Nội Dung Bài Thơ Mùa Thu Của Em / 2023 / Top 19 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Kovit.edu.vn

Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Bài Thơ Vội Vàng. / 2023

HƯỚNG DẪN

I. TÁC GIẢ XUÂN DIỆU

1. Xuân Diệu (1916 – 1985) tên khai sinh là Ngô Xuân Diệu, quê nội ở Hà Tĩnh, quê ngoại ở Bình Định. Theo lời Xuân Diệu, cả xứ Nghệ quê cha và xứ dừa quê mẹ đều có ảnh hưởng đến cuộc sống và sự nghiệp văn chương của ông. Xuân Diệu đã thừa hưởng đức tính cần cù, kiên nhẫn trong lao động của người xứ Nghệ và hồn thơ của ông được bồi đắp nên từ thiên nhiên thơ mộng vạn Gò Bồi. Sau khi đỗ tú tài, Xuân Diệu đi dạy học tư, làm viên chức ở Mĩ Tho rồi ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn. Ông hăng hái tham gia các hoạt động xã hội với tư cách một nhà văn chuyên nghiệp: đại biểu Quốc hội khoá I, Uỷ viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam các khoá I, II, III, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật Cộng hoà Dân chủ Đức. Năm 1996, Xuân Diệu được nhà nước tặng Giải thưởng HỒ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

2. Xuân Diệu là một nhà thơ lớn, một nhà văn hoá lớn. Ngay từ khi mới bước chân vào làng thơ, Xuân Diệu đã được nhìn nhận là nhà thơ “mới nhất trong những nhà thơ mới” (Hoài Thanh). Ông là nhà thơ của mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu với một hồn thơ “khát khao giao cảm với đời” (Nguyễn Đăng Mạnh). Xuân Diệu luôn duy trì một nguồn cảm xúc tươi mới, một cặp mắt “xanh non” để nhìn vạn vật nên dòng thơ của ông cho đến cuối đời vẫn không hề vơi cạn. Sự đam mê sáng tạo của ông như một cuộc chạy đua với thời gian, tìm đến sự bất tử trong văn chương.

3. Tác phẩm chính của Xuân Diệu gồm các tập thơ: Thơ tha (1938), Gửi hương cho gió (1945), Riêng chung (1960), Mủi Cà Mua – cầm tay (1962), Hai đạt sóng (1967), Tôi giàu đôi mắt (1970), Thanh cù (1982); các tập văn xuôi: Phấn thông vàng (1939), Trường ca (1945); các tập tiểu luận, phê bình, nghiên cứu: Những bước đường tư tưởng của tôi (1958), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (hai tập – 1981, 1982), Công việc làm thơ (1984),…

II. BÀI THƠ VỘI VÀNG

Vội vàng được in lần đầu trong tập Thơ thơ (NXB Đời nay, Hà Nội, 1938). Đây là một trong những bài thơ tiêu biểu của Xuân Diệu trước Cách mạng, cho thấy nhân sinh quan mới mẻ cùng những sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nhà thơ.

NỘI DUNG

1. Đoạn 1 (13 câu đầu): Tình yêu tha thiết đôi với cuộc sống.

Thi nhân là người nhạy cảm hơn ai hết về sự phai tàn của cái đẹp trước thời gian, họ muôn níu giữ cả những gì mong manh nhất của hương sắc cuộc đời (muôn “bắt nắng đi” cho “màu đừng nhạt”, muôn “buộc gió lại” cho “hương đừng bay”). Những ước muốn “không tưởng” ấy được bộc lộ một cách chân thành, mãnh liệt bởi nó bắt nguồn từ tình yêu tha thiết đối với cuộc sống. Khác với nhiều thi nhân lãng mạn thời ấy, Xuân Diệu không cần phải tìm cách thoát li hiện thực, nhà thơ tìm thấy cho mình cả một “thiên đường” ngay trên mặt đất này:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

Này đây hoa của đồng nội xanh rì,

Này đây lá của cành tơ phơ phất;

