Thơ Hay Về Lịch Sử Việt Nam / 2023 / Top 12 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Kovit.edu.vn

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ 100 Câu Thơ Về Lịch Sử Việt Nam Mới Nhất / 2023

100 Câu Đố Lịch sử (của Đào Hữu Dương)

1- Mai Hắc Đế, mặt sắt đen sì 2- Lý Thái Tổ thuở hàn vi ở chùa 3- Hưng Đạo bẻ gậy phò vua 4- Nguyễn Trãi dùng bút, đánh lừa Vương Thông 5- Ngựa Thánh Gióng phun lửa đầy đồng 6- Voi Hưng Đạo khóc giữa dòng Hóa Giang! 7- Kiếm Lê Lợi trả rùa vàng 8- Súng Cao Thắng nổ Vũ Quang thuở nào. 9- Lê Lai cứu chúa đổi bào 10- Hai Bà Trưng sánh anh hào ra oai! 11- Cao Bá Quát lên đoạn đầu đài 12- Thoát Hoan chui ống chạy dài bắc phương. 13- Trần Bình Trọng khinh Bắc Vương 14- Mỵ Châu, lông ngỗng rắc đường hại cha! 15- Quang Trung đại thắng Đống Đa 16- Cụ Phan sang Nhật bôn ba tháng ngày! (Phan Bội Châu lập phong trào Đông Du) 17- Đào Duy Từ đắp Lũy Thầy 18- Nguyễn Du xử thế, triều Tây ẩn mình! 19- Bà Triệu lừng lẫy uy danh 20- Đinh Bộ Lĩnh lấy cỏ tranh làm cờ 21- Thánh Tông nguyên súy Hội thơ 22- Lâm Thao Nghĩa Lĩnh đền thờ Hùng Vương 23- Sừng trâu bẻ gẫy: Phùng Hưng 24- Lê Lợi khởi nghĩa, anh hùng Lam Sơn 25- Họ Hồ phản bội cha ông 26- Yết Kiêu, Dã Tượng, thần sông Bạch Đằng! 27- Vạn Hạnh, triều Lý cao tăng 28- “Bình Ngô”… Nguyễn Trãi hùng văn lưu truyền 29- Quốc Dân Đảng, (mười ba) Liệt Sĩ thành Yên 30- Từ Thức treo ấn tu tiên (động) Bích Đào. 31- Âu Cơ (sinh) trăm trứng đồng bào 32- Bình Khôi, Trưng Nhị được trao chúc này 33- Bùi Thị Xuân, nữ tướng tài 34- Hàm Nghi chống Pháp, bị đày xứ xa. 35- Đào Tấn, tổ hát bội nước ta 36- Đặng Trần Côn với khúc ca Chinh Phụ sầu… 37- Gia Long giết hại công hầu 38- Tố Tâm Ngọc Phách xiết bao trữ tình! (Hoàng Ngọc Phách tác giả tiểu thuyết Tố Tâm) 39- Đội Cấn chống Pháp, dấy binh 40- Hoàng Diệu tổng đốc, vị thành vong thân 41- Trần Cảnh mở nghiệp nhà Trần (Trần Cảnh tức Trần Thái Tông) 42- Chuyện Hiếu Văn Phức, diễn âm lưu truyền (Lý Văn Phức, tác giả Nhị Thập Tứ Hiếu diễn ca) 43- Chữ Nôm khai sáng, Nguyễn Thuyên 44- Công Trứ dựng nghiệp dinh điền chẳng sai! 45- Tú Xương thơ phú biệt tài 46- Duy Tân chống Phàp, bị đày đảo xa 47- Mùng Năm Tết, giỗ Đống Đa 48- Nam Quan, Nguyễn Trãi nghe cha dặn dò 49- Trưng Vương xây dựng cơ đồ 50- Quang Khải: Hàm Tử “cầm Hồ” hiên ngang (Trần Quan Khải: Đoạt sáo Chương Dương độ. cầm Hồ Hàm Tử quan 51- Nguyễn Ánh tên huý Gia Long 52- Tướng Lê Văn