Mãi Mãi Sao Chiến Thắng

Ngày 5 tháng 8 năm nay, kỷ niệm ngày chiến thắng trận đầu của quân và dân ta đánh trả cuộc tập kích của không quân Mỹ vào bầu trời miền Bắc khiến mỗi chúng ta như sống lại khí thế hào hùng của cả dân tộc được bộc lộ nhất tề trong một tình cảm thống nhất: quyết tâm bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc trước sự gây hấn xâm lăng của kẻ thù.

Đến hôm nay, lịch sử đã sáng tỏ: Kể cả từ nguồn thông tin tình báo lẫn những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ đều chứng minh rằng không có vụ tấn công nào của quân đội Việt Nam vào chiến hạm Mỹ trong đêm mồng 4 tháng 8 năm 1964 như lời vu cáo của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ lúc ấy là Robert McNamara từng nói trước Quốc hội để tạo cớ đưa quân đội Mỹ vào miền Nam nước ta và tiến hành cuộc chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc, quyết đưa Việt Nam “trở về thời kỳ đồ đá”.

Trong những tháng ngày trọng đại đó, giới văn học nghệ thuật cả nước đã đồng loạt ra quân sáng tạo nên những áng thơ văn, những ca khúc, những bức ảnh, những thước phim tư liệu hừng hực khí thế quyết tâm bảo vệ Tổ quốc thiêng liêng. Đến nay, người ta còn nhớ nhiều đến một bài thơ chính luận nổi tiếng của Chế Lan Viên, bài: Sao chiến thắng, được nhà thơ viết vài ngày sau sự kiện này. Mở đầu bài thơ, không nén được căm giận, nhà thơ thốt lên:“Giặc Mỹ mày đến đây/ Thì ta tiêu diệt ngay!/Trời xanh ta nổi lửa/ Bể xanh ta giết mày!” (1). Đúng là  ở vào thời điểm ấy, không thể nào diễn đạt khác hơn những từ ngữ như vậy. Đó là thái độ phản ứng tất yếu trước hành động leo thang ngang ngược bất chấp đạo lý, coi thường luật pháp quốc tế của kẻ thù.

Và, cũng chính ở thời điểm thử thách khốc liệt như vậy, chúng ta mới càng thấu hiểu những tình cảm thiêng liêng có sẵn trong dòng máu mỗi con người Việt Nam về lòng yêu nước nồng nhiệt thống thiết và căm giận không nguôi trước hành động của kẻ thù: “Ôi Tổ quốc ta, ta yêu như máu thịt/ Như mẹ cha ta, như vợ như chồng/ Ôi Tổ quốc, nếu cần, ta chết/ Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông… /Hãy cứ đo bể ta bằng luật điều quốc tế /Trời xanh ta xanh bao nhiêu hải lý/ Nhưng chớ đo lòng căm giận chúng ta / Máu hơn ba chục năm trời ta đã đổ ra”. Một lần nữa, cả dân tộc lại hành quân vào cuộc chiến đấu chống ngoại xâm trên cả hai miền Nam Bắc. Lịch sử thế kỷ Hai Mươi đã ghi đậm nét chiến công của người Việt Nam, một dân tộc nhỏ bé, vũ khí thô sơ nhưng với ý chí quyết tâm vô bờ bến, với sự giúp đỡ hỗ trợ của bè bạn yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới, đã đánh bại cả bộ máy chiến tranh khổng lồ tối tân hiện đại của kẻ xâm lược.

Nhắc lại một áng thơ văn rực lửa yêu thương và căm giận nhân kỷ niệm 47 năm ngày chiến thắng trận đầu của quân và dân miền Bắc đánh trả không quân Mỹ cũng là dịp để chúng ta hiểu sâu thêm sức mạnh tiềm ẩn trong lòng dân tộc, cho dù lịch sử đã đi những bước đi mới, khác, và đã viết những trang trước đây chưa hề có. Vẫn tiềm ẩn trong lòng dân tộc hình ảnh những “Thần chiến thắng là những người áo vải/ Những binh nhất binh nhì mười tám tuổi/  Giết quân thù không đợi có hạt nhân”. Vẫn còn mãi những lời thức tỉnh những ai còn hồ mơ trước những âm mưu thâm độc, phải cảnh giác trước những “chước quỷ mưu ma”: “Hỡi những tấm lòng lạnh tanh máu cá/ Những nhiệt tình xuống quá độ âm!/ Có nghe tiếng ngư lôi và cao xạ?/ Giặc đánh ta thì ta đánh trả / Giữ hòa bình phải đâu bằng mọi giá/ Giá hòa bình là quật ngã bọn xâm lăng”. Và, vẫn mãi mãi rực sáng Sao Chiến Thắng trên bầu trời đất nước, qua mọi thăng trầm của lịch sử nhân loại, những ánh sao phản chiếu tâm hồn, tình cảm, ý chí của dân tộc Việt Nam:“Trời sao cao như là chiến trận/ Sao sáng ngời vũ khí lòng ta”!