Của yến anh này đây khúc tình si;…

Đấy là một cõi trần dạt dào nhựa sống giữa mùa xuân. Tâm hồn tươi trẻ của nhà thơ bắt nhịp ngay với những gì đang nảy lộc đâm chồi, đang đơm hoa kết trái. Sự ngất ngây, say đắm của hồn thơ biểu hiện trong nhịp thơ tuôn chảy ào ạt (này đây… này đây…), những hình ảnh mang sắc màu rực rỡ (ong bướm…tuần tháng mật; hoa… đồng nội xanh ri; cành tơ phơ phất), nhưng âm thanh réo rắt (yến anh… khúc tình si),… Cảm nhận được sự sống xuân thì đang ở dạng phồn thực khiến cho các giác quan bất chợt thăng hoa, thi nhân đã có một so sánh đặc biệt tình tứ: Tháng giêng ngon như một cặp môi gần. Cái đẹp của con người đã trở thành chuẩn mực cho cái đẹp của tự nhiên đó là một phát hiện trong quan niệm mĩ học của Xuân Diệu. Nhưng ngay trong lúc ở đỉnh cao của sự đắm say giao hoà cùng vạn vật, cảm giác tiếc nuối thời gian vẫn song hành tồn tại (Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa -Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân).

2. Đoạn 2 (từ câu 14 đến câu 29): Nỗi băn khoăn, tiếc nuối về sự một đi không trở lại của tuổi xuân trước sự trôi chảy nhanh chóng của thời gian.

Cảm nhận về thời gian ở mỗi người, mỗi thời không giông nhau. Người xưa quan niệm thời gian là một vòng tuần hoàn, con người còn có kiếp luân hồi nên có thể tồn tại vĩnh hằng cùng trời đất. Thời hiện đại, ý thức về sự hiện hữu của “cái tôi, cá nhân kéo theo sự thay đổi quan niệm về thời gian”. Ở các nhà thơ mới, đặc biệt là Xuân Diệu, cảm thức về thời gian vô cùng nhạy bén. Đối với thi nhân, mỗi giây phút cuộc đời là vô cùng quý giá, một đi không trở lại, nên Xuân Diệu lúc nào cũng như chạy đua với thời gian, “giục giã” mình và mọi người “Mau lên chứ, vội vàng lên với chứ!”. Nhà thơ cảm thấy thời gian đang chảy trôi vùn vụt trong mùa xuân của đất trời:

Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già.

Và nhận thấy con người hoàn toàn chịu sự chi phôi của dòng chảy đó:

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.

Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật,

Không cho dài thời trẻ của nhân gian,

Cái đẹp của thiên nhiên là mùa xuân, cái đẹp của con người là tuổi trẻ. Mùa xuân của đất trời còn có thể tuần hoàn nhưng tuổi xuân của đời người thì chẳng bao giờ “thắm lại”! Đó là một nghịch lý nhưng lại là quy luật tất yếu. Cảm nhận sâu sắc và có phần đau đớn về sự một đi không trở lại của tuổi xuân khiến thi nhân nhìn đâu cũng thây “mầm li biệt”:

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,

Khắp sống núi vẫn than thầm tiễn biệt…

Con gió xinh thì thào trong lá biếc,

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?

Chim vội vàng bỗng đứt tiếng reo thi,

Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?

3. Đoạn 3 (từ câu 30 đến hết): Lời giục giã cuồng nhiệt của nhà thơ.

Chính vì bất lực trước quy luật khắc nghiệt của thời gian nên nhà thơ mới vội vàng giục giã mọi người tận hưởng tất cả những gì đẹp đẽ nhất trên thế gian này (sự sống… mơn mởn; mây đưa… gió lượn cánh bướm… tình yêu; mùi thơm; ánh sáng,…). Tình cảm đắm say, tha thiết đến cuồng nhiệt đối với sự sống một lần nữa lại trào lên ở cuối bài thơ bằng những điệp từ (ta muốn… ta muốn) bằng những động, tính từ mạnh mẽ (riết, say, thâu, chếnh choáng, đã đầy, no nê,…) và lên đến cao trào: – Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

Đó là cách bộc lộ cảm xúc vô cùng mãnh liệt, độc đáo và mới mẻ chỉ có ở Xuân Diệu.