Duyệt, Lăng Ông phụng thờ 53- Lạc Long kết nghĩa Âu Cơ 54- Thánh Trần, Vạn Kiếp ngai thờ tử lâu 55- Đời Hùng: Lạc Tướng, Lạc Hầu 56- Long Hồ thủy chiến, tướng Châu bỏ mình (Châu Văn Tiếp) 57- Nguyễn Bỉnh Khiêm, tức Trạng Trình 58- Tri Phương, phò mã hy sinh thủ thường (Nguyễn Tri Phương và phò mã Nguyễn Lâm) 59- Triệu Quang Phục, Dạ Trạch Vương 60- Chu thần thảo sớ chém phường nịnh gian (Chu thần tức Chu Văn An) 61- Nguyễn Trãi vì rắn thác oan 62- Nhân Tông triệu tập Diên Hồng đánh Nguyên (Trần Nhân Tông) 63- Lộc Tục dòng dõi Đế Minh (Lộc Tộc tức Kinh Dương Vương) 64- Mất thành, Thanh Giản quyên sinh cùng đường! (Cụ Phan Thanh Giản để mất thành Vĩnh Long) 65- Mười tháng ba, Giỗ Hùng Vương 66- Tháng hai mồng sáu Nhị Trưng trầm mình 67- Tản Viên ngự trị Sơn Tinh (Tản Viên thuộc dẫy núi Ba Vì ở Hà Tây). 68- Sông Đà núi Tản bút danh thi hào 69- Trăm con một bọc: Đồng Bào 70- Phan Bội Châu khởi phong trào Đông Du 71- Hoàng Hoa Thám lập chiến khu 72- Lê Thánh Tông mở Hội Thơ Tao Đàn 73- Quang Bình giữ nước đuổi Thanh (Nguyễn Quang Bình tức Nguyễn Huệ) 74- Ngọa triều Long Đĩnh khiến tàn Tiền Lê. 75- Hoá Giang Hưng Đạo hẹn thề 76- Mười năm Lê Lợi một bề đuổi Minh 77- Thục Phán được móng rùa thiêng (Thục Phán An Dương Vương) 78- Thường Kiệt đánh Tống bình Chiêm lẫy lừng (Lý Thường Kiệt tức Ngô Tuấn) 79- Lương Đắc Bằng dâng sách “Trị Bình” 80- Đĩnh Chi tướng xấu, ví mình hoa sen (Mạc Đĩnh Chi) 81- Mạc Cửu dựng đất Hà Tiên 82- Ngọc Quyến chống Pháp, Thái Nguyên bỏ mình (Lương Ngọc Quyến) 83- Quy Nhơn, Võ Tánh hy sinh 84- Đại Việt Sử Ký, công trình họ Ngô (Ngô Sĩ Liên soạn bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đời Lê) 85- Lê Văn Duyệt bị san mồ 86- Đồ Chiểu tác giả lòa mù “Vân Tiên” ( Nguyễn Đình Chiểu) 87- Đại Từ nổi tiếng Hải Thần (Nguyễn Hải Thần,hoạt động cách mạng chống Pháp) 88- Nhữ Học in sách, ân cần dạy dân. (Lương Nhữ Học) 89- Trường Tộ, cải cách điều trần. (Nguyễn Trường Tộ, thời vua Tự Đức) 90- Vua Quang Trung sánh Ngọc Hân chung tình 91- Cao Bá Quát chống Triều Đình 92- Duy Từ đắp lũy, đào kinh bậc thầy (Đào Duy Từ) 93- Phan Kế Toại lãnh ấn Khâm Sai 94- Trương Chi tiếng hát đọa đầy Mị Nương 95- Hải Thượng y thuật danh nhân 96- Lời thề sông Hóa thánh Trần diệt Mông (Trần Hưng Đạo) 97- Khánh Dư nổi tiếng Vân Đồn (Trần Khánh Dư) 98- Trạng Trình ẩn dât chẳng còn lợi danh 99- Mùa Xuân Kỷ Dậu đuổi Thanh 100- Dân quyền, dân chủ an lành Việt Nam.

