Thơ Hay Về Ngày 30 Tết / 2023 / Top 13 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Kovit.edu.vn

Chùm Thơ Hay Ca Ngợi Tổ Quốc Việt Nam Nhân Ngày 30 / 2023

VIỆT NAM CỦA CHÚNG TÔI

Tác giả: Việt Cường

Ôi Việt Nam, Tổ quốc của chúng tôi

Nơi mẹ nuôi con khôn lớn thành người

Nơi mảnh đất cha ông tôi nằm xuống

Việt Nam ơi… Trang sử đẹp ngàn năm!

Quân Nam Hán, đại bại trận Bạch Đằng

Phòng tuyến Như Nguyệt, đập tan quân Tống

Hàm Tử Quan, bắt sống tướng Toa Đô

Ải Chi Lăng, giặc Minh phải hạ cờ

Tổ Quốc tôi, vẫn tươi đẹp trong thơ

Trong lịch sử chống ngoại xâm vĩ đại

Dân tộc tôi, khí anh hùng vang mãi

Trong sử thi cho đến tận bây giờ

Trận Điện Biên chấn động, giặp Pháp thua

Đuổi giặc Mỹ, non sông ta thống nhất

Một chín bảy nhăm, nước nhà độc lập

Người Việt Nam, yêu đất mẹ Việt Nam

Đất nước tôi vẫn tươi đẹp huy hoàng

Bắc, Trung, Nam, ba miền cùng cố gắng

Cùng đồng cảm, cùng dựng xây cuộc sống

Dân tộc Việt Nam, vẫn đậm nét Việt Nam

Người Việt Nam vẫn giản dị, đàng hoàng

Vẫn ngay thẳng, yêu hoà bình tha thiết

Yêu Tổ quốc và hy sinh máu thịt

Cho quê hương, cho đất mẹ thân yêu

Ôi Tổ quốc, chúng tôi mãi thương yêu

Từng thước đất, từng căn nhà bé nhỏ

Từ tiếng ầu ơi mẹ ru thủa nhỏ

Ôi Việt Nam, đất mẹ của chúng tôi./.

VIỆT NAM ĐẤT NƯỚC TÔI

Tác giả: Trấn Nguyên Tử

Đất nước tôi núi sông ngàn dặm

Nhiều thăng trầm cũng lắm vinh quang

Tự hào dân tộc thuộc hàng Rồng Tiên

Núi Nghĩa Lĩnh linh thiêng đất tổ

Sông Bạch Đằng thiên cổ vang danh

Xả thân gìn giữ màu xanh biển trời

Trăng vẫn mãi muôn đời soi bóng

Mặt Tây hồ in bóng trăng soi

Nghe chuông Trấn Vũ từng hồi

Nghìn năm vọng lại như lời nước non

Bao thế kỷ vẫn còn hiện rõ

Từng vương triều khác họ thay nhau

Hùng triều trước, Nguyễn triều sau

Công lao thần thánh tạc vào sử xanh

Bao thế hệ hùng anh đi trước

Để cháu con tiếp bước cha ông

Tiến lên phất ngọn cờ hồng

Rạng danh nòi giống Tiên Rồng Việt Nam

Ơi tổ quốc bốn ngàn năm sử

Đây Việt Nam con cháu Lạc Hồng

Vinh quang tỏa sáng trời đông

Bắc nam thống nhất non sông đẹp giàu

Mỗi chúng ta tự hào dân Việt

Chữ đồng bào hai tiếng thiêng liêng

Hôm nay dân khắp trăm miền

Hướng về Đông Hải chủ quyền Quốc Gia

Chín mươi triệu trẻ già như một

Đứng vùng lên đoàn kết cùng nhau

Nắm tay đuổi hết giặc tàu

Mai sau con cháu tự hào cha ông.

Bao thế kỷ dựng nền độc lập

Mấy nghìn năm xây đắp non sông

Rạng danh nòi giống Tiên Rồng

Việt Nam vĩnh cửu, Lạc Hồng thiên thu

Trăm dãy núi có từ vạn cổ

Nghìn con sông nước đổ Biển Đông

Non vời vợi, nước mênh mông

Trường Sơn mây phủ, Biển Đông sóng tràn

Đất địa linh, rồng vàng bay lượn

Thành Thăng Long dựng tượng ghi công

Đồng tâm vệ Quốc, một lòng an dân

Nắng mùa hạ chói chang Thành nội

Cơn mưa chiều lướt vội Thuận An

Mượt mà dải lụa Hương Giang

Gió trăng Bến Ngự, thông tùng Nam Giao

Bờ cát trắng, rì rào sóng vỗ

Hàng dừa nghiêng đón gió lao xao

Đồng Nai học tập, Vũng Tàu vui chơi

Đất phương bắc, bao đời văn hiến

Người trời nam nức tiếng nghĩa nhân

Diệt giặc thù, giúp lương dân

Hùng anh sự nghiệp, thánh thần công lao

Đất nước tôi, tự hào yêu lắm!

Non sông này như gấm, như hoa

Cũng là xương máu ông cha

Biết bao thế hệ đổ ra giữ gìn.

Việt Nam ơi! Mãi nghìn năm nữa

Vẫn còn đây ngọn lửa tình yêu

Trang thơ tâm sự đôi điều

Giữa mùa nắng hạ, cuối chiều hoàng hôn.

VIỆT NAM TỔ QUỐC TÔI

Tác giả: Romooc Nguyễn

Ôi Tổ quốc, ta nghe lời Tổ quốc

Lời mẹ hiền vẫn dục bước ngàn năm

Tổ quốc tôi vẫn sáng tựa trăng rằm

Vẫn hiên ngang vượt sóng ngầm, bão tố

Như mặt trời chiếu ánh dương rực rỡ

Chắn bão giông, ngăn nắng lửa bao năm

Việt Nam ơi, vẫn sáng tựa trăng rằm

Lời Tổ quốc, lời mẹ hiền vang vọng

Từ Lũng Cú đến Rạch Tàu đầy nắng (1)

Từ Sín Thầu đến Tiên Nữ, Trường Sa (2)

Từ Trà Cổ đến Cà Mau quê ta

Vẫn vươn tới, vẫn trên đà hội nhập

Vẫn đoàn kết giữ nguyên nền độc lập

Để trái tim vẫn nhịp đập muôn năm

Để em thơ ca múa dưới trăng rằm

Để ca dao vẫn ầu ơi bay bổng

Để bao người vẫn trái tim rung động

Người Việt Nam, yêu Tổ Quốc Việt Nam!

Ôi Tổ quốc đã bao lần gian nan

Vẫn vững vàng trước muôn ngàn con sóng

Mong ai đó đừng để mình xao động

Lòng mẹ hiền vẫn giang rộng vòng tay

Tổ quốc ơi vẫn luôn thắm xuân nay

Vẫn bước tiếp, chẳng một ngày ngơi nghỉ

Cả đất nước cùng một dòng suy nghĩ

Tổ quốc tôi, ôi Tổ quốc Việt Nam./.

* Chú thích:1.– Điểm cực bắc: Xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.– Điểm cự nam: Mũi Rạch Tàu, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.2.– Điểm cực tây: Xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.– Điểm cực đông: Đảo Đá Tiên Nữ, quần đảo Trường Sa.

Nến ai đã qua một thời trận mạc

Hẳn chưa quên cảnh đạn lạc bom rơi

Nơi sâu thẳm ở trong mỗi con người

Nỗi khát khao chờ ngày dừng cuộc chiến.

Người hậu phương luôn hướng ra tiền tuyến

Cũng một lòng phấp phỏng với đợi mong

Vợ chờ chồng, mẹ già cũng ngóng trông

Cảnh thương đau muốn phải mau chấm dứt.

Đã mấy ngàn ngày máu và nước mắt

Cảnh chiến chinh trên mảnh đất Lạc Hồng

Quyết diệt thù giành toàn vẹn non sông

Buộc người lính quên mình trong lửa đạn.

Tuy chịu đựng sức người cũng có hạn

Nhưng tinh thần bất khuất đã vượt lên

Để cho ngày gia cảnh được đoàn viên

Đánh Mỹ cút, quân Ngụy nhào bại trận.

Cảm xúc tháng Tư sướng vui vô tận

Từ đáy lòng những người lính chiến trường

Cảnh tưng bừng truyền về tới hậu phương

Triệu triệu dân cùng cờ hoa náo nức.

Trong lòng tôi vui mừng hừng hực

Vẫn không quên cô bạn nhỏ kề nhà

Đã bao ngày chiến tranh đành phải xa

Nhưng tâm khảm luôn có em theo dõi.

Và hôm nay có thời gian nghĩ lại

Cảm ơn trời đã nâng bước bình yên

Để bây giờ cứ mỗi tháng Tư lên

Lòng thổn thức mình nhớ thêm ngày ấy.

Anh muốn đưa em về miền kí ức

Bốn mươi năm vẫn rạo rực trong lòng

Cả Tổ quốc mình trống mở cờ dong

Mừng chiến thắng hơn hai mươi năm đánh giặc.

Rợp cờ hoa nối từ Nam ra Bắc

Mẹ đón con, vợ nắm chắc tay chồng

Niềm vui vỡ oà cả dưới đất trên không

Lòng náo nức của con Rồng cháu Lạc.

Quét sạch rồi tiếng gầm vang đại bác

Mang yên bình cho câu hát mẹ ru

Dẫu chiến tranh còn vương lại khói mù

Sau giải phóng còn chưa bù mất mát.

Nhưng ít ra cũng tạm lùi trận mạc

Mong hoà bình đem mát mẻ con tim

“Ba mươi tháng tư” mở kí ức lần tìm

Cái hạnh phúc được tìm trong xương máu.

Kể em nghe để rồi khuyên con cháu

Chẳng có vị ngọt nào dễ đến tự nhiên

Đời chiến binh là vất vả triền miên

Ngày chiến thắng mới mới chỉ “thuyền cập bến”

THƠ LỤC BÁT 30-4: NIỀM TIN CHIẾN THẮNG Thơ: Đại Nghĩa

Hòa bình khát vọng đêm ngày

Bắc – Nam sum họp Xuân này vui sao

Niềm tin Tất Thắng dâng cao

Tự hào tranh đấu ước ao mặn nồng.

Cờ theo nhịp bước chung đồng

Rạng danh Sử Việt bao lòng kiên trung

Việt Nam Đất Nước Anh hùng

Khải hoàn vang vọng sáng bừng quân ca.

Tiến lên Toàn Thắng về Ta !

Thỏa lòng ước nguyện thiết tha hòa bình

Non sông gấm vóc hữu tình

Điểm tô truyền thống chiến chinh ngàn đời.

Đồng dâng sức mạnh bên đời Tự do

Kiên cường khí phách Bác cho

Niềm tin Chính nghĩa chẳng lo sợ gì.

Đế quốc Mỹ quân thù xâm lược

Vào miền Nam vấn bước chiến tranh

Súng gươm mấy lược bạo hành máu rơi

Dân tộc ta đáp lời sông núi

Cùng đứng lên đánh đuổi ngoại xâm

Không căn sức, chẳng ngay tầm

Nhưng lòng yêu nước ngẩm ngầm đấu tranh

Đã đến lúc lừng danh nước Việt

Đồng tiến công, tiêu diệt giặc thù

Xóa đi vếch tích ngục tù trần gian

Thấy lại cảnh bình an hạnh phúc

Riêng quân thù tủi nhục rút quân

Việt Nam chiến đấu không ngừng

Mấy ngàn năm đã vang lừng năm châu

Đế quốc Mỹ cuối đầu gục ngã

Đánh tan cướp nước vẹn bề quân dân

Bốn mươi năm thắm nhuần kỷ niệm

Bốn mươi năm tìm kiếm cuộc đời

Việt Nam viên ngọc sáng ngời

Ngàn năm viên ánh mặt trời bao la.

Có nơi nào như đất nước tôi không

Nơi giòng giống của tiên rồng lạc việt

Bản trường ca bốn nghìn năm đã viết

Bất khuất hào hùng mà cũng lắm gian nan.

Có nơi nào khi nước mất nhà tan

Lại vùng lên như sóng tràn biển lớn

Cái chết nhẹ như thoảng làn mây gợn

Cho tổ quốc này đẹp hơn mọi bài ca.

Có nơi nào mang những cuộc chia xa

Tiễn chồng con đi trong lệ nhòa nước mắt

Nơi chiến trường xa trút căm hờn lên đầu giặc

Vẫn thương quê nhà vằng vặc mảnh trăng suông.

Có nơi nào lời thề chẳng rời buông

Trong vời vợi đợi một lời hẹn ước

Nén nỗi đau thương nhìn theo dòng nước

Hóa đá chờ chồng tạc vào giữa thiên thu.

Có nơi nào sâu nặng những lời ru

Theo xuốt con đi cho dù muôn ngả

Nghĩa mẹ công cha mãi mãi là tất cả

Che chở đời con dẫu vất vả canh trường.

Có nơi nào gắn kết những yêu thương

Cho tổ quốc luôn trường tồn mãi mãi

Gian khó hy sinh lòng đâu có ngại

Việt Nam ơi xin hát mãi tên người.

Suy Niệm Tin Mừng Chiều 30 Tết Bài 1 / 2023

Suy niêm cuối năm Lm Emmanuel Nguyễn Vinh Gioang.

Những ngày cuối năm, chúng ta thường nói : năm cùng, tháng tận. Những ngày đầu năm, chúng ta thường nói : ngày rộng, tháng dài.

Nói như vậy, xem ra chúng ta làm chủ thời giờ, vì chúng ta nói : Thời giờ đã cùng tận, cũng được ; mà nói : thời giờ đang rộng dài, cũng được.

Nhưng trong thực tế, chúng ta không thể nào làm chủ được thời giờ, vì cũng như mọi loài mọi vật khác, con người chúng ta đã được Thiên Chúa dựng nên và cho sống trong một khoảng thời gian nào đó nhất định mà thôi : ” Mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời ở dưới bầu trời : thời để sinh và thời để chết, thời để trồng và thời để nhỗ cây trồng, thời để giết chết và thời để chữa lành, thời để phá và thời để xây, thời để khóc và thời để cười, thời để than van và thời để múa nhảy, thời để quăng đá và thời để lượm đá, thời để ôm và thời để tách rời không ôm nữa, thời để tìm kiếm và thời để thất lạc, thời để gìn giữ và thời để vất đi, thời để xé và thời để khâu, thời để nín thinh và thời để lên tiếng, thời để yêu và thời để ghét, thời giặc giã và thời bình an ” ( Gv 3,1-8 ).

Vì lệ thuộc vào thời gian, nên mỗi người chúng ta, trước, thì không có. Thử hỏi trước đây một trăm năm, ai trong chúng ta đây có mặt trên trần gian nầy ? Và thử hỏi : một trăm năm sau nầy, ai trong chúng ta còn sống được trên trần gian nầy nữa không ?

Mỗi người chúng ta chỉ được phép sử dụng thời giờ Chúa thương ban cho sống, chứ không thể nào làm chủ được thời giờ mình sống. Vì thế, khi cái chết đến, chúng ta hết giờ sống của mình, chúng con phải trả thời giờ lại cho Chúa.

Chỉ có Chúa là Chủ thời giờ vì Ngài là Đấng hằng có đời đời. Ông tỷ phú kia đau nặng gần chết. Ông yêu cầu bác sĩ giỏi nhất thế giới làm cho ông sống thêm một thời gian. Bác sĩ lắc đầu, nói : ” Muốn sống thêm một thời gian, ông hãy chắp tay cầu nguyện với Chúa “. Tất cả thời gian đều nằm trong tay Chúa : quá khứ thuộc về Chúa, hiện tại thuộc về Chúa, tương lai thuộc về Chúa

Chỉ có Chúa là Đấng làm Chủ thời giờ vì Chúa là Đấng tuyệt đối, bất di bất dịch, không hề thay đổi. Còn con người chúng ta thì tương đối, thay đổi : chúng ta có trước, rồi mới có sau, chúng ta có ít, rồi mới có nhiều, chúng ta phải nhỏ, rồi mới trở nên lớn, chúng ta trẻ, rồi mới trở nên già, chúng ta sống, rồi thế nào chúng ta cũng chết. Vì sao ? Vì chúng ta không làm chủ được thời giờ. Chúa là Đấng tuyệt đối, luôn luôn là một, không bao giờ thay đỗi, bất di bất dịch, làm chủ thời giờ : thời giờ thuộc về Chúa.

Thiên Chúa đánh giá thời giờ rất cao vì Ngài rất quý thời giờ. Khi ban thời giờ cho chúng ta sống, Thiên Chúa hết sức tiết kiệm, chỉ ban cho chúng ta một cách nhỏ giọt : ban từng giây, từng phút ; ban từng giờ, từng ngày ; ban từng tuần, từng tháng, từng năm. Chúa lấy lại giây phút trước, rổi mới ban cho chúng ta giây phút sau. Giàu sang vô biên như Chúa, mà không bao giờ Chúa ban cho chúng ta có cùng một lúc hai giây, hai phút, hai giờ, hai ngày, hai tuần, hai tháng, hai năm.

Mỗi sáng khi thức dậy, người giàu cũng như kẻ nghèo, người thông cũng như kẻ dốt, người lớn cũng như trẻ nhỏ, ai cũng như ai, đều được Chúa ban cho có thời giờ đổng đều như nhau : ai cũng có trong túi 24 tiếng đổng hổ trong một ngày.

Nhưng có thời giờ, không phải như có tiền. Khi có tiền trong tay, chúng ta tiêu xài mấy ngàn, mấy vạn, mấy triệu cũng được. Trái lại, khi ban cho chúng ta sống trong một năm, Chúa ban cho chúng ta có ba mươi mốt triệu, năm trăm ba mươi sáu ngàn giây đổng hổ ( 31.536.000 giây đổng hổ ), nhưng Ngài chỉ cho mỗi người chúng ta sử dụng từng giây đồng hồ một mà thôi.

Dù là Giáo Hoàng hay Hổng Y, Giám Mục, dù là hoàng đế hay tổng thống, không ai có thể tiêu xài hai giây đồng hồ trong một lúc : dùng giây đồng hồ nầy xong, Chúa mới cho chúng ta dùng giây đồng hồ khác.

Không gì quý bằng Máu Chúa đã đổ ra để cứu chuộc chúng ta. Mà thời giờ là giá Máu Chúa Giêsu đổ ra để cứu chuộc chúng ta. Những kẻ chịu phạt đời đời trong hỏa ngục, chỉ cần trở lại trên trần gian nầy được một giây mà thôi, thì cũng đủ để cho họ được lên thiên đàng !

Thời giờ là tiền mua được nước thiên đàng. Thời giờ rất quý báu ! Thế mà có nhiều người phí phạm thời giờ, không dùng thời giờ để sống cho đẹp lòng Chúa. Theo một cuộc điều tra được tiến hành nơi một số người sống đạo một cách lơ là : trong một năm, họ có 08.760 giờ ; họ đi lui đi tới, mất 260 giờ ; họ nói chuyện với người khác, mất 310 giờ ; họ tắm rửa và sửa sắc đẹp, mất 620 giờ ; họ ăn uống, mất 930 giờ ; họ ngủ, mất 02.900 giờ ; họ làm việc, mất 03.650 giờ, và họ dành cho các công việc đạo đức : 25 giờ !

Tuy rất quý báu, nhưng thời giờ lại rất chóng qua. Ở trên đời nầy, không gì chóng qua bằng thời giờ. Vì thời giờ trôi đi quá mau, nên nhiều hình ảnh được đem ra so sánh với thời giờ.

Chúng ta hãy lấy một số hình ảnh của Kinh Thánh : ” Ngày đời tôi trôi qua nhanh hơn kẻ chạy đua, chúng trốn chạy mà không tìm thấy hạnh phúc. Chúng lướt mau như thuyền nan, như đại bàng bổ xuống con mồi ” ( G 9,25-26 ) ; ” Cộng niên tuế ước chừng bảy chục, khỏe lắm chăng cũng được bát tuần. Hầu trọn kiếp, chỉ là lao đao khốn khó, vì năm tháng sầm sập qua đi và chúng tôi vụt mất ! ” ( Tv 90,10 ) ; ” Với thời gian, tên tuổi ta sẽ bị lãng quên, sẽ không ai nhớ đến các việc ta làm ; đời ta sẽ qua đi như vết chân mây, và tan biến như đám sương mù bị ánh dương rượt đuổi, bị đè bẹp xuống dưới sức nóng mặt trời. Quả thế, sinh thời của ta như bóng lướt qua, số tận rồi, ta không còn thể phục hồi, ấn đã niêm, và không ai sẽ quay lại “( Kn 2,4-5 ) ; ” Mọi điều xảy đến, thảy là phù vân….Vì phù vân cả, thiếu thời với buổi tóc xanh ” ( Gv 11,7-10 ).

Trong văn chương, cũng có nhiều hình ảnh diễn tả sự chóng qua của thời giờ : thời giờ được ví như mũi tên bắn ra khỏi chiếc cung rồi mất hút ; được ví như tia chớp lóe lên giữa đêm tối âm u rồi biến mất ; được ví như một giấc mơ, khi tỉnh dậy, thấy không còn gì nữa ; được ví như áng mây trên trời, mới có hình nầy, thì lại biến tan thành hình khác ; được ví như chiếc hoa sớm nở chiều tàn ; được ví như con thoi thợ dệt đưa qua đưa lại nhanh như chim én liệng ; được ví như bóng ngựa thoáng vụt qua cửa sổ ; …

Vì thế, thờ giờ trôi đi vùn vụt, và không bao giờ quay đầu trở lại. Thời giờ biến đi trước mắt chúng ta, nhưng chúng ta không tài nào chận bắt nó lại được. Bởi thế, làm được gì hôm nay cho Chúa, cho Mẹ, cho Giáo-Hội, cho các linh hổn, chúng ta hãy làm ngay, đừng bao giờ dời lại ngày mai điều chúng ta có thể làm ngày hôm nay. Chần chờ, là phương thế hiệu nghiệm nhất của ma quỷ để lôi kéo nhiều linh hổn xuống hỏa ngục. Thời giờ rất chóng qua !

Chúng ta hãy qúy trọng thời giờ Chúa ban cho chúng ta sống. Chúng ta phải tin rằng : trong mỗi giây mỗi phút Chúa ban cho chúng ta sống, Chúa đều kèm theo một ơn đặc biệt trong mỗi giây mỗi phút đó. Chúng ta phải biết rằng Chúa chỉ ban cho chúng ta sống giây phút hiện tại mà thôi.

Chúng ta phải ý thức đều quan trọng nầy, là : trong đời sống chúng ta, tuy giây phút nầy qua đi, nhường chỗ cho giây phút khác, nhưng những gì chúng ta đã suy nghĩ trong giây phút đó, đã ước muốn trong giây phút đó, đã làm việc đẹp lòng Chúa trong giây phút đó, đã làm điều mất lòng Chúa trong giây phút đó, đã bỏ đi không làm những gì Chúa soi sáng trong giây phút đó, tất cả những điều nầy sẽ tồn tại mãi mãi bởi vì đã được thiên thần giữ mình ghi chép vào sổ đời đời, để chiếu theo đó mà được Chúa thưởng sau nầy trên nước Thiên Đàng, hoặc bị Chúa phạt sau nầy trong Hỏa Ngục.

Có người cho rằng : một giây, một phút, không đáng gì ! Nhưng chúng ta thấy : với một giây một phút nầy, người trộm lành đã mua được nước Thiên Đàng đời đời, còn người trộm dữ phải sa Hỏa Ngục đời đời. Bởi thế, những giây phút trong cuộc đời chúng ta trôi qua, không phải để biến mất, nhưng để nhập vào kho đời đời của chúng ta sau nầy : kho Thiên Đàng đời đời hạnh phúc, kho Hỏa Ngục trầm luân muôn kiếp.

Chúng ta hãy xác tín rằng : giá trị của một đời người không chủ tại sống lâu năm trên trần gian nầy, nhưng chủ tại sống sâu đậm cuộc đời của họ. Trước mặt Chúa, giá trị của đời sống chúng ta không nằm trong chiều dài của thời gian, nhưng nằm trong chiều sâu của thời gian. Một người chết trẻ, chết sớm, nhưng đã biết dùng thời giờ Chúa ban trong đời sống mình để yêu mến Chúa, để làm tôi Chúa, để sống đẹp lòng Chúa, thì có giá trị trước mặt Chúa, hơn là một người tuy sống lâu năm, nhưng đã không dùng thời giờ Chúa ban để yêu mến Chúa hết lòng, để làm tôi Chúa hết sức, để sống đẹp lòng Chúa mọi bề. Bởi đó, điều quan trọng đối với chúng ta, không phải là được sống nhiều năm trên đời nầy, nhưng điều quan trọng là Chúa ban cho được sống năm nào, thì dùng thời giờ Chúa ban trong năm đó để hết tình yêu mến Chúa, để hết sức phụng sự Chúa, để hoàn toàn hy sinh và hiến thân cho Chúa.

Chúng ta hãy dùng thời giờ để chúc tụng, ngợi khen Chúa : ” Tôi chúc tụng Chúa trong mọi lúc, miệng tôi hằng liên lĩ ngợi khen Người ” ( Tv 34,2 ). ” Dù ăn, dù uống, hay bất cứ làm việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa ” ( 1 Cr 10,31 ).

Chúng ta hãy luôn luôn trông cậy vào Chúa vì chúng ta được Chúa yêu thương và ban ơn trong mọi lúc trong cuộc đời : ” Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi hết mọi ngày trong đời sống ” ( Tv 23,6a ).

Chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta được khôn ngoan để biết tính sổ ngày đời của chúng ta, biết dùng thời giờ Chúa ban cho chúng ta cho nên : “Xin dạy chúng con biết tính sổ ngày đời chúng con, ngõ hầu chúng con đem được khôn ngoan vào lòng ” ( Tv 90,12 ).