NGHỆ THUẬT

1. Sự kết hợp hài hoà giữa mạch cảm xúc trên bề mặt và mạch triết luận ở bề sâu. Mỗi cảm xúc ào ạt, mê say, đắm đuối tưởng như bột phát qua những hình ảnh tràn trề, rực rỡ thực chất đều bị chi phối bởi mạch luận lí ẩn bên trong. Có thể dõi theo hai mạch song hành đó qua trình tự các khổ thơ. Muốn tắt nắng, buộc gió, muôn giữ lại hương sắc cuộc đời (khổ 1) bởi cuộc sống trần gian rạo rực xuân thì, đẹp đến ngất ngây (khổ 2). Nhưng cái đẹp nào có tồn tại mãi. Mùa xuân của đất trời có thể tuần hoàn nhưng tuổi xuân của đời người thì một đi không trở lại, trong cái đang phơi phới đã có mầm tàn lụi, vị chia li (khổ 3). Vì thế con người phải vội vàng lên, ôm trọn lấy cuộc đời, thâu nhận hết thảy sắc hương của sự sống (khổ 4). Nhịp thơ ở đây cũng biến đổi uyển chuyển, linh hoạt theo dòng cảm xúc. Khi diễn tả sự đắm say, sôi nổi thì nhịp điệu trở nôn dồn dập, khi cần triết luận thì nhịp thơ dãn ra, lắng lại, những đoạn cao trào nhịp điệu lại được đẩy lên mạnh mẽ, sôi nổi.

2. Những sáng tạo độc đáo về hình ảnh và ngôn từ. Hình ảnh thơ táo bạo, mãnh liệt (Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!…). Ngôn ngữ thơ phong phú và mới lạ: cách đảo ngữ rất tân kì (Của ong bướm này đây tuần tháng mật – Này đây hoa,…), phép điệp và phép đối được phát huy triệt để trong cấu trúc câu thơ làm tăng sức biểu hiện (Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua – Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,…), các giác quan được huy động tôl đa dẫn đến những cảm nhận độc đáo (Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi – Khắp sống núi vẫn than thầm tiễn biệt,…).

3. Giọng thơ đắm say, sôi nổi. Đó là một nét riêng của giọng thơ Xuân Diệu được thể hiện rất rõ trong bài thơ này. Giọng thơ đã truyền được trọn vẹn cái đắm say trong tình cảm của nhà thơ và như vậy, bài thơ đã tìm được con đường ngắn nhất đến với trái tim người đọc.

Em Đã Đọc Bài Thơ “Lượm” Của Tố Hữu. Em Hãy Chuyển Nội Dung Bài Thơ Thành Một Câu Chuyện / 2023

DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG

1. TÌM Ý, CHỌN Ý

a. Nhân vật của truyện

– Em Lượm. – “Tôi”, người mà Lượm gọi là chú. – Người đưa tin về Lượm.

Trong các nhân vật trên, chỉ có Lượm là nhân vật cần được kể ra. Còn “tôi” và người đưa tin chỉ là người kể chuyện về em Lượm. Như vậy, muôn kể chuyện này, em hãy đóng vai người chú và người đưa tin mà kể về Lượm.

b. Sự việc trong truyện

Bài thơ giới thiệu cho ta biết về em Lượm qua hai sự việc: – Cuộc gặp gỡ với Lượm ở Huế. – Lượm đi liên lạc và bị hy sinh. Em hãy tưởng tượng, hình dung hai sự việc ấy.

c. Cách xưng hô: Đây là thay mặt người chú để kể chuyện về em Lượm thì em phải gọi Lượm là emy hoặc cháu. Không thể gọi Lượm là bạn hay anh được.

a) Mở bài: Giới thiệu khái quát về Lượm.

b) Thân bài: Kể về hai sự việc: – Cuộc gặp Lượm tại Huế. – Cuộc gặp người quen, nghe kể việc hy sinh của Lượm.

c) Kết bài: Lòng thương tiếc và ý nghĩ về cái chết của em.

3. DÀN BÀI CHI TIẾT

a) Mở bài: Giới thiệu về em Lượm.

– Trong kháng chiến, nhiều thiếu nhi đã tham gia và hy sinh anh dũng. – Lượm là một trường hợp rất đáng thương và cảm phục.

b) Thân bài:

– Cuộc gặp Lượm tại Huế + Giới thiệu cuộc gặp + Miêu tả chân dung Lượm. + Trò chuyện với Lượm. + Chia tay. – Trường hợp hy sinh của Lượm

+ Giới thiệu người chứng kiến ra kể. + Lượm nhận nhiệm vụ liên lạc. + Lượm hi sinh, cảnh tượng hi sinh.

c) Kết bài:

– Lòng thương tiếc. – Ý nghĩ của em về cái chết của Lượm.