Cười Quá Đã: Mười Câu Chuyện Cười Hay Nhất Trong Lịch Sử / 2023

Mười câu chuyện cười hay nhất trong lịch sửCó một phòng công cộng cũ đang đợi tôi. Tôi đến ngoài cửa và muốn trêu chọc anh ta.

Chuyện cười 01

Có một phòng công cộng cũ đang đợi tôi. Tôi đến ngoài cửa và muốn trêu chọc anh ta. Rồi tôi thì thầm ngoài cửa: 306, người phụ nữ mà bạn gọi đã đến, mở cửa! Thật bất ngờ, cánh cửa bên cạnh mở ra, và một người đàn ông bước ra và nói với tôi: Hãy đến bên tôi sau một lúc!

Chuyện cười 02

Vào buổi tối, chồng cô đang đi ngủ và hét lên ngay khi anh đi ngủ: Vợ ơi, con trai anh đã làm ướt giường tối qua và bảo em lấy chăn ra phơi vào buổi sáng. Vợ: Vâng, tôi đang tắm nắng … Chồng: Lạ thật, thời tiết hôm nay rất tốt, chăn không khô? Bạn đã đặt nó ở đâu? Vợ: Ôi, trong vòng tròn bạn bè!

Chuyện cười 03

Vợ: Em yêu, anh sẽ cảm thấy thế nào nếu mất em một ngày? Tôi: ừ. . . Nó giống như nấu ăn mà không có muối! Vợ: Anh có nói rằng cuộc sống của anh sẽ nhàm chán nếu anh đánh mất nó? Tôi: Đồ ngốc, ý tôi là tôi sẽ mua một gói khác! Vợ. . .

Chuyện cười 04

Tôi đã đi đến một cuộc họp ngày hôm nay và gặp đồng nghiệp Da Liu trên đường. Anh ấy đang ăn cà rốt trong khi đi bộ. Tôi hỏi: “Ồ, mùa này, tất cả các loại trái cây đều giảm, làm thế nào để ăn củ cải?” Da Liu: “Bạn không hiểu, sau khi ăn nó, bạn có thể rời đi sớm trong cuộc họp!” Tôi: “Ý bạn là gì?” “Da Liu:” Giám đốc của chúng tôi nói, khi bạn có một cuộc họp, bạn có một cái gì đó để lại, tôi có thể hiểu, nhưng ít nhất bạn phải đánh rắm! “Tôi:” … “

Chuyện cười 05

Một lần đi công tác với một người đồng tính nữ. Đột nhiên tôi nhớ ra một trò đùa màu vàng. Sau đó, anh nói với anh: “Tôi nghĩ về một bài phát biểu cười màu vàng, bảo bạn hãy nghe amoniac, cô ấy quay lưng lại với tôi và quay đi … Sau đó, tôi đã vẫy tay chào tôi ở một góc:” Đến đây, đến đây. Có rất ít người ở đây “

Chuyện cười 06

Một bạn học trong trường phàn nàn rằng các chàng trai đối xử tốt với cô vì họ muốn yêu cô. Bạn gái của cô cho biết, chi phí sinh hoạt của các chàng trai là 1.000 nhân dân tệ mỗi tháng và hầu hết họ mua quần áo, mỹ phẩm và quà tặng cho các cô gái. Họ chỉ có thể ăn mì tôm và mù tạt khi bạn quay trở lại. Ah, thật là một lý do!

