Nêu Hoàn Cảnh Ra Đời Bài Thơ Đồng Chí / 2023 / Top 12 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Kovit.edu.vn

Nêu Hoàn Cảnh Sáng Tác Bài Thơ Đồng Chí / 2023

– Bài thơ “Đồng chí” được sáng tác mùa xuân năm 1948, sau khi tác giả tham gia chiến dịch Việt – Bắc thu đông (1947). Bài thơ là kết quả từ những trải nghiệm của tác giả về thực tế cuộc sống và chiến đấu của bộ đội ta trong những ngày đầu kháng chiến.

– Được in trong tập thơ “Đầu súng trăng treo” (1966).

Năm ấy, khi viết bài thơ “Đồng chí”, anh bộ đội Trần Hữu Chính (bút danh nhà thơ Chính Hữu) vừa tròn 20 tuổi; đang là chính trị viên đại đội thuộc Trung đoàn Thủ Đô. Đại đội của anh được biệt phái đi truy kích địch trên vùng Việt Bắc. Cuộc sống của người lính lúc ấy thật gian khổ; quần áo một bộ, chân đất đầu trần, đúng như câu thơ tả thực anh viết: “Áo anh rách vai/ Quần tôi có hai mảnh vá”. Bên cạnh đó, hoạt động của họ cũng hết sức bí mật, kín đáo, vì nhiệm vụ đặc biệt họ đang đảm nhiệm. Cuộc sống dường như càng ác liệt, càng gian khổ bao nhiêu thì ý chí của họ càng quyết tâm, tinh thần đồng đội càng thắm thiết, bền chặt bấy nhiêu…

Một lần nhớ lại những người đồng đội năm xưa là thêm một lần nhà thơ bồi hồi xúc động. Nhà thơ kể:

– Không có tình bạn thì không tồn tại được. Sau chiến dịch phục kích này, mình bị ốm (bệnh), đơn vị hành quân, nhưng có cử một anh ở lại trông nom, giúp đỡ mình. Chính nhờ một phần sự tận tình của anh và tình cảm của đồng đội mà sau trận ốm này mình viết bài “Đồng chí”. Anh bạn không phải là nhân vật nhưng là một gợi ý, một nguyên mẫu. Ở đơn vị chỉ thấy xung quanh mình 3 “nhân vật”: Khẩu súng – Bạn – Trăng; cho nên cả bài thơ bạn đọc chỉ thấy 3 hình tượng này quấn quýt. Với “Đồng chí”, mình không tả trận đánh diễn ra như thế nào, hay sự gian khổ (mặc dù trong bài cũng có chi tiết nêu lên việc này); chủ yếu mình nói tình cảm, tình người của những người lính. Có lẽ vậy mà bài thơ mình viết nhanh, chỉ một hai đêm là xong.

Với “Đồng chí”, ta không chỉ biết thêm về những kỷ niệm tình cảm một thời quân ngũ của nhà thơ Chính Hữu mà còn hiểu hơn những quan niệm, suy nghĩ sáng tác của ông. Ông tâm sự nhân trò chuyện về bài thơ này:

– Trước và sau mình làm ít vì vẫn xác định làm nghiệp dư, lúc nào hứng thì làm. Mình là người ít nói, nên không thích ai nói nhiều. Lúc nào làm mà thấy không được thì dừng lại. Mình không tham, viết mà nhạt, không thật thì thôi!

Bây giờ ta mới hiểu rõ hơn vì sao bạn đọc và những nhà phê bình có lý khi có chung nhận xét: “Thơ ông hàm súc, cô đọng và ông viết không nhiều”. Nhà thơ dường như cũng hiểu thấu điều ấy; ông chẳng giấu gì và nhận xét:

Chính bài “Đồng chí” mình không bằng lòng bằng những bài mình viết sau này: Gửi Mẹ, Thư nhà, Duyệt binh, Lá ngụy trang, Qua Xi-bê-ri…

Ta hiểu vì sao ở những bài thơ ấy ông tâm đắc, vì những thiếu hụt ở những bài thơ trước (như phần trí tuệ) ông đã bù đắp được để giọng thơ mình hoàn thiện hơn.

