Nội Dung Bài Thơ Về Quê Hương / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top View | Kovit.edu.vn

Nội Dung Bài Thơ Sông Núi Nước Nam

Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Sông Núi Nước Nam

Cảm Nghĩ Của Em Về Tinh Thần Yêu Nước Trong Bài Sông Núi Nước Nam

Giới Thiệu Ngắn Gọn Về Tác Giả Và Bài Thơ Sông Núi Nước Nam

Tuy Cách Nhau Đến Hai Thế Kỉ Nhưng Hai Bài Thơ Sông Núi Nước Nam (Lí Thường Kiệt) Và Phò Giá Về Kỉnh Có Nhiều Điểm Tương Đồng. Em Hãy Làm Rõ Những Nét Tương Đồng Ấy

Tình Yêu Nước Và Lòng Tự Hào Dân Tộc Của Cha Ông Ta Trong Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà (Sông Núi Nước Nam)

Bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt được coi là bản tuyên ngôn về độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Bài thơ không những khẳng định chủ quyền về lãnh thổ của đất nước mà còn nêu cao ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền đó trước mọi kẻ thù xâm lược.

Mở đầu bài thơ, Lý Thường Kiệt đã khẳng định một cách mạnh mẽ chủ quyền của nước Đại Việt. Đó là ranh giới được định sẵn, được quy định bởi “sách trời”:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”

(Sông núi nước Nam, vua Nam ở

Rành rành định phận tại sách trời)

Hai câu thơ nhấn mạnh một chân lý hiển nhiên không ai có thể chối cãi được: chủ quyền về lãnh thổ Đại Việt đã được trời đất quy định, chứng giám, không thể thay đổi được. “Sông núi” ở đây là hình ảnh biểu tượng không chỉ nói về sông núi nói chung mà còn là ranh giới lãnh thổ, chủ quyền của nước ta. Cặp từ “Nam” nằm song song tương ứng với nhau trên cùng một câu thơ “nước Nam – vua Nam” như ngầm nêu ra một nghịch lý không thể tồn tại: nước Nam vua Bắc. Tác giả cố ý sử dụng từ “đế” để chỉ vua nhằm khẳng định “vua Nam” không phải bề tôi của “vua Bắc” và “nước Nam” không phải chư hầu của “nước Bắc”. Lãnh thổ của nước Nam thuộc về người Nam, do vua Nam cai quản. Câu thơ như khẳng định sự bình đẳng và độc lập tuyệt đối của nước Nam đối với nước Bắc. Do đó, nước Nam có quyền có chủ quyền riêng biệt. Đây là lần đầu tiên mà vấn đề dân tộc được đề cập một cách chắc chắn, mạnh mẽ trong một tác phẩm thơ văn như vậy. Điều này là hoàn toàn có cơ sở, bởi đã được định trong “sách trời”. Từ “tiệt nhiên” với cách hiểu là hiển nhiên, rành rành biểu thị thái độ hoàn toàn tin tưởng của người nói vào “sách trời”. Từ đó, tác giả như ngầm báo trước sự thắng bại giữa ta và địch. Qua hai câu thơ đầu, bằng giọng điệu hào hùng, đanh thép, lời lẽ rõ ràng, Lý Thường Kiệt đã khẳng định quyền làm chủ về lãnh thổ của nước ta, không một thế lực nào có thể phủ định, xâm phạm được, đồng thời cũng thể hiện niềm tự tôn của tác giả đối với dân tộc.

Nếu như hai câu đầu khẳng định chủ quyền quốc gia, dân tộc thì hai câu cuối lại là bản cáo trạng và lời cảnh cáo đối với kẻ thù nếu như chúng dám đến xâm phạm nước ta:

“Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”

(Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời)