BÀI LÀM

Trong cuộc kháng chiến anh dũng của dân tộc ta chống quân xâm lược, tôi đã biết nhiều trường hợp hi sinh. Trong số đó, sự hi sinh của các em thiếu nhi làm tôi rất xúc động.

Ngày ấy, khi giặc Pháp đánh đến Huế, thì tôi vừa ở Hà Nội về, tình cờ gặp cháu Lượm. Đó là chú bé nhỏ loắt choắt, đeo cái xắc bé xíu. Đặc biệt chú thích đội nghiêng chiếc mũ calô trên đầu, vừa huýt sáo, vừa nhảy chân sáo, nom hệt như một chú chim chích trên đường những buổi sớm mai.

Tôi hỏi:

– Cháu đi làm liên lạc cho cơ quan kháng chiến, có nhớ nhà không?

Cháu cười rạng rỡ, hai mắt híp lại, hai má đỏ hồng như trái bồ quân, nói:

– Ở đồn Mang Cá vui lắm chú ạ, còn vui hơn ở nhà nhiều!

Tôi từ biệt cháu, lại lên đường ra Bắc, còn cháu lại trở về Mang Cá. Từ đó công việc liên miên tôi không còn dịp nào trở về Huế nữa.

Một hôm, tôi gặp một người quen từ Huế ra công tác. Trong giờ nghỉ, người ấy nói:

– Cháu Lượm hi sinh rồi, anh biết không?

– Sao? Lượm hi sinh rồi sao, trong trường hợp nào? Tôi hấp tấp hỏi đôi mắt như nhòa đi.

Người quen ấy kể:

– Cháu Lượm vẫn làm liên lạc cho cơ quan chúng tôi. Một hôm có công văn khẩn phải đưa đi gấp. Đường đi băng qua đồn địch, rất nguy hiểm. Chúng tôi căn dặn:

– Phải cẩn thận, đường nguy hiểm lắm đấy, qua đồn cháu phải coi chừng mới được.

Cháu mỉm cười, bừng đỏ đôi má bồ quân.

– Nguy hiểm cháu cũng không sợ, việc cần thì phải đi.

Nói rồi cháu bỏ thư vào bao, đội mũ ca lô ra đi. Từ xa tôi trông theo vẫn thấy cái mũ ca lô nhấp nhô trên đồng lúa như thể cháu vừa đi vừa nhảy, vừa huýt sáo vậy. Bỗng từ phía đồn địch một chớp đỏ lóe lên rồi một tiếng nổ vọng lại. Cái mũ ca lô biến mất. Khi chúng tôi tìm đến thì cháu đã hi sinh. Máu đỏ thấm ướt ngực cháu, nhưng nét mặt thanh thản như là đang ngủ, một tay nắm chặt bụi lúa bên đường. Đồng lúa đang trổ đòng đòng, hương thơm ngào ngạt như đang ấp cho cháu ngủ.

Nội Dung Bài Thơ Sông Núi Nước Nam / 2023

Bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt được coi là bản tuyên ngôn về độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Bài thơ không những khẳng định chủ quyền về lãnh thổ của đất nước mà còn nêu cao ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền đó trước mọi kẻ thù xâm lược.

Mở đầu bài thơ, Lý Thường Kiệt đã khẳng định một cách mạnh mẽ chủ quyền của nước Đại Việt. Đó là ranh giới được định sẵn, được quy định bởi “sách trời”:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”

(Sông núi nước Nam, vua Nam ở

Rành rành định phận tại sách trời)

