại sao lại có con sông lạ như vậy?

Xê sư chậm rãi trả lời:

– À phải! Làm gì có con sông lạ ấy được. Nước phải trong từ trên nguồn xuống chứ có bao giờ chỉ trong ở giữa quãng đâu.

Hai người lại tiếp tục đi. Một lúc sau họ gặp một con chim chỉ có một chân. Thấy lạ chàng Cóc hỏi, thì Xê sư trả lời:

– Con chim có một chân thì không thể đi được. Cũng như người ta không thể một chân mà đi lại dễ dàng.

Chàng Cóc thấy Xê sư nói có lý thì phục lắm. Từ đó hễ trên đường gặp cái gì lạn chàng đều nhờ Xê sư bảo cho.

Hai người đã qua bao nhiêu con sông, bao nhiêu ngọn núi. Một hôm nọ đến một bản nọ. Ở đầu bản họ thấy một cây gạo ra hoa đỏ chói trông rất đẹp mắt. Nhưng chẳng hiểu sao thân nó lại xù xì những gai. Chẳng kìm được tính tò mò, chăng Cóc lại nhờ Xê sư giải đáp giúp. Xê sư nói:

– À có gì đâu! Cái cây đó giống như một con người tốt bụng. Bề ngoài trông xấu xí nhưng trong bụng lại không giấu con dao độc.

Đi với chàng Cóc thêm nhiều con sông, thêm nhiều con suối nữa thì Xê sư nói với chàng:

– Hỡi chàng trai tốt bụng! Bây giờ ta không thể cùng đi với con được nữa. Con hãy ghi vào trong đầu những điều ta đã nói với con ở dọc đường. Nó sẽ giúp con nhiều đấy.

Nói xong Xê sư đi về một ngả, còn chàng Cóc cứ theo ngọn núi trước mắt mà đi. Chàng đi qua bản đầu tiên thì thấy một đám người đang định làm thịt con chó. Mắt nó ươn ướt như muốn nói với chàng một điều gì. Chàng Cóc thương hại con chó sắp bị làm thịt bèn bỏ một đồng bạc nén ra để mua. Con chó thoát chết mừng lắm. Nó ngoe ngẩy cái đuôi tỏ ý cám ơn chàng. Người và chó cùng đi. Đến một bản khác chàng Cóc lại thấy một con mèo xám bị nhốt vào giỏ sắp đêm thả xuống sông. Nghe tiếng kêu thảm thiết của con vật, chàng Cóc không nỡ để người ta giết nó. Chàng lại bỏ một đồng bạc nén để mua con mèo. Chó, mèo cùng chàng Cóc đi đến một cánh rừng nọ thì thấy rất nhiều người xúm quanh một con trăn lớn. Họ sắp giết chăn. Con trăn sợ lắm. Nó đang ra sức giãy giụa để mong thoát chết. Không ngần ngại chàng Cóc lại dốc cả số tiền còn lại ở trong túi để mua con trăn. Thế là số tiền mang theo không còn một xu. Chàng Cóc vui vẻ cung những con vật vừa mua được quay về nhà.

Lại nói đến Khoàng Tý. Từ khi chia tay với con gái út, hắn tưởng con nghe theo mình giết Cóc rồi quay về. Hắn chờ đến năm lần chăng chết, rồi năm lần trăng sống vẫn chưa thấy con về. Khoàng Tý buồn rầu bèn sang nhà Cóc xưm sao. Đến nơi hắn chỉ thấy vợ Cóc ở nhà một mình, liền bắt con gái về để để gả cho con trai xú cà. Vợ Cóc khẩn khoản van nài nhưng nhà vua vẫn trợn mắt quả:

– Bụng tao không ưng cho mày lấy thằng Cóc xấu xí ấy đâu. Mày phải lấy con xú cà thôi. Con xú cà nó có nhiều trâu, nhiều ngựa, nhiều bạc nén. Sao mày không thích giàu mà lại thích nghèo.

Cô gái lại phân trần với vua cha:

– Cha ơi! Cha nhầm rồi! Chồng con không phải là Cóc đâu. Chồng con là người mà.

Nghe vậy nhà vua lại nổi cơn thịnh nộ:

– Mày không nói lọt tai tao đâu! Bụng tao đã ưng cho mày lấy con xú cà thì mày phải nghe! Đừng nói trái lòng tao!