Lãnh thổ nước Nam đã được quy định bởi “sách trời” là của người Nam, nhưng bọn giặc không màng đến điều ấy, chúng đã phản lại ý trời, đến xâm phạm để thỏa mãn lòng tham khôn cùng của chúng. Lý Thường Kiệt hết sức khinh bỉ, căm phẫn và tức giận trước lòng tham ngu xuẩn của giặc. Câu thơ bắt đầu bằng từ “Cớ sao nhưng dường như không nhằm để hỏi mà như kể lại, vạch trần tội ác của chúng đã làm đối với dân tộc ta. Với những tội ác như thế, Lý Thường Kiệt đã có đầy đủ cơ sở để bắt kẻ thù nhận lấy hậu quả không thể tránh khỏi “bị đánh tơi bời”. Đây đồng thời cũng là quyết tâm bảo vệ nền độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ trước mọi kẻ thù xâm lược. Hai câu thơ với nhịp thơ chậm, giọng thơ mạnh góp phần biểu hiện tâm trạng phẫn nộ của nhà thơ khi tổ quốc bị xâm lăng, lòng căm thù giặc sâu sắc và niềm tin sẽ chiến thắng kẻ thù.

Tóm lại, “Nam quốc sơn hà” là một bài thơ khẳng định rõ ràng quyền độc lập tự chủ của dân tộc ta, đồng thời cũng nêu lên bản cáo trạng và hình phạt thích đáng dành cho kẻ thù nếu chúng muốn xâm lược nước ta. Qua đó, bài thơ không chỉ thể hiện niềm tự hào của người Việt Nam về chủ quyền dân tộc mà còn đề cao ý chí đấu tranh, sức mạnh của nhân dân trong phong trào giải phóng dân tộc.

TU KHOA TIM KIEM: NOI DUNG NOI DUNG BAI SONG NUI NUOC NAM SONG NUI NUOC NAM TRINH BAY NOI DUNG BAI SONG NUI NUOC NAM Theo chúng tôi

Cảm Nhận Về Bài Thơ “sông Núi Nước Nam” Của Lý Thường Kiệt

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Sông Núi Nước Nam Của Lý Thường Kiệt

Phân Tích Bài Thơ Sông Núi Nước Nam Của Lý Thường Kiệt

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Sông Núi Nước Nam Của Lí Thường Kiệt

Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Sông Núi Nước Nam Lớp 7 Hay Nhất Đầy Đủ

Cảm Nhận Về Bài Thơ Quê Hương

Ngắm Nhìn Vẻ Đẹp Dịu Dàng Thơ Mộng Của Đồi Chè Mộc Châu

Kể Về Những Đổi Mới Ở Quê Hương Em

Tả Cảnh Quê Hương Em Đang Đổi Mới

Chùm Thơ Hay Viết Về Nam Định, Thơ Ca Ngợi Nam Định Quê Hương Tôi

Một Số Bài Ca Dao Về Quê Hương Nam Định

Hai câu thơ mở bài như một lời giới thiệu của tác giả về làng quê miền biển của mình. Nó là một làng quê nằm ăn sát ra biển, bốn bề quanh năm sóng vỗ. Qua hai câu mở bài này, tác giả còn muốn giới thiệu với mọi người về nghề nghiệp chính ở quê mình, đó là nghề ngư nghiệp.

Hai câu thơ tiếp theo như những dòng nhật kí tâm tình của Tế Hanh, nói về công việc thường nhật xảy ra ở ngôi làng ven biển này. Tiết trời ở đây thật trong lành: bầu trời trong xanh, gió biển nhẹ, bình minh rực rỡ sắc hồng. Lúc đó, những người thanh niên, trai tráng trong làng cùng nhau căng buồm, tiến ra biển cả.

Trong hai câu thơ này, tác giả Tế Hanh đã sử dụng những động từ, tính từ mạnh: “hăng, phăng, vượt” và sử dụng nghệ thuật so sánh “chiếc thuyền nhẹ” với “con tuấn mã”, làm gợi lên vẻ đẹp, sự dũng mãnh của con thuyền.

Ở hai câu tiếp theo này, nghệ thuật so sánh lại được sử dụng. “Cánh buồm” được so sánh với “mảnh hồn làng”, thể hiện tình yêu quê hương luôn tiềm tàng trong con người Tế Hanh. Được sử dụng một lần nữa, động từ, tính từ mạnh: “giương, rướn, bao la” đã cho ta thấy một vẻ đẹp kiêu hãnh, đầy tự hào của cánh buồm vi vu trong gió biển.