Hai câu thơ nhấn mạnh một chân lý hiển nhiên không ai có thể chối cãi được: chủ quyền về lãnh thổ Đại Việt đã được trời đất quy định, chứng giám, không thể thay đổi được. “Sông núi” ở đây là hình ảnh biểu tượng không chỉ nói về sông núi nói chung mà còn là ranh giới lãnh thổ, chủ quyền của nước ta. Cặp từ “Nam” nằm song song tương ứng với nhau trên cùng một câu thơ “nước Nam – vua Nam” như ngầm nêu ra một nghịch lý không thể tồn tại: nước Nam vua Bắc. Tác giả cố ý sử dụng từ “đế” để chỉ vua nhằm khẳng định “vua Nam” không phải bề tôi của “vua Bắc” và “nước Nam” không phải chư hầu của “nước Bắc”. Lãnh thổ của nước Nam thuộc về người Nam, do vua Nam cai quản. Câu thơ như khẳng định sự bình đẳng và độc lập tuyệt đối của nước Nam đối với nước Bắc. Do đó, nước Nam có quyền có chủ quyền riêng biệt. Đây là lần đầu tiên mà vấn đề dân tộc được đề cập một cách chắc chắn, mạnh mẽ trong một tác phẩm thơ văn như vậy. Điều này là hoàn toàn có cơ sở, bởi đã được định trong “sách trời”. Từ “tiệt nhiên” với cách hiểu là hiển nhiên, rành rành biểu thị thái độ hoàn toàn tin tưởng của người nói vào “sách trời”. Từ đó, tác giả như ngầm báo trước sự thắng bại giữa ta và địch. Qua hai câu thơ đầu, bằng giọng điệu hào hùng, đanh thép, lời lẽ rõ ràng, Lý Thường Kiệt đã khẳng định quyền làm chủ về lãnh thổ của nước ta, không một thế lực nào có thể phủ định, xâm phạm được, đồng thời cũng thể hiện niềm tự tôn của tác giả đối với dân tộc.

Nếu như hai câu đầu khẳng định chủ quyền quốc gia, dân tộc thì hai câu cuối lại là bản cáo trạng và lời cảnh cáo đối với kẻ thù nếu như chúng dám đến xâm phạm nước ta:

“Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”

(Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời)

Lãnh thổ nước Nam đã được quy định bởi “sách trời” là của người Nam, nhưng bọn giặc không màng đến điều ấy, chúng đã phản lại ý trời, đến xâm phạm để thỏa mãn lòng tham khôn cùng của chúng. Lý Thường Kiệt hết sức khinh bỉ, căm phẫn và tức giận trước lòng tham ngu xuẩn của giặc. Câu thơ bắt đầu bằng từ “Cớ sao nhưng dường như không nhằm để hỏi mà như kể lại, vạch trần tội ác của chúng đã làm đối với dân tộc ta. Với những tội ác như thế, Lý Thường Kiệt đã có đầy đủ cơ sở để bắt kẻ thù nhận lấy hậu quả không thể tránh khỏi “bị đánh tơi bời”. Đây đồng thời cũng là quyết tâm bảo vệ nền độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ trước mọi kẻ thù xâm lược. Hai câu thơ với nhịp thơ chậm, giọng thơ mạnh góp phần biểu hiện tâm trạng phẫn nộ của nhà thơ khi tổ quốc bị xâm lăng, lòng căm thù giặc sâu sắc và niềm tin sẽ chiến thắng kẻ thù.

Tóm lại, “Nam quốc sơn hà” là một bài thơ khẳng định rõ ràng quyền độc lập tự chủ của dân tộc ta, đồng thời cũng nêu lên bản cáo trạng và hình phạt thích đáng dành cho kẻ thù nếu chúng muốn xâm lược nước ta. Qua đó, bài thơ không chỉ thể hiện niềm tự hào của người Việt Nam về chủ quyền dân tộc mà còn đề cao ý chí đấu tranh, sức mạnh của nhân dân trong phong trào giải phóng dân tộc.

TU KHOA TIM KIEM: NOI DUNG NOI DUNG BAI SONG NUI NUOC NAM SONG NUI NUOC NAM TRINH BAY NOI DUNG BAI SONG NUI NUOC NAM Theo chúng tôi

Phân Tích Nội Dung Bài Thơ Nhớ Rừng Của Thế Lữ / 2023

Thế Lữ không chỉ là người cắm ngọn cờ chiến thắng cho Thơ mơi mà còn là người tiêu biểu đầy đủ nhất cho Thơ mới chặng đầu (1932 – 1935).