Vợ Cóc khóc nhiều lắm. Nước mắt nàng chảy đã ướt hết một cái áo rồi hai cái áo, mà Khoàng Tý vẫn không chịu nghe. Tên xú cà bụng rất muốn có con gái làm vợ cho con nên nó cho mổ nhiều lợn, nhiều gà, lấy nhiều rượu, nhiều thuốc mời những kẻ giàu ở quanh vùng về ăn lễ. Nó muốn lễ cưới con nó với cô gái xinh đẹp con Khoàng Tý phải to nhất trong vùng. Chúng đang ăn uống linh đình thì đột nhiên có tiếng đập cửa thình thình. Cửa bật mở, chàng Cóc lừng lững bước vào trong nhà. Chúng vừa ngạc nhiên vừa tức nhưng vẫn phải mời chàng Cóc ăn cơm. Khi mời rượu khách, chủ nhà rót quanh một lượt riêng chàng Cóc thì nó bỏ qua. Chàng Cóc giận lắm, nhớ đến lời Xê sư dặn trên đường, chàng nói:

– Nước đục phải đục từ trên nguồn xuống, có bao giờ chỉ đục quãng giữa đâu?

Chẳng biết nói thế nào, bọn chúng phải rót rượu mời chàng. Lúc cầm đũa để gắp thức ăn, chàng Cóc chỉ thấy một chiếc. Chàng cố ghìm lòng nói to:

– Chim chỉ có một chân thì làm sao đi được, người cũng thế? Sao chỉ cho ta một chiếc đũa để ăn.

Lại một lần nữa chúng chịu thua chàng. Vừa lúc ấy vợ chàng Cóc từ trong nhà bước ra. Đầu nàng đội chiếc khăn thêu nhiều màu sặc sỡ, người nàng mặc bộ quần áo mới rất đẹp. Trông nàng như một bông hoa mới nở. Thấy vậy chàng Cóc cất tiếng hỏi:

– Nàng ở nhà có chuyện gì không hay vậy?

Vợ Cóc vừa khóc vừa kể hết đầu đuôi sự việc cho chồng mình nghe. Bấy giờ chàng Cóc mới hiểu tất cả bụng dạ cú cáo của Khoàng Tý. Chàng tìm lời an ủi vợ:

– Thôi! Nàng đừng khóc nữa. Tôi đã mua chó và mèo về rồi. Nàng mang chúng vào nhà đi. Tôi phải ra đầu làng dắt con trăn về đã.

Khi chàng Cóc đi tới nơi buộc trăn lúc sáng thì lạ quá, nhìn quanh chẳng thấy trăn đâu cả, chỉ có một cô gái đẹp đang nở miệng cười. Chàng Cóc hỏi:

– Hỡi cô gái đẹp ơi! Cô có thấy con trăn của tôi buộc ở đây không?

Cô gái mỉn cười đáp:

– Con trăn của chàng chính là em đây!

Chàng Cóc rất ngạc nhiên. Chàng mở mắt to nhìn cô gái đẹp. Thấy vậy, cô gái nói thêm:

– Em là con gái thứ sáu, con gái út của Be dòng đấy. Hôm nọ trời đẹp em lên trần chơi chẳng may gặp đoàn đi săn, họ bắt em định thịt. Hôm ấy nếu không được chàng cứu thì em không nói được nữa rồi! Em biết ơn chàng lắm. Bây giờ chàng xuống chơi nhà em đi, đường dễ đi thôi!

Chàng Cóc rất thương vợ. Chàng muốn ở nhà với vợ nhưng lại muốn biết nhà của Be dòng đẹp như thế nào nên chàng ưng thuận đi theo. Đến một hồ nước rộng, trong xanh, cô gái xinh đẹp chỉ tay xuống mặt nước và bảo:

– Nhà cha em ở dưới này! Giờ chàng nhắm mắt lại và cầm chặt lấy thắt lưng em. Khi nào em bảo mở mắt thì chàng mới được mở.

Cô gái còn dặn thêm:

– Xuống đó, khi về thế nào cha mẹ em cụng tạ ơn chàng đã cứu sống em. Chàng chớ có lấy vàng bạc mà hãy xin chiếc đuôi cá bằng vàng treo ở giữa nhà ấy. Nó sẽ giúp chàng ước gì được nấy.

Chàng Cóc làm theo lời dặn của cô gái. Chàng nhắm mắt lại và nắm chặt lấy thắt lưng cô gái. Khi mở mắt ra chàng thấy mình đang ở trong một ngôi nhà lớn có nhiều lợn gà, vàng bạc. Cô gái kể đầu đuôi câu chuyện cho cha mình nghe. Be dòng niềm nở đón tiếp chàng. Be dòng dọn cho chàng ăn những thức ăn ngon nhất nơi thủy cung. Rồi cô gái lại dẫn chàng đi xem những cảnh đẹp. Sống được ít ngày, chang Cóc thấy nhớ vợ và xin Be dòng trở lại cõi trần. Be dòng biết không thể giữa chàng ở lại thủy cung, liền bảo chàng:

– Hỡi chàng trai tốt bụng, chúng tôi không biết lấy gì đền ơn lòng tốt đã cứu con ta, chàng muốn gì ta sẽ tạ ơn!