NẠI HIÊN

(1) Những chữ in nghiêng trong bài đều trích từ bài thơ “Sao chiến thắng”, in trong Chế Lan Viên toàn tập, Nxb Văn học, H., 2002.

Bài Ca Chiến Thắng Trong Thơ Xuân 68 Của Bác Hồ

Biên phòng – Xuân Mậu Tuất 2024, chúng ta long trọng kỷ niệm 50 năm “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 68”. Trong giây phút thiêng liêng của mùa Xuân, chúng ta không giấu nỗi niềm xúc động, nhớ Bác Hồ, vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới với bài thơ Xuân 68 mà Người để lại cho dân tộc ta. Trải qua 50 năm, nhưng âm hưởng, sức lan tỏa của bài thơ vẫn còn vang vọng, thúc giục chúng ta tiến lên giành thắng lợi vẻ vang, to lớn hơn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

“Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua

Thắng trận tin vui khắp nước nhà

Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ

Tiến lên toàn thắng ắt về ta”.

 Lời thơ mừng Xuân của Bác như hồi kèn xung trận. Cả miền Nam vùng lên “Tổng tiến công và nổi dậy”. Vào đúng thời điểm giao thừa của Tết cổ truyền dân tộc, bài thơ chúc Tết của Bác đã trở thành hiệu lệnh tiến công, mở màn cho chiến dịch. Trên chiến trường miền Nam, từ Quảng Trị, Thừa Thiên Huế đến Cà Mau, Quân giải phóng miền Nam đã bất ngờ đồng loạt tiến công vào hầu hết các thành phố, thị xã; các sào huyệt và cơ quan đầu não của địch. Thành phố Sài Gòn cùng với 34/44 tỉnh – lỵ; 5/6 thành phố lớn; 64/242 huyện, quận của chế độ ngụy quyền Sài Gòn đã bị Quân giải phóng tiến công.

Tại Sài Gòn, nhiều mục tiêu quan trọng như Dinh Tổng thống ngụy quyền, Bộ Tổng Tham mưu, Đài phát thanh, Tòa Đại sứ Mỹ… đều bị tấn công. Tại thành phố Huế, quân ta đánh chiếm 39 mục tiêu quan trọng, giải phóng thành phố và chiếm giữ suốt 25 ngày đêm. Chiến thắng vang dội của quân và dân ta trên chiến trường Xuân 68 đã tạo ra một bước chuyển biến mới, cục diện mới trên chiến trường miền Nam.

Bài thơ chúc Tết Mậu Thân 1968 của Bác đã qua 50 năm, song mỗi người chúng ta, ai cũng rưng rưng xúc động, bởi lời thơ của Bác đã gieo vào lòng người một niềm vui phấn khởi vô bờ. Mở đầu bài thơ, Bác viết “Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua”, thoảng nghe như một lời tiên đoán, nhưng thực ra đó lại là một lời khẳng định, một niềm tin vững chắc vào thắng lợi của mùa Xuân Tổng tiến công và nổi dậy. Câu thơ tiếp theo gieo vào lòng người như một niềm tin, một thông báo tin chiến thắng to lớn của đồng bào và chiến sĩ miền Nam “Thắng trận tin vui khắp nước nhà”.

