Ngữ Âm Học Và Âm Vị Học

Ngữ âm học và âm vị học

Việc nghiên cứu ngôn ngữ âm thanh của con người thuộc cấp độ âm vị học. Đối tượng âm thanh tiếng nói con người có thể được 2 ngành khác nhau nghiên cứu là ngữ âm học và âm vị học. Cùng tìm hiểu về các đặc điểm âm thanh, tiếng nói con người nhưng chúng có những điểm khác nhau cơ bản sau đây:

1. Âm thanh tiếng nói con người, về bản chất là vô tận bởi tuỳ theo các đặc điểm cá nhân khác nhau, các đặc điểm về hoàn cảnh phát âm khác nhau, mục đích phát âm khác nhau mà tiếng nói phát ra có những phần khác nhau.

Ngữ âm học là ngành nghiên cứu về cơ chế tạo sản các âm thanh của tiếng nói con người, cho nên, ngoài việc mô tả một cách chính xác cơ chế đó hoạt động như thế nào thì cần phải đặc tả một cách chính xác các sự biểu hiện khác nhau của tiếng nói ấy, tức là các kết quả của cơ chế tạo sản âm thanh tiếng nói con người. Chính vì thế, các dạng thể âm thanh là vô hạn. Và đơn vị của ngữ âm học là các âm tố, tức là các âm thanh tự nhiên của tiếng nói con người.

Ngược lại, bởi vì con người sống theo xã hội, theo cộng đòng nên muốn giao tiếp được với nhau thì người ta phải có mã do cộng đồng quy định sử dụng. Dẫu người ta có thể khác nhau về các đặc điểm tâm lí, sinh lí, trình độ học vấn, địa phương cư trú nhưng muốn để giao tiếp được, truyền được thông điệp, yêu cầu của mình tới người khác thì mã âm thanh sử dụng phải có tính xã hội hoá. Chính vì vậy, sự khác nhau về dạng thể giữa các âm thanh của có những hình thức, những biến thể của những đơn vị âm thanh mang chức năng trong xã hội loài người. Những đơn vị âm thanh mang chức năng đó được ngôn ngữ học là các âm vị. Theo nguyên tắc tối thiểu về đặc điểm cấu trúc, tối đa về khả năng sử dụng, các đơn vị âm thanh của ngôn ngữ buộc phải là hữu hạn và đếm được.

Sự phân biệt giữa ngữ âm học và âm vị học về mặt đơn vị có nguồn gốc từ một lưỡng phân nổi tiếng của F. de Saussure (1913) về sự phân biệt giữa ngôn ngữ và lời nói. Theo ông, người ta không bao giờ lặp lại được lời nói của chính mình, cho nên, lời nói là vô hạn, lời nói biến đổi theo hoàn cảnh, theo thời gian và theo không gian. Ngược lại là thiết chế của xã hội, là một trong những đặc điểm để xác định tộc người của quốc gia nên tính ổn định của nó rất cao, cao như hoặc cao hơn các thiết chế xã hội khác). Ổn định về ngôn ngữ để nối tiếp được các thế hệ với nhau trong cả một truyền thống lịch sử; đồng thời, ổn định về ngôn ngữ còn có tác dụng liên kết những nhóm người ở những vùng đất khác nhau thành một quốc gia. Trong tính ổn định như vậy, ngôn ngữ được tao nên bằng các giá trị hữu hạn, có tính hệ thống. Sự phản ánh mối quan hệ giữa lời nói và ngôn ngữ trong âm vị học trở thành sự đối lập giữa ngữ âm học và âm vị học.

2. Để quan sát được các hiện tượng âm thanh tiếng nói con người, các nhà nghiên cứu có thể tận dụng tất cả các phương tiện kĩ thuật và máy móc. Với yêu cầu tính chính xác và chi tiết về đặc điểm âm thanh, người ta có thể nhìn các âm tố từ nhiều bình diện khác nhau:

– Từ bình diện sinh lí cấu âm; – Từ bình diện thẩm nhận âm thanh; – Từ bình diện thực thể âm thanh.

Ở tất cả các bình diện này người ta đều sử dụng các quan niệm có thánh chất khoa học tự nhiên để nghiên cứu âm thanh, nghĩa là mô tả về các đặc điểm cấu trúc của âm thanh, giống như ở trong thế giới tự nhiên, các hiện tượng là vô tận thì các đặc điểm về âm thanh tiếng nói con người cũng vô tận như vậy. Chính vì theo quan điểm của khoa học tự nhiên nên ngữ âm học chia các hiện tượng âm thanh thành các loại thể âm thanh cũng tương tự như sinh vật học phân loại các giống loài thực vật và động vật có trong thiên nhiên, dựa trên các đặc điểm hình thể. Ngược lại, đối với âm vị học, do xuất phát từ định đề coi ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội nên sự phân loại các hiện tượng âm thanh cũng như sự nhận diện ra các đặc điểm âm thanh là theo quy chiếu của chức năng của âm thanh đối với giao tiếp xã hội. Như vậy, có nghĩa là có rất nhiều các đặc điểm cấu trúc của âm thanh không được sử dụng làm gì trong quan điểm âm vị học, do đó nó không có chức năng phục vụ xã hội và bị coi là dư thừa, không mang tính âm vị học.

Ví dụ:

3. Nghiên cứu âm thanh theo quan điểm cơ chế tạo sản và sự phân loại có tính hình thức về âm thanh theo quan điểm của ngữ âm học sẽ dẫn đến chủ nghĩa cân đối hình thức của các âm. Đó là sự nghiên cứu các âm lí tưởng lẫn các âm hiện thực, các âm tiềm năng và các âm đã được sử dụng.

1, Số thanh bằng phải ít hơn nếu hệ thanh đó thiên về hệ thanh đường nét; 2, Số thanh đi lên, hoặc có thành phần đi lên ở cuối cấu trúc thanh, nhiều hơn so với số thanh đi xuống, hoặc có thành phần đi xuống; 3, Nếu như hệ thanh thiên về bằng phẳng thì số thanh đường nét phải ít hơn so với số thanh bằng.