Tám câu thơ tiếp theo này thể hiện hình ảnh làng chài khi những chiếc thuyền cá trở về sau những ngày chìm trong gió biển. Người dân làng chài vui sướng biết bao khi những người thân của họ đã mang về những thành quả tương xứng. Dân chài lưới mang một màu da thật riêng, có một mùi hương riêng biệt. Cái mùi này chỉ những người yêu quê hương tha thiết, nồng nàn như tác giả Tế Hanh mới có thể cảm nhận được. Chiếc thuyền cũng mệt mỏi sau những ngày đi biển, tựa như con người vậy. Cái chất muối thấm trong thớ vỏ cũng được tác giả cảm nhận bằng cách “nghe”, thật độc đáo!

Khi viết bài thơ này, tác giả đang ở xa quê hương. Vậy mà, ông vẫn luôn nhớ về mảnh đất quê hương yêu dấu của mình. Nhớ màu nước biển xanh, nhớ những con cá bạc, nhớ cánh buồm trắng, nhớ con thuyền đang băng băng rẽ sóng ra khơi. Ông còn nhớ cả cái mùi muối mặn của biển quê nhà.

Kết lại, với những vần thơ bình dị mà gợi cảm, bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh đã vẽ ra một bức tranh tươi sáng, sinh động về một làng quê miền biển, trong đó nổi bật lên hình ảnh khoẻ khoắn, đầy sức sống của người dân làng chài và sinh hoạt lao động làng chài. Bài thơ còn cho thấy tình cảm quê hương trong sáng, tha thiết của nhà thơ.

Nguồn Edufly

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Dòng Sông Quê Hương Em

Biểu Cảm Về Quê Hương Của Em

Bài Văn Kể Về Quê Hương Em Lớp 3

Người Con Ưu Tú Của Quê Hương Hà Nam

Tổng Hợp Những Bài Thơ 4 Chữ Về Quê Hương Hay Nhất

Khái Quát Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Tác Giả Hồ Xuân Hương

Phân Tích Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Hồ Xuân Hương

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Bánh Trôi Nước

Bài Soạn Lớp 7: Bánh Trôi Nước

Giới Thiệu Về Hồ Xuân Hương

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Lớp 7 Hay Nhất

Đề bài: Mượn hình ảnh bánh trôi nước, tác giả Hồ Xuân Hương đã xây dựng thành công ẩn dụ đầy đặc sắc về vẻ đẹp và thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa. Dựa vào văn bản thơ đã học, các bạn hãy trình bày khái quát nội dung và nghệ thuật trong bài thơ Bánh trôi nước.

I. Dàn ý chi tiết cho đề khái quát nội dung và nghệ thuật bài thơ Bánh trôi nước

1.

Mở bài

Giới thiệu về tác giả, tác phẩm: Hồ Xuân Hương cái tên quen thuộc, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng những người yêu thơ văn dân tộc. Và bài thơ Bánh trôi nước của nữ thi sĩ chính là bài thơ có lẽ được nhiều người biết đến nhất, đây cũng chính là bài được đánh giá là xuất sắc và hay nhất của nữ thi sĩ. Không chỉ nội dung và cả nghệ thuật của bài thơ cũng vô cùng tài tình và ý nghĩa.

2.Thân bài

– Nội dung và nghệ thuật qua hai câu thơ đầu:

+ Hồ Xuân Hương chính là một nhà thơ với phong cách ngôn nhưng lại vô cùng thật, thơ của bà hầu hết là nói về những bất và số phận lênh đênh của người phụ nữ tài sắc nhưng phận bạc. câu thơ đầu tiên chính là hình ảnh của người phụ nữ qua hình ảnh của chiếc bánh trôi nước “vừa trắng vừa tròn”

+Hình ảnh quen thuộc là chiếc bánh trôi với những đặc điểm cơ bản “trắng, tròn”.

+Câu thơ thứ hai lại là một kinh nghiệm khác của người làm bánh. Đó là cách luộc những chiếc bánh trôi:

Câu thơ thứ hai chính là quá trình chiếc bánh trôi được làm chín, hình ảnh “bảy nổi ba chìm” như chính số phận của người phụ nữ, số phận, cuộc đời của họ đến chính họ cũng thể quyết định được.