Chúng ta hãy xin Chúa cho chúng biết biết thánh hóa thời giờ mà Chúa ban cho chúng ta sống ngày hôm nay : ” Hôm nay, phải chi các ngươi nghe tiếng Người : ” Chớ cứng lòng như tại Mêriba, như ngày Massa trong sa mạc, nơi mà tổ tiên các ngươi khiêu khích Ta, chúng thử thách Ta, dẫu đã chứng kiến công việc Ta làm ! ” ( Tv 95,7-9 ).

Chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta luôn luôn tỉnh thức để đón chờ giờ Chúa đến, giờ chúng ta chết để đi gặp Chúa : ” Các con hãy tỉnh thức vì không biết giờ nào Chúa các con sẽ đến ” ( Mt 24,42 ).

Linh mục Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang

Vào những ngày cuối năm, mỗi người thường ngồi lại suy nghĩ về một năm qua xem những gì đã thực hiện được, những điều tốt đẹp, có sức thuyết phục ta làm cho tỏa sáng, làm cho phong phú và nhân lên, những điều khiếm khuyết, những điều thiếu xót, ta khắc phục sửa đổi và cố gắng vươn tiến. Nói đúng hơn, mỗi người hãy tự lượng định vấn đề, đặt ra những mốc của đời sống như năm ta được rửa tội, năm lãnh nhận bí tích thêm sức, năm tốt nghiệp, năm lập gia đình hay đi tu, khấn dòng vv… Tất cả là để ta cảm tạ Thiên Chúa vì mọi sự đều do Ngài, Ngài là chủ vũ trụ, chủ lịch sử và chủ con người.

CHÚA LÀ CÙNG ĐÍCH, LÀ GIA NGHIỆP CUỘC ĐỜI CỦA CON NGƯỜI

Tất cả đều là hồng ân. Dưới ánh sáng của Tin Mừng: Chúa là hạnh phúc, là tình yêu, là gia nghiệp của con người. Đoạn Tin Mừng Luca 1, 39-55 gợi lên cho mỗi người trong trạng huống cuộc đời, trong bối cảnh mình đang sống và trong hiện tình mình đang thụ đắc những phương tiện, những sản nghiệp của đời người rằng tất cả đều bởi Chúa. Nên, cuộc đời của con người là bài ca cảm tạ tri ân nối dài. Con người luôn phải nói lời cảm tạ như Chúa Giêsu đã cảm tạ Thiên Chúa Cha không ngừng. Mỗi khi làm một việc gì, mỗi khi thực hiện một điều gì, Chúa Giêsu luôn cảm tạ Thiên Chúa Cha. Đời mỗi người cũng luôn phải nói “Tình thương Chúa đời đời con ca ngợi “(Tv 88). Con người có là gì đâu. Trong cuộc sống, mỗi người hãy chiêm ngắm sự im lặng của hang đá, cung chiêm Chúa Hài Đồng Giêsu, nhìn ngắm Mẹ Maria và thánh Giuse.

Tất cả các Đấng đều im lặng. Sự im lặng xem ra huyền bí, nhưng là để diễn tả mầu nhiệm cao vời của Con Thiên Chúa giáng sinh làm người. Sự im lặng của các Đấng chỉ ra rằng Con Thiên Chúa làm người là cõi phúc, là cùng đích, là sản nghiệp quí giá của nhân loại. Muốn đạt được cõi phúc là Chúa Giêsu, là Tin Mừng, mỗi người đều phải biết mình làm gì và cách ta phải làm để đạt được cõi phúc ấy. Điều mỗi người phải biết, phải làm là mình là ánh sáng, là men, là muối. Cách ta phải làm là chiếu soi, là làm dậy men, là hòa tan như muối để ướp mặn cho đời. Và như thế, mỗi người phải biết mình: những điều ta làm được, những thành công, những thất bại. Tất cả đều do Chúa. Hiểu được như thế, mỗi người sẽ an tâm phục vụ, an bình trong những việc làm của mình vì tất cả phải phát xuất từ con tim nhạy cảm, từ lòng yêu thương: ” Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con”. Muốn phục vụ tốt phải làm việc trong thái độ khiêm tốn vì tất cả đều do ân huệ cao vời của Chúa. Đời con người là một mầu nhiệm đức tin. Tất cả chỉ có thể do Chúa, bởi Chúa và vì Chúa. Nên, cuộc đời dù là muối, là men, là ánh sáng, con người luôn phải biết nói lời cảm tạ tri ân.

HÃY NÓI LỜI CẢM TẠ NHƯ ĐỨC MẸ

Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa. Lời ngợi khen của Mẹ Maria gắn liền với lời xin vâng của Mẹ. Cảm tạ là xin vâng. Tri ân là nói lời tuân phục ý Thiên Chúa. Cuộc đời của Mẹ từ lúc sinh ra, lớn lên, được tuyển chọn làm mẹ Đấng cứu thế, làm Mẹ Thiên Chúa, đứng dưới chân thập giá, chết đi và lên trời luôn vén lộ cho nhân loại thấy Mẹ luôn làm theo ý Chúa và tuân phục làm theo Chúa là lời cảm tạ tri ân tuyệt hảo nhất làm đẹp lòng Chúa. Mẹ nói: ” Đấng toàn năng đã làm cho Tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn” ( Lc 1, 49 ). Tất cả sinh mạng của Mẹ ở trong tay Chúa. Cuộc đời của Mẹ là do Chúa. Làm con cái của Mẹ, mỗi người chúng ta phải biết nói lời xin vâng như Mẹ. Nói lời xin vâng là để cho Chúa định liệu đời sống của con người. Cuộc hành trình đức tin của mỗi người tùy thuộc lời xin vâng của từng người đối với Chúa. Trong ánh sáng của Tin Mừng, của Chúa Giêsu, mỗi người hãy tự vấn lương tâm, đối diện với Chúa, đối diện với anh em để mỗi người tự cải hóa nội tâm, đổi mới cuộc đời và làm nhiều việc có sức tỏa sáng, có sức thuyết phục như Hiến Chương nước trời đã đề ra.

Vậy, những giây phút linh thiêng này, những phút giây còn lại của năm cũ, mỗi người hãy hồi tâm suy nghĩ, kết hiệp mật thiết với Chúa và cầu nguyện, tỉnh thức không ngừng như năm cô trinh nữ khôn ngoan, đón chàng rể trong trạng thái hân hoan, sảng khoái. Chúa là gia nghiệp. là cùng đích để mỗi người phấn đấu tiến tới và hân hoan gặp gỡ Ngài Đời mỗi người phải là bài ca cảm tạ tri ân không ngừng như lời thánh vịnh 88 đã viết: ” Tình thương Chúa đời đời con ca ngợi “.

Lạy Cha, xin Cha giúp chúng con biết thay đổi tâm hồn, đào tạo tâm hồn với chính trái tim của Chúa, với chính cái nhìn và sự suy nghĩ của Chúa.

Xin Cha cho chúng con biết điều gì chúng con nên làm và thái độ chúng con phải có để đạt được chính Đức Kitô Tình Yêu.

Xin Cha cho mỗi người chúng con trong những giờ phút cuối năm này biết nhận ra những thiếu xót, những khiếm khuyết cần phải thay đổi, bù lấp và những điểm sáng chúng con cần nhân lên và làm tỏa sáng trong cuộc đời nhờ tác động của Chúa Thánh Thần. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con. Amen.

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Các trẻ em thuộc trường Tiều học Pháp ở Nũu Ước đang cử hành Lễ Tạ Ơn. Các em diện bộ đồ mọi da đỏ và sắc phục của những người Thanh giáo đầu tiên trên con thuyền Mayflower cấp bến tại

Plymouth ở massachussetts. Lính Mỹ xa nhà tận bên Iraq thuộc sư đoàn bộ binh 4 đóng quân tại quê hương của Saddam Hussein quận Tikrit, miền Bắc của thủ phủ Baghdad, đang lấy đồ ăn trong ngày Lễ Tạ Ơn hôm nay.

Ngày cuối của một năm, thường con người vẫn có thói quen ngồi lại để tính sổ với Chúa, với đời xem mình đã làm được gì, chưa làm được gì và rồi con người dù thế nào đi nữa vẫn phải nói lên lời tạ ơn Thiên Chúa vì do tình thương của Ngài mà con người vẫn còn tồn tại.

CUỘC ĐỜI PHẢI LÀ LỜI CẢM TẠ:

Nhìn lại một năm với bao biến cố xẩy ra trong đời: buồn có, vui có, khó khăn có, may mắn có, con người vẫn tự nhủ tại sao mình còn hiện diện ? Tại sao mình còn thở, còn sinh hoạt được, còn đi dứng, ăn uống, ngủ nghỉ được ? Chắc chắn với lòng tin sẵn có, người Kitô hữu luôn ý thức Thiên Chúa đang tiếp tục làm phép lạ trong cuộc đời của mình. Như vậy, tâm tình của con người là tạ ơn. Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Êphêsô đã viết:” Đàn hát lên! Nhờ Thánh Thần linh hứng, trót tâm tình, dâng Thiên Chúa là Cha. Luôn cảm ta Người, nhân danh Thánh Tử vì Người ban muôn phúc lộc chan hòa”( Eph 5, 19-20 ).

Vâng, Thiên chúa đã ban cho nhân loại, cho mỗi người muôn vàn hồng phúc. Những ân huệ cao quí, Thiên Chúa tặng ban cho con người quả không kể xiết. Con người chỉ có thể hiểu được những điều quí hóa ấy khi họ biết hồi tỉnh, suy nghĩ và cầu nguyện. Hồi tỉnh để thấy mình đã lãnh nhận quá nhiều ân phúc mà chỉ Thiên Chúa mới có thể trao ban. Suy nghĩ để con người nhận ra họ được hạnh phúc có Thiên Chúa là Cha nhân từ không nỡ cho con người con bọ cạp hoặc hòn đá khi họ xin bánh ăn. Cầu nguyện để thân mật trao đổi và cám ơn Thiên Chúa vì tình thương vô biên Chúa đã tặng ban cho con người.

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Mỗi tổ chức, mỗi quốc gia, mỗi đoàn thể đều có một bản hiến pháp, cương lĩnh, nội quy hay điều lệ. Dân chúng hoặc các đoàn viên sẽ dựa theo đó mà sinh hoạt cho đúng đường lối, đúng tôn chỉ đã được vạch ra. Do đó Đạo Chúa cũng có hiến chương. Đây không phải là bản luật để quy định chuyện thưởng phạt (đạo Chúa cũng có thập giới và 6 điều răn). Mà đây cũng không phải chỉ là những câu đề nghị khuyên nhủ xuông, theo hay không theo cũng chẳng sao. Trái lại, nó kết tạo nên những điều căn bản, cốt cán, để người ta nhận ra và lượng giá một thành phần của tổ chức hay đoàn thể nào đó.

Khi Chúa xuống gian trần nhập thể, Ngài đã quyết định tạo lập một dân riêng mới, dân Tân Ước, để phụng sự và tôn thờ Chúa Cha trong tinh thần và chân lý ( Ga 4, 24 ). Đương nhiên, Ngài đã dạy dỗ đầy đủ về con đường mới ai nấy phải theo để được đón nhận ơn cứu độ. Ngài đã lớn tiếng kêu mời mọi người gia nhập nước Thiên Chúa, nhưng lại công bố Bản Hiến Chương Nước Trời hoàn toàn khác biệt với mọi thứ hiến chương khác trên trần đời. Lý do là vì Ngài muốn cho thiên hạ biết rằng nước của Ngài không thuộc về thế gian này ( Ga 18, 36 ).

Bản Hiến Chương này được các nhà thần học, cũng như chú giải Thánh Kinh đồng hóa với chính BÀI GIẢNG TRÊN NÚI của Chúa. Người ta cũng gọi nôm na là TÁM MỐI PHÚC THẬT, phần tóm kết mọi điều cốt tủy của bài giảng này. Tổng quát, Ngài muốn mọi “công dân Nước Trời” phải bắt chước Ngài, kẻ đã đến “để phục vụ chứ không phải để được phục vụ”. Ngài dạy các môn đệ nếu muốn làm lớn thì phải biết học cách hầu hạ, biết rửa chân cho anh em khác. Thế là cái bản cương lĩnh của Chúa gồm toàn những điều khoản trái ngược với sự mong đợi của đa số, của những kẻ chỉ lăm le được ngồi “bên tả, bên hữu” cái ghế chủ tịch đầy uy quyền theo nghĩa thế gian.

Đương nhiên, có một số không chấp nhận, vì tư tưởng của họ còn đầy những khuynh hướng và tham vọng trần đời. Với họ, Lời Chúa đã trở nên “chói tai”. Mãi cho đến ngày nay và tới ngày tận thế, vẫn sẽ còn nhiều người không chịu đón nhận những điều khoản của Hiến Chương này. Chung quy chỉ là vì họ không muốn cùng Chúa đi con đường khổ giá để tới nguồn ơn Cứu Độ. Trái lại, họ chỉ mong đạt vinh quang bằng con đường tắt dễ dãi, nhung lụa. Tuy nhiên, Chúa chẳng bao giờ thay đổi lập trường. Phúc Âm của Ngài sẽ tồn tại ngàn năm. Dù một nét chấm, một nét phẩy cũng không hề biến thay suy chuyển.

1. PHÚC CHO KẺ CÓ TINH THẦN NGHÈO KHÓ:

Chúa mở đầu với mối phục thật gây sự sợ hãi cho nhiều người. Nhưng đây là điệu kiện tối tư cần thiết để vào nước trời. Một số nhà tu đức dám nói rằng cứ suy cho hết lẽ của mối Phúc Thật này, cũng hiểu hết 7 mối kia: Cái tinh thần nghèo khó phải bao trùm mọi cố gắng trong đời sống thiêng liêng của một tín hữu. Nghèo khó ở đây phải bắt nguồn từ tinh thần, chứ không đơn giản chỉ là thiếu thốn về mặt vật chất. Cái tinh thần này cũng không chỉ là một ước mơ suông, nhưng đòi liên tục được thực hiện ở cuộc sống.

Thật ra, điều đạo Chúa nhắm tới là Đức Ái, chứ không phải chuyện từ bỏ của cải. Thế nhưng, Đức Ái bao giờ cũng thôi thúc ta sống tinh thần nghèo khó của Chúa. Nếu chỉ nghèo vì hoàn cảnh xã hội, con người thường hay thèm khác của cải vật chất. Nhưng một khi ta chấp nhận cuộc sống thanh bần vì nước trời, tâm hồn ta sẽ hoàn toàn khác.

Tại sao thế ? Bởi vì Đức Khó Nghèo Phúc Âm dạy ta phải tự làm mình ra trống rỗng, ra trần trụi, ra thiếu thốn, để rồi phó thác cho bàn tay quan phòng của Chúa, cho sự tác động của ân sủng siêu nhiên. Tinh thần khó nghèo đòi ta trục xuất ra mọi ý nghĩ chủ quan sai lạc, mọi nguyên tắc của con người ích kỷ, mọi nền tảng nhân loại mù quáng, sau đó nhường chỗ cho lời Hằng Sống đổi thay, tái tạo. Cái căn bản ở đây là ta phải biết làm cho ta hóa nên như hư không, như vô nghĩa, đứng trước dung nhan Chúa là Đấng có mọi sự.

Qua cái thái độ hoàn toàn thuần phục và lệ thuộc vào Chúa này, ta sẽ trở thành con người tự do thực sự trên đường thiêng liêng, hết phải dính bén vào bất cứ điều gì trần tục, dẫu là vô hình hay hữu hình. Mọi điều ta đang có đây phải được coi là những phương tiện tạm thời để ta phục vụ Chúa và tha nhân. Cái ta phải lưu tâm để học từ bỏ hơn cả, chính là cái ý riêng, cái nhận xét chủ quan, cái ảo tưởng hợm hĩnh về mình. Ngay cả khi ta đang nghèo thật mà lại hãnh diện kiêu căng về chuyện nghèo của mình, là vô tình rơi vào chỗ lầm lạc tệ hại hàng đầu của bài học Phúc Âm.

Thế nghĩa là ta phải thường xuyên chiến đấu với cái khuynh hướng “sở hữu” trong con người mình. Ta không được phép thỏa mãn với ngay cả một tư tưởng riêng, một định kiến riêng. Trái lại, mỗi ngày cần thoát ra ngoài cái “tôi” đó để nắm tay hành trình với Chúa. Chả khác nào Áp-ra-ham sẵn sàng để lại tất cả mà lên đường đi tới nơi Chúa chỉ dẫn. Ai cũng biết Chúa bảo người giàu có vào Nước Trời khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim. Nhưng kẻ tham lam về mặt tinh thần còn ở trong tình trạng khó khăn gấp bội. Thành ra, cái mẫu mực tuyệt hảo của tinh thần khó nghèo phải được tìm thấy nơi chính bản thân Chúa Ki-tô khi Ngài xuống thế sống giữa loài người.

Thánh Gio-an đã viết rằng Ngôi Hai đã từ bỏ cõi trời sang trọng để để tự làm ra mình nghèo hèn, ngõ hầu chúng ta được giàu có ân sủng của Chúa. Nhưng giàu với thánh ân sao được nếu chúng ta không sẵn sàng đi theo con đường Ngài chỉ vẽ. Người đời vẫn nói “Phú bất nhân, bần bất nghĩa”. Giàu ta hay khinh người, mà nghèo ( kinh tế ) thì lại dễ lâm vào chỗ mất quân bình nội tâm mà làm những điều xằng bậy. Bởi thế, Chúa chẳng cầu chúc cho ai phải sống cảnh khố rách áo ôm. Điều Chúa yêu cầu căn bản là những ai muốn theo Ngài phải biết học bài học từ bỏ, hy sinh, để rồi khi thoát khỏi hình thức nô lệ, ham mê dính bén, ta sẽ dễ dàng gặp Chúa.

Cũng vì thế mà Thánh Kinh Cựu Ước đã dạy ta cầu nguyện: “Xin Chúa chớ để con giàu kẻo con dễ quên Chúa, nhưng cũng đừng để con nghèo khổ kẻo rồi con sinh ra trộm cắp lỗi luật Chúa”. Thực tế hơn nữa, là ta phải biết chia sẻ mọi của cải vật chất cũng như tinh thần cho những người thiếu thốn, xấu số như lời dạy của Ngôn Sứ Ô-sê: Cách tốt nhất để có tinh thần khó nghèo là biết yêu thương những kẻ nghèo hèn.

Chúa muốn dùng đất nước làm phần thưởng cho những kẻ hiền lành.Hiền không phải chỉ mềm nhũn như con sứa, con giun. Nhưng giá trị của họ là ở chỗ biết từ tốn kiên nhẫn. Bản lãnh của họ là ở chỗ biết chờ mong, biết hy vọng rằng rồi sẽ có giải đáp tốt đẹp thỏa đáng từ Chúa. Tất cả bắt nguồn từ niềm tin cậy phó thác nội tâm. Nhờ dựa vào ơn Chúa, mà ta sẽ không dễ nóng giận, cộc cằn hoặc nuôi lòng thù hận ghét ghen.

Những chi tiết về cái nhân đức thuộc mối Phúc Thật thứ hai này phải được lấy tiêu chuẩn từ chính trái tim của Ngôi Hai Nhập Thể: “Hãy học cùng ta vì ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng, rồi các ngươi sẽ thấy tâm hồn thư thái bình an” ( Mt 11, 29 )

Công dân Nước Trời luôn sẵn sàng chiến đấu chống ba thù, nhưng từ nội tâm, họ phải là những mẫu gương của nhu mì, nhã nhặn, theo phong cách của vị Tôn Sư tối cao. Chỉ có Chúa mới giúp ta giữ luôn được tâm hồn hiền lành tử tế ở những lúc ta đối diện với những kẻ thù hung bạo ác tâm. Cái Đất được hứa làm phần thưởng đây trước hết là chính đất tâm hồn mình: ta sẽ làm chủ được mọi xáo trông bên trong, để rồi không sợ làm những điều sai quấy. Rồi đến sẽ chính là cái đất của tâm hồn tha nhân, nhờ đó ta sẽ giúp họ quy hướng về tình yêu Chúa, theo như mục tiêu Chúa xuống trần gian để đem tin lành cho kẻ nghèo khó, an ủi kẻ buồn phiền v.v… ( Lc 4, 18 )

Chúa đã sống hiền lành như Con Chiên. Nay Ngài muốn ta tiếp tục nếp sống hiền lành đó, dù phải là như con chiên giữa bày sói rừng ( Lc 10, 3 ).

Khóc vì ta nhận ra sự yếu đuối và giới hạn của chính mình để rồi tìm về với Chúa. Khóc vì ta không chấp nhận lối sống bất công của trần đời, bởi đi sai đường lối Chúa. Khóc vì ta đã góp phần vào những tệ đoan, những tai hại cho cho bao tâm hồn thanh sạch ngây thơ.

Ta cũng khóc vì đã không làm gì để chặn đứng những nết xấu của chính bản thân ta trong quá khứ. Như vua Đavít xưa khóc trong Thánh Vịnh 50. Như thánh Augustinô khóc cùng Chúa: Lạy Chúa con đã yêu mến phụng thờ Chúa muộn quá”. Như Ma-đa-lê-na, như Phê-rô… Hơn thế, ta đôi khi cũng phải khóc vì thấy mình nhiều lúc như bất lực, không giúp gì được để làm vơi nỗi sầu khổ đớn đau của tha nhân, tương tự dịp Chúa khóc thương thành Giê-ru-sa-lem xưa khi nhìn rõ những hiểm họa đang sắp đổ xuống dân chúng thành thánh.

Phúc cho kẻ khóc vì phần thưởng sẽ là ủi an vui mừng. Chúa đã hứa bồi thường những giọt nước mắt các môn đệ bằng niềm hoan lạc toàn vẹn, vĩnh cửu. Lời hứa đó sẽ còn được thực hiện với chúng ta mãi mãi cho đến tận thế.

4. PHÚC CHO KẺ KHAO KHÁT SỰ CÔNG CHÍNH:

Hiển nhiên đây là tâm tư của những kẻ thấy mình còn đầy yếu đuối, lắm sai lầm, nhiều oan khiên. Họ biết rõ mình cần hướng lên Đấng là nguồn chân lý. Nhờ thế, họ tín nhiệm hoàn toàn nơi Chúa, thay vì tin tưởng nơi mình. Họ tìm cách tách rời khỏi những thói quen cố hữu, những quan niệm cổ xưa, để rồi dấn thân vào lối sống mới Chúa đề nghị. Đó là cơ nguyên của những cố gắng tự lột xác, tự tẩy não để trở thành con người hoàn toàn mới theo tiêu chuẩn Phúc Âm. Mà con đường kiếm tìm sự công chính, sự thiện hảo toàn ven này, có bao giờ đủ, bao giờ xong được ! Thành ra, với người Ki-tô hữu, sẽ không hề có chuyện nghỉ ngơi trên bước đường thánh hóa.

Thế là ta phải liên tục học từ bỏ con người cũ để thường xuyên hướng về chân trời mới hơn, cao rộng hơn của nước Thiên Chúa, để rồi liên lỉ kiếm tìm ra thánh ý Ngài. Để được thế, ta phải sẵn lòng để Thần Linh Chúa uốn nắn, sửa đổi, thanh lọc, nhiều khi bằng những lần hy sinh thử thách lớn lao. Phần thưởng của những cố gắng này là tâm hồn ta sẽ được no thỏa “niềm vui an bình ta ban sẽ khác hẳn những thứ trần gian ban tặng”. Chúa đã một lần đoan hứa như thế. Và đó chính là bóng dáng hoan lạc Thiên Đàng.

5. PHÚC CHO KẺ BIẾT THƯƠNG XÓT:

Chúa chúc phúc cho kẻ quảng đại ra tay trước để tỏ lòng tốt, không điều kiện, không đợi người khác tử tế rồi mới đáp lại. Đây là phúc của những kẻ sẵn sàng tha thứ, bởi họ biết mình đã thường xuyên được Chúa thứ tha. Đây là lối sống của những kẻ biết bắt chước Chúa làm ơn cho kẻ dữ cũng như người lành. Chúa đã yêu ta trước, và yêu vô bờ bến, yêu đến hy sinh cả mạng sống. Ngài cũng có quyền đòi ta cũng làm thế cho tha nhân để được nên toàn thiện với Ngài.

Trong câu chuyện người đàn bà ngoại tình, Chúa dạy ta đừng lên án ai, vì chính ta cũng là những người tội lỗi, nhiều khi tội tầy đình hơn nữa. Chúa đòi ta chia sẻ tất cả với tha nhân, cách riêng đối với những kẻ khốn cùng xấu số. Mà không phải chỉ là chia sẻ miếng cơm manh áo, nhưng quan trọng hơn cả là cho cả con tim và mạng sống: “Không ai có tình yêu cao qúy hơn kẻ thí sinh mạng cho người mình yêu.” Độc đáo hơn nữa là ta phải thi hành lệnh truyền này với cả những kẻ thù, những đối phương nữa.

Rồi Chúa lại tuyên bố rõ: Ngài sẽ phán xét ta sau này về tình thương tha nhân để quyết định chuyện thưởng phạt vĩnh cửu. Dĩ nhiên phần thưởng cho ta sẽ là được Chúa xót thương lại. Đời ta thực sự chỉ cần có thế.

6. PHÚC CHO KẺ CÓ LÒNG THANH SẠCH:

Lòng thanh sạch đòi khử trừ trước tiên hết mọi hình thức của tà ý, của giả hình, của nhị tâm. Dĩ nhiên trên đường tìm Chúa, ta phải ý thức từ đầu rằng mọi điều liên can hay dẫn đưa tới tội lỗi đều trái ngược với ơn thánh của Ngài. Thành ra mọi thứ xúc phạm tới các lề luật của Chúa đã công bố đều xúc phạm tới chính Chúa.

Tâm hồn thanh sạch ở đây cũng gián tiếp đòi ta hằng ngày sửa chữa những mê tín lầm lạc, hệ lụy của tội nguyên tổ, của sự yếu đuối nhân loại. Khi Chúa cảnh cáo “Kẻ mù dắt kẻ mù, cả hai sẽ sa xuống hố” Ngài muốn căn dặn ta phải cố khiêm tốn nhận ra cái thiếu sót, cái gàn dở căn bản của con người mình, mà xin được ánh sáng Thần Linh soi chiếu dạy vẽ.