Đó chính là cái lí ở trong thực tế, cái lí của sự tồn tại. Xu hướng của con người là tìm đến sự đơn giản nên không thể có những sự kiện âm thanh quá phức tạp, có những cấu trúc bị đánh dấu đến mức vừa khó phát âm, vừa khó cảm thụ lại khó nhớ. Đó chính là quan điểm của âm vị học khi nhìn vào các hiện tượng âm thanh: ngôn ngữ là của con người, ngôn ngữ phải phục vụ con người theo nguyên tắc tiết kiệm và ít bị đánh dấu, mang tính tự nhiên cao.

Bất kì ngôn ngữ nào, cho đến ngày nay, tồn tại được và phục vụ con người được cho con người đều phải trải qua những quá trình tiếp xúc với những nền văn hoá khác nhau. Những va chạm và tiếp xúc ấy đã làm cho tính cân đối của hệ thống âm thanh (nếu có) bị mai một, biến dạng đi theo thời gian trước những nhu cầu sử dụng rất khác nhau của con người đối với ngôn ngữ.

Ví dụ: Tính cân đối giữa âm môi vô thanh-hữu thanh của loạt trước trong tiếng Việt đã từng tồn tại trong thời xa xưa (trước thế kỉ 17). Nhưng do áp lực từ những tiếp xúc khác nhau đối với tiếng Hán cận hiện đại, tiếng Hán thổ ngữ mà âm /p/ đã bị tiêu biến đi. Từ sau năm 1987 trở lại đây, hình như đã có dấu hiệu xuất hiện trở lại của âm /p/. Do nhu cầu định danh cho sự vật mới, người Việt phải vay mượn các từ có gốc Ấn-Âu. Ngược lại, sự kết hợp trong vần giữa /–/ và /-w/, /–/ và /-w/ để tạo nên các vần /u/ và /w/ là một sự kết hợp rất Mon-Khmer, nhưng do tiếng Việt tiếp xúc với các ngôn ngừ Tày-Thái ở phía bắc (đây là những ngôn ngữ mà ngay cả âm

4. Để phân biệt âm thanh tiếng nói con người với âm thanh của các loài vật khác, người ta căn cứ vào các cơ chế sinh lí học của các cơ quan phát âm, khả năng thụ cảm của các cơ quan thính giác và thần kinh. Ví dụ như, đẻ mô tả sự tạo thành một phụ âm, người ta phải căn cứ trên các thuộc tính sau đây về sinh lí cấu âm:

Ví dụ:

Như vậy, âm của mọi người đều giống nhau vì đó là nguyên lí chung để định nghĩa âm thanh con người, phân biệt với các loài khác. Đó là quan điểm mang tính tự nhiên về bản chất âm thanh con người. Do đó, người ta nói ngữ âm học mang bản chất nhân loại, bản chất thế giới. Chính vì thế, ngay từ thế kỉ 19, các nhà ngữ âm học thế giới đã lập cho mình một hội nghề nghiệp mang tên Hội Ngữ âm học quốc tế – IPA.

Vậy, ngữ âm học là ngành nghiên cứu về bản chất âm thanh tiếng nói con người không phân biệt tuổi tác, giới tính, quốc gia…

Còn âm vị học không mang tính nhân loại, âm vị học là ngành nghiên cứu hệ thống âm thanh của một cộng đồng xác định. Cộng đồng ấy là chủ nhân của một hệ thống âm thanh. Họ sử dụng nó cho những mục đích rất khác nhau trong đời sống giao tiếp cộng đồng. Và vì họ nằm lòng ngôn ngữ ấy, hệ thống âm thanh ấy ngay từ khi còn trong bụng mẹ nên họ có trực cảm về nó như là một vật rất thân quen nhưng lại không ý thức được điều đó.

* Tóm lại:

Có hai ngành nghiên cứu về âm thanh tiếng nói con người vì đối tượng, phương pháp, phương pháp luận và mục đích giữa hai ngành là khác nhau. Một bên nghiên cứu về bản chất âm thanh tiếng nói con người nói chung cho nên mang tính phổ niệm, tính khái quát; một bên là nghiên cứu về một hệ thống âm thanh được sử dụng ở một cộng đồng hoặc một phạm vi cụ thể nên nó mang tính đặc thù. Hiểu được sự khác nhau giữa hai ngành học này, người ta có thể ứng dụng các kết quả nghiên cứu một cách hiệu lực cho những lĩnh vực khác nhau. Ví dụ: trong việc phục hồi chức năng của những người bị bệnh lời nói thì phải sử dụng ngữ âm học nhưng trong việc nhận diện ra các bệnh thất ngôn thì người ta phải dùng các kết quả của âm vị học. Cũng tương tự như vậy, để dạy cho người nước ngoài nói tiếng Việt thì phải tận dụng các kiến thức của ngữ âm học nhưng để phân biệt các giọng nói khác nhau của từng vùng đất khác nhau trong một quốc gia thì phải có thái độ âm vị học (phân biệt từ địa phương về mặt ngữ âm và từ địa phương về mặt từ vựng).

Nguồn: Ngonngu.net

Biểu Diễn Âm Vị Học

Biểu diễn âm vị học

(phần đầu)

Âm thanh lời nói là một hiện tượng tự nhiên bao gồm những dao động của thực thể vật lí mà âm học hiện đại biểu thị ra bằng cao độ (nội dung của dây thanh), cường độ, trường độ…

Nhưng từ khi xuất hiện văn tự, âm thanh không còn là một dạng thể hoàn toàn tự nhiên nữa. Nó được biểu diễn ra trên kênh viết dưới hình thức văn tự ghi âm ghi âm. Đó chính là một phép chuyển kênh hay là một sự cải biến về âm thanh tự nhiên sang các kí hiệu được thụ cảm bằng thị giác (từ thính giác tới thị giác).

“Lời nói gió bay” là nhược điểm lớn nhất của âm thanh bằng lời. Lời nói muốn được lưu giữ lại cần đến sự tác động nhân tạo vào đối tượng. Vì sự lưu lại lời nói âm thanh cho con người là có ích về nhiều mặt. Vì vậy, từ khi có ngôn ngữ học, người ta luôn luôn tìm ra những giải pháp tối ưu hơn cho việc lưu lại âm thanh tự nhiên của con người. Chúng ta có những dạng sau đây:

Tự nhiên (sóng âm)

Lưu giữ (nhân tạo tính)

Âm thanh tự nhiên

Thẩm nhận qua tai: Băng/đĩa từ, đĩa quang…

Thẩm nhận qua thị giác

1a. Chữ viết ghi âm (abc)

1b. Chữ viết ghi âm tiết (văn tự

Sumer)

2. Phiên âm

2a. Ngữ âm học (IPA) 2b. Âm vị học:   - Cấu trúc luận   - Tạo sinh luận   - Âm vị học tự chiết đoạn

Dạng ghi lời nói qua văn tự, tuỳ theo tiến bộ của khoa học kĩ thuật mà âm thanh có thể được chuyển tải, được ghi lại với mức độ chính xác khác nhau. Tuy nhiên, các điều kiện kĩ thuật của con người không thể phản ánh trung thực và khách quan những điều tế vi nhất của âm thanh con người.