Chuyện cười 07

Tôi đi ra ngoài với bạn gái vào ban đêm và bạn gái của tôi nói với tôi: “Mùa đông vẫn tốt.” Tôi nói, “Chẳng hạn?” Cô bạn gái tát vào mặt tôi bằng một cái “tát” và hỏi tôi: “Có cảm giác như bạn chưa từng đến đó trước đây không?” Đau quá không? “Tôi chạm vào mặt mình và nói:” Có vẻ như đó là sự thật. “

Chuyện cười 08

Con rùa đang tắm dưới sông và được con cóc nhìn thấy. Rùa: Bạn không thấy một người đẹp như tôi sao? Nhìn thấy đôi mắt của bạn sắp bật ra. Con cóc: Chị ơi, đừng trêu em, em không thấy nổi da gà sao?

Chuyện cười 09

Nhận được tin nhắn văn bản của vợ tôi tại nơi làm việc: Tôi có thể giảm cân bằng thực phẩm nào? Tôi đã kiểm tra lại cô ấy trên mạng: 1. ngô, 2. táo gai; 3. táo; 4. khoai lang. Khi tôi đi làm về, tôi thấy cô ấy thở hổn hển trên ghế sofa và hỏi cô ấy chuyện gì đã xảy ra? Cô nói: “Một bắp, hai con diều hâu, ba quả táo đều ổn, và bốn củ khoai lang đang giết chết tôi”.

Chuyện cười 10

Hôm đó tôi muốn rủ một cô gái đi ra, và tôi đã có một khoảng thời gian dài trước khi gọi điện. Kết quả là bố cô ấy trả lời điện thoại. Tôi hào hứng nói: Chú ơi, có phải dì của cháu không? Tôi muốn gọi cô ấy ra ngoài chơi.

Lịch Sử Khai Phá Bình Dương Qua Dân Ca, Thơ Ca Dân Gian Làng Tương Bình Hiệp / 2023

Lịch sử khai phá Bình Dương qua dân ca, thơ ca dân gian làng Tương Bình Hiệp

Do đặc điểm địa lý và lịch sử di dân khẩn hoang lập nghiệp, đất Bình Dương đã trở thành nơi hội tụ của các luồng dân ca cả nước, là đầu cầu chuyển tiếp và thu nhận dân ca miền Bắc, dân ca miền Trung. Và từ lưu vực sông Tiền sông Hậu, dân ca đã dội ngược lại, tác động đến miền Đông Nam bộ, trong đó có Bình Dương. Vì thế dân ca Bình Dương vừa mang đặc điểm chung của Nam bộ, vừa thể hiện nét đặc thù tiêu biểu cho loại hình văn nghệ dân gian chỉ có thể nảy sinh ở mảnh đất Đông Nam bộ. Trải qua thời gian và nhiều thế hệ nối tiếp, các làn điệu dân ca và thơ ca dân gian được “Bình Dương hóa” ít nhiều và trở thành một mảnh đất phong phú đa dạng và đặc sắc.

Dân ca và thơ ca dân gian Bình Dương gồm 4 thể loại như: Hát đưa em, Lý, Hò và Nói thơ – Nói vè.

Vì giới hạn trang viết, trong bài này tôi chỉ trình bày về thể loại hát đưa em và thơ ca dân gian ở làng Tương Bình Hiệp (những tư liệu chưa từng được công bố).

Qua nguồn tư liệu phong phú này, ta có thể hiểu biết ít nhiều về vùng đất, con người, cây cối, các con vật thân quen của Bình Dương thời khẩn hoang.