Câu thơ thứ ba như một lời giao ước thi đua đánh giặc giữ nước giữa hai miền Nam – Bắc. Và câu kết của bài thơ, vang vọng như một lời hịch non sông, thúc giục mọi người thừa thắng xông  lên giành thắng lợi hoàn toàn “Tiến lên, toàn thắng ắt về ta”. Chỉ 4 câu thơ gồm 28 từ, nhưng Người đã vẽ nên một bức tranh toàn cảnh diễn biến chiến trường miền Nam, thông báo với toàn dân và bè bạn quốc tế một tin vui chiến thắng, tạo một lòng tin, quyết tâm tiến lên phía trước nhanh chóng hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Thơ của Bác không dài, giản dị như chính cuộc sống của Người, song mỗi câu thơ và cả bài thơ mang âm hưởng nhạc họa, tươi vui nhưng cũng đầy chất thép. Với lối dùng âm độc đáo và tinh tế, trong 4 câu của bài thơ thì có đến 3 lần Người dùng âm “a” ở cuối câu: “…Xuân qua/ nước nhà/ về ta”, cách dùng âm độc đáo này đã làm cho bài thơ như một bài ca chiến thắng, vừa nhẹ nhàng, vừa hùng tráng, thấm đậm vào lòng người và sống mãi với thời gian. Có lẽ cái đẹp, cái hay và sâu sắc của thơ văn Hồ Chí Minh là ở đó.

PGS, TS Vũ Đăng Hiến

Nội Dung Bài Thơ Sông Núi Nước Nam

Bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt được coi là bản tuyên ngôn về độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Bài thơ không những khẳng định chủ quyền về lãnh thổ của đất nước mà còn nêu cao ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền đó trước mọi kẻ thù xâm lược.

Mở đầu bài thơ, Lý Thường Kiệt đã khẳng định một cách mạnh mẽ chủ quyền của nước Đại Việt. Đó là ranh giới được định sẵn, được quy định bởi “sách trời”:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”

(Sông núi nước Nam, vua Nam ở

Rành rành định phận tại sách trời)

Hai câu thơ nhấn mạnh một chân lý hiển nhiên không ai có thể chối cãi được: chủ quyền về lãnh thổ Đại Việt đã được trời đất quy định, chứng giám, không thể thay đổi được. “Sông núi” ở đây là hình ảnh biểu tượng không chỉ nói về sông núi nói chung mà còn là ranh giới lãnh thổ, chủ quyền của nước ta. Cặp từ “Nam” nằm song song tương ứng với nhau trên cùng một câu thơ “nước Nam – vua Nam” như ngầm nêu ra một nghịch lý không thể tồn tại: nước Nam vua Bắc. Tác giả cố ý sử dụng từ “đế” để chỉ vua nhằm khẳng định “vua Nam” không phải bề tôi của “vua Bắc” và “nước Nam” không phải chư hầu của “nước Bắc”. Lãnh thổ của nước Nam thuộc về người Nam, do vua Nam cai quản. Câu thơ như khẳng định sự bình đẳng và độc lập tuyệt đối của nước Nam đối với nước Bắc. Do đó, nước Nam có quyền có chủ quyền riêng biệt. Đây là lần đầu tiên mà vấn đề dân tộc được đề cập một cách chắc chắn, mạnh mẽ trong một tác phẩm thơ văn như vậy. Điều này là hoàn toàn có cơ sở, bởi đã được định trong “sách trời”. Từ “tiệt nhiên” với cách hiểu là hiển nhiên, rành rành biểu thị thái độ hoàn toàn tin tưởng của người nói vào “sách trời”. Từ đó, tác giả như ngầm báo trước sự thắng bại giữa ta và địch. Qua hai câu thơ đầu, bằng giọng điệu hào hùng, đanh thép, lời lẽ rõ ràng, Lý Thường Kiệt đã khẳng định quyền làm chủ về lãnh thổ của nước ta, không một thế lực nào có thể phủ định, xâm phạm được, đồng thời cũng thể hiện niềm tự tôn của tác giả đối với dân tộc.