Còn những sự lưu giữ thông qua kênh thị giác là hình ảnh chủ quan của con người về thế giới âm thanh. Bằng chứng là dòng âm thanh liên tục đã được cắt ra theo truyền thống chữ viết của từng dân tộc. Tuỳ theo nét thô hay nét tinh mà các chữ cái được sắp lại thành chuỗi nhằm thể hiện được tính liên tục của âm thanh trong tự nhiên:

Ví dụ: “tr“

Trong hình dung của A. de Rhodes (1651), âm này được “tãi” ra thành hai yếu tố tuyến tính đi cạnh nhau và /t/ và /r/. So sánh: trời, blời, tlời… Có lẽ vào thời ấy, ở phụ âm đầu tiếng Việt còn tổ hợp phụ âm đầu như bl, tl, tr… Nhưng ở người Việt hiện đại, bất kì trong một thổ ngữ nào, phụ âm đầu này luôn là phụ âm quặt lưỡi đơn nhất, đồng chất và không mang tính hình tuyến. Tiếng Việt đã trải qua quá trình đơn tiết hoá đến triệt để, đến nỗi một âm tiết xét về mặt chiết đoạn chỉ là một tổ hợp của 3 thành phần âm thanh, mô phỏng một cách tự nhiên chu kì cấu âm của con người.

Các âm khác như /f/, /t’/, /χ/ ở trong tiếng Việt được ghi bằng “ph, th, kh” là cũng có lí do tương tự như vậy. Vào thời kì A. de Rhodes, người Việt cận đại có lẽ lúc đó phát âm các phụ âm đầu này như là những tắc bật hơi để phân biệt với các âm tắc bình thường:

*/p’/ → (/f/) */t’/ → (t’/) */k’/ → (/χ/)

Vì vậy, ông đã sử dụng chữ “h” để ghi các yếu tố bật hơi có trong tiếng Việt. Do vậy mà ở vị trí đầu này đã có tới 2 chữ cái cho một âm vị.

Văn tự là văn hoá, là thói quen ghi chữ của một cộng đồng. Gần 4 thế kỉ tồn tại của hệ chữ viết Việt Nam đã tạo thành một nét văn hoá trong chữ viết, đến mức một cá nhân dẫu có uy tín lớn như Hồ Chí Minh rất mong muốn “âm vị hoá” hoá lại hệ chữ viết này ngay từ khi Người đi tìm đường cứu nước đến khi Người viết di chúc mà ý nguyện đó vẫn chưa thực hiện được. Đó chính là tính độc lập tương đối của văn tự, là hình ảnh âm thanh quá khứ dội về. Đó là tiếng vang văn hoá và không thể ngày một, ngày ngày hai mà có thể cải tiến và sửa chữa được.

Như vậy, người ta có thể lưu giữ lời nói âm thanh tự nhiên của con người thông qua hệ chữ viết của mình, nhưng đây là một thứ biểu diễn âm vị học sơ cấp, tính khoa học nhường chỗ cho tính văn hoá và tình phổ cập. Từ khi xuất hiện cấu trúc luận, nhất là từ khi xuất hiện những tuyên ngôn của trường phái Praha về ngôn ngữ học, người ta lưu ý hơn đến việc lưu giữ hệ âm thanh tiếng nói con người thông qua kênh thị giác. Bởi vì, qua kênh thị giác, con người có thời gian suy nghĩ nhiều hơn về bản chất âm thanh tiếng nói con người, tận dụng được năng lực cảm nhận một cách tối ưu cái mà tự nhiên cấp cho con người: 90% thông tin con người nhận được là thông qua thị giác.

Nhưng từ cấu trúc luận trở đi, việc biểu diễn âm vị học không còn là một hành động tự phát của con người trong việc đòi lấy một sự bình đẳng giữa kênh nghe và kênh nhìn. Từ cấu trúc luận trở đi, người ta chia thành hai dạng biểu diễn âm vị học: một dạng mang tính ngữ âm học; một dạng mang tính âm vị học. Cả hai dạng này đều là những cố gắng tự giác của con người trước âm thanh của mình. Biểu diễn âm thanh theo lối ngữ âm học là sử dụng một bảng phiên âm thống nhất trên toàn thế giới cho việc ghi lại một dòng âm thanh thanh mà con người ta nghe được. Từ 1890, khi

Hội Ngữ âm học quốc tế (International Phonetic Association – IPA) được hình thành, việc đầu tiên trong các việc họ phải làm là thiết lập một bảng chữ cái chung cho các âm có trên toàn thế giới. Bảng phiên âm này có tên:

International Phonetic Alphabet (IPA). Cứ 5 năm một lần kể từ khi thành lập, những nhà ngữ âm học quốc tế lại nhóm họp để cải biên, bổ sung, sửa đổi cho bảng chữ cái này tương thích hơn với hệ âm thanh tiếng nói con người. Bảng IPA bao gồm các kí tự Latinh, kí tự Hi Lạp và một hệ các dấu phụ để phản ánh được trung thành hơn các dạng thể âm thanh của con người. Vào năm 1993, sau gần 100 năm xuất hiện IPA, các nhà ngữ âm học đã chỉnh sửa và đưa ra bảng chữ cái quốc tế cho phiên âm mà chúng ta đang dùng.

Việc sử dụng bảng IPA để phiên âm được gọi là phép phiên âm hẹp theo trường phái Mĩ, vì người phiên âm phải phiên âm một cách trung thành và chính xác dòng âm thanh mà mình tiếp nhận.

Ví dụ: “toan” = bao gồm: [t] [a] [n] là 3 âm tố chính quan trọng. Ngoài ra, khi phát âm thì [t] và [a] đều tròn môi ([to], [ao]).