-Nội dung và nghệ thuật qua hai câu thơ cuối:

+”Rắn nát mặc dầu” họ đâu có thể chống lại được những luật lệ hà khắc đó chính vì vậy đành cam chịu “mặc dầu”.

+Nhưng dù có bị vấy bẩn, bị chà đạp, bị ức hiếp, bị coi thường nhưng những người phụ nữ họ vẫn luôn giữ được tấm lòng son sắc thủy chung của mình “vẫn giữ tấm lòng son”.

+Giống như cây sen thơm ngát, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Hình ảnh ẩn dụ và nhân hóa đã khắc họa rõ nét và gây ấn tượng mạnh đối với người đọc

+Bánh trôi nước là một bài thơ được đánh giá là một trong những bài thơ hay cả về nội dung và nghệ thuật trong số những bài thơ của nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương.

+ Nội dung tả thực, giá trị nhân văn sâu sắc, tài năng sử dụng ngôn ngữ tài tình, biện pháp nghệ thuật nhân hóa ẩn dụ lột tả được hiện thực xã hội. Giọng thơ nhẹ nhàng, từ ngữ gần gũi nhưng vô cùng sâu cay

3. Kết bài

– Khái quát lại nội dung và nghệ thuật của bài thơ Bánh trôi nước:

Bài thơ bốn câu, ngôn ngữ bình dị nhưng cũng vô cùng mạnh mẽ, ca ngợi những nét đẹp của người phụ nữ và những phẩm chất của họ trong xã hội xưa. Nghệ thuật tả thực, với hai biện pháp nghệ thuật hoán dụ và ẩn dụ đã khắc họa nên số phận đau khổ của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

II. Bài tham khảo cho đề khái quát nội dung và nghệ thuật bài thơ Bánh trôi nước

Hồ Xuân Hương cái tên quen thuộc, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng những người yêu thơ văn dân tộc. Và bài thơ Bánh trôi nước của nữ thi sĩ chính là bài thơ có lẽ được nhiều người biết đến nhất, đây cũng chính là bài được đánh giá là xuất sắc và hay nhất của nữ thi sĩ. Không chỉ nội dung và cả nghệ thuật của bài thơ cũng vô cùng tài tình và ý nghĩa.

Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn Mà em vẫn giữ tấm lòng son

Hồ Xuân Hương chính là một nhà thơ với phong cách ngôn nhưng lại vô cùng thật, thơ của bà hầu hết là nói về những bất và số phận lênh đênh của người phụ nữ tài sắc nhưng phận bạc. câu thơ đầu tiên chính là hình ảnh của người phụ nữ qua hình ảnh của chiếc bánh trôi nước “vừa trắng vừa tròn”

Câu thơ thứ hai lại là một kinh nghiệm khác của người làm bánh. Đó là cách luộc những chiếc bánh trôi:

Bảy nổi ba chìm với nước non

Câu thơ thứ hai chính là quá trình chiếc bánh trôi được làm chín, hình ảnh “bảy nổi ba chìm” như chính số phận của người phụ nữ, số phận, cuộc đời của họ đến chính họ cũng thể quyết định được. đọc đến đây ta cảm tưởng như chỉ là câu thơ luộc bánh bình thường nhưng đây chính là hình ảnh ẩn dụ cho số phận của những người phụ nữ xã hội xưa. Nó cũng lênh đênh chìm nổi giữa dòng đời đầy rẫy những bất công của xã hội phong kiến hà khắc:

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn Mà em vẫn giữ tấm lòng son

“Rắn nát mặc dầu” họ đâu có thể chống lại được những luật lệ hà khắc đó chính vì vậy đành cam chịu “mặc dầu”. Nhưng dù có bị vấy bẩn, bị chà đạp, bị ức hiếp, bị coi thường nhưng những người phụ nữ họ vẫn luôn giữ được tấm lòng son sắc thủy chung của mình “vẫn giữ tấm lòng son”. Giống như cây sen thơm ngát, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Hình ảnh ẩn dụ và nhân hóa đã khắc họa rõ nét và gây ấn tượng mạnh đối với người đọc