Đó cũng là lý do để Chúa hứa rằng tất cả những ai có lòng thanh sạch sẽ được thấy Chúa. Họ sẽ được thấy ngài rõ ràng, trong sáng, không còn qua những bóng mờ hay hình ảnh, mà là đối diện, tựa diễm phúc của các thiên thần trên trời. 7. PHÚC CHO KẺ GÂY HÒA THUẬN: Gây hòa thuận đây chính là một dạng thức khác để biểu lộ tình yêu thương ta đã nhận đón từ chính Chúa. “Hãy nên một như Chúa Cha với ta là một”. Đó là huấn lệnh Chúa để lại trước ngày Ngài chịu khổ nạn.

Bởi tham lam ích kỷ, con người có khuynh hướng chia rẽ, phân cách. Lịch sử loài người đã liên tục nói lên thảm trạng này để rồi thường xuyên thấy những tranh chấp giành giựt khắp nơi. Kẻ yêu hòa thuận là kẻ đã được nếm thử sự bình an chân thật của Chúa. Nền tảng an bình này không bao giờ chấp nhận một yếu tố ghét ghen nào để tạo nên cảnh bè phái, oán thù. Như lời Thánh Phao-lô: “Với những kẻ thật tình mến Chúa, mọi sự sẽ đưa đến kết quả êm thắm tốt đẹp” ( Rm 8, 28 ). Dĩ nhiên mọi phía phải học cho được bài học hy sinh căn bản Chúa dạy: Khi có kẻ kiện đòi ta áo ngoài, hãy cho luôn cả áo trong. Khi đối phương đòi ta đi một dặm đường, hãy vui vẻ đi cả hai dặm.

Chúa quan niệm việc hòa thuận thương yêu quan trọng hơn cả chuyện nghi lễ phụng tự: Nếu con đem của lễ tới bàn thờ mà sực nhớ có người anh em đang xích mích với mình, hãy để của lễ đó mà về làm hòa trước đã ( Mt 5, 23 ). Tạo hòa thuận giữa mình với tha nhân chưa đủ, ta còn có bổn phận gây thuận hòa nơi người khác nữa, dù cho đôi lúc ta phải trả một giá thật đắt. Nhưng phần thưởng cho ta sẽ vô cùng xứng đáng, vì Chúa hứa rằng ta sẽ được trở nên con cái Ngài.

8. PHÚC CHO NHỮNG KẺ CHỊU BÁCH HẠI VÌ DANH CHÚA:

Ở đây ta dễ dàng nghĩ ngay tới ngàn vạn tấm gương của các anh hùng tử đạo, của Việt nam cũng như của bao nhiêu dân nước khác trên hoàn cầu. Tử Đạo chính là làm chứng nhân cho đấng chịu khổ nạn và chết trên thập giá. Sau khi công bố lời chúc phúc này, Chúa nối tiếp ngay rằng nước trời sẽ là của họ, vì chính họ đã can đảm chịu người khác nói xấu, bắt bớ cũng như bị vu khống với đủ điều ác vì danh Chúa. Nối tiếp, Chúa bảo họ hãy vui mừng hoan hỉ vì phần thưởng dành cho họ trên trời sẽ thật lớn lao. Cũng thế, Chúa an ủi họ rằng các ngôn sứ và các tiền nhân của họ xưa kia cũng đã từng bị đối xử tệ như thế.

Thế là trước Chúa có Gio-an Tiền Hô, rồi kế sau Chúa lá 11 trong số 12 Tông Đồ cùng với Phao-lô hiên ngang vì danh Chúa mà đổ máu đào. Đạo Thánh được đắp xây lên bằng xương máu. Đường Chúa đi là đường khổ nạn lên Núi Sọ. Phần thưởng vĩnh cửu cũng chỉ được dành cho những kẻ sẵn sàng chịu thiệt thòi vì Phúc Âm của Ngài. Với ơn Chúa, ta hãy nhủ mình luôn can đảm và quảng đại trong cuộc sống hằng ngày. Chúa hứa sẽ thường xuyên ở cùng chúng ta.

Chúa công bố Hiến Chương Nước Trời như thế đó. Đôi lúc ta không khỏi lo âu khiếp sợ. Đường gai chông sỏi đá Chúa mời ta đi nhiều phen khiến ta nản lòng muốn bỏ cuộc. Bởi vì con người trần tục của ta khác hẳn con người thánh ân Chúa muốn tái tạo. Bởi tội nguyên tổ đã để lại bao hậu quả tai hại trong tâm tư mỗi người chúng ta. Chúa sẽ ra tay giúp chúng ta học với Ngài những bài học của tinh thần nghèo khó, hiền lành, xót thương, v.v…

Khi công bố Tám Mối Phúc Thật, Chúa tỏ bày cho ta khuôn mặt thật của chính Ngài, như nguồn Chân Thiện Mỹ tối cao. Dĩ nhiên, Chúa muốn ta cố gắng vẽ lại, làm sống lại khuôn mặt đó trong cuộc sống hàng ngày của mình. Chúa mời ta đi con đường mà chính Ngài đã đi, cách riêng trong suốt 33 năm khi Ngài nhập thế làm người như chúng ta. Muốn làm dân con Nước Trời, hiển nhiên là ta phải đón nhận mọi điều khoản Chúa đặt ra. Muốn theo Chúa, ta phải học nên giống Chúa để được “Cha nào con nấy”. Chúa chẳng ép buộc ai. Đường Chúa khó đi, những nẻo đường khác vẫn mở rộng để ta tự do lựa chọn. Có điều không đi đường Chúa, ta sẽ tự hủy diệt mình.

Hôm nay, bên Chúa, ta hãy bắt chước Phê-rô để lớn tiếng trả lời Chúa: “Lạy Thày, bỏ Thày thì chúng con biết theo ai”.

ĐƯỜNG PHƯỢNG BAY, Vietcatholic 8.2003

Những ngày đầu Năm Mới, ai cũng mong gặp được điều may mắn, ai cũng ước ao sự bình an. Nhưng không chỉ trong những ngày đầu năm mà thôi. Người ta mong mỏi suốt năm mới tràn đầy những điều tốt đẹp. Và lòng mong ước trở thành lời cầu chúc trên môi miệng mọi người.

Chính trong niềm mong ước đó, kể từ đêm Ba Mươi Tết, nhất là trong Giờ Giao Thừa, người ta kéo nhau đến chùa hái lộc đầu xuân. Trong niềm phấn khởi của tiết xuân tươi, lộc đầu năm này như lời chúc lành quý giá của trời đất, của thần thánh.

Hái lộc đầu năm là một nét đẹp, một việc làm tốt. Bởi thế, người Công Giáo Việt Nam đã “rửa tội” cho truyền thống này, và đem nó vào trong nhà thờ trong những ngày Tết. Chỉ khác một điều, lộc đầu năm của người Công Giáo là Lời Chúa: Lẽ sống của chính mình, cũng là lẽ sống của cả nhân loại, nếu ai cũng áp dụng Lời Chúa để sống trong cuộc đời mình.

Như mọi người, những ngày Tết vừa qua, tôi cũng đi hái lộc. Lộc đầu năm của tôi là một câu Kinh Thánh trích trong sách Sáng Thế: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa” ( St 1, 27 ). Câu Kinh Thánh thật là hay. Nhưng sao tôi cứ tần ngần tẩn ngẩn mãi: Chúa đang nói gì với tôi ? Sao tôi thấy Lời Chúa trong tờ lộc khó để tôi áp dụng vào cuộc sống của mình quá !

Suy nghĩ mã rồi tôi mở Kinh Thánh ra, đọc lại những trang đầu của sách Sáng Thế, cũng là những trang đầu tiên của Kinh Thánh. Lời của Chúa sao mà ấm áp, gần gũi và tràn đầy yêu thương đến thế. Lời ấy giúp tôi khám phá ra huyền nhiệm của mình, huyền nhiệm về con người.

Sách Sáng Thế cho biết, công trình sáng tạo của Thiên Chúa là mọi loài, là cả vũ trụ này, trong đó có con người là chóp đỉnh của mọi thụ tạo. Thiên Chúa sáng tạo bằng Lời quyền năng, biến hư không thành có mọi thứ. Nhưng Người không sáng tạo cùng lúc nhưng trải dài cả tuần lễ:

“Lúc khởi đầu Thiên Chúa sáng tạo trời đất, đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và Thần Khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước. Thiên Chúa phán: “Phải có ánh sáng. Liền có ánh sáng. Thiên Chúa thấy rằng ánh sáng tốt đẹp. Thiên Chúa phân rẽ ánh sáng và bóng tối. Thiên Chúa gọi ánh sáng là “ngày”, bóng tối là “đêm”. Qua một buổi chiều và một buổi sáng đó là ngày thứ nhất…”.

Cứ như thế, Thiên Chúa tạo dựng hết ngày này sang ngày khác trong sáu ngày của một tuần lễ. Ngày thứ Bảy, công trình tạo dựng hoàn tất.

Nhưng nói gì thì nói, nếu nhìn vào mặt chữ, và chỉ hiểu theo nghĩa đen của mặt chữ đó khi đọc hai chương đầu của sách Sáng Thế, sẽ thấy trình thuật tạo dựng đầy dẫy mâu thuẫn. Nhưng rất may, Thánh Kinh mang ý nghĩa của những điều thuộc về đức tin. Vì chất chứa bên dưới mặt chữ là những mạc khải của đức tin cho nên ý nghĩa của Thánh Kinh rất sâu xa, độc đáo, và bống bẩy. Ta có thể nêu ra một vài nhận định như sau:

1. Trình thuật tạo dựng chỉ muốn nhấn mạnh hai điều quan trọng là: Tất cả mọi loài do Thiên Chúa tạo dựng.

Thiên Chúa tạo dựng có trật tự và tốt đẹp ( biểu hiện bằng thời khóa biểu ).

2. Thánh Kinh được viết từ xa xưa, nên dùng những kiểu nói, những hình ảnh bình dân và dùng những quan niệm khoa học cổ thời để người xưa dễ hiểu, nên ngày nay lỗi thời và dễ gây ngộ nhận.

Dù Thánh Kinh dùng kiểu nói xưa để diễn tả chân lý tôn giáo, nhưng ý nghĩa mà những kiểu nói đó muốn ám chỉ thì phù hợp mọi thời đại. Vì Thánh Kinh quan trọng ở ý nghĩa chứ không quan trọng ở kiểu nói.

3. Khi Thánh Kinh cho biết Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ, vạn vật, con người trong sáu ngày, ngày thứ bảy, Người nghỉ ngơi. Đó là cái khung văn chương, và khung thời gian ảnh hưởng của não trạng đồng thời của vũ trụ quan thời bấy giờ. Sự thực đâu phải như thế. Nhưng trong cái khung văn chương, và khung thời gian ấy cho ta thấy ý hướng của Thiên Chúa khi linh hứng cho người viết: Thiên Chúa nhắm đến một trật tự hoàn hảo nhằm phục vụ sự sống, đặc biệt là sự sống con người. Thiên Chúa tạo dựng mọi khoáng vật trong bốn ngày đầu, nhưng đến ngày thứ năm sự sống mới xuất hiện. Và mãi đến ngày thứ sáu, ngày cuối cùng của công cuộc tạo dựng, con người mới được sinh ra.

THIÊN CHÚA SÁNG TẠO CON NGƯỜI:

MANG HÌNH ẢNH THIÊN CHÚA, CON NGƯỜI CÓ MỘT GIÁ TRỊ VÔ CÙNG LỚN:

St 1, 26 – 27 nhắc đi nhắc lại đến ba lần câu nói: “Con người giống hình ảnh Thiên Chúa”. Đây là một điều quý giá vô cùng, một tặng phẩm lớn: Thiên Chúa sáng tạo loài người, không sáng tạo nó giống bất cứ cái gì khác, nhưng lại được mang chính hình ảnh của Thiên Chúa.

Việc sáng tạo con người khác hẳn các loài khác. Vì các loài khác chỉ phán một lời là lập tức có. Nó như một công thức trở thành điệp khúc: “Thiên Chúa phán… liền có”; “Thiên Chúa phán… liền có”. Còn việc tạo dựng con người vượt ra ngoài khuôn khổ của công thức ấy. Thiên Chúa không “phán… liền có” nữa. Dường như Người đặt hết trách nhiệm của mình trong việc tạo dựng đó. Sách Thánh diễn tả việc tạo dựng này làm cho Người phải cân nhắc lắm, đắn đo lắm, suy tính nhiều lắm. Người như muốn căn dặn chính mình: “Ta hãy làm ra con người theo hình ảnh Ta…”

Chưa hết, ở chương hai, sách Sáng Thế còn mô tả Thiên Chúa như một người thợ gốm tỉ mỉ, nắn nót để nặn thành hình con người. Chưa có một loài động vật nào mà Thiên Chúa phải ra tay tác thành như thế cả, Ngài chỉ “phán” và “có”, thế là xong. Còn loài người, Thiên Chúa chủ động thật sự, hạ mình thật sự để tạo ra nó, và cũng không ngần ngại ghi dấu ấn hình ảnh của Người trên nó.

Vẫn chưa hết ! Chỉ có con người mới được Thiên Chúa thổi hơi ban Thần Khí, ban sự sống. Chưa có một loài thụ tạo nào, sách Thánh cũng chưa từng bao giờ cho biết bất cứ một loài nào, là thụ tạo mà lạisống bằng hơi thở, bằng sự sống của chính Đấng tạo dựng nên mình. Chỉ có con người được ban sự sống rút ra từ chính sự sống của Thiên Chúa. Chúng ta thử tưởng tượng mà xem, một ngày nào đó, Thiên Chúa cầm lấy sản phẩm mà chính mình vừa mới tạo ra, mang hình ảnh của mình, thổi một luồng hơi thở, lập tức nó trở thành một sinh vật sống: khôn ngoan, có hoạt động, thông minh, và rất đáng yêu. Bởi thế giá trị của con người là giá trị thánh thiêng, nhân phẩm của con người không chỉ vì là người, mà còn trong tương quan với trời cao.

Mang hình ảnh Thiên Chúa, con người có linh hồn thiêng liêng, có trí tuệ và có ý chí tự do. Muôn loài trong vũ trụ được Thiên Chúa dựng nên đều là vật chất. Chỉ có con người vừa là vật chất: thể xác; vừa là tinh thần: Linh hồn. Linh hồn thuộc thế giới thần linh, không bao giờ mất đi, không bao giờ chết. Có linh hồn cho nên con ngời có một vận mệnh vĩnh cửu. Cả hai, xác – hồn tạo thành một bản thể duy nhất: Người. Có hồn, không có xác; hoặc ngược lại, chỉ có xác nhưng không có hồn, đều không phải là người toàn vẹn. Thể xác được linh động hóa nhờ có tinh thần là hồn thiêng.

Đàng khác, khi tạo nên muôn vật, chắc chắn Thiên Chúa chúc lành cho chúng để tất cả chúng “đều tốt đẹp”. Nhưng chỉ có nơi con người, Thánh Kinh mới nhắc tới một cách minh xác, rõ ràng: “Thiên Chúa ban phúc lành cho họ” ( St 1, 28 ). Và như thế, tất cả những gì mà con người có được đều chứng minh Thiên Chúa vô cùng tôn trọng con người.

Vì con người giống hình ảnh Thiên Chúa, và vì Thiên Chúa vô cùng tôn trọng con người, do đó nhân phẩm của nó là tối quan trọng. Chính vì đặt nền tảng nơi Thiên Chúa, nên bất cứ ai xúc phạm nhân phẩm đều xúc phạm đến chính Thiên Chúa. Ca-in là kẻ đều tiên xúc phạm nhân phẩm con người, là kẻ đầu tiên giết người, giết chính em ruột của mình. Hành động giết người của Cain cũng là hành động xúc phạm Thiên Chúa, như Lời Chúa nói: “Máu của em ngươi kêu vang tới trời thấu đến tai Ta” ( St 4, 10 ).

Cũng vậy, ai xúc phạm Thiên Chúa đều làm tổn thương nhân phẩm của chính mình: A-đam là người đầu tiên của nhân loại đánh mất nhân phẩm của chính mình khi không vâng lời Thiên Chúa. Ông đã phải nhục nhã, cúi mặt bước ra khỏi địa đàng dưới lưỡi gươm lửa của thiên thần, là hình tượng của sự uy quyền của Thiên Chúa.

GIỐNG HÌNH ẢNH THIÊN CHÚA, GIỐNG NHƯ THẾ NÀO ?

Sách Giáo Lý Công Giáo cho biết, giống hình ảnh Thiên Chúa, con người có trí tuệ, có tự do. Thần học dạy, trí tuệ giúp con người nhận biết Thiên Chúa. Còn tự do sẽ làm con người nên tốt, nếu sử dụng tự do vào mục đích tốt. Hoặc nên xấu, nếu sử dụng vào mục đích xấu, tội lỗi. Nhưng nếu chỉ nhìn ở khía cạnh nhân bản, con người không chỉ giống Thiên Chúa về trí tuệ, tự do hay hồn thiêng mà còn giống Thiên Chúa về nhiều mặt khác như: xã hội tính, khả năng sáng tạo…

Vì sao nói con người có xã hội tính, thì xã hội tính ấy lại là hình ảnh Thiên Chúa ? Lời Tiền Tụng trong Lễ Chúa Ba Ngôi tuyên xưng: “Chúa là Thiên Chúa và chủ tể duy nhất, duy nhất không phải trong một Ngôi đơn độc, nhưng trong Ba Ngôi cùng một bản thể”. Ngay chính bản thân Thiên Chúa, dù là một, là duy nhất hoàn hảo tuyệt đối, vẫn là một bản thể biết san sẻ tình yêu, mang nơi mình tới Ba Ngôi vị. Cha trong Con, Con trong Cha. Tình yêu nơi Cha và Con làm phát sinh một Ngôi Vị tròn đầy, mang cùng bản tính như Cha và Con: Ngôi Thánh Thần.

Thiên Chúa duy nhất nhưng không đơn độc. Điều đó chứng tỏ nơi cung lòng Thiên Chúa có một đặc tính xã hội nào đó.

Thánh Kinh luôn cho thấy Thiên Chúa làm việc liên lỉ. Người không ngừng tạo ra thế giới, không ngừng cứu độ. Thánh Kinh diễn tả sự làm việc của Thiên Chúa rất sinh động: Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ, Người lên đường xuất hành với dân, cứu dân khỏi nỗi nhục làm tôi Ai-cập, ngỏ lời với các Tổ Phụ, soi sáng cho các Ngôn Sứ…

Chúa Giê-su khi còn ở trần gian cũng nêu cao tấm gương hoạt động sáng tạo: làm việc phụ giúp thánh Giu-se và Đức Mẹ. Đặc biệt là hoạt động của Chúa Giê-su nhằm cứu độ con người màbốn quyển Tin Mừng nói rất đầy đủ. Thánh Gio-an Tông Đồ đã không quyên ghi lại lời Chúa Giê-su: “Ta và Cha Ta hằng làm việc luôn” ( Ga 5, 17 ).

Khi sáng tạo con người, Thiên Chúa cũng phú ban khả năng sáng tạo của mình cho họ: “Ta hãy tạo dựng con người giống hình ảnh Ta, để con người làm chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất” ( St 1, 26 ). Tuy nhiên việc sáng tạo mà con người được ban cho không theo nghĩa tuyệt đối như Thiên Chúa. Người sáng tạo từ hư không. Con người không thể làm được điều đó. Nó chỉ có thể lao động để sản xuất từ những cái mà Thiên Chúa ban. Lao động của con người là tiếp tục công trình sáng tạo của Thiên Chúa.

Suy tư từ nội dung của tờ lộc đầu năm, cho tôi hiểu rõ hơn về giá trị con người. Sự hiểu biết này đòi tôi phải tôn trọng mọi người, cho dù là những sinh linh nhỏ bé nhất, đang còn nằm trong bụng mẹ. Và cũng từ những suy tư ấy, tôi nhận ra điều mà Chúa muốn dạy tôi:

– Được tạo dựng đã là một vinh dự. Được tạo dựng thành một con người, phẩm giá càng lớn lao hơn.

– Không chỉ làm người, Thiên Chúa còn ban biết bao nhiêu ơn cần thiết để con người được sống, hoạt động, hạnh phúc.

– Nhưng không chỉ công trình tạo dựng mới nói lên phẩm giá con người. Phẩm giá ấy càng trở nên mảnh liệt hơn trong công cuộc cứu chuộc. Bởi chẳng những không bị hủy diệt sau phạm tội, mà lại còn đáng lãnh nhận Đấng Cứu Chuộc đời đời là chính Thiên Chúa làm người, hy sinh chết cho mình.

– Cuối cùng, chúng ta phải chân nhận rằng: Phẩm giá của mỗi một người ở nơi Thiên Chúa, xuất phát từ Thiên Chúa. Nếu không có Thiên Chúa, thì không bao giờ có con người. Nếu Thiên Chúa không muốn, thì không bao giờ con người có phẩm giá. Nếu Thiên Chúa vì yêu, đã tạo thành con người, và ban cho mọi sự thuộc về con người, thì cũng chính nhờ Tình yêu của Thiên Chúa, mà con người được vinh dự lớn lao. Tình yêu làm nên giá trị con người. Do đó, nếu ta sống tương quan tình yêu với Thiên Chúa và với anh em, ta tự mình nâng cao giá trị của chính mình. Ngược lại, không tương quan tình yêu như thế, ta tự đánh mất phẩm giá chính mình.

Một nhà tư tưởng người Đức sống vào thế kỷ thứ 14 được tôn làm bậc tôn sự đưa ra khuôn vàng thước ngọc như sau:

– Người quan trọng nhất trong lúc này là người đối diện với ta. – Giờ phút quan trọng nhất đối với ta lúc này là giờ phút hiện tại. – Công việc quan trọng nhất là công việc bác ái yêu thương.

Chỉ chú ý vào người đối dịện, vào giờ phút hiện tại vào công việc ta đang làm. Đó là bí quyết sống hạnh phúc.

Người Nga cũng có một châm ngôn tương tự:

– Chỗ quan trọng nhất là chỗ bạn đang đứng này đây. – Con người quan trọng nhất là con nguời đang đứng trước mặt bạn và đang cần bạn.

Đầu năm mới, có lẽ ai trong chúng ta cũng có một quyết tâm. Có người quyết tâm bỏ thuốc lá. Có người quyết tâm bỏ uống rượu. Có người quyết tâm dành thêm tiền bạc để đi buôn, để xây nhà, v.v… Có người quyết tâm hăng hái học hành để chuẩn bị cho một tương lai sáng lạng. Có quyết tâm và có quyết tâm, nhưng lắm khi sức người có hạn, chúng ta lại bỏ cuộc giữa đàng, đâu lại vào đó, con sâu của chán nản, của thất vọng lúc nào cũng chực sẵn để gậm nhấm tâm hồn chúng ta

– Hãy sống giây phút hiện tại với tất cả tâm tình lạc quan và phó thác. Đó phải là quyết tâm mà chúng ta có thể làm tức khắc trong giây phút này.

– Hãy hưởng nếm những niềm vui nhỏ trong cuộc sống như ân tình diệu vợi của Chúa.

– Hãy trao vào tay Ngài mọi sầu muộn lắng lo. Chúng ta hãy để cho mọi lo âu lắng đọng xuống.

Chúng ta hãy chấm dứt mọi bài ca than vãn của thất vọng để chỉ còn lại một tâm tình duy nhất xứng hợp với người có lòng tin: Đó là tâm tình phó thác và tri ân.

– Tạ ơn Chúa đã ban cho ta chào đón năm mới.

– Tạ ơn Chúa đã luôn có mặt trong cuộc sống của chúng ta để dẫn dắt chúng ta trong từng phút giây của cuộc sống.

– Tạ ơn Chúa đã giữ vững chúng ta trong niềm tin vào Tình Yêu của Ngài.

– Tạ ơn Chúa cho riêng chúng ta. Tạ ơn Chúa cho tất cả mọi người.

– Tạ ơn Chúa chúng ta cũng không quên tạ ơn người:

– Tạ ơn ông bà tổ tiên đã cho chúng ta được sinh ra làm người Việt Nam. Tạ ơn cha mẹ đã sinh ra và giáo dục chúng ta nên người. Tạ ơn những người thân thương ruột thịt đã đùm bọc chúng ta. Tạ ơn những người bạn tốt đã nâng đỡ chúng ta bằng muôn nghìn cách thể hiện của tình yêu. Tạ ơn những người vô danh mà sự hiện diện và âm thầm đồng hành đã giúp chúng ta được sống như con người. Tạ ơn tất cả những người khốn khổ kém may mắn hơn chúng ta: Nhờ đó tiếng gọi sống yêu thương huynh đệ liên đới còn vang vọng trong tâm hồn chúng ta. Tạ ơn nhiều người mà chúng ta thù ghét. Tạ ơn những người thù ghét chúng ta. Tạ ơn tất cả bởi vì cách này hay cách khác họ vẫn luôn luôn là tiếng gọi để chúng ta sống tinh thần Kitô hữu nhiều hơn.

Với tất cả tâm tình tạ ơn. Chúng ta hãy dâng lên Chúa một năm mới.