Khi phát âm “toan” thì [-n] đứng ở vị trí cuối cùng của âm tiết, một vị trí không thuận lợi cho việc phân biệt giữa nét hữu thanh và vô thanh, giữa nét tắc và xát, trường độ của âm cuối vô cùng ngắn (âm cuối thường có trường độ từ 3–5ms trong tương quan với âm đầu có trường độ là từ 17–25ms), nên [-n] trong “toan” là một âm mũi nhưng không đầy đủ về tính hữu thanh và vang. Vì vậy, khi phiên âm hẹp âm cuối này thì dưới kí hiệu này còn phải ghi chú thêm tình trạng ít tính thanh (to).

Biểu diễn âm vị học

(phần hai)

Trong sự cố gắng tuyệt vọng của các nhà ngữ âm học muốn ghi lại cụ thể và chi tiết các động thái xảy ra trong dòng âm thanh mà mình nghe được, sự nối dài ra danh sách các dấu hiệu phụ suy cho cùng thì cũng chỉ được coi là một “tối kiến”. Bởi vì, lời nói âm thanh là vô hạn, dẫu cho một danh sách đã chuẩn bị các chữ cái và dấu phụ chi tiết đến mức nào thì cũng chỉ là đem cái hữu hạn ra so với sự vô hạn mà thôi. Vì vậy, các phiên âm ngữ âm học dù có được cải tiến đến đâu thì cũng chỉ là những hình ảnh mờ nhạt và không chính xác về thế giới âm thanh.

Vì vậy, để phản ánh trung thực được dòng âm thanh mà chúng ta nghe được, không thể sử dụng phiên âm ngữ âm học – một thứ phiên âm mang tính dị đoan trong ngữ âm học – mà người ta phải tìm lấy cái bất biến trong cái vạn biến của một hệ âm thanh. Chính nhờ việc xác định rõ cái biến động, cái vô hạn mà bộ môn âm vị học ra đời. Với âm vị học, dòng âm thanh dẫu có biến đổi bao nhiêu thì vẫn phải có cái thần của nó. Cái thần này nằm ở trong danh sách âm vị, danh sách các nét âm vị và danh sách các luật âm vị học.

Một biểu diễn âm vị học hiện đại bao gồm:

a- Một danh sách các âm vị (list of phonemes) b- Một danh sách các nét khu biệt (list of distintive features) c- Một danh sách các luật âm vị học (list of phonetic rules).

Như vậy, ước mơ tìm đến một bảng danh sách chung cho cả hệ âm thanh trên thế giới đã được thu gọn lại, hiện thực hơn là: biểu diễn hệ âm thanh cho một hệ ngôn ngữ, một cộng đồng. Đó là một chủ nghĩa hiện thực cho âm vị học biện đại, được bắt đầu từ R. Jakobson (1953) với sự cổ vũ của Noam Chomsky (1968) và sự mở rộng của Goldsmith (1970–1990).

Vì sự vô hạn đã biến thành các sự hữu hạn của các nét khu biệt thường dùng trong cộng đồng nói năng và sau đó được sửa đổi thông qua các luật âm vị học của riêng từng ngôn ngữ cho nên, biểu diễn âm vị học phản ánh trung thành được dòng âm thanh mà chúng ta nghe được trên tinh thần khoa học và chính xác, của một phiên âm mang tính khoa học và một hoạt động nhận thức của tự giác.

Trong một biểu diễn âm vị học như vậy, nhà nghiên cứu có thể tiếp thu hoàn toàn bảng danh sách âm vị có từ cấu trúc luận (x. Đoàn Thiện Thuật. Ngữ âm tiếng Việt), hệ nét khu biệt có thể mượn của Jakobson hoặc Chomsky (Lí thuyết tạo sinh trong âm vị học). Còn luật âm vị học thì có thể mượn của Chomsky hoặc Goldsmith sau này (Âm vị học tự chiết đoạn – Autosegmental Phonology). Người ta còn gọi sự phiên âm theo âm vị học là phiên âm rộng (broad transcription). Phiên rộng là phiên âm lược bỏ được hầu hết các kí hiệu phụ. Người ta “tẩy rửa” cho sạch những kí hiệu rối mắt ở trên một kí hiệu phiên âm theo bảng chứ cái. Sự chi tiết của dòng âm thành cùng với tính khoa học trong phiên âm được bộc lộ thông qua hệ nét khu biệt và nội dung của một âm vị và những phát biểu về các nét âm vị học cho từng trường hợp cụ thể của dòng âm thanh ấy.

Ví dụ: Tở lại trường hợp “toan” trong tiếng Việt, theo phiên âm rộng, chúng ta có:

1. ([tan]) ([w][1]) 2. Danh sách các nét khu biệt:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

+PAT +Tắc +Răng-lợi +Vô thanh

 

 

 

+NAT +Giữa +Thấp +Đơn

 

 

 

+PAT +Răng-lợi +Mũi  

 

 

 

 

 

+Tròn môi

 

 

 

+Thanh điệu tính +Bằng +Cao

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3. Luật âm vị học:

[BT] → [+Tròn môi]

/ /

C1 ≠ [+Môi] V ≠ [+Sau]

(luật)

 

(chu cảnh)

 

[+Môi]: /b-/, /p-/, /f-/, /v-/, /m-/,… [+Sau]: /-u-/, /-o-/, /-uo-/,… [Bình thường]: Âm tiết không âm đệm [+Tròn môi]: Âm tiết có âm đệm

Biểu diễn âm vị học

(phần cuối)

1. Ở danh sách âm vị, trong mỗi biểu diễn âm vị học, thường có 2 phần tách rời nhau là biểu diễn âm vị học ở phía trái và biểu diễn âm vị học ở phía phải. Biểu diễn âm vị học ở phía trái là phần chia hết theo lí thuyết chiết đoạn, nghĩa là theo lí thuyết về phổ niệm âm thanh, bất kì một âm tiết nào cũng là sự tổ hợp của 3 giai đoạn khác nhau của một chu kì phát âm tự nhiên:

Một âm tiết bao gồm một hạt nhân của nó. Đây là phần chủ đạo về âm hưởng của một âm tiết. Nó chiếm giữ hầu hết năng lượng của một âm tiết và vì vậy, nó có tính độc lập tương đối, đến mức một âm tiết có thể chỉ bao gồm mỗi một hạt nhân. Đó chính phần V. Ở phía trước và ở phía sau V, hay còn gọi là giai đoạn khởi và giai đoạn thoái trong âm tiết, là vị trí ưa thích của các chiết đoạn phụ âm tính. Trong âm vị học, đó là C1 hoặc C2.