Dẫu sao thì “Đồng chí” vẫn là một trong những bài thơ viết về chiến tranh thành công của nhà thơ cựu binh Chính Hữu.

Tham khảo ngay! Tìm hiểu chi tiết bài thơ Đồng chí – Chính Hữu

Hoàn Cảnh Ra Đời Bài Thơ Tây Tiến (Quang Dũng) / 2023

Hoàn cảnh ra đời bài thơ Tây Tiến (Quang Dũng)

Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu cho đời thơ của Quang Dũng, trong đó thể hiện tập trung những nét đặc sắc nhất trong phong cách nghệ thuật của nhà thơ. Tây Tiến cũng là một trong những bài thơ hay nhất trong số những bài viết về đề tài người lính thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Tây Tiến là một đơn vị quân đội được thành lập năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt – Lào, đánh tiêu hao lực lượng của quân đội Pháp ở Thượng Lào và miền Tây Bắc bộ của Việt Nam.

Địa bàn đóng quân và hoạt động của Trung đoàn là một miền rừng núi rộng lớn và hiểm trở của biên giới Việt – Lào gồm các tỉnh: Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, miền tây Thanh Hóa và Sầm Nứa. Sau một thời gian hoạt động, đoàn quân Tây Tiến trở về Hòa Bình, thành lập trung đoàn 52. Chiến sỹ Tây Tiến phần đông là học sinh thanh niên Hà Nội nên tâm hồn mang đậm nét hào hoa lãng mạn.

Bài thơ được viết trong thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, đời sống bộ đội gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt đơn vị Tây Tiến chiến đấu trong hoàn cảnh hết sức gian khổ, vô cùng thiếu thốn về vật chất, bệnh sốt rét hoành hành dữ dội. Tuy nhiên họ vẫn sống rất lạc quan và chiến đấu rất dũng cảm với tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Năm 1947, Quang Dũng là đại đội trưởng trong trung đoàn Tây Tiến. Tới cuối 1948, ông được lệnh chuyển sang đơn vị khác. Một thời gian sau, khi đang ở Phù Lưu Chanh, một làng thuộc tỉnh Hà Đông, nhớ đơn vị cũ, Quang Dũng đã viết bài thơ “Nhớ Tây Tiến”. Năm 1957, khi in lại trong tập “Mây đầu ô”, tác giả đổi nhan đề bài thơ thành “Tây Tiến”

Hoàn cảnh sáng tác cho thấy rõ hơn nỗi nhớ da diết của nhà thơ với đơn vị cũ và mảnh đất miền Tây đầy kỷ niệm, nỗi nhớ đã trở thành cảm xúc trữ tình xuyên suốt bài thơ. Hoàn cảnh sáng tác cũng đồng thời giúp người đọc hiểu rõ hơn vẻ đẹp hòa hoa, hào hùng của chiến sĩ Tây Tiến, hiểu được ng/x bút pháp hiện thực và cảm hứng lãng mạn – những yếu tố làm nên chất bi tráng rất đặc biệt cho bài thơ.

TÂY TIẾN

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói, Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

Phù Lưu Chanh, 1948

Hoàn Cảnh Ra Đời ‘Khúc Thụy Du’ Của Thi Sĩ Du Tử Lê / 2023

Mặc dù Anh Bằng phổ nhạc bài Khúc Thụy Du dựa theo bài thơ cùng tên của thi sĩ Du Tử Lê nhưng có thể nhận thấy rằng chủ điểm của bài hát Khúc Thụy Du và bài thơ Khúc Thụy Du là hoàn toàn khác nhau. Khúc Thụy Du của Anh Bằng thật day dứt mà nhẹ nhàng trong khi Khúc Thụy Du của Du Tử Lê lại là một trong những tiếng thét gào đau thương thời loạn. Và như vậy, bài hát Khúc Thụy Du và bài thơ Khúc Thụy Du tuy hai mà một, tuy một mà hai…