Xin dâng lên Ngài tất cả niềm cảm mến tri ân của chúng ta●

LM Gioan Bosco Nguyễn Hữu Thy

Cũng y như tác giả Thánh Vịnh, tác giả Giảng Viên cũng dẫn ta bước qua ngưỡng cửa của niềm tin để đi vào trọn vẹn phó thác trong yêu mến và kính sợ Thiên Chúa:

“Tôi nhận ra rằng mọi sự Thiên Chúa làm sẽ tồn tại mãi mãi. Không có gì để thêm, chẳng có gì để bớt. Thiên Chúa đã hành động như thế để phàm nhân biết kính sợ Người.” (Gv 3: 14)

Nhưng có lẽ không thể tìm được một giải thích đẹp đẽ và trang trọng về thời gian nào hơn ngoài những dòng đọc được trong Tông thư ‘Tertio Millennio Adveniente’ (trước thềm đệ tam thiên kỷ) của ĐGH Gioan Phaolô Đệ Nhị. Đoạn 10 của Tông thư này viết rằng: “Trong Kitô giáo, thời gian có một tầm quan trọng căn bản. Chính trong chiều kích của thời gian mà thế giới được tạo thành; cũng chính trong thời gian mà lịch sử cứu độ được mở ra, đạt đến tuyệt đỉnh của nó trong “sự viên mãn của thời gian” nơi biến cố Nhập Thể, và khám phá ra mục tiêu của nó trong sự tái lâm vinh quang của Con Thiên Chúa tại điểm tận cùng của thời gian. Nơi Chúa Giêsu Kitô, Ngôi Lời mặc xác phàm, thời gian trở thành một chiều kích của Thiên Chúa, tuy chính Ngài là vĩnh cửu.”

Cũng trong đoạn văn đó, ĐGH khai triển thêm để nhấn mạnh đến vai trò của Chúa Kitô, vừa là Thiên Chúa thật, lại vừa là người thật. Nói khác đi, từ khi Ngôi Lời nhập thể, thời gian mang nặng ý nghĩa Kitô học: “Chúa Kitô là Chúa Tể của thời gian: Ngài là bước khởi đầu và cũng là điểm cuối cùng của thời gian; mỗi năm, mỗi ngày, mỗi khoảnh khắc được ôm ấp trọn vẹn bởi cuộc Nhập Thể và Phục Sinh của Ngài, và do đó, trở thành một phần của ‘sự viên mãn của thời gian.’ Bởi lý do này, Hội Thánh cũng sống và cử hành phụng vụ trong khoảng chiều dài của một năm. Năm dương lịch được thấu nhập bởi năm phụng vụ, mà theo một nghĩa nào đó, tạo nên toàn thể mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu Chuộc, khởi đầu từ Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng và kết thúc với lễ Chúa Kitô Vua, Chúa Tể Vũ Trụ và Chúa của Lịch Sử. Mỗi ngày Chúa Nhật ta đều tưởng niệm ngày Chúa Phục Sinh.”

“Thời gian viên mãn,” được lặp đi lặp lại nhiều lần trong các thư của Phaolô, nói lên địa vị trung tâm của Chúa Kitô trong lịch sử, bởi vì thời gian đạt tới mức thành toàn của nó khi Con Thiên Chúa bước vào trong lịch sử loài người để đồng hành với con người:

“Nhưng khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà.” (Gal 4:4) “Người cho ta đươc biết thiên ý nhiệm mầu: thiên ý này là kế hoạch yêu thương Người đã định từ trước trong Đức Kitô. Đó là đưa thời gian tới hồi viên mãn là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô.” (Eph 1: 9-10) “Vào đúng thời đúng buổi, Thiên Chúa đã biểu lộ lời Người” (Tit 1: 3) là Chúa Kitô, Đấng đã đến để khai mở một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của thi ân và cứu độ: “Vậy đây là thời Thiên Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ.” (2 Cor 6:2).

Như vậy, theo Kinh Thánh, hành động cứu độ của Thiên Chúa đã được hoàn tất tự đời đời nơi Chúa Giêsu Kitô, nhưng lại được mạc khải cho ta trong thời gian. Đó chính là lịch sử cứu độ, được khai mào theo ý định nhiệm mầu yêu thương của Thiên Chúa, trong lịch sử con người, tức là trong thời gian. Điều này càng cho thấy tầm quan trọng của thời gian đối với người tín hữu. Với họ, thời gian là một khai mở theo chiều dài: Kế Hoạch Cứu Độ của Thiên Chúa và câu chuyện về sự hợp tác, hay thiếu hợp tác, của con người với kế hoạch ấy. Điều này đúng cho toàn thể loài người, và cũng đúng cho từng cá nhân mỗi người.

Khác với cái nhìn cuộc đời theo kiểu chu kỳ vòng tròn nơi một vài tôn giáo đông phương, theo đó, kiếp này nối tiếp kiếp trước, kiếp sau tiếp nối kiếp này, đầu thai hoá thân, trải qua những đường vòng ấy, đi dần đến mức hoàn thiện, nhân sinh quan Kitô giáo đặt nặng và coi trọng lịch sử, bởi vì mỗi người sống chỉ một lần, cũng như sẽ chỉ chết một lần, đúng như lời thư Phaolô gửi đến tín hữu Do Thái: “Phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét (Dt 9: 27). Bởi vậy, mỗi khoảnh khắc thời gian phải là một chu toàn ý muốn và kế hoạch của Thiên Chúa. Một cách lý tưởng, mỗi giây, mỗi phút của cuộc đời phải được vĩnh cửu hóa, nghĩa là phải cuốn vào quỹ đạo cứu độ của Chúa, trở thành giá trị muôn đời. Nói khác đi, là đặt trọn cuộc đời trong bàn tay của Thiên Chúa. Trong ý nghĩa này, thiết tưởng nên dừng lại để cùng suy niệm theo lời chú giải của ĐHY Joseph Ratzinger, nay là Đức Đương Kim Giáo Hoàng Biển Đức XVI, về câu 5 trong Thánh Vịnh 16: “Lậy Chúa, Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng, là chén phúc lộc dành cho con; số mạng con, chính Ngài nắm giữ.” Bài suy niệm này được đăng trong Ordinariatskorrespondenz, số 1, ngày mùng 4 tháng Giêng năm 1979.

“Bối cảnh Thánh Vịnh này là hình ảnh cổ xưa về cái chén chứa đựng số mạng mỗi người, và Thiên Chúa nắm giữ các số mạng này. Thế nhưng, trong hình ảnh ấy, đối đầu nhau lại là hai quan niệm khác biệt về ý nghĩa và sự thách đố của thời gian. Đó là những quan niệm mà ngay cả hôm nay cũng vẫn còn định hướng cho sức phấn đấu của ta trước tương lai. Vũ trụ quan ngoại đạo đã quá quen thuộc với hình ảnh số mạng, nhưng lại dựa trên những tiền đề hoàn toàn khác: thế giới chẳng qua chỉ là một canh bạc đỏ đen dưới sức chi phối của cái nguyên lý may rủi mù quáng. Thời gian, cũng mù lòa như thế, đã nôn ọe ra số mạng, cách này hay cách khác. Trong khi đó, Thánh Kinh đã làm biến đổi tận căn hình ảnh này. Quả thế, đúng là có chén chứa đựng các số mạng: kẻ thắng người thua. Thế nhưng chén số mạng này lại do chính Chúa nắm giữ, tức là “được đặt vào bàn tay của Ngài,” bàn tay của Khôn Ngoan tuyệt đối và Tình Yêu vĩnh cửu. Đây chính là cái tiền đề thiết yếu, mà chỉ duy mình nó cũng đủ khả năng đem đến cho con người những triền sóng hy vọng. Chén đã nằm trong tay Ngài, thành ra chỉ có thể đánh mất phần số của mình khi cố ý chối từ số mạng đang nằm trong tay Ngài. Bản dịch La ngữ còn đào sâu hơn nữa ý nghĩa của đoạn Thánh Vịnh ta đang suy niệm: ‘Trong tay Ngài, lậy Chúa, thời gian của con được an nghỉ.’ Xét về mặt ngữ học thuần túy, ta có thể dịch là: ‘Trong tay Ngài, lậy Chúa, vầng thái dương của con được nghỉ an.’ Thế là nổi lên hình ảnh mái đầu và vầng thái dương của ta được trao phó trong bàn tay từ ái của Chúa. Để rồi thời gian của con người không chỉ là thời gian được tính toán theo vòng xoay của mặt trời, mặt trăng, và mặt đất. Hơn thế nhiều! Với con người, một trung tâm mới của thế giới đã xuất hiện, một đơn vị đo lường, tính toán mới: đó là nhịp tim, cấu thành thước đo hiện hữu con người, ngay cả thước đo mới cho mọi hữu thể tự thân, như một trung tâm mới của thế giới. Lời Thánh Vịnh kêu gọi ta hãy kéo cuộc hiện hữu mình ra từ khoảng thời gian này, hãy nhìn nhận thời gian này như là thời gian đích thực của mình, và dùng ý thức đó mà uốn nắn thế giới này.

Thời gian của trái tim được biến đổi thành thời gian bừng ánh mặt trời, bởi lẽ trái tim ta không rung động giữa cõi trống vắng mênh mông. Trái lại, trong khi chuyển đưa làn điệu rung động thấu đến khối óc và trí năng, trái tim ta bắt được đúng điệu nhịp rộn ràng khi tự đặt mình trong tay của Đấng cầm giữ toàn thể thời gian hiện hữu của ta trong bàn tay Ngài, bàn tay của Khôn Ngoan tuyệt đối, của Tình Yêu vĩnh cửu và cũng là niềm Hy Vọng duy nhất của ta. Chính vì thế, ta hãy đặt Năm Mới này, thời gian mới này, và cả tương lai của ta nữa, vào đôi tay của Chúa. Lậy Chúa, xin đón nhận chúng con, và ban cho chúng con muôn vàn ân phúc!”

Te Deum laudamus!

Nguyễn Kim Ngân 12/31/2005

Đã lắm phen và bằng nhiều cách, Thiên Chúa đã dạy bảo loài người chúng ta phải biết sống thái độ tạ ơn. Qua bao nhiêu bài Thánh Vịnh, thánh thi trong cựu ước chúng ta gặp không biết bao nhiêu lời tạ ơn đã được cất lên :

“Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương (Tv 136) Lạy Chúa xin dâng lời cảm tạ Ngài dã nghe lời miệng con xin (Tv 138) Hãy dâng Chúa bài ca cảm tạ Gảy khúc hạc cầm mừng Thiên Chúa chúng ta (Tv 147)

Ngay trong Bài Đọc 1 hôm nay, sứ ngôn I-sa-i-a đã thay lời Thiên Chúa nói với muôn thế hệ nhân loại rằng :

Tôi xin nhắc lại ân nghĩa Chúa, dâng lời ca tụng Chúa, vì tất cả những gì Chúa thực hiện cho chúng tôi, vì lòng nhân hậu lớn lao của người đối với nhà Ít-ra-en, vì những gì Người đã thực hiện, bởi lòng Người đầy lòng thương xót và lắm nghĩa giàu ân”.

Nhưng để có một lời Tạ ơn cao cả nhất, trọn vẹn nhất phải đợi đến khi Thiên Chúa sai Con Một mình! Vâng, chỉ có người Con nhân loại và chính là Con Thiên Chúa, đã đến để dẫn dắt con người đi vào quỹ đạo của tình yêu tạ ơn, đi vào thái độ hiếu nghĩa tin yêu dành cho Thiên Chúa một cách trọn hảo qua chính cuộc đời Ngài.

1. Đức Kitô thiết lập nghĩa cử tạ ơn bằng cuộc đời vâng phục:

Nếu dân tộc của Giao ước cũ đã minh chứng niềm tin và lòng tri ân hiếu thảo đối với Thiên Chúa qua những của lễ chiên bò, hy sinh và tạ tội; thì trong trật tự của Giao Uớc Mới, của lễ tuyệt hảo nhất, lời tạ ơn trọn vẹn nhất dành cho Thiên Chúa lại chính là Con Người của Đức Kitô, là cuộc đời và toàn bộ cuộc sống của Ngài, một cuộc đời trọn vẹn vâng phục thánh ý Chúa Cha :

Vì vậy, khi vào trần gian, Đức Kitô đã nói : “Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa : lạy Thiên Chúa, nầy con đây, con đến để thực thi ý Ngài, như Sách Thánh đã chép về con.” (Dt 10,5)

Thật vậy, Đức Kitô đã đến giữa trần gian và đã biến cả vũ trụ trở nên một “đền thờ vĩ đại” và đã qui tụ toàn nhân loại chung quanh Ngài để làm nên một cuộc “đại thờ phượng”, một cuộc tạ ơn và phụng thờ Thiên Chúa vượt qua mọi biên giới không gian, xuyên suốt mọi thời gian. Bởi vì đó là cuộc thờ phượng Thiên Chúa trong Thánh Thần và Chân lý :

“Nầy chị, hãy tin tôi : đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi nầy hay tại Giê-ru-sa-lem…..Nhưng giờ đã đến – và chính là lúc nầy đây – giờ những người thờ phượng đích thức sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế.” (Ga 4,21-24)

Qua những chỉ dẫn của Tin Mừng, chúng ta còn biết được rằng : thái độ tạ ơn, tâm tình tri ân cảm tạ lại chính là thái độ cốt yếu của tinh thần “Tám mối Phúc thật”, tinh thần “nghèo khó, khiêm hạ, yêu thương…”, tinh thần luôn biết đưa tay hướng mắt về phía Thiên Chúa với niềm tin yêu phó thác của những con người như Bà Góa bị loạn huyết 18 năm xứ Canaan, của người phung hủi ngoại bang được chữa lành, của viên sĩ quan có người tôi tớ đau nặng, của người đàn bà tội lỗi khóc lóc ăn năn, của những người thu thuế bị loại trừ như Gia-kê, Lê-vi, của các trẻ thơ xúm quanh để chờ được chúc lành hay của người kẻ trộm sắp sửa đi về bên kia thế giới với hy vọng sẽ được cứu độ trong Vương quốc phục sinh…

Rồi cũng chúng ta cũng biết được rằng : trên môi miệng của Đức Kitô luôn vang lên lời tri ân cảm tạ : “Lạy Cha, con tạ ơn Cha, vì Cha đã dấu…”

Và còn hơn thế nữa Ngài đã tạ ơn bằng chính 1 cuộc đời vâng phục mà chỉ trọn vẹn khi Ngài nói lời “Con phó thác hồn con trong tay Cha”. Đó chính là lời tạ ơn trọn hảo nhất bằng Hy Tế Thập Giá mà hôm nay trên mọi bàn thờ chúng ta đang tái diễn mỗi ngày.

2. Đức Trinh Nữ Maria và lời Tạ Ơn Magnificat :

Cảm tạ hồng ân của Thiên Chúa trong Đức Kitô, nhờ Đức Kitô và với Đức Kitô chính là con đường đức tin của Dân Chúa hôm qua, hôm nay và mãi mãi. Và may mắn thay, trong suốt chiều dài lịch sử của nhân loại suốt 2000 năm nay, đã có một “bài ca tạ ơn”, đã có một “cuộc đời tạ ơn” theo cung cách ấy. Đó chính là bài ca “Magnificat”, đó chính là “cuộc đời của Trinh nữ Maria”. Quả thật cuộc đời của Đức Mẹ được phản ảnh qua bài Magnificat mà Tin Mừng hôm nay vừa nhắc đến là mô hình sống động, là mẫu gương sáng ngời để nhân loại bước đi trong “con đường tạ ơn” Thiên Chúa, trên nẽo đường đáp trả hồng ân.

– Tạ ơn : trước hết là như Đức Maria dâng lên lời ngợi khen Thiên Chúa và hân hoan vì hồng ân cứu độ Ngài đã ân ban: “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa….”

– Tạ ơn : phải chăng như Đức Maria nhận ra “những việc lạ lùng Thiên Chúa đã thực hiện nơi tôi”.

– Tạ ơn phải chăng như Đức Maria luôn biết nhận ra bàn tay Thiên Chúa đưa ra nâng đỡ thân phận yếu hèn, lòng quảng đại Chúa mở ra để ban cho dư đầy ơn phúc.

-Tạ ơn phải chăng là luôn xác tín mãnh liệt và đầy lòng trông cậy vững vàng trước lời hứa và kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa : “Chúa độ trì Ít-ra-en, tôi tớ Người, như đã hứa cùng cha ông chúng ta. Vì Người nhớ lại lòng thương xót dành cho tổ phụ Áp-ra-ham và cho con cháu đến muôn đời”.

Và Mẹ đã hoàn tất lời tạ ơn tuyệt diệu đó vào Chiều Thứ Sáu trên đồi Can-vê khi Mẹ thay cho nhân loại dâng hiến lễ Tạ Ơn đầu tiên cùng với Con yêu dấu trên bàn thờ Thánh Giá.

3. Sống chiều kích Tạ Ơn trong nhỏ nhặt đời thường :

Qua lời kinh Tạ Ơn Magnificat của Đức Maria, và nhất là, qua cuộc đời đã trở nên Hy Tế TẠ Ơn của chính Đức Kitô, chúng ta cảm nhận được rằng :

– Thái độ Tạ Ơn, cuộc sống Tạ Ơn không chỉ là một hành vi mang tính “thời sự’, “cơ hội” đột xuất (như được khỏi cơn bệnh hiểm nghèo, thoát qua cơn hoạn nạn, tránh được hiểm nguy, làm ăn buôn bán trúng mánh, trúng số độc đắc…), nhưng “Tạ Ơn” phải là một thái độ, một nhịp sống, một cử hành thường xuyên, từng phút giây, mọi biến cố, trên mọi nẽo đường cuộc sống. Đó chính là cách ứng xử mà mấy ngàn năm trước, ông thánh Gióp đã từng nêu gương : “Chúa cho, Chúa cất lấy, xin cảm tạ ơn Chúa !”. Dĩ nhiên, có những thời điểm, có những biến cố dễ gợi mở tâm tình chúng ta hướng về Thiên Chúa trong thái độ tạ ơn đặc biệt…Nhưng không phải, chỉ tạ ơn trong những hoàn cảnh, những thời điểm đặc biệt thôi, còn ngoài ra thì “bàn tay ta làm nên tất cả”, có nhờ vả ai đâu, có khấn xin gì nào mà phải tạ ơn cám ơn…

– Bởi vì, chính khi chúng ta cử hành cuộc sống trong thái độ tạ ơn, chúng ta sẽ thấy cuộc đời mình nhỏ lại, khiêm hạ hơn, khó nghèo hơn, trái tim kiêu căng hợm hĩnh sẽ được biến đổi để trở nên nhỏ bé hiền lành, và từ đó con mắt tâm hồn sẽ khám phá ra muôn vạn hồng ân của Cha trên trời vây bọc xung quanh. Ngày hôm nay, hơn lúc nào hết, cái nảo trạng ‘đương nhiên” của chủ nghĩa duy vật vô thần đang âm thầm hay mãnh liệt len lỏi vào mọi ngỏ ngách của cuộc sống. Vì đã lý luận như thế : “đương nhiên trái cấm nầy thuộc về tôi, địa đàng nầy là của tôi, tôi cóc cần Thiên Chúa với những luật lệ của Ngài…” mà A-đam và E-Va đã đẩy nhân loại vào vũng lầy nguyên tội. Cũng vì lý luận như thế : tôi khỏi phung cùi chắc là do số phận run rủi, là tới lúc phải được như thế, chứ ông Giêsu nào có can thiệp gì đâu… nên chín người phung cùi được khỏi bệnh đã không thèm trở lại tạ ơn Chúa Giêsu ! Còn chúng ta hôm nay thì sao. Có thấy được “phép lạ tình yêu của Thiên Chúa” ghi dấu ấn trên đời thường cuộc sống mỗi ngày để ngước mắt tạ ơn, hay chỉ là những thở dài oán trách Chúa vì đã van xin bao điều mà sao vẫn cứ hoài vô vọng. Có thấy bàn tay quan phòng của Thiên Chúa tế nhị ấp yêu trên mọi biến cố cuộc đời để cảm tạ tri ân, hay chỉ thấy mọi sự là “đương nhiên” để cóc cần phải tính sổ với Thiên Chúa.

Trong giờ phút thiêng liêng khi trời đất sắp sửa giao mùa, chúng ta có dịp ngồi lại với nhau trước mặt Chúa để nhờ ánh sáng của Lời Ngài mà nhìn lại cuộc sống, mà cảm nhận muôn vạn hồng ân Chúa đã ân ban trong suốt một năm. Và điều quan trọng hơn hết, phải chăng là chúng ta được cùng với Đức Kitô dâng Hy Tế Tạ Ơn nầy như một nghĩa cử của lòng hiếu thảo mến yêu, của tâm tình tri ân cảm mến; và cũng chính qua sứ điệp của lời kinh tạ ơn Magnificat của Đức Trinh Nữ Maria, chúng ta được gọi mời từ hôm nay, biết mở lòng đón nhận và khám phá muôn điều kỳ diệu Chúa đã làm, để từ đó biến cuộc sống trở thành “Lời ca khen cảm tạ Magnificat” :

“Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, Thần trí tôi hớn hở vui mừng, vì Thiên Chúa, Đấng Cứu độ tôi, phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới…”. Đây là lời kinh Ngợi Khen mà Đức Mẹ đã tiến dâng Thiên Chúa bằng tất cả tâm tình mến yêu, tin tưởng, cậy trông, phó thác của mình.

Ngày cuối năm, Hội Thánh muốn ta suy niệm về tâm tình ngợi khen của Đức Mẹ để ta cũng biết ngợi khen Chúa như Đức Mẹ. Vậy, trong bầu khí vui mừng, rộn ràng, xen lẫn những lo âu, toan tính cho cả một năm vừa qua, ta mặc lấy tâm tình của Đức Mẹ, cùng Đức Mẹ chúc tụng, ca ngợi Thiên Chúa. Lời ngợi khen của Đức Mẹ đẹp lòng Chúa. Chắc chắn mượn lấy tâm tình của Đức Mẹ, cùng ca ngợi Chúa với Đức Mẹ bằng tất cả lòng tri ân của ta, ta cũng sẽ đẹp lòng Chúa, sẽ được Chúa đoái thương đón nhận, như Chúa đã đoái thương đón nhận Đức Mẹ.

Trong bài Ngợi Khen mà Đức Mẹ dâng lên Chúa, Đức Mẹ đã nói: “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn” (Lc 1,46). Như thế, cũng đồng nghĩa với việc Đức Mẹ đã thừa nhận tất cả sinh mạng của Đức Mẹ ở trong tay Chúa. Cuộc đời của Đức Mẹ là bởi Chúa. Mọi hoàn cảnh, mọi biến cố diễn ra cho chính cuộc đời, chính sự sống của Đức Mẹ đều nằm trong chương trình thánh ý của Chúa. Hiểu như thế, Đức Mẹ đã sống cả một đời tuyệt đối xin vâng theo thánh ý Chúa.

Chúng ta bâng khuâng trong ngày cuối năm, với tất cả những biến chuyển, những thao thức của cả một năm vừa đi qua. Rồi đây, một năm mới lại về. Tương lai lại đang chờ ta cũng sẽ là những trăn trở, những giăng mắc đầy hối thúc của cuộc mưu sinh đời thường. Vì thế, ngày cuối năm là thời gian thiêng liêng nhất, hợp lý nhất để chúng ta dừng lại kiểm điểm mình và tạ ơn Thiên Chúa vì một năm qua, ta đã sống, đã làm việc, đã hoạt động. Đồng thời xin lỗi Chúa vì biết bao nhiêu lần ta đã quên ơn Chúa, đã không cộng tác với ơn Chúa để phát triển đời sống đạo đức, sự thánh thiện của mình.

Là con của Đức Mẹ, chúng ta hãy học lấy lời xin vâng của Đức Mẹ mà tiếp tục Xin Vâng như Đức Mẹ. Xin Vâng như Đức Mẹ, nghĩa là chúng ta cũng sẽ thừa nhận tất cả sinh mạng của mình ở trong tay Chúa. Cuộc đời của mình là bởi Chúa. Mọi hoàn cảnh, Mọi biến cố diễn ra cho chính cuộc đời, và chính sự sống của mình đều nằm trong chương trình thánh ý của Chúa. Bởi vậy, ta hãy sống như Đức Mẹ đã sống: cả một đời tuyệt đối xin vâng theo thánh ý Chúa.

Lạy Chúa, xin chấp nhận tâm tình tri ân, ngợi khen của chúng con trong ngày cuối năm này. Chúng con xin dâng lên Chúa cùng với Đức Mẹ, nhờ Đức Mẹ. Xin chấp nhận tất cả những gì mà chúng con có thể có để hiến dâng và tha thứ tất cả những gì chúng còn thiếu sót hay lỗi lầm. Amen

Tạ ơn cho những người bố, những người mẹ. Tạ ơn cho những sáng sớm vất vả với dòng xe cộ đỏ chói và đen đặc trên xa lộ. Tạ ơn cho tháng năm ngược xuôi kiếm tiền nuôi chồng, nuôi vợ và nuôi con. Tạ ơn cho những người cha người mẹ một đời khổ vì con, một đời cực vì cháu.

Tạ ơn cho những giọt nước mát lạnh từ trời cao đã tuôn đổ, những giọt nước mắt đã rớt rơi để dập tắt mầm mống của giận hờn oán ghét. Tạ ơn cho những vết thương bầm tím trên thân xác và trong tâm hồn đang từ từ phai màu và được chữa lành.

Tạ ơn cho những lầm lỗi. Tạ ơn cho những lần được thứ tha, được bỏ qua, được quên đi, được xóa nhòa. Tạ ơn cho những chịu đựng âm thầm, không cằn nhằn, không đi ra đi vào đá thúng đụng nia. Tạ ơn cho những hành động ích kỷ và một tấm lòng từ tâm bao dung.

Tạ ơn cho những giây phút thất vọng và hy vọng. Tạ ơn cho những giọt lệ khổ đau và nụ cười hạnh phúc. Tạ ơn cho những giây phút buồn phiền, cô đơn, và chán nản, không ai vỗ về. Tạ ơn cho một lần hạnh phúc, vinh quang, và thất vọng. Tạ ơn cho những thất bại và thành công.