Bản thân từ nguyên của chữ “phụ âm” (consonant) đã nói lên tính phụ thuộc của các yếu tố phía trước và phía sau nguyên âm: con – đi kèm; sonant – âm. Chúng là các yếu tố âm thanh chứa ít năng lượng nhất nên luôn luôn phải bám vào các nguyên âm để tồn tại. Các số (1) và (2) đi sau kí hiệu C, đối với tiếng Việt, là để chỉ vị trí cụ thể của các phụ âm trong mối tương quan với nguyên âm có trong một âm tiết. Ta có C1 là phụ âm đầu (ở vị trí giai đoạn tiếng của một âm tiết), C2 là phụ âm cuối (ở vị thoái của một âm tiết). Kết quả, ta được một mô hình chung cho biểu diễn âm vị phía trái là:

 C1   V   C2 

*Ý nghĩa:

Không như Cao Xuân Hạo hoặc Nguyễn Quang Hồng đã tuyên bố: âm tiết tiếng Việt là một hiện tượng kì dị trong ngôn ngữ thế giới vì người ta không thể cắt âm tiết thành từng phần được, không chiết đoạn hoá được các âm vị bên trong một âm tiết, âm vị học tiếng Việt hiện đại cho rằng: tiếng Việt cũng chỉ là một mảnh của cánh đồng âm thanh nhân loại. Nó là âm thanh của con người nên nó phải có tính nhân bản. Nếu như toàn bộ các ngôn ngữ đều có cấu trúc âm tiết là:

– phần đầu âm tiết (C1); – phần giữa âm tiết (V) là hạt nhân; – và phần cuối âm tiết (C2) để kết thúc âm tiết

thì tiếng Việt cũng phải nằm trong quy luật tự nhiên này, nghĩa là nó vân phải có 3 phần như vậy. Đó là phần lõi hay tính nhân bản của loài người. Không nên cho âm tiết tiếng Việt là có hình dáng kì quái đến mức chỉ mỗi người Việt là phát âm được.

Nhưng tiếng Việt phải có khó khăn của riêng nó trong việc phát âm các âm tiết. Sau khi thoả mãn phần nhân loại, tiếng Việt chuyển sang phần bản sắc của mình. Đó là phần biểu diễn âm vị học phía phải của âm tiết. Ở đó, chúng ta ghi ra những đặc thù về mặt phát âm của âm tiết tiếng Việt – những yếu tố “cặn” còn đọng lại không chia hết được theo nguyên tắc chiết đoạn luận của ngữ âm học phương Tây. Đây là phần bản sắc của âm thanh tiếng Việt. Đó là sự tròn môi hoá âm tiết mà cấu trúc luận gọi là âm đệm. Đó là toàn bộ hệ siêu đoạn được bộc lộ ra bằng thanh điệu tiếng Việt. Đó là sự kết thúc theo biểu bình thường hay có “sạn”. Đó là sự cố kết theo cách căng hay lơi ở phần vần của âm tiết để tạo ấn tượng hạt nhân dài ra hay ngắn lại. Như vậy là ở phía phải của một biểu diễn âm vị học, theo cách đầy đủ nhất sẽ gồm 4 yếu tố, không được xếp một cách tuyến tính, sau đây:

Tuyến tính

 

Phi tuyến tính

 C1VC2

1. [+tròn môi] / [-tròn môi] 2. [T1]/[T2]/…/[Tn] 3. [T[7+8]] / [T[1 → 6]] 4. [+căng] / [+lơi]

Trái

 

Phải

Tuy nhiên, nếu chúng ta đã quy ước rằng các bộ phận ởp hía phải là bộ phận không mang tính hình tuyến, nghĩa là không theo một sắp xếp hình tượng nào mà cùng xuất hiện khi một cấu trúc chiết đoạn đã được bộc lộ là C1VC2, thì chúng ta có thể không nhất thiết phải liệt kê theo thứ tự 1, 2, 3… Ví dụ:

1.                  

“tăn” → ([tan]) ([T1] [+căng])

2.                  

“tan” → ([tan]) ([T1])

3.                  

“quan” → ([kan]) ([T1] [+tròn môi])

4.                  

“quăn” → ([kan]) ([T1] [+tròn môi] [+căng])

2. Phần chủ yếu của âm vị học mở rộng là bàn về nội dung của các âm vị có trong một biểu diễn âm vị học. Vì có thể danh sách âm vị ở các ngôn ngữ là như nhau (ở phần phía trái) nhưng nội dung các nét khu biệt đẻ làm đầy âm vị ở mỗi ngôn ngữ là khác nhau. Lí do nằm ở chỗ: Số lượng âm vị ở mỗi danh sách thường không bao giờ như nhau; chất lượng thể hiện của các âm vị ở mỗi ngôn ngữ là một khác; khả năng xuất hiện ở các vị trí C1 và C2 trong khung âm tiết phổ niệm cũng rất khác nhau ở các ngôn ngữ.

Vì vậy, nếu như ở phần danh sách âm vị, người ta có thể chia ra được phần chung và phần riêng; phần nhân loại và phần cộng đồng; phần phổ niệm và phần bản sắc thì ở danh sách nét khu biệt, người ta hiếm gặp được một nội dung âm vị học nào đó tương tự nhau giữa các ngôn ngữ. Sự khác nhau này xuất phát từ nguyên lí quan trọng của âm vị học: Âm vị học là nghiên cứu âm thanh của một ngôn ngữ. (x.

chi tiết)

Ví dụ: Chúng ta có một số mẫu biểu diễn âm vị về nội dung âm vị của các tiếng và từ tiếng Việt sau đây:

1. “tăn”: ([tan]) ([T1][+căng])

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

+PAT +Tắc +Răng-lợi +Vô thanh -Mũi

 

 

 

+NAT +Giữa +Thấp +Đơn  

 

 

 

+PAT +Tắc +Răng-lợi +Mũi  

 

 

 

 

 

+TĐT +Bằng +Cao

 

