Đến Với BàI Thơ Hay: Gửi Về Cô GiáO Dạy Văn

Thứ sáu, 07/11/2014 22:30

Nhìn những học trò cặm cụi từng nét vẽ, nắn nót từng con chữ trên tờ báo tường 20-11 với cả tấm lòng yêu thương, tôi chợt nhớ đến bài thơ của Nguyễn Thụy Diễm Chi “Gửi về cô giáo dạy văn”. Bài thơ mộc mạc ngay từ nhan đề, câu chữ không cầu kỳ, gọt giũa nhưng mỗi khi đọc lên vẫn cứ thấy rưng rưng.

Gửi về cô giáo dạy văn Có thể bây giờ cô đã quên em Học trò quá nhiều, làm sao cô nhớ hết Xa trường rồi, em cũng đi biền biệt Vẫn nhớ lời tự nhủ: sẽ về thăm. Có thể bây giờ chiếc lá bàng non của ngày em đi đã úa màu nâu thẫm Ai sẽ nhặt dùm em xác lá Như em thuở nào ép lá giữa trang thơ? Ước gì… hiện tại chỉ là mơ Cho em được trở về chốn ấy Giữa bạn bè nối vòng tay thân ái Được vui – buồn – cười – khóc hồn nhiên Em nhớ hoài tiết học đầu tiên Lời cô dạy: “Văn học là nhân học” Và chẳng ai học xong bài học làm người! Chúng em nhìn nhau khúc khích tiếng cười Len lén chuyền tay gói me dầm cuối lớp Rồi giờ đây theo dòng đời xuôi ngược Vị chua cay thuở nào cứ thấm đẫm bờ môi Những lúc buồn em nhớ quá – Cô ơi! Bài học cũ chẳng bao giờ xưa cũ…

Nguyễn Thụy Diễm Chi

“Thơ hay là thơ chín đỏ trong cảm xúc” (Xuân Diệu). Khi hiện thực đã tích tụ, khi cảm xúc đã đong đầy thì những câu chữ cứ nhảy múa, bật ra thành thơ. Mở đầu bài thơ như một lời tự sự – lời tự sự ẩn chứa quy luật của muôn đời. Ai đó đã ví thầy cô giáo như người chèo đò đưa bao thế hệ học trò sang sông. Sang bên bờ là có biết bao nhiêu cuộc đời, bao nhiêu số phận. Người chèo đò làm sao cô nhớ hết, không phải muốn quên nhưng không thể nhớ được nhiều. Người đi đò cũng vậy, sang sông là đến với chân trời mới, tự tìm cho mình một lối đi riêng, trong kí ức tâm hồn luôn ăm ắp hành trang về một thời cắp sách để tự nhắc nhủ lòng: nhất định sẽ về thăm. Nhưng trường đời rộng lớn, bao bon chen, tranh đua, hơn thiệt,…lời hứa ngày nào cứ biền biệt trôi xuôi.

Mạch thơ tiếp nối với hàng loạt những giả định: có thể bây giờ; ước gì để khẳng định một điều rằng: nhân vật trữ tình đang da diết, hoài niệm về một thời hoa niên thơ mộng. Một thời ép lá giữa trang thơ; được vui – buồn – cười – khóc hồn nhiên trong vòng tay thân ái bạn bè. Nhưng làm sao có thể, bởi “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông” (Herakleitos), chiếc lá bàng non ngày nào giờ đã úa màu nâu thẫm. Hình ảnh ép lá giữa trang thơ giàu tính tạo hình và gợi cảm, không chỉ nói lên sự trong sáng, đáng yêu của lứa tuổi học trò mà còn chứa đựng một khát vọng lớn lao – sự níu giữ thời gian dù biết là không thể.

Nhân vật trữ tình đang đắm chìm trong mạch cảm xúc hoài niệm. Ấn tượng sâu đậm nhất có lẽ là tiết học của cô giáo dạy văn. Văn học là nhân học – là những bài học làm người. Nhưng bé bỏng quá cô ơi, khi ấy em có hiểu gì đâu! Chỉ khúc khích tiếng cười, len lén chuyền tay nhau gói me dầm cuối lớp. Gửi về cô với lời tri ân hay những lời xin lỗi muộn màng. Lạ lùng thay những trò tinh nghịch rất học trò ấy, rất con gái ấy lại có một sức khái quát lớn lao. Vị chua cay của gói me dầm trong tiết học ngày nào giờ trở thành vị chua cay trên hành trình vào dòng đời xuôi ngược mà chẳng ai học xong, để rồi cứ ám ảnh, cứ quay quắt, cứ da diết nhớ: Những lúc buồn em nhớ quá – Cô ơi!