Tạ ơn cho một tô mì gói với chả lụa thơm nồng . Tạ ơn cho một tô phở đặc biệt với bò viên, hành ngò, và thịt tái nạm. Tạ ơn cho một tô cơm trắng với thịt kho, rau muống, và dưa muối. Tạ ơn cho nước mắm, mắm tôm, mắm ruốc bốc mùi thơm lừng trong nhà bếp. Tạ ơn cho bún bò huế, bún vịt sáo măng, bún mọc, cháo gà, cháo vịt, cháo lòng và phở tái. Tạ ơn cho bánh cuốn, bánh bèo, bánh đúc, bánh phồng tôm. Tạ ơn cho gạo trắng cơm ngon. Tạ ơn cho những bữa cơm thơm nồng được nấu bởi bàn tay của ông của bà, của bố của mẹ, của chị của anh, và của cả những người em, em trai cũng như em gái.

Tạ ơn cho những người thầy những người cô đã giúp con trưởng thành và đồng hành với con. Tạ ơn cho một năm học vui vẻ với nhiều kết quả tốt đẹp. Tạ ơn cho những trí khôn Thiên Chúa đã ban cho con. Tạ ơn cho một sức khỏe không đau yếu. Tạ ơn cho sự cần cù, hy sinh, và thương yêu của mẹ cha. Tạ ơn cho một đêm dạ vũ vui nhộn với tiếng nhạc êm đềm và quyến rũ.

Tạ ơn cho những thân hình lực lưỡng của đứa con trai, mới ngày nào còn nhỏ xíu, nay vươn vai đứng dậy hóa ra người thanh niên với những sợi râu mọc lưa thưa trên mép. Tạ ơn cho những đứa con gái, ngày nào tóc còn ngắn như con trai, giờ này tóc dài thướt tha đen nhánh, êm đềm bước đi những gót hài đầu tiên của tuổi thanh xuân, tuổi của sắc đẹp rực rỡ, huy hoàng.

Tạ ơn cho những đám cưới tưng bừng với bao nhiêu quan khách. Tạ ơn cho những tà áo dài trắng thướt tha, những khuôn mặt đỏ hồng, những đôi mi e lệ dưới khăn voan cô dâu trắng toát. Tạ ơn cho những đứa con đang hình thành trong bụng. Tạ ơn cho những mái ấm gia đình hạnh phúc.

Và quan trọng hơn cả& Tạ ơn cho con được biết Chúa, được làm con của Chúa, được bàn tay Ngài luôn chở che thương yêu chăm nom săn sóc &Và nhất là cho con được hưởng nhờ Ơn Cứu Ịộ từ trời cao, cho con được tham dự vào ẪBản Tính Thiêng LiêngỮ của Chúa, cho con được trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài.

Lạy Chúa! Có rất nhiều điều con cần phải tạ ơn, tạ ơn Trời và tạ ơn Đời. Có kể ra hết cũng không đủ giấy mực để tâm sự với Chúa về những hồng ân con đã lãnh lãnh nhận. Con chỉ biết khắc ghi trong lòng để luôn sống tâm tình tạ ơn trong mỗi giây mỗi phút của cuộc đời con. Amen

Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương ( Tv 135)

Chúng ta đang cùng nhau sống những giờ phút cuối cùng của năm cũ, và chuẩn bị chia tay năm 2014 năm Giáp Ngọ, bước vào năm 2015, năm Ất Mùi với thời khắc thật linh thiêng. Vào dịp tạ ơn cuối năm, Đức Thánh Cha Phanxicô nói với chúng ta rằng : “Người tín hữu Kitô hữu dựa trên Thánh Kinh thấy thời gian không mang tính tuần hoàn mà là một đường thẳng: thời gian là con đường dẫn đến chung cuộc”. Đúng thế, nêu chúng ta nhìn lại một năm vừa trôi qua chính là một bước đi hướng đến sự hoàn tất của lịch sử, đến cứu cánh của nhân loại là hy vọng và vui mừng được gặp Chúa, thị việc tạ ơn này thật là ý nghĩa.

Chắc chắn mỗi người mang một tâm tình, vui, buồn, sướng, khổ, thành công hay thất bại. Nhưng giờ phút này đây, tất cả đều có chung một ý tưởng là tạ ơn và phó thác. Tạ ơn, vì Chúa đã cho chúng ta sống đến giờ phút này, còn gì thích hợp và ý nghĩa hơn khi chúng ta mặc lấy tâm tình của Mẹ Maria để hát vang lên tới Chúa : “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa… vì Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả” (Lc 1, 29-55). Lời của thánh Phaolô nhắn nhủ với tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca xưa kia, nay ngài muốn nói với mỗi người chúng ta rằng: “Anh em hãy vui mừng luôn mãi và cầu nguyện không ngừng. Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu.” (1 Tx 5, 16-18). Chúng ta cảm tạ Thiên Chúa, về ân huệ Người đã thương ban (1Cr 1, 3-9).

Nhìn lại trong năm qua, chúng ta thấy các biến cố lần lượt diễn ra : các thảm kịch và hy vọng, niềm vui và đau khổ, chiến thắng và thất bại; kinh tế thế giới tiếp tục lún sâu, thiên tai ngày càng khủng khiếp xuất hiện siêu bão, tai nạn dữ hơn, thời tiết khắc nghiệt hơn, hành vi người với người đối xử với nhau giã man hơn v.v…

Việt Nam chúng ta đang lún sâu vào cuộc khủng hoảng về nhiều phương diện từ đạo đức đến nhân văn, từ mô hình phát triển xã hội đến từng bước phát triển, từ lãnh đạo đến đường lối, từ kinh tế đến chính trị, từ ổn định xã hội đến an ninh quốc phòng, đạo đức con người như đang bị suy giảm tới mức báo động trong các ngành nghề như y học và giáo dục, nạn tham nhũng trở nên hệ thống hơn từ trên xuống dưới… chúng ta đang phải đối mặt với thực tại.

Nhìn qua mọi sự, đến giờ phút này đay, chúng ta phải khẳng định rằng Thiên Chúa là chủ lịch sử, Ngài hướng dẫn các biến cố nhân loại. Ngài đồng hành với con người và không ngừng thực hiện những điều vĩ đại. Làm sao chúng ta có thể không cám ơn Người vào đêm nay? Và nhất là trong năm Tân Phúc Âm Hóa Giáo xứ này, làm sao chúng ta có thể không dâng lên Người lời tuyên xưng: “Lạy Chúa, chúng con đặt niềm tin tưởng nơi Chúa”!

Giờ đây chúng ta mặc lấy tâm tình của Mẹ Maria hướng về trời cao và cất lên lời tạ ơn Thiên Chúa và phó thác nơi Ngài. Bởi lẽ, tạ ơn là thái độ căn bản của người Kitô hữu đối với Thiên Chúa, vì tất cả những gì con người có đều là hồng ân của Thiên Chúa.

Chúng ta đồng thanh hiệp ý với Mẹ ca tụng những điều kỳ diệu của Thiên Chúa đã và còn đang làm trong lịch sử : Người đã và còn đang biểu lộ quyền năng của Ngài… đã và còn đang làm tan rã những kẻ kiêu căng… đã và còn đang hạ xuống người quyền thế… đã và còn đang nâng dậy kẻ khiêm cung… đã và còn đang ban tràn đầy ơn lành cho người đói khát… đã và còn đang đuổi người giàu có ra về tay không… đã và còn đang cứu giúp Israel Dân Người.” Ðó là bảy hành động của Thiên Chúa là Chúa của lịch sử: Người luôn đứng về phía những kẻ thấp hèn nhất, những kẻ được Thiên Chúa tuyển chọn, những ai “kính sợ Người, trung thành với Lời Người; đó là những kẻ khiêm tốn, những kẻ đói khát; đó là Israel người tôi tớ trung thành của Người; đó là cộng đồng dân Chúa, được kết thành bằng những kè nghèo hèn, trong sạch và đơn sơ trong tâm hồn, như Mẹ Maria.

Thánh lễ này diễn ra vào giờ phút cuối cùng của năm 2014 Âm Lịch, đôi mắt chúng ta hướng nhìn lên Chúa là nguồn gốc và cùng đích của đời sống chúng ta. Vì không có Chúa, chúng ta sẽ không hiện hữu, không có Chúa sẽ chẳng có gì, hoàn toàn không có gì. Chúa là Đấng “vạn vật được tạo thành” (Ga 1, 13), Chúa là Đấng mà nhờ Chúa, chúng ta được tạo thành, và sống cho đến phút này đây. Không có Chúa, sự sống không thể đạt đến vận mệnh cuối cùng của nó. Không có Chúa sẽ chẳng có gì, hoàn toàn không có gì. Chính Người giúp chúng ta đối diện với các thách đố trong năm mới; chính Người ban cho chúng ta khả năng sử dụng đời sống để làm vinh danh Thiên Chúa và mưu ích cho nhân loại. Chúng ta hãy để tình yêu Ngài lôi cuốn cuộc đời ta.

Lúc này đây, chúng ta hãy đặc biệt nhớ tới và cầu nguyện cho những ai đang đau khổ, những ai đang gặp khó khăn và những ai đang sống trong buồn phiền, để khẩn cầu sự trợ giúp quan phòng của Chúa.

Cái nhìn của chúng ta giờ đây mở rộng ra hướng về gia đình, giáo họ, giáo xứ, giáo phận, toàn thể Hội Thánh và thế giới. Chúng ta hy vọng rằng Năm Mới sẽ đem lại hoà bình, công lý, tình huynh đệ và sự thịnh vượng cho tất cả mọi quốc gia! Nguyện xin Ðức Nữ Trinh Rất Thánh, Hừng Đông của thời đại mới, giúp chúng ta nhìn lịch sử đã qua và Năm Mới khởi đầu với con mắt đức tin. Xin cầu chúc một Năm Mới hạnh phúc đến với mọi người! Amen.

Vào những ngày cuối năm này, đây đó rộn ràng với những bữa tiệc tất niên để tổng kết cuối năm. Đối với những người sống đời thánh hiến, chúng ta dành những giây phút linh thiêng này để nhìn lại một năm cũ đã qua, đây là một dịp thuận tiện để nhìn lại đời ta, nhìn vào bên trong, nhìn vào đằng sau sự vật, để biết quý chuộng những gì chúng ta đang có bởi lẽ tất cả là hồng ân của Chúa, vì thánh Phaolô đã tung hô rằng: “Chúc tụng Thiên Chúa, là thân phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Trong Đức Giêsu Kitô, từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần.” (Ep 1,3) Thánh Gioan khẳng định rằng: Mọi vật đều do Người làm nên và không có Người, thì chẳng vật chi được tác thành.” (Ga 1,3) Như vậy, đứng trước một Thiên Chúa cao cả và quyền năng, đã ban cho chúng ta tất cả, việc tạ ơn Chúa là việc cần thiết và chính đáng.

Với tâm tình trên, từng cộng đoàn, từng thành viên hãy nhìn lại 365 ngày qua, với 8,760 giờ, để nhận ra muôn vàn phúc lành mà chúng ta đã lãnh nhận từ Thiên Chúa như về: thời giờ, tài năng, sức khỏe, những thành công và cả những thất bại… Nhìn lại một năm qua, trong mọi biến cố, chúng ta thấy bao can thiệp diệu kỳ của Chúa, bao hồng ân lớn lao Chúa ban. Nhưng ân phúc lớn nhất không là những quà tặng, mà là chính Chúa, là sự hiện diện đầy yêu thương của Ngài trong cuộc đời ta. Đó mới là quà tặng tuyệt đối cao cả. Tất cả như đang đổ đầy lòng ta bao cảm xúc và khơi gợi lời tạ ơn nhiều chân thành, rộng lớn trong phút giây này.

Niềm xác tín này mời gọi chúng ta hãy luôn giữ mãi tinh thần tạ ơn. Vì chỉ khi biết tạ ơn thì chúng ta mới nhận ra tất cả những gì ta có là bởi Chúa thương ban. Chúng ta có thể sống tâm tình tạ ơn mọi nơi mọi lúc, trong thành công cũng như trong thất bại, hãy phó thác chính cuộc đời của chúng ta vào sự quan phòng của Thiên Chúa.

Tạ ơn Chúa, chúng ta cũng không quên cám ơn người: cám ơn cha mẹ đã sinh thành nuôi dưỡng ta khôn lớn với bao vất vả nhọc nhằn. Tri ân Hội dòng, quý bề trên đã bảo ban dạy dỗ lo lắng cho chúng ta qua từng ngày sống về tinh thần lẫn vật chất. Cám ơn chị em, bạn bè đã dành cho ta bao yêu thương nâng đỡ trong ơn gọi đời sống tu trì. Cám ơn bao người đã âm thầm hy sinh cách này cách khác để ta có được ngày hôm nay.

Ngày cuối năm, cũng là dịp để suy nghĩ, điều chỉnh tâm hồn, để hồi tỉnh xem điều gì mình còn thiếu sót, điều gì còn chưa chu toàn, điều gì chưa tốt. Để tạ lỗi với Chúa và tạ lỗi mọi người. Tạ lỗi để nói lên lòng sám hối, ăn năn. Nguyện xin Chúa nung nấu tâm tình sám hối đích thực nơi chúng ta và ban cho chúng ta niềm an bình nội tâm, để chúng ta cũng biết chia sẻ niềm an bình ấy với mọi người bằng cảm thông, tha thứ, và xây dựng một cộng đoàn hiệp nhất yêu thương. Đồng thời, phó thác một năm mới sắp tới trong bàn tay quan phòng đầy yêu thương của Ngài.

Lạy Chúa, trong ngày đầu năm mới này, con xin nâng tâm hồn con lên cùng Chúa.

Xin Chúa giúp con luôn hướng về Chúa, biết nhìn nhận Chúa là nguồn hạnh phúc thật của đời sống con.

Xin cám ơn Chúa vì đã cho con được sống cho đến hôm nay. Xin Chúa thương gìn giữ con, gìn giữ cả những người thân của con được sống trong năm mới này tràn đầy ơn lành và sự bảo vệ của Chúa. Amen.

Lạy Chúa, xin thương tha thứ những lỗi lầm mà chúng con đã phạm trong năm qua.

Xin thương giúp mỗi người chúng con canh tân đời sống của mình trong năm mới.

Chúng con xin cám ơn Chúa vì những hồng ân Chúa đã ban cho và xin Chúa thương tiếp tục đổ muôn ơn lành xuống trong cuộc đời chúng con, trên gia đình chúng con, trên dân tộc và trên quê hương chúng con. Amen. (Những Bài Suy Niệm và Cầu Nguyện Hằng Ngày của Ðài Phát Thanh Chân Lý Á Châu)

Một chiếc xe vận hành trên đường, nó phải có thời gian dừng lại, vừa để nghỉ ngơi, vừa để kiểm tra xe vừa để tăng thêm nhiên liệu. Một học sinh sau thời gian dài học tập, cũng có thời gian để kiểm tra, thi cử. Đó là lúc nhìn lại kết quả đã đạt được trong thời gian qua như thế nào. Con người với đời sống thường ngày cũng thế, cứ sau 12 tháng là bắt đầu lại những ngày tháng mới. Trước giây phút chuyển giao linh thiêng mà chúng ta gọi là giao thừa, chúng ta cũng có thời gian đến trước Chúa, để nhìn lại đời sống của mỗi người trong một năm qua.

Giờ đây chúng ta cùng nhìn lại kết quả của những tháng ngày mệt nhọc mà mỗi người đã trải qua. Chúng ta vừa lắng nghe lời chúc phúc cho những ai biết thực hiện cách sống xứng đáng. Những điều chúc phúc mà khiến cho nhiều người không khỏi giật mình, những lời chúc phúc dường như bảo con người không được quyền vươn lên. Nhìn và nghe thoáng qua thì như thế, nhưng nếu chịu khó suy tư và nhìn vào thực tế, chúng ta không còn bở ngở. Thật thế, nếu không chịu khó vất vã để làm ăn mà lười biếng chỉ biết hưởng thụ cho sung sướng, nếu không biết nhẫn nhục chịu khó, chấp nhận một chút thua thiệt mất mát, thì làm sao tích lũy được những thành quả tốt đẹp cho tương lai. Như vậy những lời Chúa Giêsu nói cách đây 2000 năm, lại vang động bên tai và vẫn còn giá trị cho những con người của thời đại mới nầy.

Mỗi người giờ đây để ra một ít thời gian, nhìn lại cuộn phim cuộc đời mà mình đã tạo nên trong năm qua. Có những chỗ, những nơi chúng ta không dám dừng lại để nhìn, và cũng không muốn cho ai nhìn thấy. Đó là những lúc con người này chỉ còn nhìn thấy có chính mình, chỉ biết lo hưởng thụ cho riêng bản thân, không còn nghĩ đến người khác, nên bất chấp tất cả, bất chấp cả những thủ đoạn tàn ác, miển sao bản thân đạt được điều mình mong muốn. Ngoài ra còn có những lúc lười biếng không chu toàn trách nhiệm của cuộc sống mà mỗi người đang đảm nhận: trách nhiệm của một người cha, người mẹ, người con trong gia đình. Trách nhiệm với những người thân cận chung quanh. Trách nhiệm đối với xã hội mà mỗi người đang nắm giữ một địa vị, một chỗ đứng. Nhiều khi vì lơ là, lười biếng hay sợ sệt mà chúng ta đã bỏ qua đi những điều cần phải làm như thế.

Có những đoạn phim, khi nhìn đến, mỗi người cảm thấy tự hào và hảnh diện cho bản thân, vì mình đã làm những điều tốt đẹp, có ý nghĩa. Đó là những lúc chúng ta dám đổ những giọt mồ hôi của mình để đem lại hạnh phúc cho người khác, đem lại niềm vui cho những người chung quanh. Đó cũng là những lúc chúng ta cam tâm chấp nhận những câu nói không êm tai, nhường nhịn một sự bất công, hách dịch để đem lại sự bình an cho những người chung quanh mình. Đó cũng là những lúc chúng ta biết tìm lợi ích thật sự cho những gì mình có trách nhiệm. Đó cũng là những lúc trước những sóng gió bất công của cuộc đời, mà mình vẫn đứng vững để vượt qua. Càng tự hào hơn nữa, khi chúng ta nhìn thấy rằng: trong suốt cuộc đời, đặc biệt trong một năm vừa qua, với những vui buồn sướng khổ của cuộc sống, đều có Thiên Chúa cùng đồng hành, cùng ở bên cạnh chúng ta trong mọi trường hợp.

Với những kết quả như thế, mỗi người tự cho điểm về chính mình về những việc làm của một năm qua, như kết quả học tập của một học sinh đang làm bài kiểm tra. Chúng cảm thấy mình được số điểm như thế nào, tốt hay xấu, là tùy mỗi người, không ai có thể giúp cho được.

Chúng ta cùng nhau xin lỗi Chúa vì những lỗi lầm của năm qua, chúng ta cũng cầu xin Chúa ban ơn cho mỗi người, trong năm mới có được sức sống mới, để vững vàng bước đi trong những ngày tháng mới cho xứng đáng hơn.

Một năm với tháng ngày dần trôi, giờ chúng ta đang sống là thời khắc cuối cùng của năm cũ 2015, năm Ất Mùi và chuẩn bị bước vào năm mới 2016, năm Bính Thân, thời khắc thật linh thiêng. Vào dịp tạ ơn cuối năm, Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi các tín hữu cảm tạ và chúc tụng Thiên Chúa vì những hồng ân đã nhận lãnh trong năm qua, đồng thời xét mình và kiểm điểm những gì xảy ra trong năm 2015. Ngài nói:

“Giờ này đây, chúng ta cần đặc biệt tập trung vào những dấu chỉ Thiên Chúa đã ban, để cảm nghiệm cụ thể sức mạnh tình yêu thương xót của Thiên Chúa. Chúng ta không thể quên bao nhiêu ngày ghi đậm bạo lực, chết chóc, đau thương khôn tả của bao người vô tội, những người tị nạn buộc lòng phải rời bỏ quê hương, những con người nam nữ và trẻ em không còn gia cư nhất định, thiếu lương thực và kế sinh nhai. Dầu vậy cũng có bao nhiêu cử chỉ tốt lành, yêu thương và liên đới diễn ra trong những ngày tháng của năm cũ, mà không được các bản tin tức nói tới ! Không thể để cho quyền lực sự ác che khuất những dấu chỉ tình thương ấy. Sự thiện luôn chiến thắng, cho dù có lúc sự thiện xem ra yếu ớt và âm thầm” ( Bài giảng Kinh Chiều cuối năm 2015 ). Vì thế chúng ta phải dâng lời cảm tạ Chúa.

Một năm sắp kết thúc, người kitô hữu chúng ta dựa trên Thánh Kinh thấy thời gian không mang tính tuần hoàn mà là một đường thẳng: thời gian là con đường dẫn đến chung cuộc, nên một năm trôi qua là một bước đi hướng đến sự hoàn tất của lịch sử, đến cứu cánh của nhân loại là hy vọng và vui mừng được gặp Chúa, thì việc tạ ơn này thật là ý nghĩa.

Trong giờ phút linh thiêng này chúng ta dâng lời tạ ơn Chúa. Bởi lẽ, tạ ơn là thái độ căn bản của người Kitô hữu đối với Thiên Chúa, Isaia dạy chúng ta phải dâng lời ca tụng Chúa, “vì tất cả những gì Đức Chúa đã thực hiện cho chúng tôi vì lòng nhân hậu lớn lao của Người… bởi lòng Người đầy thương xót và lắm nghĩa giầu ân” ( Is 63, 7 ). Thật phù hợp với Năm Thánh Lòng Thương Xót chúng ta đang sống. Thánh Phaolô viết: “Chúc tụng Thiên Chúa, là thân phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Trong Đức Giêsu Kitô, từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần” ( Ep 1, 3 ). Thánh Gioan khẳng định: “Mọi vật đều do Người làm nên và không có Người, thì chẳng vật chi được tác thành” ( Ga 1, 3 ). Như vậy, đứng trước một Thiên Chúa cao cả và quyền năng, đã ban cho chúng ta tất cả, việc tạ ơn Chúa là việc cần thiết và chính đáng.

Thật là đẹp, khi giờ đây chúng ta đồng thanh hiệp ý với Mẹ Maria ca tụng những điều kỳ diệu của Thiên Chúa đã và còn đang thể hiện trong lịch sử: Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, vì Người đã và còn đang biểu lộ quyền năng của Ngài… đã và còn đang làm tan rã những kẻ kiêu căng… đã và còn đang hạ xuống người quyền thế… đã và còn đang nâng dậy kẻ khiêm cung… đã và còn đang ban tràn đầy ơn lành cho người đói khát… đã và còn đang đuổi người giàu có ra về tay không… đã và còn đang cứu giúp Israel Dân Người.

Ðó là bảy hành động của Thiên Chúa là Chúa của lịch sử: Người luôn đứng về phía những kẻ thấp hèn nhất, những kẻ được Thiên Chúa tuyển chọn, những ai kính sợ Người, trung thành với Lời Người; đó là những kẻ khiêm tốn, những kẻ đói khát; đó là Israel người tôi tớ trung thành của Người; đó là cộng đồng dân Chúa, được kết thành bằng những kè nghèo hèn, trong sạch và đơn sơ trong tâm hồn, như Mẹ Maria. Lời của thánh Phaolô nhắn nhủ với tín hữu Thêxalônica xưa kia, nay ngài muốn nói với mỗi người chúng ta rằng: “Anh em hãy vui mừng luôn mãi và cầu nguyện không ngừng. Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu” ( 1Tx 5, 16-18 ). Chúng ta cảm tạ Chúa, về ân huệ Người đã thương ban ( 1Cr 1, 3-9 ). Cảm tạ Chúa và xin Chúa thứ tha, kèm theo lòng phó thác cho Chúa năm mới sắp tới.

Cũng vào dịp cuối năm, cùng với việc tạ ơn, Đức Thánh Cha Phanxicô còn thức tỉnh con cái mình: “Chúng ta được kêu gọi kiểm điểm xem những thế sự có được thực hiện theo ý Thiên Chúa hay là chúng ta chỉ ưu tiên lắng nghe những dự án của con người, nhiều khi đầy những tư lợi, lòng khao khát quyền lực vô độ và bạo lực vô cớ” ( Bài giảng Kinh Chiều cuối năm 2015 ). Nên chúng ta phải tạ lỗi với Chúa và với mọi người nữa. Tạ lỗi để nói lên lòng sám hối, ăn năn. Tạ lỗi về những điều thiếu sót, điều gì còn chưa chu toàn, điều gì chưa tốt, hoặc lỗi bác ái với tha nhân, hay chưa biết thương xót người như Chúa đã thương xót chúng ta. Xin Chúa thương tha thứ những lỗi lầm mà chúng ta đã phạm trong năm qua. Tương lai tùy thuộc ở Chúa, chúng ta phải có tinh thần phó thác.

Nhìn lại một năm đã qua, chúng ta thấy các biến cố lần lượt diễn ra: các thảm kịch về tai nạn hàng không, những vụ khủng bố người giết người dã man hơn, niềm vui và đau khổ, chiến thắng và thất bại, đạo đức con người như đang bị suy giảm tới mức báo động trong các ngành nghề, nạn tham nhũng đã trở nên giặc nội khó diệt…

Nhìn qua mọi sự, đến giờ phút này đây, chúng ta phải khẳng định rằng Thiên Chúa là chủ lịch sử, hướng dẫn các biến cố nhân loại. Chúng ta phó thác vận mệnh tương lai cho Chúa và thưa rằng: “Lạy Chúa, chúng con đặt niềm tin tưởng nơi Chúa” !

Biết ơn là một hành vi hết sức nhân văn của con người ở mọi thời và mọi nơi. Ai càng biết ơn nhiều bao nhiêu, người đó càng trở nên người hơn bấy nhiêu. Vì thế, khi ta nhận được một ân huệ nào đó của ai, ta thường nói lời cám ơn. Người không biết cám ơn là người sống chưa trưởng thành đủ.

Chiều tối hôm nay, chúng ta quy tụ nhau tại nơi đây để cử hành Thánh lễ tất niên. Gọi là tất niên, vì đây là thời điểm kết thúc 365 ngày của năm cũ. Nhìn lại, trong suốt một năm qua, chúng ta lãnh nhận biết bao ơn lành đến từ Chúa. Vì thế, thái độ tạ ơn là điều rất chính đáng và phải đạo để dâng lên cho Chúa trong thánh lễ hôm nay.