 

 

+Căng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2. “tan”: ([tan]) ([T1])

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

~  

 

 

 

~  

 

 

 

~  

 

 

 

 

 

~  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3. “quan”: ([kan]) ([T1][+tròn môi])

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

+PAT +Tắc +Ngạc mềm +Vô thanh -Mũi

 

 

 

~  

 

 

 

~  

 

 

 

 

 

~  

 

 

 

+Tròn môi

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

4. “quăn”: ([kan]) ([T1][+tròn môi][+căng])

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

~  

 

 

 

~  

 

 

 

~  

 

 

 

 

 

~  

 

 

 

~  

 

 

 

+Căng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

5. “loan”: ([lan]) ([T1][+tròn môi])

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

+PAT +Bên

 

 

 

~  

 

 

 

~  

 

 

 

 

 

~  

 

 

 

~  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3. Giới thiệu về hệ thống âm vị học của một ngôn ngữ, ngoài việc thống kê danh sách âm vị học và nét khu biệt, còn phải đề cập đến các điều kiện xuất hiện của các âm vị và các nét khu biệt này. Hình thức hoá các điều kiện này được gọi là luật âm vị học.

Luật âm vị học được chia thành hai loại:

a. Các luật âm vị học về tổ chức một âm vị hay đó là cấu trúc nét của âm vị;

Ví dụ: Trong tiếng Việt, các âm [+ngạc cứng] không thể phối hợp được với các nét [+xát] để tạo nên được một phụ âm đầu chính danh. Ta có một số phụ âm tiếng Việt như sau:

p

t

c

k

b

d

luật a3

luật a1

luật a2

f

s

ş

χ

v

z

γ

Ta có luật âm vị học a là: a1: [+xát] → ø [+ngạc cứng] a2: [+tắc; +ngạc mềm] → ø [+hữu thanh] a3: [+quặt lưỡi; +tắc] → ø [+hữu thanh] Nói cách khác, luật a chính là luật trục dọc hoặc luật hệ hình để thể hiện khả năng hay tiềm năng của hệ thống âm vị học. Chúng góp phần giải thích tại sao và ở chỗ nào một hệ thống âm vị học lại trở nên không cân đối.

b. Sự tương hợp của các nét khi đứng cạnh nhau trong một cấu trúc âm thanh lớn hơn. Ví dụ như trong một hình tiết hoặc một hình vị.

Luật b chính là luật thể hiện trục ngang hay khả năng kết hợp của các âm vị đứng cạnh nhau trong một cấu trúc âm thanh lớn hơn so với âm vị. Ví dụ: Trong tiếng Việt có một nguyên tắc là: Các âm vị khi kết hợp phải xa nhau Trong tiếng Việt, các nguyên âm cùng một vị trí của lưỡi thì không thể kết hợp với nhau. Ta không có:

*[εi], *[ei], *[ou]…

Để phản ánh nguyên tắc kết hợp này, chúng ta có luật b1:

V + C2 → R

 

điều kiện: V, C2 không chứa cùng nét bộ vị;

ta cũng không có:

*[boam], *[muy], *[phoàm]…

Và tương ứng với trường hợp này là luật b2:

C1 + R → S R = V + C2

 

điều kiện: {C1 ≠ V (R)} ≠ [+tròn môi]

Nói tóm lại, khác với âm vị học cổ điển, âm vị học hiện đại ngoài việc cho biết danh sách âm vị học và các nét khu biệt của một hệ thống, nó còn giải thích lí do xuất hiện cũng như lí do một âm vị có một dạng cụ thể của một âm vị. Những điều này giúp cho việc đối chiếu, so sánh âm vị học giữa các ngôn ngữ trở nen có cơ sở đáng tin cậy hơn nhiều.

Tuy nhiên, để có được những căn cứ xác thực cho một sự tương hợp giữa các nét âm vị học, người ta phải cần nhiều đến các cứ liệu trong thực tế: trong từ vựng của một ngôn ngữ, trong sự kết hợp và thể hiện của một âm vị có trong lời nói tự nhiên hoặc trong các biến thể khác nhau của các phương ngữ. Chính vì vậy mà âm vị học hiện đại khác hẳn âm vị học truyền thống ở tính quan tâm đến nhiều mặt khác nhau của một ngôn ngữ tự nhiên. Nhà âm vị học hiện đại, ngoài tri thức chắc chắn về âm vị học, còn cần đến những tri thức sâu sắc trong thi pháp học, phương ngữ học, ngữ nghĩa học và ngữ pháp học. Nói cách khác, âm vị học hiện đại chính là một ngôn ngữ học thu nhỏ.

Để 2 1 Chép Thuộc Phần Phiên Âm Và …

Phiên âm Ngục trung vô tửu diệc vô hoa, Đối thử lương tiêu nại nhược hà ? Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt, Nguyệt tòng song khích khán thi gia.

Dịch thơ: Trong tù không rượu cũng không hoa, Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ; Người ngắm trăng soi ngoài cửa số, Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.

– Hoàn cảnh sáng tác:Bài thơ rút trong “Nhật ký trong tù”; tập nhật ký bằng thơ được viết trong một hoàn cảnh đoạ đầy đau khổ, từ tháng 8-1942 đến tháng 9-1943 khi Bác Hồ bị bọn Tưởng Giới Thạch bắt giam một cách vô cớ. Bài thơ ghi lại một cảnh ngắm trăng trong nhà tù, qua đó nói lên một tình yêu trăng, yêu thiên nhiên tha thiết của Bác.

Câu 2:a.Phép tu từ

_Phép tu từ nhân hóa:”trăng nhòm”-Điệp Từ”ngắm”

b.Giá trị nhân hóa:Trăng được nhân hóa có khuôn mặt và ánh mắt như người,người và trăng đồng điệu,chung hòa.Như thể bác Hồ và trăng hết sức gắn bó,thân thiết

*Giá trị điệp từ:Từ “ngắm” được đệp lại hai lần,nghệ thuật đối xứng nhấn mạnh hình ảnh trăng và người.Đó là tư thế ngắm trăng cực đẹp,hướng tới cái đẹp của cuộc đời.

(xin lỗi,mik ko giúp đc câu 3)

Câu 4:

Sự hoán đổi vị trí câu thơ thứ tư khiến cho con người trở thành đối tượng chiêm ngưỡng của trăng.Con người trở thành cái đẹp tỏa sáng.