Từ nội dung các thể thơ dân gian của các bài hát ru, ta có thể tìm hiểu ít nhiều về lịch sử khẩn hoang Bình Dương: Ví dụ như quang cảnh hoang sơ thời khẩn hoang Đông Nam bộ:

“Chiều chiều én liệng diều bay

Cá lội dưới nước, khỉ ngồi trên cây”

“Chiều chiều vịt lội cò bay

Ông voi bẻ mía chạy ngay vô rừng

Vô rừng bứt một sợi mây

Đem về thắt gióng cho nàng đi buôn

Đi buôn không lỗ thì lời

Đi ra cho thấy mặt trời mặt trăng”

Cảnh rừng núi hoang sơ của Đông Nam bộ với những con vật đặc trưng của núi rừng: khỉ, voi và cây rừng hoang dã: mây. Qua đoạn thơ ta có thể đoán được Bình Dương thời ấy có nhiều rừng và một số lưu dân người Việt đầu tiên đến đây sống ở ven rừng, cây cối còn khá hoang sơ. Những nghề thủ công và buôn bán cũng xuất hiện khá sớm (“thắt gióng”, “đi buôn”).

(Hát ru em – xã Tương Bình Hiệp – sưu tầm từ cụ ông Nguyễn văn Trơn – 86 tuổi – Tương Bình Hiệp, BD)

Dấu ấn khẩn hoang được tìm thấy trong bài thơ thể loại câu đố:

“Một mẹ mà chín mười con

Ngày ngày luống những lên non trông chồng

Trông chồng mà chẳng thấy chồng

Gặp thằng tài cán rất hung

Đè đầu cắt cổ lôi xông về nhà

Tưởng đâu mình được vinh hoa

Hay đâu nó đánh răng gia đời đời”

Đố bài thơ trên nói về nghề gì?

Giải đáp: Nghề cắt cỏ tranh lợp nhà (đợt lưu dân đầu tiên là di dân tự do, số lượng ít, lập nên những xóm ven rừng, lên núi cắt cỏ tranh lợp nhà).

(Sưu tầm từ bà Trần Thị Măng – sinh năm 1927 – xã Tương Bình Hiệp, Thủ Dầu Một, Bình Dương)

Khi lưu dân người Việt đến Bình Dương, rừng còn rất nhiều chim. Một loại cây hoang dã rất phổ biến ở Đông Nam bộ: Cây nhãn lồng: “Chim quyên ăn trái nhãn lồng, nửa ăn nửa bỏ ai trồng cho mày ăn”

Do nằm ở vị trí thuận lợi giữa hai con sông lớn Sài Gòn – Gia Định, Bình Dương có hệ thống kênh rạch thuận lợi cho việc tưới tiêu. Đất đai thích hợp với việc trồng cây lương thực, các họ đậu, đặc biệt vùng Lái Thiêu thích hợp trồng cây ăn trái.

Nhiều vùng đất trồng lúa, cây ăn trái, hoa màu được hình thành. Sách Gia Định thành thông chí ghi lại: “Cù lao Tân Triều dài 10 dặm, rộng hai dặm rưỡi, người ta làm vườn tược ở đó, chỉ trồng trầu không lá rậm tốt, vị thơm ngon, có tiếng vang khắp vùng” (Trịnh Hoài Đức – Gia Định thành thông chí, bản dịch Viện sử học, NXB Giáo dục, 1998, trang 25). Ta có thể biết lưu dân người Việt ở Bình Dương đã có nhiều giàn trầu quen thuộc qua những câu hát ru em ở làng Tương Bình Hiệp:

“Trồng trầu thì phải khai mương

Làm trai hai vợ phải thương cho đồng”

“Đi đâu cho đổ mồ hôi

Chiếu trải không ngồi, trầu dọn không ăn”

Từ thế kỷ XVII về sau, lưu dân người Việt đến miền Đông Nam bộ với số lượng đông, họ chọn nơi sinh sống là ven sông, rạch và chọn nghề trồng lúa là chính, vì vậy dân ca và thơ ca dân gian thể hiện rất rõ đời sống của lưu dân gắn liền với ruộng đồng và nghề trồng lúa:

“Cái cò cái vạc cái nông

Sao mày giậm lúa nhà ông hở cò

Không không tôi đứng trên bờ

Mẹ con nhà nó đổ ngờ cho tôi

Chẳng tin thì ông đi coi

Mẹ con nhà nó còn ngồi đây kia”

“…Cái ngủ mày ngủ cho lâu

Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về”

Ngoàitrồng cây ăn trái, lưu dân người Việt ở Bình Dương xưa còn trồng nhiều loại rau mà không thể thiếu giàn bầu quen thuộc, hoặc trái dưa phục vụ cho món ăn dân dã:

“Ví dầu ví dẫu ví dâu

Ăn trộm bẻ bầu, ăn cướp hái dưa”

Chứng tỏ đất Bình Dương trồng được hoa màu (bầu, bí, mướp, dưa chuột, khổ qua, đậu đũa, cà…):

“Một mình lo bảy lo ba

Lo cau trổ muộn, lo cà trổ bông”

(Có dị bản là: lo già hết duyên)

Khi đã ổn định làng xóm, lưu dân người Việt trồng nhiều loại rau ngoài lúa, phụ gia cho bữa cơm gia đình, tên các loại rau này được nhắc đến qua câu hát thể hiện tâm sự người ở lại chịu nhiều đau khổ :

“Gió đưa cây cải về trời

Rau răm ở lại chịu đời đắng cay”

Thật vậy, ở trung tâm Thủ Dầu Một có một địa danh là “Bưng Cải” chắc khi xưa trồng cải rất nhiều.

Những con vật quen thuộc của kênh rạch Nam bộ, của ruộng đồng thời khẩn hoang dễ bắt gặp đâu đó như cò, chim vịt, két…

“Chiều chiều bắt két nhổ lông

Két kêu quớ má đem lồng nhốt con”

“Lắng nghe chim vịt kêu chiều

Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau”

“Má ơi con vịt chết chìm

Con thò tay bắt nó, con cá kìm nó cắn con”

Bình Dương có khá nhiều kênh rạch, sông suối, ruộng đồng… nghề mò cua bắt ốc cũng rất phổ biến:

“Má ơi đừng đánh con đau

Để con bắt ốc hái rau cho má nhờ

Má ơi đừng đánh con hoài

Để con bắt cá nấu canh xoài cho má ăn”

Từ lâu ca dao đã biết: “Về sông ăn cá, về đồng ăn cua”Bình Dương là vùng đất có nhiều sông, đất đai màu mỡ, ruộng đồng bát ngát cho nên thơ ca cũng thấp thoáng bóng cò:

“Con cò mà đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

Ông ơi ông vớt tôi nao

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

Có xáo thì xáo nước trong

Đừng xáo nước đục đau lòng cò con”

Nghệ thuật chơi chữ nói lái của người Bình Dương: “Con cò-cò con”. Những câu hát ru em như có chút tinh nghịch, cà rỡn như bản chất người dân Bình Dương (chú cò năn nỉ xáo măng nước phải trong, nếu nước đục chú đau lòng lắm!).

Có khi hình bóng chú cò được ẩn dụ cho con người vô ơn bạc nghĩa:

“Uổng công xúc tép nuôi cò

Nuôi cho cò lớn, cò dò cò bay”

Những con vật nuôi gần gũi trong nhà, trong làng phản ánh đời sống của lưu dân người Việt: Con mèo, nhưng có mèo thì phải có chuột:

“Con mèo mày trèo cây cau

Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà

Chuột rằng đi chợ đường xa

Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo”

“Chuột kêu rúc rích trong rương

Anh đi cho khéo đụng giường mẹ hay

Mẹ hay mẹ hỏi đi đâu

Nói đi hốt muối cho mèo ăn cơm”

Một vật dụng người xưa hay dùng: nồi đồng:

“Con mèo con chuột có lông

Ống tre có mắt, nồi đồng có quai”