Chàng Cóc nhìn quanh nhà Be dòng, rồi thưa:

– Tôi chỉ muốn xin chiếc đuôi cá vàng kia.

Be dòng bằng lòng, lấy đuôi cá vàng trao cho chàng Cóc, rồi cả nhà cùng ra tiễn chàng lên bờ, chúc chàng hạnh phúc, muốn gì được nấy.

Chàng Cóc nhắm mắt lại và nhờ cô gái xinh đẹp đưa lên bờ. Về đến nhà, theo lời dặn của cô gái, chàng Cóc tự tay đóng một cái bàn xinh xắn. Đóng xong, chàng gọi vợ đến và quét xuôi đuôi cá ba lần lên mặt bàn. Một mâm cơm ngon, đầy rượu thịt hiện ra. Hai vợ chồng cùng ăn uống vui vẻ. Sau đó chàng lại qué ba lần lên mặt bàn. Lập tức một tòa nhà bằng vàng óng ánh, cùng không biết bao nhiêu trâu, bò, lơn, gà hiện ra. Từ đấy cuộc sống của hai vợ chồng Cóc trở nên sung sướng, hạnh phúc.

Còn Khoàng Tý, khi tan bữa tiệc cưới ít hôm, có người vào báo có chuyện lạ là vợ chàng Cóc vẫn không chịu về làm vợ con nhà xú cà. Không những thế chàng Cóc lại vừa mới xây xong một tòa nhà bằng vàng rất đẹp. Khoàng Tý lúc đầy không tin, đến tận nơi xem thì quả đúng như vậy. Hắn trở về và đem những điều mắt thấy tai nghe thuật lại cho vợ và hai cô con gái cả. Chúng không tin. Vợ Khoàng Tý bèn tới nơi để xem thử. Đến nhà con gái, mụ thấy hai vợ chồng chàng Cóc béo khỏe, xinh đẹp, sống rất sung sướng trong một tòa nhà lộng lẫy bằng vàng. Vợ chồng Cóc ra tận cổng đón mụ. Ở nhà vợ chồng Cóc, mụ vợ Khoàng Tý được ăn những thúc ngon lạ bấy nay chưa hề thấy. Rồi mụ lại còn được thấy những của cải quí của con gái. Máu tham nổi lên che hết đầu hết mặt. Mụ gạn hỏi vợ chồng Cóc.

– Sao các con lại kiếm được những của hiếm này?

Chàng Cóc thật bụng kể lại mọi chuyện chuyện cho mụ nghe. Khi đã biết được nhiều bí ẩn, vợ Khoàng Tý vội vã ra về. Mụ đi nhanh như gió thổi, như có con ma đuổi sau lưng. Vừa về đến nhà, mụ liền gọi chồng đến nhỏ to thuật lại mọi chuyện. Khoàng Tý nghĩ vợ mình nói dối nên lại sai hai con gái đến nhà vợ chồng Cóc. Hai cô chị trở về đều nói đúng như lời mụ. Khoàng Tý vẫn chưa tin. Hắn muốn tự mình đến nơi xem hư thực lần nữa. Ngay sáng hôm sau, hắn vội vã đến nhà vợ chồng con gái út. Hắn trở về nhà vừa lúc hai cô con gái cả của hắn vừa chết. Chẳng là, hai cô chị thấy chồng em mình giàu quá, đẹp quá liền tìm cách giết em gái để cướp chồng. Nhưng cô cả lại sợ cô thứ hai tranh mất nên tìm cách hại em. Hôm đó chúng dủ nhau đi tắm, thấy em sơ ý, cô cả liền đẩy em xuống sông, rồi chạy vào rừng định tìm hái lá ngón về giết em út. Nhưng vừa vào đến rừng chưa kịp hái thì đã bị một con rắn độc bò đến cắn chết tươi.