Cấu trúc bài thơ chặt chẽ trôi theo mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình. Từ hiện tại, nhân vật trữ tình trôi miên man về quá khứ với những kỷ niệm buồn vui về một thời cắp sách. Giấc mơ đứt mạch, nhân vật trữ tình trở về với hiện tại bằng nỗi nhớ khôn nguôi cùng những lời tri ân gửi về cô giáo cũ. Dẫu cho dòng đời xuôi ngược có chua cay, nhưng những bài học của cô ngày nào luôn là hành trang, là giá đỡ tinh thần soi sáng con đường em bước – Bài học cũ chẳng bao giờ xưa cũ.

Đặng Quang Sơn

Đến Với Bài Thơ Hay: Gửi Về Cô Giáo Dạy Văn

Nhìn những học trò cặm cụi từng nét vẽ, nắn nót từng con chữ trên tờ báo tường 20-11 với cả tấm lòng yêu thương, tôi chợt nhớ đến bài thơ của Nguyễn Thụy Diễm Chi “Gửi về cô giáo dạy văn”. Bài thơ mộc mạc ngay từ nhan đề, câu chữ không cầu kỳ, gọt giũa nhưng mỗi khi đọc lên vẫn cứ thấy rưng rưng.

Gửi về cô giáo dạy văn

Có thể bây giờ cô đã quên em

Học trò quá nhiều, làm sao cô nhớ hết

Xa trường rồi, em cũng đi biền biệt

Vẫn nhớ lời tự nhủ: sẽ về thăm.

Có thể bây giờ chiếc lá bàng non

của ngày em đi đã úa màu nâu thẫm

Ai sẽ nhặt dùm em xác lá

Như em thuở nào ép lá

giữa trang thơ?

Ước gì… hiện tại chỉ là mơ

Cho em được trở về chốn ấy

Giữa bạn bè nối vòng tay thân ái

Được vui – buồn – cười –

khóc hồn nhiên

Em nhớ hoài tiết học đầu tiên

Lời cô dạy: “Văn học là nhân học”

Và chẳng ai học xong bài học làm người!

Chúng em nhìn nhau khúc khích tiếng cười

Len lén chuyền tay gói me dầm cuối lớp

Rồi giờ đây theo dòng đời xuôi ngược

Vị chua cay thuở nào cứ thấm đẫm bờ môi

Những lúc buồn em nhớ quá – Cô ơi!

Bài học cũ chẳng bao giờ xưa cũ…

                                          Nguyễn Thụy Diễm Chi

“Thơ hay là thơ chín đỏ trong cảm xúc” (Xuân Diệu). Khi hiện thực đã tích tụ, khi cảm xúc đã đong đầy thì những câu chữ cứ nhảy múa, bật ra thành thơ. Mở đầu bài thơ như một lời tự sự – lời tự sự ẩn chứa quy luật của muôn đời. Ai đó đã ví thầy cô giáo như người chèo đò đưa bao thế hệ học trò sang sông. Sang bên bờ là có biết bao nhiêu cuộc đời, bao nhiêu số phận. Người chèo đò làm sao cô nhớ hết, không phải muốn quên nhưng không thể nhớ được nhiều. Người đi đò cũng vậy, sang sông là đến với chân trời mới, tự tìm cho mình một lối đi riêng, trong kí ức tâm hồn luôn ăm ắp hành trang về một thời cắp sách để tự nhắc nhủ lòng: nhất định sẽ về thăm. Nhưng trường đời rộng lớn, bao bon chen, tranh đua, hơn thiệt,…lời hứa ngày nào cứ biền biệt trôi xuôi.

Mạch thơ tiếp nối với hàng loạt những giả định: có thể bây giờ; ước gì để khẳng định một điều rằng: nhân vật trữ tình đang da diết, hoài niệm về một thời hoa niên thơ mộng. Một thời ép lá giữa trang thơ; được vui – buồn – cười – khóc hồn nhiên trong vòng tay thân ái bạn bè. Nhưng làm sao có thể, bởi “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông” (Herakleitos), chiếc lá bàng non ngày nào giờ đã úa màu nâu thẫm. Hình ảnh ép lá giữa trang thơ giàu tính tạo hình và gợi cảm, không chỉ nói lên sự trong sáng, đáng yêu của lứa tuổi học trò mà còn chứa đựng một khát vọng lớn lao – sự níu giữ thời gian dù biết là không thể.