Bánh trôi nước là một bài thơ được đánh giá là một trong những bài thơ hay cả về nội dung và nghệ thuật trong số những bài thơ của nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương. Nội dung tả thực, giá trị nhân văn sâu sắc, tài năng sử dụng ngôn ngữ tài tình, biện pháp nghệ thuật nhân hóa ẩn dụ lột tả được hiện thực xã hội. Giọng thơ nhẹ nhàng, từ ngữ gần gũi nhưng vô cùng sâu cay

Bài thơ bốn câu, ngôn ngữ bình dị nhưng cũng vô cùng mạnh mẽ, ca ngợi những nét đẹp của người phụ nữ và những phẩm chất của họ trong xã hội xưa. Nghệ thuật tả thực, với hai biện pháp nghệ thuật hoán dụ và ẩn dụ đã khắc họa nên số phận đau khổ của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến

Từ khóa tìm kiếm:

tim hieu ve banh troi nuoc noi dung nghe thuat

Phân Tích Ý Nghĩa Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Hồ Xuân Hương

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Hồ Xuân Hương

Bánh Trôi Nước/ Thơ Hồ Xuân Hương/ Ngân Triều Chú Giải

Soạn Bài: Bánh Trôi Nước

Đặc Điểm Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Bài Thơ “vội Vàng”

Dàn Ý Chi Tiết Đề Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng Đoạn 2 (16 Câu Tiếp Theo)

Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng Của Nhà Thơ Xuân Diệu

Cảm Nhận Về Bài Thơ Vội Vàng Của Nhà Thơ Xuân Diệu

Giáo Án Dạy Ngữ Văn 11 Tiết 79, 80: Vội Vàng

Xuân Diệu Và Quan Niệm Sống Qua Vội Vàng

” Vội vàng” là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Xuân Diệu trước Cách mạng. Đây là tiếng nói của một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt, nhưng đằng sau đó là cả một quan niệm nhân sinh mới chưa thấy trong thơ ca truyền thống.

Đặc điểm về nội dung

“Vội vàng” chỉ là một cách nói. Trong cốt lõi, đây là một quan niệm sống mới mang ý nghĩa tích cực nhằm phát huy cao độ giá trị của “cái tôi” cá nhân trong thời hiện đại. Quan niệm sống nói trên được diễn giải qua một hệ thống cảm xúc và suy nghĩ mang màu sắc “biện luận” rất riêng của tác giả.

Phát hiện mới của Xuân Diệu: Cuộc đời như một thiên đường trên mặt đất

Bước vào bài thơ, độc giả ngạc nhiên trước những lời tuyên bố lạ lùng của thi sĩ:

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất;

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi

Những lời tuyên bố đó chỉ có vẻ kì dị, ngông cuồng bề ngoài, nhưng thực chất bên trong chứa đựng một khát vọng rất đẹp: chặn đứng bước đi của thời gian để có thể vĩnh viễn hoá vẻ đẹp của cuộc đời.

Nhưng lí do nào khiến nhà thơ nảy sinh niềm khao khát đoạt quyền tạo hoá để chặn dòng chảy của thời gian?

Trong quan niệm của người xưa, đời là chốn bụi trần, cuộc đời là bể khổ. Đấy là lí do vì sao lánh đời nhiều khi đã trở thành một cách sống mà cả tôn giáo cũng như văn chương đều chủ trương vẫy gọi mọi người trên hành trình tìm sự an lạc tâm hồn. Cũng chẳng phải ngẫu nhiên, đạo Phật tô đậm vẻ đẹp của cõi Niết bàn, cõi Tây phương cực lạc; văn học cổ Trung Quốc cũng như văn học trung đại Việt Na, đều đề cao tâm lí hoài cổ, phục cổ, khuyến khích xu hướng tìm về những giá trị trong quá khứ vàng son một đi không trở lại như đi tìm một thiên đường đã mất. Xuân diệu thuộc thế hệ những người trẻ tuổi ham sống và sống sôi nổi, họ không coi lánh đời là một xử thế mang ý nghĩa tích cực mà ngược lại, họ không ngần ngại lao vào đời. Và thật ngạc nhiên, nhờ tuổi trẻ, họ phát hiện ra cuộc đời thực chất không phải là một cõi mông lung, mờ mờ nhân ảnh, cũng chằng phải là cái bể khổ đày đoạ con người bằng sinh, lão, bệnh, tử… những định mệnh đã hàng ngàn năm ám ảnh con người mà trái lại là cả thế giới tinh khôi, quyến rũ. Tất cả đều hiện hữu, tất cả đều gần gũi, đầy ắp, ngay trong đời thực và trong tầm tay với:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