Nếu như hai câu đầu khẳng định chủ quyền quốc gia, dân tộc thì hai câu cuối lại là bản cáo trạng và lời cảnh cáo đối với kẻ thù nếu như chúng dám đến xâm phạm nước ta:

“Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”

(Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời)

Lãnh thổ nước Nam đã được quy định bởi “sách trời” là của người Nam, nhưng bọn giặc không màng đến điều ấy, chúng đã phản lại ý trời, đến xâm phạm để thỏa mãn lòng tham khôn cùng của chúng. Lý Thường Kiệt hết sức khinh bỉ, căm phẫn và tức giận trước lòng tham ngu xuẩn của giặc. Câu thơ bắt đầu bằng từ “Cớ sao nhưng dường như không nhằm để hỏi mà như kể lại, vạch trần tội ác của chúng đã làm đối với dân tộc ta. Với những tội ác như thế, Lý Thường Kiệt đã có đầy đủ cơ sở để bắt kẻ thù nhận lấy hậu quả không thể tránh khỏi “bị đánh tơi bời”. Đây đồng thời cũng là quyết tâm bảo vệ nền độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ trước mọi kẻ thù xâm lược. Hai câu thơ với nhịp thơ chậm, giọng thơ mạnh góp phần biểu hiện tâm trạng phẫn nộ của nhà thơ khi tổ quốc bị xâm lăng, lòng căm thù giặc sâu sắc và niềm tin sẽ chiến thắng kẻ thù.

Tóm lại, “Nam quốc sơn hà” là một bài thơ khẳng định rõ ràng quyền độc lập tự chủ của dân tộc ta, đồng thời cũng nêu lên bản cáo trạng và hình phạt thích đáng dành cho kẻ thù nếu chúng muốn xâm lược nước ta. Qua đó, bài thơ không chỉ thể hiện niềm tự hào của người Việt Nam về chủ quyền dân tộc mà còn đề cao ý chí đấu tranh, sức mạnh của nhân dân trong phong trào giải phóng dân tộc.

TU KHOA TIM KIEM: NOI DUNG NOI DUNG BAI SONG NUI NUOC NAM SONG NUI NUOC NAM TRINH BAY NOI DUNG BAI SONG NUI NUOC NAM Theo chúng tôi

Nội Dung Thơ Mèo Đi Câu Cá

Lĩnh vực: Phát triển ngôn ngữ

Nội dung : Thơ ” Mèo đi câu cá”

– Trẻ thuộc bài thơ, nhớ tên bài thơ, nhớ tên tác giả.

– Trẻ hiểu nội dung bài thơ và biết đọc diễn cảm bài thơ.

– Rèn kĩ năng đọc diễn cảm, biết bộc lộ cảm xúc một cách hồn nhiên, thể hiện qua nét mặt, cử chỉ điệu bộ khi đọc thơ.

– Trẻ biết trả lời các câu hỏi rõ ràng mạch lạc.

– Giáo dục trẻ chăm chỉ, không lười biếng, ỉ lại vào người khác .

Máy chiếu, hình ảnh các con vật nuôi trong gia đình

Nhạc bài hát ” Gà trống, mèo con và cún con”

– Trẻ: Quần áo sạch sẽ và tâm thế thoải mái,mũ mèo, mũ gà trống, mũ lợn con.

– Các con ơi! Nghe tin lớp mình chăm ngoan và học giỏi nên hôm nay có rất nhiều các cô đến xem chúng mình học đấy, chúng mình hãy chào đón các cô bằng một tràng pháo tay nào!

– Các con ạ! Để đáp lại tình cảm của các cô giờ chúng sẽ cùng nhau hát tặng các cô bài hát ” gà trống, mèo con và cún con” nào!

– Chúng mình vừa hát xong bài hát gì?

– Trong bài hát nói về những con vật nào?

– Nhà các con có những con vật này không?

– Ngoài những con vật này ra nhà các con còn có những con vật nào nữa?

– Trong bài hát nói về một chú mèo rất đáng yêu, chúng mình có biết chú mèo làm công việc gì?

– Cô có một bài thơ nói về những chú mèo rất đáng yêu các con có muốn cùng cô học bài thơ không!

Vậy chúng mình cùng nhau về chỗ ngồi học bài nào!

– Cô vừa đọc cho chúng mình nghe bài thơ gì các con?

– Bài thơ ” Mèo đi câu cá” của tác giả nào?

– Cô đọc lần 2 qua trình chiếu powerpoint

– Cô vừa đọc cho các con nghe bài thơ ” Mèo đi câu cá” của nhà thơ Thái Hoàng Linh rồi

– Bạn nào giỏi cho cô biết trong bài thơ có những nhân vật nào?