Đời sống tinh thần của lưu dân người Việt: trong những đêm cúng đình cả làng nô nức đi xem học trò lễ, hát bội suốt mấy đêm liền, đến nỗi trẻ em cũng biết “làm đào”:

“Má ơi đừng đánh con đau

Để con hát bội làm đào cho má coi”

Dấu ấn thời Pháp thuộc :

“Ví dầu tình bậu muốn thôi

Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra

Bậu ra bậu lấy quan ba

Ai cầu bậu lại quét nhà nấu cơm

Nấu cơm rồi lại nấu canh

Bỏ tiêu cho ngọt, bỏ hành cho thơm”

Thơ ca dân gian ở làng Tương Bình Hiệp vô cùng phong phú, bài viết này chỉ chọn một số tư liệu tiêu biểu chưa từng được công bố trong địa chí Sông Bé hoặc quyển: “Dân ca và thơ ca dân gian Bình Dương” của Lư Nhất Vũ và Lê Giang chủ biên. Rất mong góp phần bổ sung tư liệu vào kho tàng văn học dân gian Bình Dương.

Văn hóa dân tộc đã cắm rễ sâu vào lòng đất nước, vào máu thịt con người, nó thấm sâu hàng ngàn năm lịch sử, nó trở thành đạo lý nên có sức sống mãnh liệt. Qua kho tàng âm nhạc dân gian Bình Dương, cụ thể là hát ru, ta có thể tìm hiểu không chỉ về lịch sử khẩn hoang Bình Dương mà còn hiểu biết về đời sống vật chất, tinh thần, tình cảm, tâm hồn, mối quan hệ xã hội…của lưu dân Việt ở Bình Dương thuở xưa.

Ngoài giá trị lịch sử và văn học, thể loại hát ru còn góp phần giáo dục âm nhạc cho trẻ thơ, nuôi dưỡng tâm hồn trẻ với những hình ảnh quê nhà, những con vật thân thương yêu dấu mà khi lớn lên, đi xa, chúng ta vẫn còn đọng mãi trong ký ức một dấu ấn quê hương không thể lẫn vào đâu được: “Quê hương mỗi người chỉ một…” những bài hát ru còn là những bài học đầu tiên về đạo đức, về cách đối nhân xử thế của con người… những bài học độc đáo MẸ dạy con khi con chưa biết chữ:

“Ví dầu cầu ván đóng đinh

Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi

Khó đi mẹ dắt con đi

Con đi trường học, mẹ đi trường đời”

Dân ca và thơ ca Bình Dương đã và sẽ góp phần một cách xứng đáng làm cho diện mạo dân ca Nam bộ ngày càng được trọn vẹn hơn, hoàn chỉnh hơn và cân đối hơn.

Bình Dương, ngày 18-8-2008

Thành kính cám ơn song thân đã cung cấp tư liệu cho tôi hoàn thành bài viết này.

NGUYỄN THỊ KIM ÁNH

Những Bài Thơ Hay Viết Về Tình Yêu Biển Đảo Việt Nam / 2023

Tổng hợp những bài thơ ca ngợi biển đảo Việt Nam (Biển Đông, Trường Sa, Hoàng Sa,..), bên cạnh đó là thể hiện tình yêu, trách nhiệm của mỗi công dân đối với biển đảo Việt Nam.