Như thế,trăng và người là sự sánh đôi của cái đẹp.Hai cái đẹp đó cùng đối diện và tỏa sáng bên nhau tạo ra một sự cộng hưởng.Ngục tù lúc này trở thành nơi gặp gỡ-tương giao-tỏa sáng của cái đẹp. Câu 5 : Bài Ngắm trăng viết trong nhà tù của chế độ Tưởng Giới Thạch ở Quảng Tây, giới thiệu một tư thế ngắm trăng độc đáo, biểu lộ một phong thái sống ung dung, chủ động ngay trong những cảnh ngộ ngặt nghèo. Bài thơ kết tinh cao độ phong thái sống của Hồ Chí Minh. Ở đây, sự vượt ngục đã hoàn thành một cách thần kì, sự phấn đấu đã trở nên hài hòa, thư thái.

Trong tù không có rượu, cũng chẳng có hoa là sự bình thường, việc cố nhiên. Nhưng thấy cảnh đẹp mà bối rối (nại nhược hà) thì không phải là việc bình thường, dễ thấy. Tại sao lại bối rối? Trăng đẹp thì ngắm trăng. Thường người đời chỉ ngắm trăng khi lòng thư thái, thanh nhàn, dư dật về kinh tế, có rượu, có hoa. Khi ấy Bác đang ở trong tù, dư dật, nhàn nhã gì mà ngắm trăng? Chúng ta sống ngoài đời tự do mà cũng ít khi để ý đến vầng trăng tròn, khuyết trên đầu. Trong truyện ngắn Trăng sảng của Nam Cao, bà vợ nông dân của văn sĩ – nhà giáo khổ Điền đã gắt lên với chồng khi ông này gọi bà để khoe trăng sáng quá: Trăng sáng thì tắt đèn cho đỡ tốn hai xu dầu, chứ có gì mà phải gọi!

Đêm tù ấy, Bác chẳng có phương tiện vật chất gì để thưởng nguyệt. Nhưng chẳng lẽ để vẻ đẹp ấy trôi qua vô ích? Nên Bác mới bối rối. Dịch nại nhược hà (làm thế nào bây giờ) thành khó hững hờ cũng gọn nhưng chưa cho thấy hết cái lúng túng của một tâm hồn nghệ sĩ bất ngờ gặp cảnh đẹp của thiên nhiên. Câu thơ mở đầu trần trụi như một bản kiểm kê, tả cảnh sống người tù. Câu thơ thứ hai đã tả tâm hồn của một thi nhân với thi hứng dạt dào, tinh tế, thơ mộng. Cái thơ mộng này đối chiếu với cái thực tế ở câu trên tạo nên một thi vị hóm hỉnh của Hồ Chí Minh. Bác yêu vầng trăng trên đầu, nhưng Bác không quên cái cùm sắt cụ thể dưới chân. Thơ mộng nhưng không viển vông. Thiết thực nhưng không chặt đi đôi cánh của trí tưởng tượng. Chính đôi cánh ấy đã giúp Bác bay ra ngoài song sắt lúc nào không hay.

Soạn Bài: Bánh Trôi Nước

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả (mời các em tham khảo phần giới thiệu về tác giả Hồ Xuân Hương trong SGK Ngữ văn 7 Tập 1)

2. Tác phẩm

Bài thơ Bánh trôi nước được sáng tác theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. Bài thơ gồm có 4 câu, mỗi câu có 7 chữ, cách ngặt nhịp 4/3 truyền thống và vần được gieo ở chữ cuối của những câu 1,2,4.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Bài thơ Bánh trôi nước thuộc thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. Bởi vì:

Bài thơ có 4 câu

Mỗi câu thơ gồm 7 chữ

Ngắt nhịp 4/3

Vần được gieo ở cuối những câu 1,2,4

Câu 2:

Nghĩa thứ nhất của bài thơ thuộc về nội dung miêu tả bánh trôi nước khi đang được luộc chín. Nghĩa thứ hai thuộc về nội dung phản ánh vẻ đẹp, phẩm chất và thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ.

a) Với nghĩa thứ nhất, bánh trôi nước được Hồ Xuân Hương miêu tả như một vật thể có màu trắng của bột, hình dạng viên tròn, nếu nhào bột mà nhiều nước quá thì bánh sẽ nát (nhão), còn nếu ít nước quá thì bánh sẽ rắn (cứng), được luộc chín bằng cách cho vào nồi nước đun sôi, khi chín thì bánh sẽ nổi lên, còn những chiếc bánh vẫn chìm là chưa chín.

b) Với nghĩa thứ hai, có thể nói, hình ảnh bánh trôi nước đã trở thành một biểu tượng, tượng trưng cho người phụ nữ Việt Nam trong xã hội xưa qua những phương diện:

Bề ngoài: xinh đẹp, trắng trẻo

Phẩm chất: thủy chung, son sắt một lòng, không bị cảnh ngộ chi phối

Thân phận: chìm nổi, bấp bênh giữa cuộc đời.

c) Trong hai nghĩa trên, nghĩa thứ hai mới chính là nghĩa quyết định giá trị của bài thơ. Bời vì nghĩa thứ nhất chỉ là phương tiện để nhà thơ chuyển tải nghĩa thứ hai. Hình ảnh bánh trôi nước là biểu tượng cho người phụ nữ Việt Nam với những vẻ đẹp, phẩm chất trong trắng, son sắt nhưng số phận của họ lại bấp bênh, chìm nổi. Đây mới chính là mục đích sáng tác của nhà thơ và nhờ đó mà bài thơ mới có giá trị tư tưởng.

Theo chúng tôi

Tự Học Tiếng Trung Qua Truyện Cười Song Ngữ Trung – Việt (Có Phiên Âm)

Giá thị trường:150.000đ

Rèn Kỹ Năng Làm Bài Trọng Âm Ngữ Âm Môn Tiếng Anh

Bí quyết đơn giản nắm trọn điểm phần trọng âm, ngữ âm trong bài thi THPT Quốc gia môn tiếng Anh

Kỳ thi THPT Quốc gia là một kỳ thi rất quan trọng, vừa phục vụ mục đích thi tốt nghiệp vừa xét tuyển đại học, cao đẳng. Để vượt qua kỳ thi này, trước hết các em cần phải có một tinh thần vững chắc và hơn hết là lượng kiến thức đủ chắc cùng các kỹ năng làm bài trắc nghiệm cần thiết để chinh phục kỳ thi dễ dàng.