*** Còn đây là lời trần tình của Du Tử Lê về tác phẩm Khúc Thụy Du:

Khi biến cố Tết 1968 xảy ra, đó cũng là lúc cuộc tình của tôi và một nữ sinh viên trường Dược, ở Saigòn cũng khởi đầu. Đầu tháng 3-1968, tôi bị chỉ định đi làm phóng sự ở Ngã tư Bảy Hiền. Lúc đó, cả thành phố Saigòn vẫn còn giới nghiêm. Trên đường đi, từ cục Tâm lý chiếc ở đầu đường Hồng Thập Tự, gần cầu Thị Nghè tới khu Ngã tư Bảy Hiền, đường xá vắng tanh. Khi gần tới ngã tư Bảy Hiền, ngoại ô Saigòn, tôi thấy trên đường đi còn khá nhiều xác chết. Đó là những xác ch.ết không toàn thây, bị cháy nám; rất khó nhận biết đâu là dân chúng, binh sĩ hay bộ đội. Khi tới gần khu ngã tư Bảy Hiền, dù không muốn nhìn, tôi vẫn thấy rất nhiều mảnh thịt người vương vãi hai bên đường. Có cả những cánh tay văng, vướng trên giây điện…Rất nhiều căn nhà đổ nát. Tôi cũng thấy những con chó vô chủ nhịn đói bên lề đường… Tất cả những hình ảnh ghê rợn này đập vào mắt tôi, cùng mùi hôi thối tẩm, loang trong không khí.

Khi tới vùng giao tranh, tôi gặp người trách nhiệm cuộc hành quân giải toả khu chợ Bảy Hiền. Đó là thiếu tá Nguyễn Kim Tiền. Anh vốn là một bạn học thời trung học của tôi. Tiền cho biết, đơn vị của anh đang ở giai đoạn cực kỳ nguy hiểm. hai bên rình rập nhau, như trò cút bắt, để tranh giành từng gian hàng, từng ngôi nhà… Anh nói tôi phải rời khỏi khu chợ, lập tức. Vì anh không thể bảo đảm sinh mạng cho tôi, dù là bạn cũ….Trên đường về, cái khung cảnh hoang tàn, đổ nát với thây người vung vãi khắp nơi, cùng với mùi sình thối…khiến tôi muốn nôn oẹ, một lần nữa lại gây chấn động dữ dội trong tôi…

Giữa tháng 3 – 1968, nhà văn Trần Phong Giao, Thư ký toà soạn Tạp chí Văn, gọi điện thoại vào phòng Báo Chí, cục Tâm lý chiến, hỏi tôi có thể viết cái gì đó, cho Văn số tục bản. Gọi là “tục bản” bởi vì sau số Xuân, khi biến cố mồng 1 Tết xẩy ra, báo Văn ngưng xuất bản. Lý do, các nhà phát hành không hoạt động. Đường về miền tây cũng như đường ra miền Trung bị gián đoạn. Saigòn giới nghiêm. Tuy nhiên, ông nói, hy vọng ít ngày nữa, giao thông sẽ trở lại – Thêm nữa, không thể để Văn đình bản quá lâu. Sau khi nhận lời đưa bài cho Trần Phong Giao, tôi mới giật mình, hốt hoảng. Tôi nghĩ, giữa tình cảnh ấy, tôi không thể đưa ông một bài thơ tình, hay một chuyện tình. Mặc dù thơ tình hay chuyện tình là lãnh vực của tôi thuở ấy. Nhưng, tôi thấy, nếu tiếp tục con đường quen thuộc kia, tôi sẽ không chỉ không phải với người đọc mà, tôi còn không phải với hàng ngàn, hàng vạn linh hồn đồng bào, những người ra đi tức tưởi, oan khiên vì thời loạn ly. Cuối cùng, gần hạn kỳ phải đưa bài, nhớ lại những giờ phút ở ngã tư Bảy Hiền, tôi ngồi xuống viết bài thơ ghi lại những gì mục kích trên đường đi. Viết xong, tôi không tìm được một nhan đề gần, sát với nội dung! Bài thơ dài trên 100 câu. Nhưng khi Văn đem đi kiểm duyệt, bộ Thông Tin đục bỏ của tôi gần 1/ 3 nửa bài thơ. Thời đó, tôi viết tay, không có bản phụ, nên, sau này khi gom lại để in thành sách, tôi không có một bản nào khác, ngoài bản in trên báo Văn (đã kiểm duyệt). Tuy còn mấy chục câu thôi, nhưng nội dung bài thơ, từ đầu đến cuối, vẫn là một bài thơ nói về thảm cảnh chiến tranh. Người phụ trách phần kiểm duyệt vẫn để lại cho bài thở của tôi những câu cực kỳ “phản chiến” như: “…Ngước lên nhìn huyệt lộ – bày quạ rỉa xá.c người – (của tươi đời nhượng lại) – bữa ăn nào ngon hơn – làm sao tôi nói được…” Hoặc: “…Trên xá.c người chưa rữa – trên thị.t người chưa tan – trên cánh tay ch.ó gậm – trên chiếc đầ.u lợn tha…” …