Tự cho mình là người lữ khách của thế gian (bút danh Thế Lữ có ý nghĩa đó), ông đi tìm cái đẹp ở mọi nơi. Nhưng thực ra nhà thơ Thế Lữ đâu chỉ ‘xuôi ngược để vui chơi’ như ông nói, thơ Thế Lữ vẫn mang nặng tâm sự thời thế, đất nước. Bài thơ ‘Nhớ rừng’ của ông mang nặng tâm sự căm hờn, u uất và niềm khao khát tự do mãnh liệt của những người phải sống trong cảnh ‘nhục nhằn, tù hãm’.

Bài thơ liền mạch cảm xúc, được tác giả ngắt thành 5 đoạn, tuy vậy bài thơ có ba ý lớn:

1. Tâm trạng căm hờn, uất hận và nỗi ngao ngán của con hổ trong cảnh tù hãm ở vườn bách thú. (đoạn thơ đầu)

2. Hình ảnh ‘giang sơn hùng vĩ’ thuở ‘oanh liệt’ của con hổ được tái hiện trong nỗi nhớ da diết của nó (2 đoạn thơ tiếp theo).

3. Nỗi chán ghét hiện tại tầm thường, giả dối và lời nhắn gửi thống thiết của con hổ tới ‘cảnh nước non hùng vĩ’ xưa kia (phần còn lại).

1) Tâm trạng căm hờn, uất hận và nỗi ngao ngán của con hổ trong cảnh tù hãm ở vườn bách thú:

Bài thơ là lời con hổ trong vườn bách thú. Tác giả đã khai thác một đề tài đầy kịch tích, tạo ra âm hưởng bi tráng cho bài thơ. cảnh ngộ của con hổ giờ đây là cảnh ngộ của một thân tù hèn mọn, nhưng hồn vía vẫn là hồn vía của một vị chúa sơn lâm luôn hướng về một thời oanh liệt.

Đề tài ấy rất phù hợp với bút pháp lãng mạn: thiên về việc diễn tả nỗi khao khát vươn tới sự cao cả, đẹp đẽ trong mộng tưởng đắm say.

a) Tâm trạng căm hờn, uất hận và nỗi ngao ngán của con hổ trong cảnh tù hãm ở vườn bách thú được tác giả miêu tả rất ấn tượng:

Tác giả đã mô tả nỗi căm hờn, uất hận và nỗi ngao ngán của con hổ trong cảnh tù hãm ở vườn bách thú với mình thức đối lập giữa vẻ bề ngoài và thế giới nội tâm của mãnh thú.

Nhìn bề ngoài thì hình như vị chúa tể rừng xanh này đã hết thời đập phá hung dữ, nay đang thấm thìa sự bất lực và ý thức được tình thế đắng cay của mình, cam chịu cảnh gậm nhấm ‘một khối căm hờn’, ‘nằm dài trông ngày tháng dần qua’, mặc cho thân thể bị tụt xuống ngang cấp với những loài hèn kém.

Nhìn bề ngoài có cảm giác con hổ này đã được thuần hoá, cam chịu ‘làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi’ để mua vui cho người và cam chịu ‘ngang bầy cùng bọn gấu dỡ hơi – Với cặp báo chuồng bên vô tư lự’.

Nhưng thực ra, con mãnh thú vẫn ngùn ngụt lửa ‘căm hờn’, ‘uất hận’. Âm điệu câu thơ mở đầu gợi lên giọng gầm gừ, tức giận của con hổ. Sức nặng âm hưởng như dồn vào từ ‘căm hờn’ đứng giữa câu thơ. Câu thơ nhiều vần trắc diễn tả cái dằn vặt căm hờn của con hổ. Nỗi căm hờn như đúc lại thành hình thành khối (‘khối căm hờn’). Không phải ‘ngậm một khối căm hờn’ mà là ‘gậm’, nghĩa là không cam chịu, âm thầm mà dữ dội như muôn nghiến nát, nghiền tan ‘khối căm hờn’.

Cách tự xưng của con hổ vẫn là cách tự xưng kiêu hãnh của vị chúa tể quyền uy. ‘Ta… ‘ bị giam hãm, nhưng tiềm tàng trong con người nó vẫn còn nguyên sức mạnh linh thiêng kết tinh sức mạnh huyền bí của rừng thẳm (‘oai linh rừng thẳm’).