Lòng vợ chồng Khoàng Tý rất buồn vì một lúc mất hai đứa con. Nhưng bụng nó vẫn không muốn bỏ chiếc đuôi cá bằng vàng của vợ chồng Cóc. Khoàng Tý mở kho lấy vàng rồi truyền lệnh cho thợ đánh ngày đêm bằng một chiếc đuôi cá y như chiếc đuôi cá thần của chàng Cóc. Đuôi cá được làm xong, Khoàng Tý hí hửng mang sang nhà chàng Cóc. Cũng như lần trước hai vợ chồng Cóc đón tiếp cha thật chu tất. Họ không thể ngờ được mưu gian của Khoàng Tý. Lừa lúc vợ chồng Cóc đi ngủ Khoàng Tý bèn đánh tráo đuôi cá thần. Sáng hôm sau hắn giả vờ buồn bã chào vợ chồng Cóc rồi ra về. Từ ngày cướp được đuôi cá vàng, Khoàng Tý đã giàu càng giàu thêm. Suốt ngày Khoàng Tý ăn uống no say, hết ở nhà vàng này lại sang ở nhà vàng khác. Hắn bắt đuôi cá làm việc liên tục, làm ra bao nhiêu của cải cho hắn.

Còn vợ chồng chàng Cóc từ khi mất đuôi cá thần thì trở lại nghèo đói như xưa. Họ làm việc suốt ngày mà bụng vẫn không đủ no, áo mặc vẫn bị rách. Một hom chàng Cóc bàn với vợ:

– Mình nhịn đói lâu rồi, trong nhà lại chẳng còn cái gì bán được. Hay ta mang chó, mèo đi đổi lấy gạo ăn vậy.

Nghe thấy chủ bàn thế, chó và mèo buồn lắm. Chúng không muốn xa hai vợ chồng người chủ tốt bụng nên năn nỉ xin chàng Cóc cho được sống và hứa đi lấy đuôi cá vàng thần về cho chàng.

Hai con rủ nhau đi. Chúng chạy suốt ngày suốt đêm không nghỉ. Tới nhà Khoàng Tý, mèo bảo chó:

Chó gật đầu đồng ý. Nó nấp một chỗ kín để rình. Chỉ sau một lần nguẩy đuôi, chó đã thấy đàn chuột nhốn nháo chạy quàng chạy xiên ra ngoài. Chó nhảy xổ tới ngoạm lấy con chuột chúa. Mèo nhanh chân lẹ làng nhảy đến túm lấy chú chuột đang run lẩy bẩy mà bảo:

– Mày muốn sống thì hãy đi gọi cả họ nhà mày đến đây để vào khoét bằng được cái hòm quí trong buồng Khoàng Tý.

Chuột run sợ nhận lời. Chỉ một lát sau bao nhiêu chuột to, chuột nhỏ, chuột đực, chuột cái kéo về lúc nhúc trước mặt chó và mèo. Mèo bảo con chuột chúa:

– Chúng mày hãy vào cắn thủng hòm của Khoàng Tý rồi lấy chiếc đuôi cá bằng vàng ra đây cho tao thì sẽ được tha chết!

Chuột chúa vội vã vâng lời và nhảy đi trước. Theo sau nó là những chú chuột cường cháng nhanh chân nhất. Lúc ấy, Khoàng Tý đang cùng vợ ăn cơm trong nhà nghe thấy tiếng chuột cắn liền bảo vợ:

– Bà vào đuổi chuột đi kẻo nó cắn thủng chiếc hòm đựng đuôi cá vàng mất.

Ngay lúc đó mèo đứng ở góc nhà kêu lớn “meo meo!” làm cho vợ Khoàng Tý yên lòng bảo chồng:

– Sợ gì, đã có mèo rồi!

Chuột thay nhau hì hục khoét hòm. Chẳng mấy chốc hòm thủng, họ hàng nhà chuột khéo léo lôi đuôi cá vàng ra ngoài. Mèo ngoạm ngay lấy đuôi cá thần, tha chết cho họ hàng nhà chuột rồi nhẹ nhàng chạy ra cửa sau ra đường.

Giữa lúc hai vợ chồng chàng Cóc đang than thở về người cha độc ác và thân phận nghèo đói của mình thì nghe thấy tiếng chó sủa ngoài bìa rừng. Biết là mèo và chó đã trở về, chàng Cóc vội ra đón. Mèo mừng rỡ trao đuôi cá thần cho chủ. Chàng Cóc cám ơn hai con vật tốt bụng rồi lấy đuôi cá vàng ra quét đi quét lại vài lần trên mặt bàn. Lập tức bao nhiêu thức ăn ngon hiện ra, rồi cả nhà cao cửa rộng, trâu ngựa béo khỏe cũng hiện ra. Từ đó hai vợ chồng chàng Cóc lại sống một cuộc sống no đủ sung sướng bên cạnh chó và mèo.

Còn vợ chồng Khoàng Tý sáng ra thấy đói định mở hòm lấy đuôi cá vàng thì chẳng thấy đâu. Chúng tiếc ngẩn tiếc ngơ đến đứt ruột mà chết.