Nhân vật trữ tình đang đắm chìm trong mạch cảm xúc hoài niệm. Ấn tượng sâu đậm nhất có lẽ là tiết học của cô giáo dạy văn. Văn học là nhân học – là những bài học làm người. Nhưng bé bỏng quá cô ơi, khi ấy em có hiểu gì đâu! Chỉ khúc khích tiếng cười, len lén chuyền tay nhau gói me dầm cuối lớp. Gửi về cô với lời tri ân hay những lời xin lỗi muộn màng. Lạ lùng thay những trò tinh nghịch rất học trò ấy, rất con gái ấy lại có một sức khái quát lớn lao. Vị chua cay của gói me dầm trong tiết học ngày nào giờ trở thành vị chua cay trên hành trình vào dòng đời xuôi ngược mà chẳng ai học xong, để rồi cứ ám ảnh, cứ quay quắt, cứ da diết nhớ: Những lúc buồn em nhớ quá – Cô ơi!

Cấu trúc bài thơ chặt chẽ trôi theo mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình. Từ hiện tại, nhân vật trữ tình trôi miên man về quá khứ với những kỷ niệm buồn vui về một thời cắp sách. Giấc mơ đứt mạch, nhân vật trữ tình trở về với hiện tại bằng nỗi nhớ khôn nguôi cùng những lời tri ân gửi về cô giáo cũ. Dẫu cho dòng đời xuôi ngược có chua cay, nhưng những bài học của cô ngày nào luôn là hành trang, là giá đỡ tinh thần soi sáng con đường em bước – Bài học cũ chẳng bao giờ xưa cũ.

Đặng Quang Sơn

Đi Tìm Tác Giả Bài Thơ Cô Giáo Lớp Em

(TT&VH) – Nguyễn Xuân Sanh là gương mặt nổi bật trong Xuân Thu nhã tập từ những năm 40 của thế kỷ trước với những câu thơ hay nhưng “bí hiểm”, như Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà. Nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm… Trong SGK văn học, ông lại được biết đến qua những câu thơ trong trẻo, đầy xúc cảm: Sáng nào em tới lớp/Cũng thấy cô đến rồi/Đáp lời: Chào cô ạ!/Cô mỉm cười thật tươi… (Cô giáo lớp em, SGK Tiếng Việt lớp 2).

Ở nơi có một không hai

Tôi tìm đến nơi ở của nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh theo địa chỉ viết tay từ một người bạn. Đi đúng đường, đến đúng ngõ, rẽ đúng ngách rồi mà quá nửa buổi sáng vẫn không hỏi ra được nơi mình cần đến. Ngạc nhiên hơn là đã có một sự trùng hợp ngẫu nhiên xảy: Buổi sáng tôi đi tìm tác giả bài thơ Cô giáo lớp em rơi vào ngày 11/9, hỏi thăm tất tật 11 người, quẹo trái, rẽ phải 9 bận thì lạc vào một hẻm có 11 căn hộ đều ghi số 53B như địa chỉ tôi được cung cấp. Một bà cụ dùng câu hệt như câu mà MC trong chương trình “Hãy chọn giá đúng” hay nói: Nhà 53B, có tổng cộng 11 nhà mang số 53B/25/7. Chưa đến lần nào thì cứ bấm chuông cả… 11 hộ, thể nào cũng trúng người cháu cần! – một bà cụ mách nước.

Vợ chồng nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh, nhà văn Nguyễn Thị Cẩm Thạnh

Nghe lời, tôi vào vai một nhân viên “phát hành báo”, kiếm cớ bấm chuông từng nhà để tìm tác giả bài thơ Cô giáo lớp em. Sáu nhà đầu tiên khóa cửa ngoài, chứng tỏ đi vắng. Hai nhà tiếp theo (nhà thứ bảy và thứ tám) không thấy mở cửa (chắc bận hoặc nhác thấy “tụi bán báo” nên không muốn tiếp). Bước sang nhà thứ chín, nhìn qua cửa kính, tôi mừng quýnh khi nhận ra nhà văn Nguyễn Thị Cẩm Thạnh, vợ nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh đang lui cui quét dọn… Sau màn chào hỏi, bà công nhận là tôi “giỏi” vì nhiều người chưa đến lần nào thường phải gọi điện đến trước để được chỉ dẫn chi tiết…

Xuân Sanh trí nhớ đã “già”

Gặp được tác giả bài thơ Cô giáo lớp em rồi thì mừng lắm. Nhưng đến khi trò chuyện, tôi chợt nhận ra ông không còn mẫn tiệp như vài năm trước nữa. Ông năm nay đã cửu thập, “tuổi xưa nay hiếm” nhưng cũng chính vì “sức xuân ngày một hao mòn” nên ít nhiều nó cũng đã gỡ đi, bóc bỏ đi rất nhiều mảng kỷ niệm… trong trí nhớ ông. Tuy nhiên, khi tôi hỏi ông có nhớ bài thơ Cô giáo lớp em của mình không thì ông đáp: Mình viết ra mà… rồi đọc luôn để minh chứng cho sự nhớ của mình:

Sáng nào em đến lớp

Cũng thấy cô đến rồi

Đáp lời: “Chào cô ạ!”