– Hai anh em mèo trắng đã rủ nhau đi đâu?

– Chúng mình thấy mèo anh có câu cá không? Vì sao?

Đã có em rôi!

– Thế mèo em có câu được cá không? Vì sao?

– Cuối cùng hai anh em mèo trắng có câu được con cá nào không?

Cùng khóc meo meo!

– Các con ạ trong bài thơ có những từ khó như:

+ Từ: ” Hớn hở” tức là thể hiện sự vui mừng thoải mái. Vì mèo em nghĩ đã có mèo anh câu cá rồi nên mèo em rất vui mừng và thoải mái đi chơi cùng thỏ bạn đấy!

– Cho cả lớp đọc từ ” Hớn hở”

+ Ngoài ra còn từ ” hối hả” Các con ạ! ” hối hả” thể hiện sự gấp gáp, vội vàng nhanh chóng.

– Cho cả lớp đọc từ ” hối hả”

– Cho cả lớp đọc 2 -3 lần

– Cô lắng nghe, động viên và sửa sai cho trẻ

– Cô thấy chúng mình rất ngoan và học giỏi bây giờ cô sẽ thưởng cho lớp mình một trò chơi có tên ” Tiếng con vật gì”

– Cô giáo sẽ mở máy tính tiếng kêu của các con vật, cả lớp sẽ đoán tiếng kêu đó của con vật nào!

Nghe tiếng kêu nói đúng tên con vật

– Cho cả lớp cùng chơi 2 lần

* Kết thúc cô cho trẻ ra chơi

– Gà trống, mèo con và cún con

– Hai anh em mèo trắng và con thỏ

– Mèo không câu cá, vì buồn ngủ

– Mèo em không câu cá vì muốn đi chơi

– Trẻ chú ý lắng nghe cô giáo

– Trẻ chú ý lắng nghe cô giáo

– Trẻ lắng nghe cô giáo phổ biến cách chơi và luật chơi

Giáo án mầm non cung cấp giáo án nhà trẻ, giáo án lớp 3 tuổi, lớp 4 tuổi, lớp 5 tuổi cho các bạn giáo viên mầm non và sinh viên nghành sư phạm mầm non hoàn toàn miễn phí.

Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Bài Thơ Vội Vàng.

HƯỚNG DẪN

I. TÁC GIẢ XUÂN DIỆU

1. Xuân Diệu (1916 – 1985) tên khai sinh là Ngô Xuân Diệu, quê nội ở Hà Tĩnh, quê ngoại ở Bình Định. Theo lời Xuân Diệu, cả xứ Nghệ quê cha và xứ dừa quê mẹ đều có ảnh hưởng đến cuộc sống và sự nghiệp văn chương của ông. Xuân Diệu đã thừa hưởng đức tính cần cù, kiên nhẫn trong lao động của người xứ Nghệ và hồn thơ của ông được bồi đắp nên từ thiên nhiên thơ mộng vạn Gò Bồi. Sau khi đỗ tú tài, Xuân Diệu đi dạy học tư, làm viên chức ở Mĩ Tho rồi ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn. Ông hăng hái tham gia các hoạt động xã hội với tư cách một nhà văn chuyên nghiệp: đại biểu Quốc hội khoá I, Uỷ viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam các khoá I, II, III, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật Cộng hoà Dân chủ Đức. Năm 1996, Xuân Diệu được nhà nước tặng Giải thưởng HỒ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

2. Xuân Diệu là một nhà thơ lớn, một nhà văn hoá lớn. Ngay từ khi mới bước chân vào làng thơ, Xuân Diệu đã được nhìn nhận là nhà thơ “mới nhất trong những nhà thơ mới” (Hoài Thanh). Ông là nhà thơ của mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu với một hồn thơ “khát khao giao cảm với đời” (Nguyễn Đăng Mạnh). Xuân Diệu luôn duy trì một nguồn cảm xúc tươi mới, một cặp mắt “xanh non” để nhìn vạn vật nên dòng thơ của ông cho đến cuối đời vẫn không hề vơi cạn. Sự đam mê sáng tạo của ông như một cuộc chạy đua với thời gian, tìm đến sự bất tử trong văn chương.