Cái nhìn của nó đối với mọi đối tượng chung quanh vẫn là cái nhìn của kẻ bề trên: với con người, kẻ đã cầm tù nó thì chỉ là ‘lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ’, khiến nó ‘khinh’ và nhìn với con mắt giễu cợt: ‘giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm’! Còn đối với bọn gấu, dưới con mắt của vị chúa sơn lâm, chỉ là một bọn ‘dở hơi’; nó thương hại ‘cặp báo chuồng bên vô tư lự’, nhởn nhơ trong cảnh nồ lệ.

Cùng với nỗi ‘căm hờn’, ‘uất hận’ còn có nỗi ngao ngán khôn cùng của con hổ trong cảnh tù hãm. Ngao ngán vì trong lòng ngùn ngụt căm hờn, uất hận,

vẫn còn nguyên sức mạnh ‘oai linh rừng thẳm’… mà đành bất lực ‘nằm dài trông ngày tháng dần qua’, mà phải dằn lòng ‘bị nhục nhằn, tù hãm’, để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi’.

b) Tâm trạng đó của con hổ rất gần gũi với tâm trạng chung cửa người dân Việt Nam mất nước, nô lệ lúc đó:

Đoạn thơ mở đầu đã chạm ngay vào nỗi đau mất nước nỗi đau của người dân nô lệ lúc bây giờ. Họ thấy nỗi căm hờn, uất hận của con hổ cũng chính là tiếng lòng mình, cả nỗi ngao ngán của con hổ cũng là nỗi ngao ngán của người dân trong cảnh đời tối tăm, u buồn bao trùm khắp đất nước.

Bài thơ vì vậy có tiếng vang rộng rãi và ít nhiều có tác dụng khơi dậy tình cảm yêu nước, khao khát độc lập, tự do của người dân Việt Nam khi đó.

2) Hình ảnh giang sơn hùng vĩ thời oanh liệt của chúa sơn lâm được tái hiện trong nỗi nhớ da diết được miêu tả rất hình tượng:

Cũi sắt của vườn bách thú chỉ giam được thân xác con hổ, còn hồn vía của chúa sơn lâm vẫn trở về ‘nơi giống hầm thiêng ta ngự trị’. Qua tâm hồn của hổ, rừng xưa núi cũ hiện lên thật hùng vĩ, đắm say.

a) Hùng vĩ, đắm say với ‘bóng cả, cây già ‘ đầy vẻ thâm nghiêm.

Hùng tráng với những âm thanh dữ dội: ‘tiếng gió gào ngàn’, ‘giọng nguồn hét núi’, ‘thét khúc trường ca dữ dội’.

Những động từ rất mạnh và gợi, tạo nên khúc ca dữ dội, hùng tráng của rừng núi: (‘gào’, ‘hét’, ‘thét’).

Cảnh rừng núi càng trở nên linh thiêng, hùng vĩ vì cái vẻ hoang vu, bí ẩn của nó: quê hương con hổ là ‘chốn thảo hoa không tên không tuổi’, một xứ sở vô danh tôn thêm vẻ bí ẩn… Nơi ngự trị của con hổ là ‘hang tối’ mịt mùng, lại thêm một vẻ bí ẩn, rùng rỢn!

Núi rừng đại ngàn vốn đã hùng vĩ, linh thiêng, bí ẩn, trong nỗi nhớ da diết của thân tù càng trở nên kì dị, bí ẩn, linh thiêng hơn. Cái gì cũng lớn lao, phi thường mãnh liệt, dữ dội, trước khi để chúa sơn lâm hiện ra, Thế Lữ đã dựng cảnh để gỢi không khí oai hùng. Một nền cảnh thật xứng với chúa sơn lâm!

b) Tác giả đã để vị chúa sơn lâm xuất hiện rất hào hùng:

Đúng vào lúc tiếng gào thét của thiên nhiên ở đỉnh điểm dữ dội thì chúa sơn lâm xuất hiện. Đầu tiên chỉ thấy bàn chân hổ với những bước chân ‘dõng dạc, đường hoàng’. Những câu thơ có giá trị như một đoạn phim cận cảnh quay chi tiết: sau bước chân là tấm thân xuất hiện từ từ nên càng oai hùng, to lớn. Những câu thơ tám chữ, nhịp điệu câu thơ uyển chuyển với những từ láy (‘nhịp nhàng’, ‘dõng dạc’, ‘âm thầm’… ) gợi lên vẻ mềm mại của tấm thân con hổ.