1. Kinh Thánh dạy cho con người biết phải tạ ơn

Đọc Kinh Thánh, chúng ta thấy đây đó, rất nhiều chỗ nói về thái độ biết ơn cần phải có của con người đối với Thiên Chúa.

Chẳng hạn như trong Thánh Vịnh, chúng ta bắt gặp câu: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (x. Tv 136); hay: “Lạy Chúa, xin dâng lời cảm tạ, vì Ngài đã nghe lời miệng con xin” (x. Tv 138); và “Hãy dâng Chúa bài ca cảm tạ, gảy khúc hạc cầm mừng Thiên Chúa chúng ta” (Tv 147).

Tâm tình tạ ơn chúng ta còn tìm thấy ngay trong bài đọc I hôm nay. Tiên tri Isaia đã nhắc lại cho dân về những ân tình mà Thiên Chúa đã vì yêu thương mà ban tặng cho con người, ngài nói: “Tôi xin nhắc lại ân nghĩa Đức Chúa, dâng lời ca tụng Đức Chúa, vì tất cả những gì Đức Chúa đã thực hiện cho chúng tôi vì lòng nhân hậu lớn lao của Người đối với nhà Itraen, vì những gì Người đã thực hiện, bởi lòng Người đầy thương xót và lắm nghĩa giàu ân” (Is 63, 7).

Sang bài đọc II, thánh Phaolô cũng nhắc cho dân về tình yêu và lượng hải hà mà Thiên Chúa ban nơi Đức Giêsu. Hơn nữa, chính thánh nhân là người đã cất cao lời tạ ơn Chúa thay cho con cái của mình: “Tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa của tôi vì anh em, về ân huệ Người đã ban cho anh em nơi Đức Kitô Giêsu”. Đây là hành động nêu gương cho cộng đoàn của ngài về thái độ biết ơn Chúa (x. 1 Cr 1,3-9). Thánh nhân còn mời gọi: “Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh” vì “đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu” (1 Tx 5:16-18).

Đỉnh cao của thái độ tạ ơn chính là ơn cứu chuộc. Tâm tình này đã được Giáo Hội đưa vào Kinh tiền tụng IV như sau: “Thật ra, Cha không cần chúng con ca tụng, nhưng được tạ ơn Cha lại là một hồng ân cao cả, vì những lời ca tụng của chúng con chẳng thêm gì cho Cha, nhưng đem lại cho chúng con ơn cứu độ muôn đời”.

Tuy nhiên, muốn tạ ơn cho xứng đáng, chúng ta hãy mặc lấy tâm tình của Mẹ Maria trong bài Tin Mừng hôm nay.

2. Thái độ tạ ơn của Mẹ Maria và của chúng ta

Khi ý thức được thân phận tôi hèn nơi mình, nhưng lại được Thiên Chúa yêu thương và trao ban một ân huệ lớn lao là được trở thành Mẹ Thiên Chúa ngang qua việc cưu mang và sinh hạ Đức Giêsu. Ngay lập tức, mẹ đã coi đây là ân huệ lớn lao không chỉ cho riêng Mẹ, nhưng cho toàn thể nhân loại qua muôn ngàn thế hệ, vì thế, Mẹ đã cất lên: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới; từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc”.

Lời tạ ơn này phải là lời tạ ơn kiểu mẫu cho hết mọi người ở mọi nơi. Thế nên, ngay lúc này, chúng ta hãy mặc lấy tâm tình của Mẹ Maria để: Tạ ơn Chúa vì hồng ân sự sống, hồng ân Đức Tin; tạ ơn Chúa vì những điều kỳ diệu Chúa đã làm nơi mình và tha nhân; Tạ ơn Chúa vì Ngài đã cứu giúp, bênh đỡ ta khỏi muôn điều ác hại.

Như vậy, hành vi tạ ơn của chúng ta không chỉ dừng lại nơi thánh lễ hôm nay, mà nó phải kéo dài trong suốt cuộc đời của mình. Nó cũng không dừng lại ở khía cạnh nhất thời, nhưng phải liên lỉ; nó không chỉ dược cất lên lúc thuận buồm xuôi gió, lúc ăn nên làm ra, lúc thoát khỏi bệnh tật hiểm nguy…mà là trong mọi hoàn cảnh.

Vì thế, tâm tình tạ ơn không có tính thời vụ theo kiểu buôn bán, cũng chẳng phải lâm thời theo kiểu nay người mai ta, nhưng tâm tình tạ ơn phải như nhịp đập con tim, hơi thở linh hồn…

Khi tạ ơn như thế, chúng ta dễ nhận ra ơn lành của Thiên Chúa trên cuộc đời, và hơn nữa, luôn được bàn tay của Thiên Chúa phù trợ chở che.

Trong giờ phút linh thiêng huyền nhiệm này, chúng ta hãy thành khẩn xin lỗi Chúa vì biết bao lần chúng ta để cho thái độ vô ơn ngự trị trong tâm hồn. Đã biết bao lần chúng ta bị ảnh hưởng và đi đến những tuyên bố trắng trợn rằng: những gì tôi có là do công khó của tôi, do tự nhiên có, chứ đâu có bàn tay can thiệp gì của Thiên Chúa.

Đây chính là tâm tình và sứ điệp của Lời Kinh tạ ơn Magnificat mà Đức Trinh Nữ Maria đã cất lên trong bài Tin Mừng chúng ta vừa đón nghe. Amen.

Chiều hôm nay, cộng đoàn chúng ta họp nhau cử hành Thánh Lễ Tạ Ơn nhân ngày Tất Niên, ngày kết thúc một năm cũ, năm Giáp Thân 365 ngày của năm cũ sắp đi qua mang theo bao nhiêu vui buồn sướng khổ, những giọt mồ hôi lẫn nước mắt, những nụ cười hoan vui lẫn xót xa cay đắng. Chúng ta xin dâng lên Thiên Chúa tất cả để hiệp cùng của lễ cực thánh là chính hiến Tế của Chúa Kitô làm thành Lời Ca Tụng Tạ Ơn tôn vinh Thiên Chúa, như chính Đức Kitô đã hiến dâng của lễ Tạ Ơn Chúa Cha là cả cuộc đời trong Hy Tế Thập Giá mà chúng ta đang tái diễn qua Thánh Lễ nầy.

Giờ đây, chúng ta hãy nhìn nhận tội lỗi chúng ta để xứng đáng cử hành Thánh Lễ.

Đã lắm phen và bằng nhiều cách, Thiên Chúa đã dạy bảo loài người chúng ta phải biết sống thái độ tạ ơn. Qua bao nhiêu bài Thánh Vịnh, thánh thi trong cựu ước chúng ta gặp không biết bao nhiêu lời tạ ơn đã được cất lên: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ

Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương (Tv 136)

Lạy Chúa xin dâng lời cảm tạ Ngài dã nghe lời miệng con xin (Tv 138)

Hãy dâng Chúa bài ca cảm tạ Gảy khúc hạc cầm mừng Thiên Chúa chúng ta (Tv 147)

Ngay trong Bài Đọc 1 hôm nay, sứ ngôn I-sa-i-a đã thay lời Thiên Chúa nói với muôn thế hệ nhân loại rằng:

Tôi xin nhắc lại ân nghĩa Chúa, dâng lời ca tụng Chúa, vì tất cả những gì Chúa thực hiện cho chúng tôi, vì lòng nhân hậu lớn lao của người đối với nhà Ít-ra-en, vì những gì Người đã thực hiện, bởi lòng Người đầy lòng thương xót và lắm nghĩa giàu ân”.

Nhưng để có một lời Tạ ơn cao cả nhất, trọn vẹn nhất phải đợi đến khi Thiên Chúa sai Con Một mình! Vâng, chỉ có người Con nhân loại và chính là Con Thiên Chúa, đã đến để dẫn dắt con người đi vào quỹ đạo của tình yêu tạ ơn, đi vào thái độ hiếu nghĩa tin yêu dành cho Thiên Chúa một cách trọn hảo qua chính cuộc đời Ngài.

1. Đức Kitô thiết lập nghĩa cử tạ ơn bằng cuộc đời vâng phục:

Nếu dân tộc của Giao ước cũ đã minh chứng niềm tin và lòng tri ân hiếu thảo đối với Thiên Chúa qua những của lễ chiên bò, hy sinh và tạ tội; thì trong trật tự của Giao Uớc Mới, của lễ tuyệt hảo nhất, lời tạ ơn trọn vẹn nhất dành cho Thiên Chúa lại chính là Con Người của Đức Kitô, là cuộc đời và toàn bộ cuộc sống của Ngài, một cuộc đời trọn vẹn vâng phục thánh ý Chúa Cha:

Vì vậy, khi vào trần gian, Đức Kitô đã nói: “Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa: lạy Thiên Chúa, nầy con đây, con đến để thực thi ý Ngài, như Sách Thánh đã chép về con.” (Dt 10,5)

Thật vậy, Đức Kitô đã đến giữa trần gian và đã biến cả vũ trụ trở nên một “đền thờ vĩ đại” và đã qui tụ toàn nhân loại chung quanh Ngài để làm nên một cuộc “đại thờ phượng”, một cuộc tạ ơn và phụng thờ Thiên Chúa vượt qua mọi biên giới không gian, xuyên suốt mọi thời gian. Bởi vì đó là cuộc thờ phượng Thiên Chúa trong Thánh Thần và Chân lý:

“Nầy chị, hãy tin tôi: đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi nầy hay tại Giê-ru-sa-lem…..Nhưng giờ đã đến – và chính là lúc nầy đây – giờ những người thờ phượng đích thức sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế.” (Ga 4,21-24)

Qua những chỉ dẫn của Tin Mừng, chúng ta còn biết được rằng: thái độ tạ ơn, tâm tình tri ân cảm tạ lại chính là thái độ cốt yếu của tinh thần “Tám mối Phúc thật”, tinh thần “nghèo khó, khiêm hạ, yêu thương…”, tinh thần luôn biết đưa tay hướng mắt về phía Thiên Chúa với niềm tin yêu phó thác của những con người như Bà Góa bị loạn huyết 18 năm xứ Canaan, của người phung hủi ngoại bang được chữa lành, của viên sĩ quan có người tôi tớ đau nặng, của người đàn bà tội lỗi khóc lóc ăn năn, của những người thu thuế bị loại trừ như Gia-kê, Lê-vi, của các trẻ thơ xúm quanh để chờ được chúc lành hay của người kẻ trộm sắp sửa đi về bên kia thế giới với hy vọng sẽ được cứu độ trong Vương quốc phục sinh…

Rồi cũng chúng ta cũng biết được rằng: trên môi miệng của Đức Kitô luôn vang lên lời tri ân cảm tạ: “Lạy Cha, con tạ ơn Cha, vì Cha đã dấu…”

Và còn hơn thế nữa Ngài đã tạ ơn bằng chính 1 cuộc đời vâng phục mà chỉ trọn vẹn khi Ngài nói lời “Con phó thác hồn con trong tay Cha”. Đó chính là lời tạ ơn trọn hảo nhất bằng Hy Tế Thập Giá mà hôm nay trên mọi bàn thờ chúng ta đang tái diễn mỗi ngày.

2. Đức Trinh Nữ Maria và lời Tạ Ơn Magnificat:

Cảm tạ hồng ân của Thiên Chúa trong Đức Kitô, nhờ Đức Kitô và với Đức Kitô chính là con đường đức tin của Dân Chúa hôm qua, hôm nay và mãi mãi. Và may mắn thay, trong suốt chiều dài lịch sử của nhân loại suốt 2000 năm nay, đã có một “bài ca tạ ơn”, đã có một “cuộc đời tạ ơn” theo cung cách ấy. Đó chính là bài ca “Magnificat”, đó chính là “cuộc đời của Trinh nữ Maria”. Quả thật cuộc đời của Đức Mẹ được phản ảnh qua bài Magnificat mà Tin Mừng hôm nay vừa nhắc đến là mô hình sống động, là mẫu gương sáng ngời để nhân loại bước đi trong “con đường tạ ơn” Thiên Chúa, trên nẽo đường đáp trả hồng ân.

– Tạ ơn: trước hết là như Đức Maria dâng lên lời ngợi khen Thiên Chúa và hân hoan vì hồng ân cứu độ Ngài đã ân ban: “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa….”

– Tạ ơn: phải chăng như Đức Maria nhận ra “những việc lạ lùng Thiên Chúa đã thực hiện nơi tôi”.

– Tạ ơn phải chăng như Đức Maria luôn biết nhận ra bàn tay Thiên Chúa đưa ra nâng đỡ thân phận yếu hèn, lòng quảng đại Chúa mở ra để ban cho dư đầy ơn phúc.

-Tạ ơn phải chăng là luôn xác tín mãnh liệt và đầy lòng trông cậy vững vàng trước lời hứa và kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa: “Chúa độ trì Ít-ra-en, tôi tớ Người, như đã hứa cùng cha ông chúng ta. Vì Người nhớ lại lòng thương xót dành cho tổ phụ Áp-ra-ham và cho con cháu đến muôn đời”.

Và Mẹ đã hoàn tất lời tạ ơn tuyệt diệu đó vào Chiều Thứ Sáu trên đồi Can-vê khi Mẹ thay cho nhân loại dâng hiến lễ Tạ Ơn đầu tiên cùng với Con yêu dấu trên bàn thờ Thánh Giá.

3. Sống chiều kích Tạ Ơn trong nhỏ nhặt đời thường:

Qua lời kinh Tạ Ơn Magnificat của Đức Maria, và nhất là, qua cuộc đời đã trở nên Hy Tế TẠ Ơn của chính Đức Kitô, chúng ta cảm nhận được rằng:

– Thái độ Tạ Ơn, cuộc sống Tạ Ơn không chỉ là một hành vi mang tính “thời sự’, “cơ hội” đột xuất (như được khỏi cơn bệnh hiểm nghèo, thoát qua cơn hoạn nạn, tránh được hiểm nguy, làm ăn buôn bán trúng mánh, trúng số độc đắc…), nhưng “Tạ Ơn” phải là một thái độ, một nhịp sống, một cử hành thường xuyên, từng phút giây, mọi biến cố, trên mọi nẽo đường cuộc sống. Đó chính là cách ứng xử mà mấy ngàn năm trước, ông thánh Gióp đã từng nêu gương: “Chúa cho, Chúa cất lấy, xin cảm tạ ơn Chúa!”. Dĩ nhiên, có những thời điểm, có những biến cố dễ gợi mở tâm tình chúng ta hướng về Thiên Chúa trong thái độ tạ ơn đặc biệt…Nhưng không phải, chỉ tạ ơn trong những hoàn cảnh, những thời điểm đặc biệt thôi, còn ngoài ra thì “bàn tay ta làm nên tất cả”, có nhờ vả ai đâu, có khấn xin gì nào mà phải tạ ơn cám ơn…

– Bởi vì, chính khi chúng ta cử hành cuộc sống trong thái độ tạ ơn, chúng ta sẽ thấy cuộc đời mình nhỏ lại, khiêm hạ hơn, khó nghèo hơn, trái tim kiêu căng hợm hĩnh sẽ được biến đổi để trở nên nhỏ bé hiền lành, và từ đó con mắt tâm hồn sẽ khám phá ra muôn vạn hồng ân của Cha trên trời vây bọc xung quanh. Ngày hôm nay, hơn lúc nào hết, cái nảo trạng ‘đương nhiên” của chủ nghĩa duy vật vô thần đang âm thầm hay mãnh liệt len lỏi vào mọi ngỏ ngách của cuộc sống. Vì đã lý luận như thế: “đương nhiên trái cấm nầy thuộc về tôi, địa đàng nầy là của tôi, tôi cóc cần Thiên Chúa với những luật lệ của Ngài…” mà A-đam và E-Va đã đẩy nhân loại vào vũng lầy nguyên tội. Cũng vì lý luận như thế: tôi khỏi phung cùi chắc là do số phận run rủi, là tới lúc phải được như thế, chứ ông Giêsu nào có can thiệp gì đâu… nên chín người phung cùi được khỏi bệnh đã không thèm trở lại tạ ơn Chúa Giêsu! Còn chúng ta hôm nay thì sao. Có thấy được “phép lạ tình yêu của Thiên Chúa” ghi dấu ấn trên đời thường cuộc sống mỗi ngày để ngước mắt tạ ơn, hay chỉ là những thở dài oán trách Chúa vì đã van xin bao điều mà sao vẫn cứ hoài vô vọng. Có thấy bàn tay quan phòng của Thiên Chúa tế nhị ấp yêu trên mọi biến cố cuộc đời để cảm tạ tri ân, hay chỉ thấy mọi sự là “đương nhiên” để cóc cần phải tính sổ với Thiên Chúa.

Trong giờ phút thiêng liêng khi trời đất sắp sửa giao mùa, chúng ta có dịp ngồi lại với nhau trước mặt Chúa để nhờ ánh sáng của Lời Ngài mà nhìn lại cuộc sống, mà cảm nhận muôn vạn hồng ân Chúa đã ân ban trong suốt một năm. Và điều quan trọng hơn hết, phải chăng là chúng ta được cùng với Đức Kitô dâng Hy Tế Tạ Ơn nầy như một nghĩa cử của lòng hiếu thảo mến yêu, của tâm tình tri ân cảm mến; và cũng chính qua sứ điệp của lời kinh tạ ơn Magnificat của Đức Trinh Nữ Maria, chúng ta được gọi mời từ hôm nay, biết mở lòng đón nhận và khám phá muôn điều kỳ diệu Chúa đã làm, để từ đó biến cuộc sống trở thành “Lời ca khen cảm tạ Magnificat”:

Lm.Tổng linh hướng GĐPTTTCG

Suy niệm Tin Mừng (Lc 17, 11-19)

– Lược ghi: Pet. Minh Sơn – Tư liệu: Jos. Hoàng Mạnh Hùng

Trong đời sống cá nhân hoặc trong mỗi gia đình cũng thế, những gì chúng ta có được là do tình yêu thương của Thiên Chúa. Chúng ta làm được chút gì đó chỉ là nhỏ bé thôi, còn mọi sự là do Chúa. Tâm tình khiêm tốn đó sẽ giúp chúng ta luôn nhớ và biết tạ ơn Chúa, giúp chúng ta thành con cái đích thực của Thiên Chúa.

Bổn phận của chúng ta là phải biết tạ ơn Thiên Chúa, đó là tâm tình không thể thiếu được trong cuộc sống con người. Bởi lẽ Thiên Chúa không tạo dựng thì chẳng có chúng ta. Chúa ban sự sống và cả vũ trụ này cho chúng ta thừa hưởng. Đó chính là tất cả tình thương của Thiên Chúa, và có thể nói tất cả những gì chúng ta có được đều từ nguồn sống của Thiên Chúa. Thế nhưng, nhận ra điều này và tỏ lòng biết ơn Chúa thì loài người chúng ta rất thiếu sót, nếu không muốn nói rằng thật là vô ơn bạc nghĩa đối với Thiên Chúa; bởi vì chúng ta được Chúa ban cho, nhưng rất ít khi có tâm tình biết tạ ơn. Hình ảnh trong bài Tin Mừng hôm nay chứng minh cho chúng ta thấy, mười người phong cùi được chữa lành nhưng chỉ có một người biết quay về tạ ơn Chúa.

Đối với Chúa Giêsu, Người không có sự tránh né. Đến lượt người phong hủi cần Chúa thì Người đã chạm tay chữa lành cho họ, bất chấp cả lề luật. Chúa chỉ nói một câu đơn giản: “Hãy đi trình diện với các tư tế” (Lc 17, 14). Trình diện với tư tế để được chứng nhận là đã lành sạch, khỏi bị ô uế, và được tái nhập vào cộng đoàn. Theo cách nói ngày nay là khỏi bị “rút phép thông công”, mà được hiệp thông với cộng đoàn.

Với mười người phong hủi sau khi được chửa khỏi bệnh, coi như mình là người đã chết mà nay được sống lại, dĩ nhiên điều đáng làm trước tiên là họ phải biết tạ ơn người đã chữa lành cho mình. Thế nhưng, chỉ có một trong số mười người quay trở lại để tạ ơn, mà đó lại là người Samari. Theo Kinh Thánh, người Samari là dân ngoại. Có lẽ vì lý do sâu xa là dân ngoại thì đâu có tư tế để đi trình diện, nên chỉ biết quay về với Chúa thôi; còn chín ông kia là dân Do Thái nên chỉ biết vâng lời Chúa dạy, có thể sau khi đi gặp tư tế phải lo nhiều thủ tục nghi thức mất thời gian, hoặc được về sum họp gia đình thì quá mừng vui bận rộn không còn thời giờ quay lại tạ ơn, thậm chí quên đi cả việc tạ ơn Thiên Chúa, hay có thể là muốn quay lại nhưng chẳng biết có gặp được Chúa hay không!

Rất nhiều lần trong cuộc sống của chúng ta bắt gặp điều này. Khi chúng ta đi khám chữa bệnh, luôn cầu xin Chúa ban cho điều này điều kia. Đến lúc được Chúa nhậm lời ban cho khỏi bệnh thì mình cũng là người chậm tạ ơn, lâu dần rồi thành quên luôn, vì bận bịu như chín người đi gặp tư tế. Đôi khi chính vì hình thức luật lệ đã làm cho chúng ta quên mất nghĩa tình đối với Chúa, quên đi bổn phận phải tạ ơn Thiên Chúa. Trong khi người Samari vì là dân ngoại nên không bị ràng buộc chi phối vì lề luật của người Do Thái, thì việc đầu tiên của anh ta là quay lại để tạ ơn. Hi vọng cuộc sống của mỗi người chúng ta có thể nhập vai những người phong hủi này để rút ra được bài học cho riêng mình đối với Thiên Chúa.

Cách riêng về hội đoàn Gia đình Phạt tạ Thánh Tâm trong giáo hạt, năm qua đã phát triển được hai xứ đoàn. Đó là một điều mà nhìn lại như trong mơ, vì điều mơ ước mà ai cũng mong muốn làm sao cho các giáo xứ đều có đoàn thể Phạt tạ. Chúa đã ban cho ước mơ này trở thành hiện thực, vì lẽ chúng ta sống khiêm nhường và hiền lành theo tinh thần của Chúa Giêsu và được Chúa đã nhậm lời chúng ta cầu xin.

Chúa đã ban cho chúng ta rồi, nhưng điều quan trọng cần lưu ý là nhiều khi chúng ta lo làm về hình thức mà quên cân đối tổ chức, quên đi tinh thần hiền lành khiêm nhường phục vụ, quên mất tâm tình tạ ơn. Muốn tạ ơn thì phải có sự khiêm tốn và hiền lành, bởi vì khi đạt được nhiều thành công quá sẽ trở nên ỷ lại vào sức mình, sinh ra kiêu căng ngạo mạn, cho mình là hay; lúc đó còn đâu tinh thần của Chúa để được chúc lành.

Những thành công hôm nay nơi xứ đoàn mình hay giáo hạt mình chỉ là công sức đóng góp nho nhỏ của chúng ta đối với Chúa, còn tất cả là của Chúa. Chúng ta nên luôn luôn sống thiết thực trong tâm tình tạ ơn, mọi của cải không phải của mình mà là của Chúa. Luôn sống đẹp lòng Chúa thì Chúa sẽ chúc lành cho công việc chúng ta. Mỗi xứ đoàn trong giáo hạt đều phải cần xây dựng tâm tình là tất cả những gì chúng ta làm được đều là của Chúa, qua đó chúng ta sẽ nói được rằng: “Chúng con chỉ là những đầy tớ vô dụng, chúng con chỉ làm việc theo bổn phận đấy thôi” (Lc 17, 10).

Trong đời sống cá nhân hoặc trong mỗi gia đình cũng thế, những gì chúng ta có được là do tình yêu thương của Thiên Chúa. Chúng ta làm được chút gì đó chỉ là nhỏ bé thôi, còn mọi sự là do Chúa. Tâm tình khiêm tốn đó sẽ giúp chúng ta luôn nhớ và biết tạ ơn Chúa, giúp chúng ta thành con cái đích thực của Thiên Chúa. Đứng trước sự vong ân bội nghĩa của loài người, những đoàn viên Gia đình Phạt tạ Thánh Tâm Chúa sẽ trở thành những người luôn luôn biết xác tín tạ ơn Chúa, bằng những tâm tình yêu thương trong cử chỉ, lời nói, việc làm của chúng ta, để bù lại sự thiếu sót mà nhân loại đã lãng quên trước tình yêu bao la của Thánh Tâm Chúa dành cho mọi người.

Thánh lễ tạ ơn hôm nay là để nhắc nhở và cũng là dịp để chúng ta hiệp thông dâng lên Chúa tâm tình tạ ơn, đền bù phạt tạ; vì những thiếu sót mà nhân loại đã quên đi bổn phận cảm tạ, trước những hồng ân Chúa đã thương ban trong suốt năm qua./-

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dùng hạt giống và hạt cải làm ví dụ để nói về Nước Thiên Chúa.

Nước Thiên Chúa được thiết lập giống hệt như một tiến trình gieo gặt trọn vẹn: từ hạt giống, hạt nẩy sinh thành cây, rồi thành bông lúc. Như người dân Palestina, sau khi gieo hạt giống, họ âm thầm chờ đợi lúa chín để gặt hái, chứ không hề biết hạt giống được gieo xuống đất đã phát triển như thế nào: Chúa Giêsu cũng gieo hạt giống Nước Trời nơi tấm lòng con người, cùng với ơn Chúa, Nước đó âm thầm phát triển lan rộng khắp thế giới, tạo nên mùa gặt các linh hồn. Chúa Giêsu chỉ đích thân có mặt trong mùa gieo giống và mùa gặt hái. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian chờ đợi, Ngài vẫn tiếp tục hoạt động một cách vô hình, qua Chúa Thánh Thần và Giáo Hội. Khi Nước Thiên Chúa đã phát triển đến mức tối đo, Ngài sẽ trở lại trong vinh quang, thu hoạch mùa gặt của Ngài.