3. Tác phẩm chính của Xuân Diệu gồm các tập thơ: Thơ tha (1938), Gửi hương cho gió (1945), Riêng chung (1960), Mủi Cà Mua – cầm tay (1962), Hai đạt sóng (1967), Tôi giàu đôi mắt (1970), Thanh cù (1982); các tập văn xuôi: Phấn thông vàng (1939), Trường ca (1945); các tập tiểu luận, phê bình, nghiên cứu: Những bước đường tư tưởng của tôi (1958), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (hai tập – 1981, 1982), Công việc làm thơ (1984),…

II. BÀI THƠ VỘI VÀNG

Vội vàng được in lần đầu trong tập Thơ thơ (NXB Đời nay, Hà Nội, 1938). Đây là một trong những bài thơ tiêu biểu của Xuân Diệu trước Cách mạng, cho thấy nhân sinh quan mới mẻ cùng những sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nhà thơ.

NỘI DUNG

1. Đoạn 1 (13 câu đầu): Tình yêu tha thiết đôi với cuộc sống.

Thi nhân là người nhạy cảm hơn ai hết về sự phai tàn của cái đẹp trước thời gian, họ muôn níu giữ cả những gì mong manh nhất của hương sắc cuộc đời (muôn “bắt nắng đi” cho “màu đừng nhạt”, muôn “buộc gió lại” cho “hương đừng bay”). Những ước muốn “không tưởng” ấy được bộc lộ một cách chân thành, mãnh liệt bởi nó bắt nguồn từ tình yêu tha thiết đối với cuộc sống. Khác với nhiều thi nhân lãng mạn thời ấy, Xuân Diệu không cần phải tìm cách thoát li hiện thực, nhà thơ tìm thấy cho mình cả một “thiên đường” ngay trên mặt đất này:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

Này đây hoa của đồng nội xanh rì,

Này đây lá của cành tơ phơ phất;

Của yến anh này đây khúc tình si;…

Đấy là một cõi trần dạt dào nhựa sống giữa mùa xuân. Tâm hồn tươi trẻ của nhà thơ bắt nhịp ngay với những gì đang nảy lộc đâm chồi, đang đơm hoa kết trái. Sự ngất ngây, say đắm của hồn thơ biểu hiện trong nhịp thơ tuôn chảy ào ạt (này đây… này đây…), những hình ảnh mang sắc màu rực rỡ (ong bướm…tuần tháng mật; hoa… đồng nội xanh ri; cành tơ phơ phất), nhưng âm thanh réo rắt (yến anh… khúc tình si),… Cảm nhận được sự sống xuân thì đang ở dạng phồn thực khiến cho các giác quan bất chợt thăng hoa, thi nhân đã có một so sánh đặc biệt tình tứ: Tháng giêng ngon như một cặp môi gần. Cái đẹp của con người đã trở thành chuẩn mực cho cái đẹp của tự nhiên đó là một phát hiện trong quan niệm mĩ học của Xuân Diệu. Nhưng ngay trong lúc ở đỉnh cao của sự đắm say giao hoà cùng vạn vật, cảm giác tiếc nuối thời gian vẫn song hành tồn tại (Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa -Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân).

2. Đoạn 2 (từ câu 14 đến câu 29): Nỗi băn khoăn, tiếc nuối về sự một đi không trở lại của tuổi xuân trước sự trôi chảy nhanh chóng của thời gian.

Cảm nhận về thời gian ở mỗi người, mỗi thời không giông nhau. Người xưa quan niệm thời gian là một vòng tuần hoàn, con người còn có kiếp luân hồi nên có thể tồn tại vĩnh hằng cùng trời đất. Thời hiện đại, ý thức về sự hiện hữu của “cái tôi, cá nhân kéo theo sự thay đổi quan niệm về thời gian”. Ở các nhà thơ mới, đặc biệt là Xuân Diệu, cảm thức về thời gian vô cùng nhạy bén. Đối với thi nhân, mỗi giây phút cuộc đời là vô cùng quý giá, một đi không trở lại, nên Xuân Diệu lúc nào cũng như chạy đua với thời gian, “giục giã” mình và mọi người “Mau lên chứ, vội vàng lên với chứ!”. Nhà thơ cảm thấy thời gian đang chảy trôi vùn vụt trong mùa xuân của đất trời:

Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già.