Tác giả đã chọn lựa những động từ phù hợp để miêu tả những động tác của bàn chân, tấm thân, ánh mắt của con hổ (‘bước’, ‘lượn’, ‘vờn’, ‘quắc’… ) khiến cho vị chúa sơn lâm hiện ra với một tư thế, một vẻ đẹp oai phong, lẫm liệt, đầy sức mạnh, vẻ oai phong của vị chúa tể đã chế ngự hoàn toàn cảnh vật ‘khiến cho mọi vật đều im hơi’. Con hổ đầy kiêu hãnh khi tự khẳng định địa vị cao quý của mình.

‘Ta biết ta chúa tể cả muôn loài’

3) Nỗi ngao ngán, u uất trước thực tại và lời nhắn gửi thống thiết tới cảnh ‘nước non hùng vĩ’ xưa kia của con hổ (2 đoạn thơ cuối).

Dưới con mắt của mãnh hổ, cảnh ở vườn bách thú là những cảnh ‘tầm thường, giả dối’. ‘Tầm thường giả dối’ vì đó là cảnh nhân tạo, do con người sửa sang; xếp đặt, tỉa tót, chứ không phải cảnh hoang dã, tự nhiên của đại ngàn cao cả, âm u. ‘Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng’ đối lập hẳn với ‘cảnh sơn lâm bóng cả, cây già’, với ‘chốn thảo hoa không tên không tuổi’. ‘Dăm vầng lá hiền lành’ đối lập với ‘lá gai, cỏ sắc’. ‘Dòng nước đen giả suối chẳng thông dòng’ đối lập với dòng suối đẫm ánh trăng…

a) Con hổ vô cùng chán ghét những cảnh ‘tầm thường, giả dối’ ấy. Chán ghét vì nó đơn điệu, tẻ nhạt, ‘không đời nào thay đổi’.

Cách ngắt nhịp gấp, các sắc thái diễu nhại của từ ngữ (‘len dưới nách’, ‘thấp kém’, ‘cũng học đòi bắt chước’… ) khiến cho đoạn thơ toát lên nỗi bực dọc, khinh thường, chán ghét cao độ của con hổ đối với thực tại chung quanh.

Con hổ trở về với niềm uất hận vì tù túng, nhưng uất hận hơn là phải chấp nhận cái tầm thường, giả dối. Hổ nhớ rừng là nhớ tự do, nhưng còn là nhớ cái cao cả, cái chân thực, tự nhiên. Đoạn thơ là linh hồn của hổ, nhưng cũng là linh hồn của thơ lãng mạn: đó là cảm hứng vươn tới cái cao cả, cái chân thực, cái đẹp, vượt lên trên sự tầm thường, giả dối.

Con hổ cất lời nhắn gửi tới ‘nước non’ cũ, một non nước ‘oai linh, hùng vĩ’. Nơi ‘non nước’ cũ là nơi ngày xưa hổ có chủ quyền (‘nơi giống hầm thiêng ta ngự trị’), nơi ngày xưa có cả tự do (‘nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa’).

Nội dung lời nhắn gửi là nỗi lòng quặn đau, ngao ngán, căm hờn, u uất vì đang bị cầm tù, mất tự do, mất chủ quyền, đó còn là tấc lòng mãi mãi gắn bó, thuỷ chung với ‘non nước’ cũ (‘Ta đang theo giấc mộng ngàn to lớn. Để hồn ta phảng phất được gần ngươi’), nó không hề khuất phục kẻ thù và hoàn cảnh, nó

không bao giờ lãng quên, và phản bội ‘non nước’ xưa. Lời nhắn gửi mà như một lời thề son sắt, thuỷ chung.

Phải chăng đó cũng là nỗi lòng, là tấm lòng của người dân đất Việt đương thời chán ghét, u uất trong cảnh đời nô lệ mà vẫn son sắt, thuỷ chung với giống nòi, non nước?

Lời thơ thống thiết. Câu thơ kết là tiếng vang vọng sâu thẳm của tấm lòng yêu nước.