Nói cách khác, tình yêu chỉ là phần phụ; với những câu hỏi được đặt ra cho những người yêu nhau, giữa khung cảnh chết chóc kia, là gì? Nếu không phải là những tuyệt vọng cùng, tất cả sự vô nghĩa chói gắt của kiếp người? Như đã nói, thời gian ra đời của bài thơ cũng là khởi đầu của cuộc tình giữa tôi và một sinh viên đại học Dược. Tôi lấy một chữ lót trong tên gọi của người con gái này, cộng với chữ đầu, bút hiệu của tôi, làm thành nhan đề bài thơ. Nó như một cộng nghiệp hay chung một tai hoạ, một tuyệt lộ.

Bài thơ ấy, sau đó tôi cho in trong tuyển tập “Thơ Du Tử Lê (1967-1972). Cuối năm, tập thơ được trao giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc, bộ môn thi ca, 973.

Năm 1983, tôi cho tái bản cuốn thơ này sau khi được một độc giả du học tại Mỹ trước năm 1975, cho lại. Cô nói, tôi phải hứa in lại và dành bản đầu tiên cho cô… Sau đấy, một buổi tối, nhạc sĩ Anh Bằng đến tìm tôi ở quán Café Tay Trái (toạ lạc ngay ngã tư đường Trask và Fairview.) Ông nói, ông mới phổ nhạc bài “Khúc Thuỵ Du.” Ông cho tôi quyền chọn người hát. Ông nhấn mạnh:

– “Tôi có thể chỉ cho người đó hát…”

Từ đó đến nay, thỉnh thoảng vẫn còn có người lên tiếng phản đối sự giản lược nội dung bài thơ của tôi vào một khía cạnh rất phụ: Khía cạnh tình yêu trong ca khúc “Khúc Thuỵ Du”… Nhưng, hôm nay, sau mấy chục năm nhìn lại, tôi thấy, ông cũng có cái lý của ông…

KHÚC THỤY DU

1.Như con chim bói cá. Trên cọc nhọn trăm năm Tôi tìm đời đánh mất. Trong vũng nước cuộc đời

Như con chim bói cá. Tôi thường ngừng cánh bay Ngước nhìn lên huyệt lộ. Bầy quạ rỉa xá.c người (Của tươi đời nhượng lại) Bữa ăn nào ngon hơn. Làm sao tôi nói được

Như con chim bói cá. Tôi lặn sâu trong bùn Hoài công tìm ý nghĩa. Cho cảnh tình hôm nay

Trên xá.c người chưa rữa. Trên thị.t người chưa tan Trên cánh tay ch.ó gậm. Trên chiếc đ.ầu lợn tha

Tôi sống như người mù. Tôi sống như người điên Tôi làm chim bói cá. Lặn tìm vuông đời mình

Trên mặt đất nhiên lặng. Không tăm nào sủi lên Đời sống như thân nấm. Mỗi ngày một lùn đi Tâm hồn ta cọc lại. Ai làm người như tôi?