Dụ ngôn hạt cải là dụ ngôn cuối cùng trong năm dụ ngôn về Nước Thiên Chúa. Cũng như các dụ ngôn trước, dụ ngôn này được rút ra từ đời sống thôn dã. Nó đưa ra một nét tương phản hấp dẫn: hạt cải nhỏ xíu trở thành một cây to lớn. Nước Thiên Chúa cũng mang nơi mình một nghịch lý tương tự: Dưới cái nhìn của thánh Marcô, dụ ngôn hạt cải chứa đựng cách diễn tả tuyệt vời về bí mật Mêsia. Cho đến lúc này, hành vi của Chúa Giêsu có thể bị coi là vô nghĩa và Nước Thiên Chúa vẫn chỉ là một thực tế khiêm tốn. Dù vậy, các dân ngoại đang nhìn thấy sự tăng trưởng dị thường của nó như các Kitô hữu ở Rôma đã kinh nghiệm được điều này. Chính Giáo Hội tiên khởi, dù yếu đuối, vẫn ý thức được mình đang tham dự vào sự thành công của một công trình đã sẵn tiềm tàng nguồn sinh lực vô biên, công trình này sẽ đạt tới mức hoàn vũ vào cuối giai đoạn phát triển của nó.

Hạt giống đã trải qua một quá trình phát triển âm thầm trước khi tới mùa gặt; hạt cải được trồng dưới đất cũng phải trải qua một quá trình cho đến khi trở thành một cây lớn. Trong những bổn phận dù âm thầm hằng ngày, chúng ta hãy tin tưởng phó thác cho quyền năng yêu thương của Chúa, chính Ngài sẽ làm cho công việc chúng ta thực hiện theo ý Chúa đạt tới kết quả vượt quá sức tưởng tượng của chúng ta, và như vậy chúng ta sẽ làm ích cho chính bản thân, cho tha nhân và cho Nước Chúa. Xin Chúa củng cố chúng ta trong niềm xác tín đó.

(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

Người nói: “Chuyện Nước Thiên Chúa thì cũng tựa như chuyện một người vãi hạt giống xuống đất. Đêm hay ngày, người ấy ngủ hay thức, thì hạt giống vẫn nảy mầm và mọc lên, bắng cách nào thì người ấy không biết.” (Mc. 4. 26-27)

“Chuyện Nước Thiên Chúa thì cũng tựa như …”, Chúa Kitô nói với chúng ta như vậy mà, …

Ta hãy kiên nhẫn và tin tưởng!

Chúa còn kể dụ ngôn thứ hai, dụ ngôn hạt cải, để ta thêm vững lòng. Thực vậy, Chúa đặt đối chọi nhau hai sự thể: một bên là cái mong manh bé nhỏ, bên kia lại là những kết quả to lớn đạt được. “Cây cải mọc lên lớn hơn mọi thứ rau cỏ, cành lá xum xuê, đến nỗi chim trời có thể làm tổ dưới bóng”.

Chúng ta không thường sống sự tương phản này sao, sự tương phản giữa một bên là những dấu chỉ mong manh, còn bên kia là những kết quả to lớn đạt được? Tất cả đời sống bí tích chỉ là việc xử dụng một loại hạt giống nhỏ nhất để rồi hạt giống đó trở thành một dấu chỉ sinh ân sủng vô vàn của Chúa.

Chỉ có ai yêu mến mới hiểu được

Sau cùng, những dụ ngôn này kết thúc với lời ghi nhận rằng khi chỉ có thầy trò với nhau, thì Chúa Giêsu giải nghĩa hết cho các Tông đồ. Sự gắn bó, gần gũi với Chúa giúp ta tiến tới Người vượt xa mức bình thường mà quần chúng có thể tiếp cận được, bởi vì xét cho cùng người ta chỉ có thể hiểu biết rõ được một người khi ta yêu mến người đó.

Sau khi kể lại một loạt dụ ngôn mà Đức Giê-su đã dùng trong lời giảng của mình, dụ ngôn người gieo giống, dụ ngôn cái đèn, dụ ngôn đấu đong, dụ ngôn hạt giống và dụ ngôn hạt cải, thánh sử Mác-cô kết luận:

Người không bao giờ nói với họ mà không dùng dụ ngôn.

Câu nói này của thánh Mác-cô rất là triệt để và chúng ta cần lưu tâm cách đặc biệt; bởi lẽ theo đó, dụ ngôn không chỉ là một trong những cách thức giảng dạy của Đức Giê-su, nhưng còn là chính cách thức giảng dạy của Người; hay ít nhất chúng ta có thể nói rằng, một mình cách giảng dạy bằng dụ ngôn đủ để diễn tả toàn bộ lời giảng của Đức Giê-su. Một nhà chú giải còn đi xa hơn khi nói rằng, Đức Giêsu là “Dụ Ngôn của Thiên Chúa” cho con người. Trong bài tin Mừng hôm nay, thánh sử Mác-cô, trong bài Tin Mừng hôm nay còn nói:

Nhưng khi chỉ có thầy trò với nhau, thì Ngài giải thích hết.

Ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm về sự khó hiểu của các dụ ngôn, cũng giống như các môn đệ xưa; và vì thế chúng ta cảm thấy có nhu cầu học hỏi. Đúng là phải học, nhưng điều này vẫn chưa đủ, thậm chí không phải là yếu tố quyết định; bởi lẽ lời Chúa hôm nay muốn nói với chúng ta rằng chúng ta cần ở lại với Đức Giê-su (thay vì thấy khó rồi bỏ đi), im lặng lắng nghe chính Ngài giải thích. Chính tương quan thiết thân với Đức Kitô, và sự hiểu biết Đức Kitô mà thánh Phaolô nói tới trong thư Phi-líp-phê mới là quyết định để hiểu các dụ ngôn: “Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi” (Phil 3, 8)

Những dụ ngôn mà Đức Giêsu kể luôn là một câu chuyện đến từ kinh nghiệm đời thường và từ thiên nhiên. Nhưng các dụ ngôn lại nói cho chúng ta những điều kín ẩn: kín ẩn về Thiên Chúa, kín ẩn về con người, kín ẩn về mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người và giữa con người với nhau, kín ẩn về chương trình cứu độ của Thiên Chúa, kín ẩn về Nước Trời. Chúng ta được mời gọi nhớ lại bao nhiêu có thể những dụ ngôn mà Đức Giêsu đã kể trong các Tin Mừng và xin Chúa dẫn chúng ta vào “những điều kín ẩn” ở bên dưới các dụ ngôn, như thánh sử Mát-thêu nói:

Tất cả các điều ấy, Đức Giê-su dùng dụ ngôn mà nói với đám đông; và Người không nói gì với họ mà không dùng dụ ngôn, hầu ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ: Mở miệng ra, tôi sẽ kể dụ ngôn, công bố những điều được giữ kín từ tạo thiên lập địa.

Dụ ngôn hạt giống và hạt cải

Khi nói đến Nước Thiên Chúa, chúng ta thường nghĩ ngay đến năng lực của con người: con người yếu đuối, tội lỗi, bất lực; thế giới và xã hội chúng ta đang sống đầy hỗn mang, lệch lạc, ô nhiễm… Nhưng, để giúp chúng ta hiểu mầu nhiệm Nước Thiên Chúa, lời của Đức Giêsu lại mời gọi chúng ta chiêm ngắm năng lực của thiên nhiên, đúng hơn là năng lực của một trong những điều nhỏ bé nhất của thiên nhiên, để nhận ra điều kì diệu vượt qua mọi nỗ lực của con người: “

Chuyện Nước Thiên Chúa thì cũng tựa như chuyện một người vãi hạt giống xuống đất… Nước Thiên Chúa giống như hạt cải, lúc gieo xuống đất, nó là loại hạt nhỏ nhất trên mặt đất.

Đó là năng lực của hạt lúa, đó là năng lực của hạt cải. Đúng là trong hai dụ ngôn nhỏ này, Đức Giê-su hình như xem nhẹ công sức của con người. Tuy nhiên, đó lại là sự thật của muôn đời: dù con người có cố mấy đi nữa cũng không thể thay thế được sức sống của thiên nhiên, dù hiểu biết khoa học của con người có tiến bộ mấy đi nữa cũng không thấu hiểu được thiên nhiên, nhất là sự sống trong thiên nhiên. Nhưng xét cho cùng, với những dụ ngôn này, Đức Giêsu không muốn dạy chúng ta về thế giới thực vật, nhưng Ngài mời gọi chúng ta hãy chiêm ngắm thiên nhiên để cảm nghiệm được năng lực ẩn dấu nhưng thật mạnh mẽ và kì diệu của Nước Thiên Chúa, của Hạt Giống Giê-su, ngang qua mầu nhiệm Vượt Qua, nẩy mầm, thành cây, trỗ đòng đòng và thành “bông lúa nặng trĩu hạt”.

Thật vậy, hai dụ ngôn hạt giống và hạt cải thật nhỏ bé và rất tự nhiên (nghĩa là không có những yếu tố “lạ thường” mà các dụ ngôn thường có), nhỏ bé và tự nhiên như chính hình thức (rất ngắn) và nội dung của dụ ngôn (hạt giống và hạt cải nhỏ bé khiêm tốn). Tuy nhiên, niềm hy vọng mà hai dụ ngôn này có thể khơi dậy nơi tâm hồn người nghe thì rất to lớn và rất siêu nhiên:

Niềm hy vọng to lớn. Bất chấp tất cả, bất chấp Sự Dữ, bất chấp những hoàn cảnh khó khăn hay bất lợi, bất chấp những giới hạn, yếu đuối, tội lỗi của loài người, của người khác, của anh em, của chị em và của chính chúng ta, bất chấp hạt giống rất nhỏ bé mong manh đang có trong thế giới, trong cộng đoàn và trong lòng chúng ta, Nước Trời mà chúng ta hy sinh cả đời để xây dựng trong đời sống dâng hiến, tất yếu sẽ hiện hữu, lớn mạnh và đạt tới sự viên mãn. Hình ảnh đồng lúa trĩu hạt và chín vàng và hình ảnh cây cải cành lá sum suê đến độ chim trời làm tổ trên cành được diễn tả sự viên mãn tất yếu của NT.

Niềm hy vọng siêu nhiên. Bởi vì đó chỉ có thể là công trình của Thiên Chúa, công trình kì diệu diễn ra trước mắt chúng ta. Thật ra, ngay trong tiến trình lớn lên tự nhiên của hạt lúa và hạt hạt cải đã có điều gì đó là siêu nhiên rồi, trong mức độ con người không thấu suốt và làm chủ được hoàn toàn.

Điều mà hai dụ ngôn này muốn diễn tả, đang được thực hiện cho cộng đoàn chúng ta, cho từng người chúng ta mỗi ngày ngang qua việc đọc và cầu nguyện với Lời Chúa, ngang qua Thánh Lễ được cử hành và ngang qua ngày sống được nuôi dưỡng bằng Lời và Mình của chính Đức Ki-tô. Từng ngày và từng ngày, dù bất cứ điều gì đã xẩy ra trong nội tâm của chúng ta, tất cả chúng ta, từng người và cả cộng đoàn, đã được Chúa gieo hạt giống. Hạt giống thật nhỏ bé và mong manh, nhưng tất yếu sẽ tạo nên mùa màng bội thu và trở nên to lớn và bền vững. Bởi vì đó là sức mạnh tất yếu của Lời Chúa. Hạt giống chính là Lời Chúa. Như chính Đức Chúa đã tuyên bố:

Lời TA, một khi xuất phát từ miệng ta, sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả, chưa thực hiện ý muốn của Ta, chưa chu toàn sứ mạng Ta giao phó.

Trong bữa tiệc li, theo Tin Mừng Gioan, Đức Giêsu nói: ” Anh em là bạn của Thầy ” và ” Không có ai có tình yêu lớn hơn người từ bỏ sự sống cho những người bạn của mình ” (Ga 15, 13-14). Qua hành vi trao bánh và rượu cho các môn đệ, qua hành vi rửa chân của các ông, Đức Giêsu muốn Phê-rô và tất cả chúng ta hiểu ra rằng Ngài không chỉ muốn gieo Lời của Ngài, nhưng còn muốn gieo chính bản thân của Ngài. Vì Lời của Ngài và Ngôi Vị của Ngài là một. Hạt giống là chính Đức Giê-su, là Sự Thiện và Sự Sống nơi Người, mạnh hơn Sự Dữ và Sự Chết, chính vì vậy mà sự viên mãn của Nước Trời là tất yếu.

Trong thiên nhiên, mầu nhiệm Nước Thiên Chúa được ghi khắc, và không chỉ mầu nhiệm Nước Thiên Chúa, nhưng đỉnh cao của mầu nhiệm Nước Thiên Chúa, nghĩa là mầu nhiệm Vượt Qua, cũng được khi khắc trong thiên nhiên, khi Đức Giêsu nói:

Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.

Đức Giê-su ví lời của mình và chính bản thân mình với hạt giống. Như thế, trong thiên nhiên, còn ghi khắc mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô. Và nếu trong thiên nhiên, mầu nhiệm Nước Thiên Chúa và mầu nhiệm Vượt Qua được ghi khắc thật rõ nét, thì trong lịch sử loài người, trong thế giới và xã hội chúng ta đang sống và trong chính cuộc đời của mỗi người chúng ta, mầu nhiệm Nước Thiên Chúa và mầu nhiệm Vượt Qua còn được ghi khắc rõ nét hơn biết bao. Có thể nói, cuộc đời của chúng ta như thế đó cũng là một dụ ngôn nói về Nước Thiên Chúa, về mầu nhiệm Vượt Qua.

Xin cho con tim chúng ta bừng cháy, khi nhận ra “điều kín ẩn” này và quảng đại mở lòng ra để cho Chúa Thánh Thần hoàn tất mầu nhiệm Nước Thiên Chúa và mầu nhiệm Vượt Qua nơi cuộc đời của chúng ta.

Bài hát “Nhật Ký Đời Tôi” của nhạc sĩ Thanh Sơn có đoạn nói về phút chạnh lòng nhìn lại cuộc đời: “Ngược thời gian trở về quá khứ phút giây chạnh lòng. Bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu ân tình chỉ còn lại con số 0. Ai thương ai rồi và ai quên nhau rồi? Trong suốt cuộc đời tương lai trả lời thôi…”

Trong bối cảnh của ngày cuối năm Âm Lịch, chúng ta cũng có dịp nhìn lại suốt một năm qua với bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu ân tình, giờ còn lại điều gì? Chúng ta đã thương ai và đã quên ai, chúng ta đã làm được gì cho Chúa và cho nhau… Hay tất cả chỉ còn là con số không?

Xuất xứ của lời kinh Magnificat cho đến nay vẫn chưa hết những tranh luận của nhiều nhà thần học, nhưng dựa theo chính những lời được thốt ra trong lời kinh “Từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc” mà đặc ân “đầy ơn phúc” lúc này chỉ có nơi Mẹ Maria và được khẳng định qua sứ thần Gabriel cũng như của bà Elisabeth, nên ta không nghi ngờ gì nữa mà chắc chắn lời kinh này được hát lên từ môi miệng Mẹ Maria, ca ngợi lòng thương xót của Chúa đã thực hiện lời hứa cứu chuộc dân Người. Tuy lời kinh hoạ lại tâm tình của bà Anna mẹ của Samuel (x. 1Sm 2, 1- 10) cùng với những chắt lọc ý nguyện của các lời kinh Cựu Ước đương thời, nhưng quan trọng hơn cả là được đọc trong một tâm tình của một người nữ tỳ được chọn làm Mẹ Thiên Chúa và cộng tác trực tiếp trong chương trình cứu độ.

Kinh Magnificat được khởi đầu bằng niềm vui của một con người được cứu độ (x. Lc 1, 47), kế đến nói lên lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho những ai hèn mọn (x. Lc 1, 48- 53) . Đặc biệt, điều được nói đến nhiều nhất là sự đối nghịch giữa thế lực giàu và người nghèo bị áp bức, và Thiên Chúa đã yêu thương cứu giúp người nghèo khó khiêm hạ.

Có thể nói, Mẹ Maria đã cất lên bài ca của những người bị áp bức, mà trong đó Mẹ và bà Elisabeth diễn tả mối bận tâm của mình dành cho dân Israel. Mẹ Maria đã nhận vào trong con người của Mẹ một cảm thức và mối bận tâm của bà Anna sau khi bà này sinh hạ Samuel, và ca ngợi về tất cả những điều này vào trong một bài ca biết ơn. Luca giữ lấy cảm thức này cho chúng ta trong kinh Magnificat mà ngài đặt như là một lời dẫn cho việc công bố của Đức Giêsu về sứ mạng của Người là giải phóng người nghèo và những kẻ bị bỏ rơi (Lc 4, 18- 19).

Cụm từ “tapeinoi” hoặc “anawim” theo ngôn ngữ Hy Lạp muốn nói về một người nghèo bình thường, không quyền hành, không ảnh hưởng. Khi hát lên lời này, Đức Maria như muốn tuyên bố, Thiên Chúa không đánh giá con người theo tiêu chuẩn trần thế. Những con người thành đạt, giàu sang và leo lên đỉnh cao quyền lực, có lẽ sẽ làm cho mọi người kính nể và sợ sệt, nhưng đối với Thiên Chúa thì không. Giàu sang và quyền lực trần thế chỉ là thứ chóng qua như “con người chóng qua như cỏ”. Thiên Chúa chú tâm đến người góa bụa, trẻ mồ côi, người hèn mọn, những con người không có chút quyền hành gì, những con người vô tích sự trước mắt người đời. Kẻ giàu sang quyền thế thường thoả mãn về mình; người nghèo hèn chỉ trông cậy vào Thiên Chúa. Kinh Magnificat là tuyên ngôn: Thiên Chúa là Thiên Chúa của người nghèo và người bị áp bức; phúc cho người nghèo vì có Thiên Chúa là Đấng luôn chăm sóc họ. Mẹ Maria là mẫu gương sự nghèo khó và lời kinh Magnificat mà Mẹ hát lên phản ánh việc Mẹ đứng về phía những người bị áp bức. Điều này làm cho lời kinh này mang một tính cách mạng vĩ đại: cần phải thay đổi vị trí xã hội để mọi người được bình đẳng trước mặt Thiên Chúa.

Kính mời Mẹ cùng vào nhà chúng ta, cùng đến gia đình chúng ta để cùng “ăn tất niên” và ca ngợi Thiên Chúa với chúng ta.

Một năm với tháng ngày dần trôi, giờ chúng ta đang sống là thời khắc cuối cùng của năm cũ 2016, và chuẩn bị bước vào năm mới 2017, thời khắc thật linh thiêng. Vào dịp tạ ơn cuối năm, Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi các tín hữu cảm tạ và chúc tụng Thiên Chúa vì những hồng ân đã nhận lãnh trong năm qua, đồng thời xét mình và kiểm điểm những gì xảy ra trong năm 2016. Ngài nói : “Giờ này đây, chúng ta cần đặc biệt tập trung vào những dấu chỉ Thiên Chúa đã ban, để cảm nghiệm cụ thể sức mạnh tình yêu thương xót của Thiên Chúa. Chúng ta không thể quên bao nhiêu ngày ghi đậm bạo lực, chết chóc, đau thương khôn tả của bao người vô tội, những người tị nạn buộc lòng phải rời bỏ quê hương, những con người nam nữ và trẻ em không còn gia cư nhất định, thiếu lương thực và kế sinh nhai. Dầu vậy cũng có bao nhiêu cử chỉ tốt lành, yêu thương và liên đới diễn ra trong những ngày tháng của năm cũ, mà không được các bản tin tức nói tới! Không thể để cho quyền lực sự ác che khuất những dấu chỉ tình thương ấy. Sự thiện luôn chiến thắng, cho dù có lúc sự thiện xem ra yếu ớt và âm thầm” (Bài giảng Kinh Chiều cuối năm 2015). Vì thế chúng ta phải dâng lời cảm tạ Chúa.

Một năm sắp kết thúc, người kitô hữu chúng ta dựa trên Thánh Kinh thấy thời gian không mang tính tuần hoàn mà là một đường thẳng: thời gian là con đường dẫn đến chung cuộc, nên một năm trôi qua là một bước đi hướng đến sự hoàn tất của lịch sử, đến cứu cánh của nhân loại là hy vọng và vui mừng được gặp Chúa, thì việc tạ ơn này thật là ý nghĩa.

Trong giờ phút linh thiêng này chúng ta dâng lời tạ ơn Chúa. Bởi lẽ, tạ ơn là thái độ căn bản của người Kitô hữu đối với Thiên Chúa, Isaia dạy chúng ta phải dâng lời ca tụng Chúa, “vì tất cả những gì Đức Chúa đã thực hiện cho chúng tôi vì lòng nhân hậu lớn lao của Người… bởi lòng Người đầy thương xót và lắm nghĩa giầu ân” (Is 63,7). Thật phù hợp với Năm Thánh Lòng Thương Xót chúng ta đang sống. Thánh Phaolô viết : “Chúc tụng Thiên Chúa, là thân phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Trong Đức Giêsu Kitô, từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần” (Ep 1,3). Thánh Gioan khẳng định : “Mọi vật đều do Người làm nên và không có Người, thì chẳng vật chi được tác thành” (Ga 1,3) Như vậy, đứng trước một Thiên Chúa cao cả và quyền năng, đã ban cho chúng ta tất cả, việc tạ ơn Chúa là việc cần thiết và chính đáng.

Thật là đẹp, khi giờ đây chúng ta đồng thanh hiệp ý với Mẹ Maria ca tụng những điều kỳ diệu của Thiên Chúa đã và còn đang thể hiện trong lịch sử : Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, vì Người đã và còn đang biểu lộ quyền năng của Ngài… đã và còn đang làm tan rã những kẻ kiêu căng… đã và còn đang hạ xuống người quyền thế… đã và còn đang nâng dậy kẻ khiêm cung… đã và còn đang ban tràn đầy ơn lành cho người đói khát… đã và còn đang đuổi người giàu có ra về tay không… đã và còn đang cứu giúp Israel Dân Người. Ðó là bảy hành động của Thiên Chúa là Chúa của lịch sử: Người luôn đứng về phía những kẻ thấp hèn nhất, những kẻ được Thiên Chúa tuyển chọn, những ai kính sợ Người, trung thành với Lời Người; đó là những kẻ khiêm tốn, những kẻ đói khát; đó là Israel người tôi tớ trung thành của Người; đó là cộng đồng dân Chúa, được kết thành bằng những kè nghèo hèn, trong sạch và đơn sơ trong tâm hồn, như Mẹ Maria. Lời của thánh Phaolô nhắn nhủ với tín hữu Thêxalônica xưa kia, nay ngài muốn nói với mỗi người chúng ta rằng: “Anh em hãy vui mừng luôn mãi và cầu nguyện không ngừng. Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu” (1 Tx 5, 16-18). Chúng ta cảm tạ Chúa, về ân huệ Người đã thương ban (1Cr 1, 3-9). Cảm tạ Chúa và xin Chúa thứ tha, kèm theo lòng phó thác cho Chúa năm mới sắp tới.

Cũng vào dịp cuối năm, cùng với việc tạ ơn, Đức Thánh Cha Phanxicô còn thức tỉnh con cái mình : “Chúng ta được kêu gọi kiểm điểm xem những thế sự có được thực hiện theo ý Thiên Chúa hay là chúng ta chỉ ưu tiên lắng nghe những dự án của con người, nhiều khi đầy những tư lợi, lòng khao khát quyền lực vô độ và bạo lực vô cớ” (Bài giảng Kinh Chiều cuối năm 2015). Nên chúng ta phải tạ lỗi với Chúa và với mọi người nữa. Tạ lỗi để nói lên lòng sám hối, ăn năn. Tạ lỗi về những điều thiếu sót, điều gì còn chưa chu toàn, điều gì chưa tốt, hoặc lỗi bác ái với tha nhân, hay chưa biết thương xót người như Chúa đã thương xót chúng ta. Xin Chúa thương tha thứ những lỗi lầm mà chúng ta đã phạm trong năm qua. Tương lai tùy thuộc ở Chúa, chúng ta phải có tinh thần phó thác.

Nhìn lại một năm đã qua, chúng ta thấy các biến cố lần lượt diễn ra : các thảm kịch về tai nạn hàng không, những vụ khủng bố người giết người giã man hơn, niềm vui và đau khổ, chiến thắng và thất bại, đạo đức con người như đang bị suy giảm tới mức báo động trong các ngành nghề, nạn tham nhũng theo cựu Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang đã trở nên giặc nội khó diệt, chúng ta đang phải đối mặt với thực tại.

Nhìn qua mọi sự, đến giờ phút này đây, chúng ta phải khẳng định rằng Thiên Chúa là chủ lịch sử, hướng dẫn các biến cố nhân loại. Chúng ta phó thác vận mệnh tương lai cho Chúa và thưa răbgf: “Lạy Chúa, chúng con đặt niềm tin tưởng nơi Chúa”!

Ngày Tết chúng ta sắm mặc, sửa ăn, ngày đầu năm chúng ta đi chúc tết nhau, con cháu tết ông bà cha mẹ, người dưới chúc tết người trên, với biết bao nhiêu lời chúc tốt đẹp,

Tâm Tình Tạ Ơn và Phó Thác

Suy Niệm Thánh lễ Tất Niên

Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương ( Tv 135)

Chúng ta đang cùng nhau sống những giờ phút cuối cùng của năm cũ, và chuẩn bị chia tay năm 2014, năm Giáp Ngọ, bước vào năm 2015, năm Ất Mùi với thời khắc thật linh thiêng. Vào dịp tạ ơn cuối năm, Đức Thánh Cha Phanxicô nói với chúng ta rằng : “Người tín hữu Kitô hữu dựa trên Thánh Kinh thấy thời gian không mang tính tuần hoàn mà là một đường thẳng: thời gian là con đường dẫn đến chung cuộc”. Đúng thế, nêu chúng ta nhìn lại một năm vừa trôi qua chính là một bước đi hướng đến sự hoàn tất của lịch sử, đến cứu cánh của nhân loại là hy vọng và vui mừng được gặp Chúa, thị việc tạ ơn này thật là ý nghĩa.