Và nhận thấy con người hoàn toàn chịu sự chi phôi của dòng chảy đó:

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.

Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật,

Không cho dài thời trẻ của nhân gian,

Cái đẹp của thiên nhiên là mùa xuân, cái đẹp của con người là tuổi trẻ. Mùa xuân của đất trời còn có thể tuần hoàn nhưng tuổi xuân của đời người thì chẳng bao giờ “thắm lại”! Đó là một nghịch lý nhưng lại là quy luật tất yếu. Cảm nhận sâu sắc và có phần đau đớn về sự một đi không trở lại của tuổi xuân khiến thi nhân nhìn đâu cũng thây “mầm li biệt”:

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,

Khắp sống núi vẫn than thầm tiễn biệt…

Con gió xinh thì thào trong lá biếc,

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?

Chim vội vàng bỗng đứt tiếng reo thi,

Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?

3. Đoạn 3 (từ câu 30 đến hết): Lời giục giã cuồng nhiệt của nhà thơ.

Chính vì bất lực trước quy luật khắc nghiệt của thời gian nên nhà thơ mới vội vàng giục giã mọi người tận hưởng tất cả những gì đẹp đẽ nhất trên thế gian này (sự sống… mơn mởn; mây đưa… gió lượn cánh bướm… tình yêu; mùi thơm; ánh sáng,…). Tình cảm đắm say, tha thiết đến cuồng nhiệt đối với sự sống một lần nữa lại trào lên ở cuối bài thơ bằng những điệp từ (ta muốn… ta muốn) bằng những động, tính từ mạnh mẽ (riết, say, thâu, chếnh choáng, đã đầy, no nê,…) và lên đến cao trào: – Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

Đó là cách bộc lộ cảm xúc vô cùng mãnh liệt, độc đáo và mới mẻ chỉ có ở Xuân Diệu.

NGHỆ THUẬT

1. Sự kết hợp hài hoà giữa mạch cảm xúc trên bề mặt và mạch triết luận ở bề sâu. Mỗi cảm xúc ào ạt, mê say, đắm đuối tưởng như bột phát qua những hình ảnh tràn trề, rực rỡ thực chất đều bị chi phối bởi mạch luận lí ẩn bên trong. Có thể dõi theo hai mạch song hành đó qua trình tự các khổ thơ. Muốn tắt nắng, buộc gió, muôn giữ lại hương sắc cuộc đời (khổ 1) bởi cuộc sống trần gian rạo rực xuân thì, đẹp đến ngất ngây (khổ 2). Nhưng cái đẹp nào có tồn tại mãi. Mùa xuân của đất trời có thể tuần hoàn nhưng tuổi xuân của đời người thì một đi không trở lại, trong cái đang phơi phới đã có mầm tàn lụi, vị chia li (khổ 3). Vì thế con người phải vội vàng lên, ôm trọn lấy cuộc đời, thâu nhận hết thảy sắc hương của sự sống (khổ 4). Nhịp thơ ở đây cũng biến đổi uyển chuyển, linh hoạt theo dòng cảm xúc. Khi diễn tả sự đắm say, sôi nổi thì nhịp điệu trở nôn dồn dập, khi cần triết luận thì nhịp thơ dãn ra, lắng lại, những đoạn cao trào nhịp điệu lại được đẩy lên mạnh mẽ, sôi nổi.

2. Những sáng tạo độc đáo về hình ảnh và ngôn từ. Hình ảnh thơ táo bạo, mãnh liệt (Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!…). Ngôn ngữ thơ phong phú và mới lạ: cách đảo ngữ rất tân kì (Của ong bướm này đây tuần tháng mật – Này đây hoa,…), phép điệp và phép đối được phát huy triệt để trong cấu trúc câu thơ làm tăng sức biểu hiện (Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua – Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,…), các giác quan được huy động tôl đa dẫn đến những cảm nhận độc đáo (Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi – Khắp sống núi vẫn than thầm tiễn biệt,…).

3. Giọng thơ đắm say, sôi nổi. Đó là một nét riêng của giọng thơ Xuân Diệu được thể hiện rất rõ trong bài thơ này. Giọng thơ đã truyền được trọn vẹn cái đắm say trong tình cảm của nhà thơ và như vậy, bài thơ đã tìm được con đường ngắn nhất đến với trái tim người đọc.