2. Mịn màng như nỗi chết. Hoang đường như tuổi thơ Chưa một lần hé mở. Trên ngọn cờ không bay

Đôi mắt nàng không khép. Bàn tay nàng không thưa Lọn tóc nàng đêm tối. Khư khư ôm tình dài

Ngực tôi đầy nắng lửa. Hãy nói về cuộc đời Tôi còn gì để sống. Hãy nói về cuộc đời Khi tôi không còn nữa. Sẽ mang được những gì Về bên kia thế giới. Thụy ơi và Thụy ơi

Tôi làm ma không đầu. Tôi làm ma không bụng Tôi chỉ còn đôi chân. Hay chỉ còn đôi tay Sờ soạng tìm thi thể. Quờ quạng tìm trái tim Lẫn tan cùng vỏ đạ.n. Dính văng cùng mảnh bo.m Thụy ơi và Thụy ơi

Đừng bao giờ em hỏi. Vì sao mình yêu nhau Vì sao môi anh nóng. Vì sao tay anh lạnh Vì sao thân anh run. Vì sao chân không vững Vì sao anh van em. Hãy cho anh được thở

Bằng ngự.c em rũ buồn. Hãy cho anh được ôm Em, ngang bằng sự ch.ết

Tình yêu như ngọn dao. Anh đ.âm mình, lút cán Thụy ơi và Thụy ơi. Không còn gì có nghĩa Ngoài tình em tình em. Đã ướt đầm thân thể

Anh ru anh ngủ mùi. Đợi một giờ linh hiển.

(Du Tử Lê, Tháng 03-68)

Hoàn Cảnh Ra Đời Và Ý Nghĩa Nhan Đề Bài Thơ Từ Ấy Của Tố Hữu / 2023

Nhà thơ Tố Hữu – cánh chim đầu đàn của nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Lý tưởng cách mạng chính là lẽ sống và là nguồn cảm hứng vô tận trong sáng tác của ông, bởi vậy thơ và cuộc đời của Tố Hữu luôn gắn liền với sự nghiệp cách mạng cùng những thăng trầm của đất nước.

Bài thơ “Từ ấy” ghi lại kỉ niệm đáng nhớ khi được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương, có ý nghĩa đặc biệt đánh dấu bước ngoặt, bước chuyển mình lớn trong cuộc đời sự nghiệp của một chàng thanh niên trẻ. Việc đứng trong hàng ngũ của Đảng chính là tâm nguyện của người thanh niên yêu nước giác ngộ lý tưởng cách mạng.

1. Hoàn cảnh ra đời

Tháng 7/1938, sau thời gian hoạt động phong trào thanh niên ở Huế, Tố Hữu vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng cộng sản Việt Nam. Niềm vui sướng hân hoan và tự hào khi được đứng dưới hàng ngũ của Đảng là cảm xúc chủ đạo của Tố Hữu để viết nên bài thơ này. Một ngày đẹp trời cuối mùa hè năm 1938. Trời cao xanh, nắng vàng tươi rực rỡ chảy tràn trên xứ Huế, mảnh đất cố đô xưa. Trong một khu vườn xum xuê cây lá, nghe rõ tiếng xào xạc của gió và âm thanh ríu rít của bầy chim nhỏ trên ngọn cây cao, có ba người ngồi xúm lại với nhau trên bãi cỏ, dường như họ đang bàn bạc với nhau chuyện gì rất hệ trọng. Hai người tầm thước, gương mặt cương nghị, rắn rỏi thay nhau giảng bài, lời lẽ mạch lạc, lôi cuốn,n gồi nghe chăm chú như nuốt lấy từng lời, là một chàng trai dáng vẻ thư sinh – đó chính là nhà thơ Tố Hữu. Bài thơ “từ ấy” ra đời trong hoàn cảnh như vậy, đánh dấu mốc son, bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của nhà thơ khi tìm được ánh sáng của chân lý mới.