Tiếng Anh là 1 trong 3 môn thi bắt buộc, so với các năm trước đề thi đã chuyển về dạng trắc nghiệm với số câu hỏi được rút gọn xuống còn 50 câu hỏi. Đề thi gồm có 8 dạng bài bao gồm: từ vựng, ngữ pháp, trọng âm ngữ âm, điền từ, đọc hiểu, câu hỏi viết, tìm lỗi sai và từ đồng nghĩa trái nghĩa.

Trong 8 dạng bài, phần “trọng âm – ngữ âm”  là dạng bài dễ, số lượng câu hỏi ít nhưng để “ẵm” điểm tuyệt đối trong phần này lại không dễ dàng bởi vì:

Các em không biết cách đánh trọng âm và  đọc chuẩn phiên âm

Đề thi gồm 50 câu trắc nghiệm, phần trọng âm, ngữ âm chỉ có 4 câu hỏi với 16 từ đơn giản nhưng lại là phần khiến nhiều em hay bị mất điểm nhất. Bởi các em có ôn tập kỹ đến đâu nhưng khi đi thi vẫn cảm thấy lúng túng, phân vân khi câu hỏi xuất hiện nhiều từ vựng có hình thức mới mẻ. Nếu đề thi có các từ có từ 3 – 5 âm tiết thì phải xác định trọng âm như thế nào? Các em không biết cách xác định được trọng âm cũng như cách đọc phiên âm chuẩn của từ nên rất khó để xác định được phương án đúng.

Các em không nhớ được các quy tắc phát âm và đánh dấu trọng âm của từ

Học sinh vẫn còn ôn tập phần này rất máy móc, các em dùng từ điển tra từng từ, ghi nhớ và học thuộc lòng mà không tự rút ra được những quy tắc chung. Nhiều em vì thấy điểm phần này ít nên không muốn dành thời gian ôn tập, khi đi thi thường dựa vào “may rủi” bằng cách khoanh mò đáp án.

Tiếng anh có nhiều trường hợp ngoại lệ dù các em có nắm được quy tắc vẫn không giải quyết được

Mặc dù các em có ôn tập, nắm hết các quy tắc phát âm, đánh dấu trọng âm nhưng vẫn không đạt điểm cao vì trong tiếng Anh có rất nhiều trường hợp ngoại lệ. Vậy làm sao để các em có thể hệ thống được các trường hợp đặc biệt này để đưa ra cách đối phó phù hợp.

Sẽ thật tiếc nếu chỉ vì những khó khăn trên mà các em phải bỏ lỡ một phần dễ ăn điểm. Hãy sử dụng ngay cuốn sách “Rèn kỹ năng làm bài trọng âm, ngữ âm môn tiếng Anh” để “ẵm trọn vẹn” điểm phần thi trọng âm, ngữ âm và vững bước trong kỳ thi sắp tới. Đây là cuốn sách của tác giả Mai Phương – chuyên gia luyện thi tiếng Anh hàng đầu tại Việt Nam.

Các em sẽ nhận được gì khi ôn thi cùng cuốn sách này?

Tài liệu cung cấp cách phát âm chuẩn cùng cách đánh đúng trọng âm

Phần I: Lý thuyết

Nguyên âm

Nguyên âm đôi

Phụ âm

Trọng âm

Phần 2: Thực hành

Ngữ âm

Trọng âm

Nắm trọn các quy tắc phát âm và đánh dấu trọng âm của người bản ngữ

Nắm trong tay các quy tắc phát âm của người bản ngữ là các em đã nắm được bí kíp để giải quyết nhanh phần này. Sách cung cấp các quy tắc như quy tắc đánh dấu trọng âm với từ có 3,4 âm tiết, quy tắc nhấn trọng âm đối với từ ghép. Cuốn sách này không chỉ cung cấp các quy tắc mà còn có cả phần giải thích chi tiết bằng tiếng Anh và tiếng Việt nhằm giúp các em nắm chắc bài học và còn tăng được một lượng từ vựng đáng kể.

Liệt kê các trường hợp ngoại lệ thường xuất hiện trong đề thi

Bên cạnh nắm vững các quy tắc đánh dấu trọng âm thì các bạn cũng cần nắm được các trường hợp ngoại lệ vì trong tiếng Anh không phải lúc nào cũng có quy tắc. Với cuốn sách này các em sẽ biết được ôn tập bằng cách hệ thống lại toàn bộ trường hợp ngoại lê. Kèm theo đó là hệ thống các câu hỏi giúp các em luyện tập nhuần nhuyễn để khi đi thi dù có gặp phải những trường hợp này các em sẽ có thể giải quyết nhanh chóng.

Nâng cao kĩ năng làm bài với ngân hàng câu hỏi lên tới 1000 câu

Phần thực hành với hơn 1000 câu hỏi sẽ là cơ hội để các em có điều kiện áp dụng được phần lí thuyết đã được học. Bên cạnh đó phần lời giải chi tiết kèm phiên âm quốc tế sẽ giúp các em ôn tập được toàn diện kiến thức lẫn kĩ năng làm bài trắc nghiệm. Đề thi chỉ có 4 câu nhưng các em được ôn tới tận 1000 câu, chắc chắn việc ghi điểm trọn vẹn trong phần này là quá đơn giản.

Tặng 15 bài test online trên test.tkbooks.vn

Khi mua cuốn sách này, các em sẽ nhận được thêm 15 bài test online về trọng âm và ngữ âm trên website:test.tkbooks.vn. Hãy nhập mã cào ở bìa sau cuốn sách để sở hữu ngay 15 test online ôn luyện siêu tốc.

Khác biệt với các cuốn luyện phát âm bên ngoài thị trường, cuốn Rèn kỹ năng làm bài trọng âm, ngữ âm môn tiếng Anh là một cuốn sách giúp các em học sinh ôn tập phần này một cách có hệ thống và khoa học. Các em sẽ được hoàn thiện kĩ năng phát âm và đánh dấu trọng âm như người bản ngữ, không chỉ phù hợp với kì thi mà những kiến thức này còn rất bổ ích trong việc học giao tiếp.