Chắc chắn mỗi người mang một tâm tình, vui, buồn, sướng, khổ, thành công hay thất bại. Nhưng giờ phút này đây, tất cả đều có chung một ý tưởng là tạ ơn và phó thác. Tạ ơn, vì Chúa đã cho chúng ta sống đến giờ phút này, còn gì thích hợp và ý nghĩa hơn khi chúng ta mặc lấy tâm tình của Mẹ Maria để hát vang lên tới Chúa : “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa… vì Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả” (Lc 1, 29-55). Lời của thánh Phaolô nhắn nhủ với tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca xưa kia, nay ngài muốn nói với mỗi người chúng ta rằng: “Anh em hãy vui mừng luôn mãi và cầu nguyện không ngừng. Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu.” (1 Tx 5, 16-18). Chúng ta cảm tạ Thiên Chúa, về ân huệ Người đã thương ban (1Cr 1, 3-9).

Nhìn lại trong năm qua, chúng ta thấy các biến cố lần lượt diễn ra : các thảm kịch và hy vọng, niềm vui và đau khổ, chiến thắng và thất bại; kinh tế thế giới tiếp tục lún sâu, thiên tai ngày càng khủng khiếp xuất hiện siêu bão, tai nạn dữ hơn, thời tiết khắc nghiệt hơn, hành vi người với người đối xử với nhau giã man hơn v.v…

Việt Nam chúng ta đang lún sâu vào cuộc khủng hoảng về nhiều phương diện từ đạo đức đến nhân văn, từ mô hình phát triển xã hội đến từng bước phát triển, từ lãnh đạo đến đường lối, từ kinh tế đến chính trị, từ ổn định xã hội đến an ninh quốc phòng, đạo đức con người như đang bị suy giảm tới mức báo động trong các ngành nghề như y học và giáo dục, nạn tham nhũng trở nên hệ thống hơn từ trên xuống dưới… chúng ta đang phải đối mặt với thực tại.

Nhìn qua mọi sự, đến giờ phút này đay, chúng ta phải khẳng định rằng Thiên Chúa là chủ lịch sử, Ngài hướng dẫn các biến cố nhân loại. Ngài đồng hành với con người và không ngừng thực hiện những điều vĩ đại. Làm sao chúng ta có thể không cám ơn Người vào đêm nay? Và nhất là trong năm Tân Phúc Âm Hóa Giáo xứ này, làm sao chúng ta có thể không dâng lên Người lời tuyên xưng: “Lạy Chúa, chúng con đặt niềm tin tưởng nơi Chúa”!

Giờ đây chúng ta mặc lấy tâm tình của Mẹ Maria hướng về trời cao và cất lên lời tạ ơn Thiên Chúa và phó thác nơi Ngài. Bởi lẽ, tạ ơn là thái độ căn bản của người Kitô hữu đối với Thiên Chúa, vì tất cả những gì con người có đều là hồng ân của Thiên Chúa.

Chúng ta đồng thanh hiệp ý với Mẹ ca tụng những điều kỳ diệu của Thiên Chúa đã và còn đang làm trong lịch sử : Người đã và còn đang biểu lộ quyền năng của Ngài… đã và còn đang làm tan rã những kẻ kiêu căng… đã và còn đang hạ xuống người quyền thế… đã và còn đang nâng dậy kẻ khiêm cung… đã và còn đang ban tràn đầy ơn lành cho người đói khát… đã và còn đang đuổi người giàu có ra về tay không… đã và còn đang cứu giúp Israel Dân Người.” Ðó là bảy hành động của Thiên Chúa là Chúa của lịch sử: Người luôn đứng về phía những kẻ thấp hèn nhất, những kẻ được Thiên Chúa tuyển chọn, những ai “kính sợ Người, trung thành với Lời Người; đó là những kẻ khiêm tốn, những kẻ đói khát; đó là Israel người tôi tớ trung thành của Người; đó là cộng đồng dân Chúa, được kết thành bằng những kè nghèo hèn, trong sạch và đơn sơ trong tâm hồn, như Mẹ Maria.

Thánh lễ này diễn ra vào giờ phút cuối cùng của năm 2014 Âm Lịch, đôi mắt chúng ta hướng nhìn lên Chúa là nguồn gốc và cùng đích của đời sống chúng ta. Vì không có Chúa, chúng ta sẽ không hiện hữu, không có Chúa sẽ chẳng có gì, hoàn toàn không có gì. Chúa là Đấng “vạn vật được tạo thành” (Ga 1, 13), Chúa là Đấng mà nhờ Chúa, chúng ta được tạo thành, và sống cho đến phút này đây. Không có Chúa, sự sống không thể đạt đến vận mệnh cuối cùng của nó. Không có Chúa sẽ chẳng có gì, hoàn toàn không có gì. Chính Người giúp chúng ta đối diện với các thách đố trong năm mới; chính Người ban cho chúng ta khả năng sử dụng đời sống để làm vinh danh Thiên Chúa và mưu ích cho nhân loại. Chúng ta hãy để tình yêu Ngài lôi cuốn cuộc đời ta.

Lúc này đây, chúng ta hãy đặc biệt nhớ tới và cầu nguyện cho những ai đang đau khổ, những ai đang gặp khó khăn và những ai đang sống trong buồn phiền, để khẩn cầu sự trợ giúp quan phòng của Chúa.

Cái nhìn của chúng ta giờ đây mở rộng ra hướng về gia đình, giáo họ, giáo xứ, giáo phận, toàn thể Hội Thánh và thế giới. Chúng ta hy vọng rằng Năm Mới sẽ đem lại hoà bình, công lý, tình huynh đệ và sự thịnh vượng cho tất cả mọi quốc gia! Nguyện xin Ðức Nữ Trinh Rất Thánh, Hừng Đông của thời đại mới, giúp chúng ta nhìn lịch sử đã qua và Năm Mới khởi đầu với con mắt đức tin. Xin cầu chúc một Năm Mới hạnh phúc đến với mọi người! Amen.

30+ Bài Thơ Chúc Tết Tân Sửu 2022 ❣️ Thơ Mừng Năm Mới / 2023

Symbols.vn chia sẽ bạn ❣️ 30+ Bài Thơ Chúc Tết Tân Sửu 2021 ❣️Thơ chúc mừng năm mới 2021 xuân Tân Sửu Hay Nhất Các Thể Loại dành tặng cho bố mẹ, thầy cô, bạn bè, ông bà, hài hước…

Thơ Chúc Tết 2021 Hay Nhất

Thơ chúc Tết nguyên đán, thơ chúc mừng năm mới 2021 luôn là món quà tinh thần rất ý nghĩa để chúc mừng gia đình, lãnh đạo, bạn bè, bằng hữu ngày đầu năm mới thành công, phát tài mà ai ai cũng thích nghe.

10 Bài Thơ Chúc Mừng Năm Mới 2021

Bài 1

Xuân đến hy vọng

Ấm no mọi nhà

Kính chúc ông bà

Sống lâu trăm tuổi

Kính chúc ba mẹ

Sức khoẻ dồi dào

Đôi lứa yêu nhau

Càng thêm nồng ấm

Bài 2

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua

Phúc lộc đưa nhau đến từng nhà

Vài lời cung chúc tân niên mới

Vạn sự an khang vạn sự lành

Năm mới chúc nhau sức khỏe nhiều

Bạc tiền rủng rỉnh thoải mái tiêu

Gia đình hạnh phúc bè bạn quý

Thanh thản vui chơi mọi buổi chiều

Đầu xuân năm mới chúc bình an

Chúc luôn tuổi trẻ chúc an khang

Chúc sang năm mới nhiều tài lộc

Công thành danh toại chúc vinh quang

Bài 3

Đong cho đầy Hạnh phúc.

Gói cho tròn Lộc tài.

Giữ cho mãi An Khang.

Thắt cho chặt Phú quý.

Cùng chúc nhau Như ý,

Hứng cho tròn An Khang,

Chúc năm mới Bình An.

Cả nhà đều Sung túc.

Bài 4

Năm mới Tết đến

Rước hên vào nhà

Quà cáp bao la

Mọi nhà no đủ

Vàng bạc đầy hũ

Gia chủ phát tài

Già trẻ gái trai

Sum vầy hạnh phúc

Cầu tài chúc phúc

Lộc đến quanh năm

An khang thịnh vượng.

Bài 5

Chúc mọi người đẹp như hoa hồng

Thành công như Cúc

Hạnh phúc như hoa Mai

Phát tài như hoa Pháo

Độc đáo như hoa Lan

An khang như hoa Huệ

Trí tuệ như hoa Sen

Bài 6

NĂM tròn xin tiễn tiết đông qua

MỚI đón xuân tươi đến mọi nhà

CHÚC tặng trên đời thêm chữ Hỷ

MỪNG vui khắp chốn cất lời ca

HẠNH dung lễ nghĩa ngời tâm ngọc

PHÚC lộc, công danh rạng ánh ngà

CHAN chát trống kèn, Lân hợp cảnh

HÒA đàn, tấu sáo rộn ràng ca

Bài 7

Năm mới chúc mọi người:

Tiền vào cửa trước

Tiền ra cửa sau

Hai cái gặp nhau chui vào két sắt

Một phần mua đất

Một phần mua vàng

Vẫn còn xông xênh

Ta đi du lịch

Bài 8

Cung chúc tân niên một chữ nhàn.

Chúc mừng gia quyến đặng bình an.

Tân niên đem lại niềm Hạnh Phúc.

Xuân đến rồi hưởng trọn niềm vui.

Bài 9

Cung Chúc Tân Xuân Phước Vĩnh Cữu

Chúc Trong Gia Quyến Được An Khương

Tân Niên Lai Đáo Đa Phú Quí

Xuân Đến An Khương Vạn Thọ Tường

Bài 10

CHÍN mười câu chúc rót vào đây

AN vui đón Tết “KHÔNG HAI KHÔNG”

KHANG thái mừng xuân “Tân Sửu” này

CÁT nhật vin cành dăm nhánh lộc

TƯỜNG hoa điểm xuyết mấy cành mai

HẠNH đào ngũ quả tròn mơ ước

PHÚC ấm đáo gia dạ ngất ngây

Những Bài Thơ chúc tết Bố Mẹ

1. “Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”

Tết này cúi chúc mẹ cha

Một năm sức khỏe thuận hòa gió mưa.

2. Ơn cha mẹ biển sâu

Con sao trả hết mái đầu phơ phơ

Xuân về cho phép con thơ

Kính chúc cha mẹ thọ như tiên trời.

3. Đi hết cuộc đời chưa thấu hết gian truân của mẹ

Bạc vàng núi núi không trả hết công cha

Cúi đầu cung chúc năm qua

Xuân sang cha mẹ tựa là xuân xanh.

4. Mẹ khỏe, cha vui năm hòa thuận

Phúc dầy, gia quyến ấm trong ngoài

An nhàn, tự tại bên con cháu

Như ý, bình an Tết ấm nồng.

5. Cầu cho mưa thuận gió hòa

Chúc cho cha mẹ khỏe ra mỗi ngày

Lo toan phiền muộn tan bay

Đầu xuân con chúc mẹ thầy an vui!

6. Nếu cho con ước một điều

Con xin cầu nguyện sớm chiều mẹ vui

Tết xin chúc mẹ thảnh thơi

Dồi dào sức khỏe, êm xuôi cửa nhà.

Thơ chúc tết ông bà

Năm cũ vừa qua

Bước sang năm mới

Hôm nay con tới

Kính chúc ông bà

Trẻ mãi không già

Yêu thương thuận hòa

Cửa nhà sung túc

Hạnh phúc khang an

Ơn trên thương ban

Suốt năm may mắn.

Xuân đến hy vọng

Ấm no mọi nhà

Kính chúc ông bà

Sống lâu trăm tuổi

Kính chúc ba mẹ

Sức khoẻ dồi dào

Trong ngoài hòa thuận

Càng thêm nồng ấm.

Thơ chúc tết hài hước

Một số bài thơ chúc tết hài hước cho bạn tham khảo

CHÍN mười câu chúc rót vào đây AN vui đón Tết “KHÔNG HAI KHÔNG” KHANG thái mừng xuân “Tân Sửu” này CÁT nhật vin cành dăm nhánh lộc TƯỜNG hoa điểm xuyết mấy cành mai HẠNH đào ngũ quả tròn mơ ước PHÚC ấm đáo gia dạ ngất ngây. Tết đến ăn chơi đến phủ phê Nào tiền thưởng tết lại trúng đề Phen này ta quyết ăn tết lớn Bà con cô bác thấy là mê

Mừng 2021 Phát tài phát lộc Tiền vô xồng xộc Tiền ra từ từ Sức khỏe có dư Công danh tấn tới Tình duyên phơi phới Hạnh phúc thăng hoa Xin chúc mọi nhà Một năm đại thắng.

Năm mới: Đau đầu vì nhà giàu! Mệt mỏi vì học giỏi! Buồn phiền vì nhiều tiền! Ngang trái vì xinh gái! Tàn phai vì đẹp giai! Và mất ngủ vì không có đối thủ!

Chúc tất cả các đồng chí: Dù thất bại hay thành công, Dù lông bông hay đang làm việc, Dù đang ăn tiệc hay ở nhà, Dù già hay trẻ, Dù đang sắp đẻ hay chưa có chồng, Dù là rồng hay là tôm, Dù đang bia ôm hay trà đá, Dù có hút thuốc… lá hay là không, Dù có công hay có của, Dù bơi lội hay karate, Dù đi xe hay đi bộ… Năm mới mạnh khỏe hạnh phúc!!!

Bìa thơ chúc tết hài hước nhất…

Thơ Chúc Tết Thầy Cô

Bài 1

Công thành danh toại chúc vinh quang

Tuổi học trò mối tình trường lớp,

Nghĩa Thầy Cô xin góp lại đây.

Cho em kính chúc Tết Thầy,

Thiết tha em gởi lời nầy chúc Cô!

Bài 2

Năm mới em xin kính chúc Thầy,

Bách niên trường thọ, sướng hơn Tây!

Cháu con thành đạt: hầu khuya sớm,

Cô vẫn trung trinh: bát nước đầy!

Bài 3

Mừng Xuân chúc Tết đến Cô Thầy

Dồi dào sức khoẻ ông bà thọ

Ấm cúng bình an cháu chắt đầy

Vận hạn Thiên Di mừng gặp gỡ

Yên lành Bản Mệnh vững vàng may

Gia tăng Phúc Đức nhà êm ả

Thắng lợi an khang hạnh phúc xây.

Những bài thơ chúc tết bạn bè

Sức khỏe bền bỉ

Công danh hết ý

Tiền vào bạc tỉ

Tiền ra ri rỉ

Tình yêu thỏa chí

Vạn sự như ý

Luôn cười hí hí

Cung hỷ cung hỷ

Bài 2

CUNG kính mời nhau chén rượu nồng

CHÚC mừng năm đến, tiễn năm xong

TÂN niên phúc lộc khơi vừa dạ

XUÂN mới tài danh khởi thỏa lòng

VẠN chuyện lo toan thay đổi hết

SỰ gì bế tắc thảy hanh thông

NHƯ anh, như chị, bằng bè bạn

Ý nguyện trọn đời đẹp ước mong

Bài 3

Năm mới chúc nhau sức khỏe nhiều.

Bạc tiền rủng rỉnh thoải mái tiêu.

Gia đình hạnh phúc bè bạn quý.

Thanh thản vui chơi mọi buổi chiều

Bài 4

Cung Chúc Tân Xuân Phước Vĩnh Cửu

Chúc Trong Gia Quyến Được An Khương

Tân Niên Lai Đáo Đa Phú Quí

Xuân Đến An Khương Vạn Thọ Tường.

Bài 5

Cung chúc tân niên

Sức khỏe vô biên

Thành công liên miên

Hạnh phúc triền miên

Túi luôn đầy tiền

Sung sướng như tiên.

Bài 6

Chiềng làng chiềng xã

Thượng hạ đông tây

Xa gần đó đây

Vểnh tai nghe chúc

Tân niên sung túc

Lắm phúc nhiều duyên

Trong túi nhiều tiền

Tâm hồn vui sướng.

Bài 7

Tý ơi ta bảo Tý này,

Tý đem vàng bạc chất đầy nhà ta.

Nỗi buồn, nước mắt đem ra,

Niềm vui, hạnh phúc Khỉ mau tha về …

Khắp thị thành, khắp thôn quê,

Trẻ con tíu tít mừng reo lì xì.

Cụ bà, ông lão nâng ly,

Bách niên giai lão sức tì hơn trâu.

Mẹ ta trường thọ sống lâu,

Cha ta chân cứng dãi dầu tráng niên.

Em ta thỏa chí thanh niên,

Bạn ta thành đạt, làm nên công hầu.

Tý ơi Tý nhắn dùm ta,

Phát tài phát lộc muôn nhà an vui …

Bài 8

Xuân về rực rỡ nắng chan hòa.

Rộn rã mừng vui tiếng xuân ca.

Lời chúc đầu năm trân trọng nhất.

Gửi đến bạn bè khắp gần xa.

Chúc mừng năm mới tốt nhiều điều.

Gia đình hạnh phúc trọn niềm yêu.

An khang thịnh vượng xuân Như ý.

Vạn sự thành công toại nguyện nhiều.

Bài 9 Bài 10

Xuân đến ngoài hiên cả nhà ơi

Dậy thôi gà đã gáy sáng rồi

Chuẩn bị cỗ bàn tiễn năm cũ

Xúng xính áo hoa đón xuân sang

Cùng nhau ta hát khúc tân xuân

Chúc cho tất cả dẫu xa gần

Dồi dào sức khỏe, cười rộn rã

Để những tình ca mãi còn ngân.

Còn kia những phút phải lo toan

Mệt mỏi, tơ vương lệ lan tràn

Xin hãy mạnh lòng mà rũ bỏ

Đưa tay đón đợi ánh mai sang.

Chúc Mừng Năm Mới Tân Sửu

Một năm mới nữa lại đến, hãy gửi những điều tốt đẹp nhất đến với người thân yêu và bạn bè của mình.

Đôi khi chẳng cần là món quà gì quá lớn lao, chỉ cần những câu chúc tết đơn giản hoặc những bài thơ chúc tết hay, ý nghĩa, ngắn gọn cũng đủ để người nhận cảm thấy vui vẻ.

Chùm Thơ Hay Mừng Ngày Tết Độc Lập / 2023

Tổ quốc

Con đã viết bài ca mừng đất nước.Tổ quốc mình đẹp lắm bốn nghìn năm.Đã qua rồi bao ngày tháng khó khăn.Vẫn vững tin tự hào người con Việt.

Bẩy mươi năm bao chiến công oanh liệt.Gìn giữ non sông tiêu diệt kẻ thù.Cho muôn đời đất nước ngọt lời ru.Hai tiếng Việt Nam đời đời vĩnh cửu.

Trời tháng tám mùa thu này mát dịu.Nắng Ba Đình nặng trĩu những yêu thương.Bảy mươi năm rồi mãi vẫn vấn vương.Lời của Bác trên quảng trường năm ấy.

Theo chân Bác toàn dân ta đứng dậy.Dẫu hy sinh hãy giữ lấy hòa bình.Cho muôn đời con cháu hưởng bình minh.Cho non sông thấm đượm tình nhân ái.

Để bắc nam nối liền về một dải.Đất nước mình …..Mãi mãi….Trọn niềm vui !

(Hồng Giang)

Ngày 2-9

Con viết bài thơ mùng hai tháng chínCả đất trời rạo rực kín cờ hoaBảy ba năm rồi mà ngỡ hôm quaLời của Bác chan hòa cùng sông núi

Vạn người nghe trong ngậm ngùi mừng tủiGiọng của người gần gũi những yêu thươngĐồng bào ta trên khắp mọi nẻo đườngĐược mãi hưởng nền ” tự do, độc lập”

Cả rừng người đứng nghe im phăng phắcLời của người truyền đi khắp non sôngBao dân tộc cũng nòi giống lạc hồngĐều sống chung trong một dòng máu đỏ

Tổ Quốc ta từ lá cây, ngọn cỏBốn nghìn năm sử sách rõ còn ghiNay cháu con chẳng quản khó khăn gìDẫu có phải hy sinh vì đất nước

Thì vẫn phải giữ vẹn toàn sau trướcCho muôn đời chúng tôi ước ….Được bình yên !

(Hồng Giang)

Chào mừng lễ Quốc Khánh

Hôm nay Quốc Khánh nước taLễ hội nhộn nhịp cờ hoa rợp trờiHòa bình độc lập tuyệt vờiNói sao cho hết những lời tri ân

Đất Nước tươi đẹp vô ngầnBắc Nam một dãy tình thân một nhàNgày vui hát khúc hoan caCùng nhau xây dựng nước nhà yên vui.

(Ngọc Chi)

Ngày độc lập tự do, ngày 2-9

“Không thể nói Trời không trong hơnKhi Đoàn quân tiến về Hà Nội”Ba mươi sáu Phố phường thành hộiĐất nước tôi- Tiếng nói hòa bình.

Ngày 2-9 khởi đầu cuộc chiến chinhĐộc lập, Tự do, Hòa Bình ,Thống nhấtNgày 2-9, Đất nước Thơ và NhạcĐất nước hồng tươi, nét Bác Hồ cười!

Tôi lớn lên , Đất nước tuổi đôi mươiĐất nước của trăm triệu người dũng cảmĐất nước trải qua bom rơi lửa đạnVà Tình yêu ngàn vạn trái tim yêu.

Đất nước tôi, Đất nước đẹp yêu kiềuCánh cò trắng với bao nhiêu đồng lúa ngátĐất nước tôi, luôn cất cao tiếng hátTiếng hát tự hào, dào dạt ý thơ ca.

Ngày Tuyên ngôn độc lập hóa lời caNgày chiến thắng vỡ òa Tình yêu nướcĐất nước tôi, hòa bình không thẳng bướcLửa chiến tranh không thắng được chí quyết tâm.

Xin gửi về ngày Độc lập xa xămTriệu trái tim cánh chim bằng mơ ướcTôi viết bài thơ ngợi ca Tổ QuốcNgày 2-9 nhịp theo bước Quân hành.

Xin nghiêng mình trước Tiền nhân, các chị, các anhĐã dâng hiến máu mình cho Dân tộcCả ngàn năm vọng Tuyên ngôn Độc lậpĐất Vạn xuân, bất chấp mọi quân thù!

(Phạm Quang Thu)

Hào khí ngàn năm…!

Trời Nam Việt mấy mươi năm vẫn nhớBản Tuyên Ngôn Người đã đọc thuở nàoGiữa Ba Đình một ngày nắng chênh chaoLời Bác gọi hiệu Đồng bào cả Nước.

Thu năm ấy âm vang cùng Tổ QuốcTiếng Tự Do rung động triệu tấm lòng“Tôi nói đồng bào nghe rõ không… “Vẫn còn đó bóng in lồng lộng mãi.

Cả Dân Tộc đã đồng lòng chống lạiĐưa Bắc chúng tôi một dải chung nhàĐể một ngày Đất Nước rợp cờ hoaVọng hào khí Quốc Sơn Hà bách thắng…!

(Phan Trung)

Mùa thu Ba Đình nhớ Bác!

Trời Ba Đình gió thu lồng lộngTiếng Bác Hồ vang vọng muôn nơiTuyên ngôn độc lập ra đờiSáng vai cường quốc đất trời năm châu.

Bác dừng lại hỏi câu thân ái“Đồng bào nghe tôi nói rõ không ?”Toàn dân xúc động trong lòngTiếng hô ” Rõ ạ ” dậy trong biển người.

Cả thế giới vọng lời của BácTiếng Người nghe ấm áp muôn đờiViệt Nam đất nước ta ơiVững tin theo Bác rạng ngời quê hương.

Quyết giữ vững giang sơn Tổ QuốcQuét sạch loài xâm lược, ngoại bangĐẹp thay đất nước Việt NamBa Đình mãi mãi vọng vang lời Người.

(Nguyễn Đức Phúc)

Mốc son lịch sử

Chào Quốc Khánh ngày này cả nướcMốc son vàng đã được tôn vinhBiết bao đồng đội hy sinhHôm nay non nước chúng mình đẹp tươi

Trải mấy chục năm trời kháng chiếnBao khổ đau hiển hiện quê nhàCác anh nay đã đi xaChúng tôi xin nguyện giữ đà xung phong…

Tiếng quân đi, long trời lở đấtLũ xâm lăng, rất sợ lòng dânHăng say luyện tập chuyên cầnQuyết tâm đánh thắng khi cần tổng công.!!!.

(Võ Sơn Lâm)

Quốc Khánh nước nhà

Mừng ngày quốc khánh việt nam taKhắp nơi tưng bừng rực cờ hoaVui trong ngày vui tết độc lậpNon nước ấm no hạnh phúc nhà

(Nguyễn Xuân Đoài)

Theo chân Bác

Giữa Ba Đình sáng toả một vì saoHình ảnh Bác in vào non sông ViệtNgười anh dũng trái tim hồng nhiệt huyếtĐã vì dân chẳng tiếc tấm thân mình

Để quê nhà rạng rỡ sắc màu xinhToàn quốc tộc thái bình vui đầm ấmCông đức ấy chúng con nguyền khắc đậmMãi học theo nhân phẩm chiếu rạng ngời

Giữ trong lòng chẳng một phút nào lơiGắng sức luyện muôn đời không ngừng nghỉNung ý tưởng miệt mài luôn vững tríGiũa rèn thân bền bỉ hướng cao tầm

Diệt tiêu trừ những tiếng giặc ngoại xâmCho đất nước tươi mầm hoa tráng lệRực cờ đỏ khắp nơi miền dương thếGiống rồng tiên oai vệ chí quật cường.

(Huy Lê)