Tác giả: Ngô Trí Bưởi

Giữa vùng quê không giáp biển chỗ nào

Nhưng bữa cơm lại mặn mòi vị biển

Câu dân ca vẫn đậm tình lưu luyến

Theo dòng Lam chảy ra biển hiền hoà

Và con người khi mẹ mới sinh ra

Đã nghe hát những lời ru về biển

Hòn san hô cha lấy làm kỷ niệm

Đặt giữa hồ, ví biển cả quê hương

Rồi mỗi lần nhớ biển đảo trùng dương

Ra ngồi ngắm vẫn dạt dào bát ngát

Các em thơ xếp thuyền buồm san sát

Bao ước mơ, đang chờ được ra khơi

Tiếng rao muối! Nghe thương qúa ai ơi

Trùm cả lên mạn thuyền em nhỏ

Ai muối không…? Sao mà quen mà nhớ

Của mấy bà bán muối dạo giữa trưa

Cũng có khi xuống biển để nô đùa

Nhìn các bác làng chài! Sao trìu mến

Tình keo sơn giữa núi rừng và biển

Gắn với nhau bởi cùng mẹ Âu cơ

Thật thiết tha với biển biết bao giờ

Mà sao cứ nặng tình thương nhớ

Cứ cuộn lên như bao lần sóng vỗ

Biển không xa, biển trong trái tim mình.

BÀI THƠ: GIỮ ĐẢO QUÊ HƯƠNG Thơ: Hoa Chu Van

Lá cờ đỏ sao vàng năm cánh

Giữa trời thu lấp lánh tung bay

Hiên ngang đứng ở nơi này

Biển trời tổ quốc hôm nay tuyệt vời

Giữa sóng gió ngoài khơi bão táp

HOÀNG,TRƯỜNG SA ngọn tháp hiên ngang

Những người chiến sĩ lại càng kiên trung

Rời tổ ấm ra cùng giữ đảo

Chống kẻ thù tàn bạo xâm lăng

Bao nhiêu gian khổ khó khăn

Bát cơm vị mặn đã ăn bao ngày

Súng vẫn chắc trong tay bền chặt

Với một lòng son sắt thủy chung

Noi gương của các anh hùng

Giữ yên biển đảo ngàn trùng khơi xa

Cánh thư ở quê nhà gửi đến

Có tình em thương mến trao anh

Mong anh nhiệm vụ hoàn thành

Bàng vuông của đảo anh dành tặng em.

BIỂN ĐẢO QUÊ HƯƠNG TÔI

Thơ: Cỏ Hoang Tình Buồn

Quê hương biển đảo đẹp giàu

Một lòng gìn giữ thương nhau đến cùng

Xin thề…chẳng đội trời chung

Với quân xâm lược chuyên dùng mưu mô.

Kiếp sau nguyện vẫn đội mồ

Căm thù bọn giặc hung nô hại đời

Vì quê hương Việt…chẳng lời thở than.

Còn quân cướp nước bạo tàn

Dân mình phải khổ…nát tan xóm giềng

Nhà nhà muốn được bình yên

Phải trừ diệt bọn gây phiền nhiễu nhương.

Gái trai già trẻ lên đường

Giữ gìn biển đảo quê hương chúng mình

Việt Nam tổ quốc quang vinh

Người dân nước Việt thắm tình yêu thương.

TỰ HÀO BIỂN ĐẢO QUÊ HƯƠNG

Thơ: Hương Nguyễn

Quê hương ơi biết mấy tự hào

Bốn nghìn năm dệt nên trang sử mới

Sóng điệp trùng biển quê hương vẫy gọi

Đây Trường Sa và kia nữa Hoàng Sa.

Đất trời của ta rừng biển của ta

Mấy nghìn năm chẳng bao giờ thay đổi

Đất nước lầm than vượt qua bóng tối

Sự thật sáng lòa chân lý ngàn năm.

Biển quê hương trải qua những thăng trầm

Vẫn thổn thức vì Việt Nam yêu dấu

Đảo Nổi, đảo Chìm bao mồ hôi xương máu

Của cha ông hun đúc đã bao đời.

Những con tàu vẫn vượt sóng ra khơi

Vẫn bám biển như một phần huyết mạch

Vẫn còn đó bao gian lao thử thách

Ta vẫn hiên ngang bám giữ biển trời.

Để mùa tiếp mùa mãi mãi xanh tươi

Anh lại cùng em với bao lời hẹn ước

Xuân lại về nhuộm xanh trời, non, nước

Biển đảo quê mình, ôi biết mấy yêu thương…