Này đây lá của cành tơ phơ phất;

Của yến anh này đâu khúc tình si;

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,

Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa;

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;

Trong cái nhìn mới mẻ, say sưa thi nhan vồn vã liệt kê bao vẻ đẹp của cuộc đời hằng ngày loạt đại từ chỉ trở này đây làm hiện lên cả một thế giới thật sống động. Hơn thế, cõi sống đầy quyễn rũ ấy như đang vẫy gọi, chào mời bằng vẻ đẹp ngọt ngào, trẻ trung và có ý để dành cho những ai đang ở lứa tuổi yêu đương, ngọt ngào: đây là tuần tháng mật để dành cho ong bướm, đây là hoa của đồng nội (đang) xanh rì, đây là lá của cành tơ phơ phất và khúc tình si kia là của những lứa đôi…..

Với đôi mắt xanh non của người trẻ tuổi, qua cái nhìn bằng ánh sáng chớp hàng mi, thi nhân còn phát hiện ra điều tuyệt vời hơn: tháng giêng, mùa xuân sao ngon như một cặp môi gần!

Nỗi ám ảnh của nhà thơ Xuân Diệu về số phận mong manh của những giá trị đời sống và sự tồn tại ngắn ngủi của tuổi xuân

Tuy nhiên, trong ý thức mới của con người hiện đại về thời gian, khi khám phá ra cái đẹp đích thực kia của đời cũng là lúc người ta hiểu rằng điều tuyệt diệu này có số phận thật ngắn ngủi, mong manh và sẽ nhanh chóng tàn phai vì theo vòng quay của thời gian có cái gì trên đời là vĩnh viễn? Niềm ám ảnh đó khiến cái nhìn của thi nhân về thế giới bỗng đổi khác, tất cả đều nhuốm màu của lo âu, bàng hoàng, thoảng thốt.

Đấy là lí do vì sao mạch cảm xúc trong đoạn thơ bỗng liên tục thay đổi: từ việc xuất hiện các kiểu câu định nghĩa, tăng cấp nghĩa là (3 lần/3 dòng thơ), để định nghĩa về mùa xuân và tuổi trẻ, mà thực chất là để cảm nhận về hiện hữu và phôi pha đến ý tưởng ràng buộc số phận cá nhân mình với số phận của mùa xuân, tuổi xuân thổ lộ niềm xót tiếc cái phần đẹp nhất của đời người rồi cất lên tiếng than đầy khổ não:

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.

Cũng từ đây thiên nhiên chuyển hoá từ hợp thành tan:

Cơn gió xinh thì thào trong gió biếc,

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?

Chim rộn ràng bộng dứt tiếng reo thi.

Dường như tất cả đều hoảng sợ bởi những chảy trôi của thời gian, bởi thời gian trôi đe doạ sẽ mang theo tất cả, thời gian trôi dự báo cái phai tàn sắp sửa của tạo vật. Thế là từ đây, thơi gian không còn là một đại lượng vô ảnh, vô hình nữa, người ta nhận ra nó mang hương vị đau xót của chia phôi, người ta phát hiện nó tựa như một vết thương rớm máu trong tâm hồn:

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,

Niềm xót tiếc cứ thế tuôn chảy miên man trong hàng loạt câu thơ và khắc nghiệt với bất công đã trở thành một quan hệ định mệnh giữa tự nhiên với con người. Nỗi cay đắng trước sự thật đó được triển khai trong những hình ảnh và ý niệm sắp xếp theo tương quan đối lập giữa: lòng người rộng mà lượng trời chật; Xuân của thiên nhiên thì tuần hoàn mà tuổi trẻ của con người thì chẳng hai lần thắm lại. Cõi vô thuỷ vô chung là vũ trụ vẫn còn mãi vậy mà con người, sinh thể sống đầy xúc cảm và khao khát lại hoá thành hư vô. Điều “bất công” này thôi thúc “cái tôi” cá nhân đi tìm sức mạnh hoá giải.