Cô mỉm cười thật tươi

Cô dạy em tập viết

Gió đưa thoảng hương nhài

Nắng ghé vào cửa lớp

Xem chúng em học bài.

Những lời cô giáo giảng

Ấm trang vở thơm tho

Yêu thương em ngắm mãi

Những điểm mười cô cho.

Nguyễn Xuân Sanh, sinh năm 1920, quê gốc: xã Dinh Mười, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Các tác phẩm: Xuân Thu nhã tập (1942, 1992); Tiếng hát quê ta (1958); Chiếc bong bóng hồng (1957); Nghe bước xuân về (1961); Quê biển (1966); Sáng thơ (1971); Đảo dưa đỏ (1971)

Hàng đứng từ phải qua trái: Nguyễn Đỗ Cung, Học Phi, Nguyễn Xuân Sanh,

Chế Lan Viên, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài; Hàng ngồi từ phải qua trái: Nguyễn Đình Thi, Kim Lân, Nguyên Hồng, Nam Cao

Thơ của ba, cô giáo của con

Để ý thấy một tấm ảnh chụp Bác Hồ đang vòng tay ôm một cháu nhỏ, treo trang trọng ở phòng khách, tôi gạn hỏi nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh, mới hay em bé mà Bác Hồ đang ôm đấy chính là con trai đầu của vợ chồng ông, liệt sĩ Nguyễn Việt Lưu.

Ông như minh mẫn hơn khi kể về liệt sĩ Nguyễn Việt Lưu, người con mà mỗi khi nhắc đến khiến ông không chỉ nhói đau mà còn rất đỗi tự hào. Ông nói: Anh ấy bị địch bao vây rồi hy sinh trên đồi Mái Nhà ở Phú Yên. Ngày bác viết bài thơ Cô giáo lớp em anh ấy đã lớn vổng rồi. Đến trường, thấy bài thơ của bác in trong SGK, về nhà anh hỏi, cô giáo trong bài thơ ba làm là cô giáo ngày xửa, ngày xưa của ba hả? Bác bảo không, thơ là của ba, còn cô giáo là cô giáo lớp con. Anh ấy lại hỏi, cô giáo lớp con sao ba lại đặt tên là Cô giáo lớp em? Bác giải thích, vì ba đứng ở vị trí của con để viết, để thể hiện tình cảm thì phải là cô giáo lớp em mới hợp lý, chứ ai là lại cô giáo lớp ba!

Nhà văn Nguyễn Xuân Sanh không rõ Cô giáo lớp em được đưa vào SGK văn học năm nào. Ông chỉ biết tác phẩm của mình “được tái bản liên tục trong SGK” và được rất nhiều thế hệ học sinh yêu mến. Ông kể: Bây giờ, nhiều em nhỏ là hàng xóm của bác, biết bác làm bài thơ ấy “thi thoảng gặp nhau”, có cháu vui vẻ đọc lại cho bác nghe thì thấy xúc động lắm…

Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh thổ lộ rằng chính bản thân ông cũng rất thích bài thơ Cô giáo lớp em. Và ông quả quyết đó là một bài thơ hẳn là luôn làm đẹp lòng tất cả các em học sinh, các thầy cô giáo và đẹp lòng cả với nhiều bạn đọc ở mọi lứa tuổi.

Kỳ sau (Chủ nhật, 27/9): Nên đưa Hồi ký lịch sử vào SGK tham khảo

Huy Thông

Thân Thị Diệp Nga @ 07:58 21/10/2010 Số lượt xem: 789

Tâm Sự Cô Giáo Dạy Văn

Bạn đến chơi nhà sao để thiếu, Tâm sự cô giáo dạy văn Trên bục giảng, em nói toàn những chuyện thần tiên Cô Tấm ở hiền được Phật, Thần giúp Chàng Kim chung tình chẳng vẹn tròn hạnh phúc Nước mắt nàng Kiều ướt đẫm những trang thơ.