2. Ý nghĩa nhan đề

Đánh dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp hoạt động cách mạng của Tố Hữu

Những năm trước năm 1945, là khoảng thời gian rất nhiều nhà thơ đang loay hoay tìm kiếm cho mình lí tưởng thật sự của văn học. Họ đã hoàn toàn khám phá ra được bản ngã trong những tác phẩm, song đa số đều bối rối trước hiện thực. Sự ra đời của phong trào thơ mới đánh dấu bước ngoặt quan trong của văn học Việt Nam về mặt nghệ thuật và tư duy, song cũng thể hiện những khuyết điểm lớn khi mà các nhà văn nhà thơ đều có xu hướng thoát li khỏi hiện thực, cảm hứng buồn rầu làm chủ đạo. Một số nhà thơ thể hiện sự sai lệch trong tư tưởng và lãng mạn hóa hiện thực một cách không cần thiết. Chính nhà thơ Chế Lan Viên cũng từng chán ghét cuộc sống hiện thực mà đã viết:

Nhắm mắt lại cho cả bầu bóng tối

Mênh mang lên bát ngát tựa đêm sầu

Cho hồn phách say sưa trong giả dối

Về cõi âm chờ đợi đã bao lâu

Nguyên nhân là do hiện thực đau khổ tàn khốc, Đảng lại chưa có hướng đi rõ ràng cũng như chưa ăn sâu vào đời sống nhân dân. Trong khi các nhà văn vẫn đang cố gắng đi tìm ý nghĩa thực sự của văn học, Tố Hữu sớm được tiếp xúc với lí tưởng cách mạng và được đứng vào đội ngũ Đảng. Từ ấy là bản đàn dạo khúc vui đầu tiên của người cộng sản khi gặp lí tưởng Đảng. Đó là lúc tâm hồn được hồi sinh, trí tuệ bừng sáng, nhận thức trách nhiệm lớn lao với cuộc đời. Thơ Tố Hữu hay khi kết hợp sâu sắc lí tưởng cộng sản, tình thương yêu con người và niềm vui hướng về tương lai. Từ ẩy đã kết tinh cái hay ấy và tạo nên sức hút lớn đối với những con người chân chính đã và đang đi theo lí tưởng của mình. Nhà thơ khơi lên lòng nhiệt huyết, quyết tâm của biết bao thế hệ để họ hôm nay và mai sau thực hiện ước nguyện xây dựng cuộc sông tốt đẹp hơn.

Nhan đề “từ ấy” còn thể hiện tâm trang vui tươi, háo hức cũng như niềm mong muốn được phục vụ cho Đảng và cống hiến cho đất nước.

Vào thời kì này, văn học chia thành ba trường phái: văn học hiện thực, văn học lãng mạn và văn học cách mạng. Trong đó văn học cách mạng bị cấm hoàn toàn bởi thực dân Pháp. Thế nhưng Tố Hữu đã hoạt động rất sôi nổi trong lĩnh vực văn học, biến văn học của mình trở thành một vũ khí chống lại kẻ thù. Bài thơ “Từ ấy” thể hiện giây phút mê say của người cộng sản chân chính, trở thành bài thơ ngợi ca lí tưởng lí tưởng cách mạng; diễn tả niềm vui sướng của một chàng trai đang băn khoăn, bế tắc với cuộc đời bỗng có luồng ánh sáng mới, tươi đẹp, mạnh mẽ chiếu rọi khắp tâm hồn – ánh sáng của Đảng.

Nhan đề thể hiện sự lựa chọn của Tố Hữu

Chính nhà thơ từng viết:

Bâng khuâng đứng dữa hai dòng nước

Biết chọn một dòng hay để dòng nước trôi

Nhà thơ cũng như những người khác đã từng một thời kì loay hoay đi tìm lí tưởng sống cho mình. Nhà thơ chưa có đủ niềm tin vào cách mạng nhưng cũng không đành quay lưng bỏ mặc con dân đang thống khổ. Bài thơ “từ ấy” ra đời đã đánh dấu sự lựa chọn của nhà thơ là đứng hẳn về phía cách mạng, về phía Đảng để tiếp tục cống hiến, tiếp tục phục vụ đất nước, chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng đân tộc.

“Từ ấy” là một trong những bài thơ hay nhất của Tố Hữu, có ý nghĩa đặc biệt đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp Tố Hữu. Đồng thời kêu gọi sự tham gia hơn nữa của những thanh niên yêu nước vào công cuộc giữ nước, cứu nước.

Thảo Nguyên

Anybooks.vn – Kênh thông tin giới thiệu sách, review sách, chia sẻ những cuốn sách hay nên đọc dành cho độc giả.