Cách hoá giải mâu thuẫn, nghịch lí của Xuân Diệu

Từ nỗi ám ảnh về số phận mong manh chóng tàn lụi của tuổi xuân, tác giả đề ra một giải pháp táo bạo. Con người hiện đại không sống bằng số lượng thời gian mà phải sống bằng chất lượng cuộc sống – sống tận hưởng phần đời có giá trị và có ý nghĩa nhất bằng tốc độ thật lớn và một cường độ thật lớn. Đoan thơ cuối trong bài thơ gây ấn tượng đặc biệt trước hết bởi nó tựa như những lời giục giã chính mình lại như lời kêu gọi tha thiết đối với thế nhân được diễn đạt bằng một nhịp thơ gấp gáp bộc lộ vẻ đẹp của một tâm hồn trẻ trung, sôi nổi, cuồng nhiệt yêu đời và yêu sống.

Rõ ràng, lẽ sống Vội vàng bộc lộ một khát vọng chính đáng của con người. Như đã nói đây không phải là sự tuyên truyền cho triết lí sống gấp mà là ý thức sâu sắc về cuộc sống của con người khi anh ta đang ở lứa tuổi trẻ trung, sung sức nhất. Xuân Diệu từng tuyên ngôn: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối – Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm” chính là tuyên ngôn cho chặng đường đẹp nhất này. Vội vàng, vì thế là lẽ sống đáng trân trọng mang nết đẹp của một lối sống tiến bộ, hiện đại. Đây chưa phải là lẽ sống cao đẹp nhất lúc bấy giờ nhưng dù sao, trong một thời đại mà lối sống khổ hạnh, “ép xác”, “diệt dục” là không còn phù hợp nữa, là lời cổ động cho một lối sống tích cực, sống trong ý thức phát huy hết giá trị của tuổi trẻ và cũng là của “cái tôi”.

Tuy nhiên, lối sống Vội vàng đang còn dừng ở sự khẳng định mọt chiều. Một lẽ sống đẹp phải toàn diện và hài hoà: không chỉ tích cực tận hưởng mà còn phải tích cực tận hiến.

Đặc điểm nghệ thuật

Vội vàng có nét độc đáo trong cấu tứ. Bài thơ có sự kết hợp hài hoà hai yếu tố: trữ tình và chính luận. Trong đó, chính luận đóng vai trò chủ yếu. Yếu tố trữ tình được bộc lộ ở những rung động mãnh liệt bên cạnh những ám ảnh kinh hoàng khi phát hiện sự mong manh của cái đẹp, của tình yêu và tuổi trẻ trước sự huỷ hoại của thời gian. Mạch chính luận là hệ thống lập luận, lí giải về lẽ sống Vội vàng, thông điệp mà Xuân Diệu muốn gửi đến các độc giả được trình bày theo lối quy nạp từ nghịch lí, mâu thuẫn đến giải pháp.

Ví dụ trong đoạn thơ cuối, tác giả cũng đã mạnh dạn và táo bạo trong việc sử dụng một hệ thống từ ngữ tăng cấp như: ôm (Ta muốn ôm), riết (Ta muốn riết), say (Ta muốn say), thâu (Ta muốn thâu)… Và đỉnh cao của sự đam mê cuồng nhiệt là hành động cắn vào mùa xuân của cuộc đời, thể hiện một xúc cảm mãnh liệt và cháy bỏng. Không dừng lại ở đó, tác giả còn sử dụng một hệ thống từ ngữ cực tả sự tận hưởng: chếch choáng, đã đầy, no nê.. diễn tả niềm hạnh phúc được sống cao độ với cuộc đời.

Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Bài Thơ Vội Vàng.

Bài Thơ Vội Vàng Xuân Diệu

Phân Tích Khổ Cuối Bài Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu

Cảm Xúc Khi Đọc Bài Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu

Dàn Ý Đầy Đủ 3 Phần Cho Đề Phân Tích Bài Thơ Vội Vàng

🌟 Home
🌟 Top