Nguyệt Nga đã gặp được Vân Tiên chưa? Để khắc khoải trái tim ông đồ Đình Chiều.

Cả trầu không – hỡi cụ Tam Nguyên?

Em kiếm tìm một chút bình yên Một chút ấm lòng trong gió đầu mùa lạnh Để xót thương những tuổi thơ bất hạnh Những phận nghèo bên xóm chợ bơ vơ.

Em trở vào với thế giới mộng mơ Để giật mình khi trống trường vang vọng Ngoài cổng trường có con thơ trông ngóng Anh vụng về – có chắc nấu được cơm.

Cái mộng mơ phải tan biến trong em Để trở về với đời thường với dưa, cà, mắm, muôí Chợt chạnh lòng thấy con ai xiêm áo mới mà con mình vẫn tấm áo năm xưa.

Thương anh nhiều dẫu vất vả nắng mưa Vẫn chắt chiu dành tiền cho em mua sách Vẫn tự hào khoe với người bên cạnh Vợ tớ là cô giáo dạy Văn!

Em ước một lần có bụt tới thăm Như đã từng đến thăm cô Tấm Để khi bước ra khỏi cổng trường em bớt phần lo lắng Liệu giờ này anh đã nấu được cơm?

Bài thơ nhẹ nhàng, sâu lắng ấy đã trở thành lời sẻ chia nỗi niềm của bao người thầy, người cô đã và đang trong nghề- nghề dạy văn.

Sinh ra trên đời hẳn ai cũng mang trong mình những ước mơ dù là nhỏ bé hay lớn lao. Nó cũng vậy, sinh ra và lớn lên ở một làng quê nghèo không có điều kiện học hành nhiều. nhưng bù lại nó được tận hưởng cái không gian hoang sơ mà không kém phần nên thơ ngay trên làng quê bé nhỏ của mình bằng nhũng chiều theo các chị thả trâu ngoài đồng hay những ngày tung tăng cùng đám bạn trên con đường tới trường. Năm ấy, nó đã năm tuổi, ấy thế mà ba mẹ nó dường như quên mất rằng nó đã đén tuổi học mẫu giáo thì phải. Theo chi Sen đi chăn trâu ngoài đồng nó thấy thằng Hồi với cái Dung đeo theo cái cặp trên vai trông rõ nặng lại còn có cả chị Huong dẫn trước nữa chứ, nó tò mò hỏi chị Sen: “Các bạn đeo gì sau lưng mà nặng, mà vui thế chị”? Sao bạn ấy không tự đi mà phải có người dẫn?”. Chị Sen cười đáp: ” Hai bạn ấy đi học mẫu giáo đấy.Em cũng đi học thôi đừng theo chị đi chăn trâu nữa!”. Thế là nó chạy thẳng về nhà nũng nịu đòi mẹ cho đi học, đòi mua cái cặp sách to tướng đeo sau lưng như hai đứa bạn trong làng. Nghe câu nói tưởng chừng ngây ngô mà đáng thương của nó ba mẹ nó mới chợt nhớ rằng nó đã đén tuổi đi học. Mẹ quay sang nói với ba: ” Tội nghiệp con bé vợ chồng mình mải làm mà quên mất”.

Qua một chặng đường khá dài với những con dốc quanh co nó cũng đã tởi được lớp học. Ngôi trường nó học chỉ có một lớp nằm ngay giữa quả đồi ( vì là trường làng mà).Suốt cả đem hôm qua nó hồi hôp, náo nức, trên đường đi học tò mò về trường lớp ,thầy cô đến vây mà sao giờ đến lớp nó rụt rè sệt đến thế. Các bạn đã vào lớp cả mà nó vẫn đứng nép bên cửa lớp. Cô giáo mỉm cười hỏi nó: “Em đến học đúng không”? Nó ấp úng: Vâng ạ!. Thế em tên gì?. Thưa cô: em tên…….ấp úng mãi nó mới đọc được họ tên. Cô ân cần dẫn nó vào lớp giới thiệu cùng các bạn. Thế là tên nó đã được cô ghi ttrong lớp học 36 buổi cuả làng. Bài học đầu tiên nó được cô dạy là bài thơ: ” Đi học”.

Hôm qua enm tới trường

Mẹ dắt tay từng bước

Hôm nay mẹ lên nương

Cảnh sắc trong bài thơ sao mà giống với làng quê, giổng trường nó đến vây: “trường của em be bé…, cô giáo em tre trẻ, hương rừng thơm đồi vắng, nước suối trong thầm thì” ….. Riêng chỉ có điều khác là mẹ không dắt tay nó tới trường mà thôi. Có lẽ bởi cảm xúc của bài thơ đã quá thân thuộc với sự cảm nhận của nó mà nó thuộc làu ngay ở lớp.Cô giáo như mẹ hiền. Em bây giờ cứ ngỡ cô giáo học là cô tiên. Lời bài hát ấy nó đẫ được các chị phụ trách đội trong xóm dạy. Nhưng hôm nay nó mới thực sự cảm nhận được điều ấy. Cô giáo ân cần cầm tay dạy nó viết nét chữ đầu tiên. Đôi tay nó sao mà ngượng ngùng đến vậy, nét chữ của nó thật ngoằn nghoèo khó coi (bởi nó vào học sau các bạn cùng lớp mà). Thế nhưng cô không hề nản lòng uốn nắn từng nét để rồi cái chữ o quả nhót kia của nó cuối cùng cũng tròn như quả trứng.

Tan học nó hớn hở theo chị Sen về nhà .Nó chỉ mong sao cho quãng đường ngắn lại để nó được khoe với mẹ điểm 10 đỏ chót cùng tấm phiếu bé ngoan- thành quả mà nó gặt hái được của buổi đầu tiên đi học.

Nhờ ánh trăng sang ngời

Trăng tròn như cái đĩa

Lơ lửng không rơi”

Có những khi nó lại thơ thẩn một mình để thả hồn vào màu xanh bát ngát của đồi chè, để lắng nghe âm thanh róc rách của dòng suối trong xanh, hay hái chùm hoa giun thơm ngát trên đồi, để rồi cuối buổi nó mang về tặng mẹ sản phẩm là cả bài thơ dù chỉ là sự ghép vần nhưng nó biết mẹ vui lắm. Nhưng có khi mải mê với chùm hoa sim mà nó để lạc mất trâu khóc đến sưng cả mắt.

Năm tháng trôi qua với những kỉ niệm tuổi thơ đẹp đẽ. Chẳng mấy chốc nó đã trở thành cô nữ sinh cấp 3. chính ngôi trường này là nơi thắp sáng thêm ước mơ trong nó bởi cô giáo dạy văn đầy tâm huyết và lòng nhiệt tình mà dến giờ nó vẫn khắc sâu những ấn tượng tốt đẹp về cô- cô giáo: Lê Nguyên Hải. Vốn là đứa rụt rè ban đầu nó ít khi xây dựng bài cùng cô. Nhưng rồi chính cô đã phát hiện ra niềm yêu thích học văn trong nó. Cô đã luôn động viên, khích lệ nó cố gắng, tận tình giảng giải cho nó từng lới văn, ý thơ mà nó còn băn khoăn. Chỉ gắn bó với lớp một năm nhưng chính cô là người đã vạch ra hướng đi và tiếp thêm nghị lực để nó thực hiện ước mơ được nhen nhóm từ bấy lâu .

Thế rồi kì thi đại học sắp tới nó đã đăng kí dự thi vào khoa Ngữ văn của trường đại học sư phạm dù ba nó phản đối gay gắt bởi theo ba đây là ngành học khó xin việc, tương lai của nó sẽ mịt mù. Nhưng nó đã không nản lòng thuyết phục tới khi ba đồng ý. Cũng từ đó với quyết tâm thi đỗ hằng ngày sau khi tan trường nó cùng đứa bạn cùng khóa sang sư phạm học ôn. Có những tối trời mưa tầm tã, đường phố vắng tanh( vì khi ấy là giờ ăn tối của gia đình mà), nó cùng đứa bạn lủi thủi vừa lạnh , vừa đói lại sợ người nghiện, nó thấy mệt mỏi . Nhưng nghĩ tới câu nói của mẹ năm nào: Con gái mẹ đỗ dại học mẹ thịt hẳn bò đãi hàng xóm nhớ lời động viên của cô giáo nó lại không cho phép mình từ bỏ ước mơ. Để rồi sau những ngày hồi hộp chờ đợi nó vui mừng ôm mẹ mà òa khóc bởi niềm hạnh phúc tới nghẹn ngào cùng tờ giấy trúng tuyển đại học trên tay. Giây phút ấy khiến nó nhớ lại vài câu thơ ghép vần ngày xưa nó tặng mẹ:

” Có những lần mẹ ôm con mẹ bảo:

Mai lớn rồi gắng học nghe con

Học để rồi mai trở thành cô giáo.

Ước mơ xa mẹ chắp cánh cùng con”.

Thời gian thấm thoắt qua đi bốn năm sv đại học đã kết thúc.Cầm tấm bằng trên tay bao cảm xúc hỗn độn ùa về trong nó. Vui lắm nhưng nó sẽ bước tiếp sao đây. Đi xa ư? Có lẽ cơ hội cho nó sẽ nhiều hơn. Nhưng mà….thật sự lúc này nó không muốn xa anh, người con trai đầu tiên mang lại cho nó những cảm xúc khó tả. Nó nghĩ nó sẽ chọn nơi nào gần anh để …. Nhưng anh cũng chẳng thể giúp gì cho nó. Nhờ chú ư? Chú cũng giống ba lại bảo xin trái ngành cho nó thôi. Có những trưa hè một mình lang thang khắp nơi tìm việc mà kết quả vẫn là con số không nó đã buồn đã khóc, đôi chân nó dường như đã mỏi. Nó buồn lắm mỗi khi nghe bạn nó báo tin vui. Nhưng may mắn đã đến với nó. Nó không ngờ rằng trên bước đường nó đi vẫn luôn có một người cô luôn dõi theo -cô giáo chủ nhiêm cấp ba của nó. Từ ấy cô đã trở thành người tiếp tục dẫn đường chỉ lối cho nó đến với ước mơ .

Trời không phụ lòng người, may mắn đã mỉm cười vói nó để rồi đưa nó về làm cô giáo ngay trên quê hương nơi mẹ nó từng sinh ra và lớn lên, nơi in dấu bao kỉ niệm tuổi thơ bên người ông kính yêu của nó. Hơn thế nơi ấy còn có người mà nó thương yêu, nơi đây ghi dấu bao kỉ niệm đẹp về mối tình đầu của cô bé sinh viên ngốc nghếch cùng chàng giảng viên lịch lãm ngày nào.

Đã gần một năm trôi qua, nó bước vào nghề với bao bỡ ngỡ, bao khó khăn của một cô giáo trẻ nhưng thật sự nó hạnh phúc lắm vì bên cạnh nó là gương mạt học trò thân yêu, là người chồng vụng về nhưng luôn quan tâm, yêu thương nó. Phải nó đã lấy chồng. Anh không phải là chàng trai mà nó yêu thương ngày nào bởi duyên phận đã chia xa nó với người ấy. Người ấy đã nắm tay nó khi nó còn là cô sinh viên chập chững trên con đường thực hiện ước mơ, là động lực lớn lao để nó bước tiếp trên con đường đã chọn nhưng lại buông tay nó khi nó vừa chạm tới ước mơ của mình. Duyên phận mà, nó không trách anh đâu vì nó biết anh cũng đâu muốn thế. Lấy chồng rồi cuộc sống có biết bao đổi thay. Dường như lúc nào cũng bộn bề công việc mọi cảm xúc trong nó cũng thay đổi dần .Vẫn là dòng tâm sự từ thuở sinh viên nhưng giờ đây nó càng thấm thía hơn cảm xúc ấy:

Em ước một lần có bụt tớ thăm Như đã từng đến thăm cô Tấm Để khi bước ra khỏi cổng trường em bớt phần lo lắng Liệu giờ này anh đã nấu được cơm?

Nhiều khi ốm mệt, học trò nghịch ngợm, những mâu thuẫn nhỏ nhoi trong gia đình, một mình lo toan công việc trường lớp, gia đình đã làm giọt nước mắt nó rơi. Nhưng nó tin rồi mọi khó khăn cũng qua đi bởi bên nó còn có người mẹ kính yêu, có người cô vẫn luôn dõi theo tin tưởng ở nó, và cả những đồng nghiệp luôn tận tình chỉ bảo dìu dắt nó. Nó tự hứa sẽ cố gắng để không phụ lòng tất cả mọi người. Ngày tri ân thầy cô cũng sắp tới gần nó xin gửi tới thầy cô, đồng nghiêp cùng tất cả những ai đã và đang trên con đường đến với nghề dạy học luôn mạnh khỏe và có nhiều niềm vui cùng sụ nghiệp ” ươm mầm những ước mơ”.

Con đường đến với ước mơ của tôi là vậy. Còn bạn thì sao?. Hãy dám ước mơ và thực hiện bạn nhe. Có thể con đường bạn chọn nhiều khó khăn trắc trở nhưng nếu bạn dám ước mơ bạn sẽ chạm tói nó bởi: ” Trên đường này không có con đường cùng mà có chỉ có những ranh giới điều quan trọng là bạn phải có đủ sức mạnh để vượt qua ranh giới ấy”.

Với Tác Giả Bài Thơ “Gửi Em Ở Cuối Sông Hồng”

Nhà thơ Dương Soái lúc đó là Phó Giám đốc Đài PTTH Yên Bái. Anh thuộc diện cao tuổi nhất lớp và đang giữ chức vụ lãnh đạo báo chí nên được giao kiêm nhiệm giữ chức Lớp trưởng lớp Đại học Báo chí tại chức. Biết anh là tác giả lời thơ của bài hát nổi tiếng “Gửi em ở cuối Sông Hồng” đi cùng năm tháng, tôi đã trò chuyện với anh về câu chuyện “nhân duyên” giữa thơ và nhạc cũng như những kỷ niệm không thể lãng quên những ngày tháng lịch sử của cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc.

Những ngày đầu chiến tranh biên giới phía Bắc, Dương Soái là phóng viên của Đài phát thanh Hoàng Liên Sơn. Anh được cử lên mặt trận ngay trong những ngày tháng 02/1979 nóng bỏng. Trong dòng người sơ tán về tuyến sau, nhà báo Dương Soái hòa vào dòng bộ đội ngược về phía biên giới… Đến mặt trận, biết Dương Soái là nhà báo, các chiến sĩ bộ đội đã nhờ anh chuyển giúp những lá thư về gia đình. Dương Soái nhận tất cả những lá thư ấy. Anh trở về tuyến sau để phát tin chiến trường…

Trong lúc chờ tàu ở ga Phố Lu, Dương Soái kiểm nhanh những lá thư. Anh ngạc nhiên khi thấy các dòng địa chỉ đều ở các tỉnh nằm dọc theo triền sông Hồng như: Vĩnh Phú, Hà Nội, Hà Nam Ninh, Thái Bình, Hải Hưng… Từ sự tình cờ này, đã giúp anh cảm hứng thi ca, viết rất nhanh bài thơ “Gửi em ở cuối sông Hồng”. Trích lời thơ như sau:

Anh ở Lào Cai

Nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt

Tháng Hai, mùa này con nước

Lắng phù sa in bóng đôi bờ

Biết em năm ngóng, tháng chờ

Cứ chiều chiều ra sông gánh nước

Nên ngày ngày cùng bạn bè lên chốt

Anh lại xuống sông Hồng cho thoả nỗi em mong

Đài báo gió mùa, em thương ở đầu sông

Đỉnh đồi cao chiến hào anh gặp rét

Biết mùa màng đồng quê chưa cấy hết

Tay em ngập dưới bùn, lúa có thẳng hàng không?

Giá chúng mình còn cái thuở dung dăng…

Anh thả lá thuyền xuôi về dưới ấy

Em ra sông chắc em sẽ thấy

Chỉ nỗi nhớ chúng mình đủ ấm mọi mùa đông.

Thì hỡi em yêu ở cuối sông Hồng

Nếu gặp dòng sông ngàu lên sắc đỏ

Là niềm thương anh gửi về em đó

Qua màu nước sông Hồng, em hiểu chiến công anh.

Bài thơ sau đó được anh gửi đăng trên báo Văn nghệ Hoàng Liên Sơn. Sau đó báo Văn nghệ của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam in lại. Năm 1980, bài thơ “Gửi em ở cuối sông Hồng” được nhạc sĩ Thuận Yến phổ nhạc, phát trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam và trở nên nổi tiếng. Biết bài thơ của mình được phổ nhạc, nhưng lúc đó, chưa một lần nhà báo Dương Soái được gặp nhạc sĩ. Mãi sau này khi nhạc sĩ Thuận Yến về công tác tại đoàn Văn công Quân khu Hai anh mới gặp, khi đó duyên tri kỷ giữa nhà thơ và nhạc sĩ mới thành hiện thực.

20 năm sau khi thơ – nhạc “Gửi em ở cuối sông Hồng” ra đời, ca khúc đã được Bộ Tư lệnh Biên phòng trao giải thưởng Bài hát được các chiến sĩ bộ đội biên phòng bình chọn là hay nhất. Ca khúc này sẽ sống mãi với những chiến sĩ của Quân đội nhân dân Việt Nam và là dấu ấn kỷ niệm những tháng ngày không quên trong lịch sử giữ nước của dân tộc. Bây giờ nhà báo, nhà thơ Dương Soái đã nghỉ hưu. Với anh em trong làng báo, anh là người đã tạo ra một dấu ấn bằng thơ về một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc. Tháng hai về lại nhớ bài hát da diết ấy.