Những Dẫn Chứng Có Thể Liên Hệ, Mở Rộng Trong Bài Thơ Việt Bắc

Ngày 21/11/2024 10:01:27, lượt xem: 27563

🌿Tố Hữu đã từng nói : “Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống đã thật đầy”, chính những niềm thương, nỗi nhớ trào dâng ấy đã tạo ra những rung động mãnh liệt trong cảm xúc để rồi thơ ca đã trào ra bao nỗi nhớ thương vô vàn. Và có một mảnh đất tình người đã hóa thân thành hồn thành nỗi nhớ trong lòng người cán bộ về xuôi. Đó là mảnh đất Việt Bắc ân tình – quê hương của kháng chiến, quê hương của những con người áo chàm nghèo khó mà “đậm đà lòng son” khiến ai đã từng đặt chân đến nơi đây cũng phải bồi hồi, xao xuyến . Mảnh đất ấy đã trở thành niềm thương, nỗi nhớ, thành cảm hứng cho thơ ca. Và có một bài thơ đã ra đời vì mảnh đất yêu thương nghĩa tình ấy – đó là bài thơ Việt Bắc của nhà thơ cách mạng Tố Hữu.

🌿Từ nơi em gửi tới nơi anh Những đoàn quân trùng trùng ra trận Như tình yêu nối lời vô tận. – Phạm Tiến Duật-

🌿” Thơ là đi giữa nhạc và ý.Rơi vào vưc ý, thơ rất ăn sâu nhưng dễ khô khan. Rơi vào vực nhạc dễ say đắm lòng người nhưng dễ nông cạn. Tố Hữu là nhà thơ giữ thế quân bình giữa hai lưu vực ấy. Thơ của anh vừa ru người trong nhạc, thức người trong ý”.( (Chế Lan Viên, “Lời nói đầu tuyển tập thơ Tố Hữu”).

🌿Lịch trình tiến triển về thơ của Tố Hữu đi song song với lịch trình tiến triển về tư tưởng và trình độ giác ngộ, về sức hoạt động của Tố Hữu. Thơ Tố Hữu không phải là một trò tiêu khiển mà là một khí cụ đấu tranh, một công tác vận động của người cách mạng. Người Tố Hữu là một thi sĩ, một chiến sĩ nhưng chúng ta đừng quên cốt cách của nó là thi sĩ. (Lời giới thiệu tập Thơ của Tố Hữu,Văn hóa Cứu quốc Việt Nam xuất bản, 1946)

🌿Thơ Tố Hữu là thơ một con người biết trân trọng lấy đời mình, muốn làm cho đời mình trở nên hữu ích. Vậy thì ai kia còn phung phí đời mình, làm gì cũng được, sống sao cũng xong, trong khi đọc thơ này hãy bắt đầu thử dừng lại mà biết quý lấy đời mình, mà đem xây dựng nó. Phong cách dân tộc ở Tố Hữu thể hiện ở chỗ thơ anh giàu chất nhạc, anh nắm rất vững cái âm điệu, vần điệu của dân tộc. … Thơ anh là lối thơ lấy cái đường đi toàn đời, lấy cái hơi toàn tập, lấy cái tứ toàn bài là chính… Anh là một con chim vụ ở đường bay hơn là bộ lông, bộ cánh, tuy vẫn là lông cánh đẹp. (Lời nói đầu cho tuyển tập 1938 – 1963 của Tố Hữu, Văn học, 1964, Chế Lan Viên)

Hệ Thống Câu Hỏi Ôn Tập Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy

Ánh trăng như một lời tâm sự, một lời nhắn nhủ chân tình với chính mình, với mọi người về lối sống thuuỷ chung, tình nghĩa. Trăng trong bài thơ cũng là biểu tượng của đạo lí nghĩa tình trọn vẹn, trong sáng của nhân dân trong những năm tháng đánh Mỹ gian khổ. Ánh trăng cũng như tình yêu thương đùm bọc, che chở của nhân dân đối với bộ đội, với đất nước, góp phần làm nên chiến thắng, mãi mãi tỏa sáng, thủy chung, tình nghĩa. Được xem như biểu tượng của đạo lí thủy chung, bất hiến, vĩnh hằng, ánh trăng nhắc nhở mọi người dù sống trong hoàn cảnh nào cũng đừng quên quá khứ ” Uống nước nhớ nguồn “.

Câu 1. Nêu một số nét chính về tác giả Nguyễn Duy và hoàn cảnh sáng tác bài thơ Ánh trăng.

– Nguyễn Duy – tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1948 tại Thanh Hóa. Nguyễn Duy là nhà thơ – chiến sĩ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Nguyễn Duy được trao giải Nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1972 – 1973 với chùm thơ: Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, Giọt nước mắt và nụ cười, Bầu trời vuông. Từ giải thưởng này, ông trở thành một gương mặt tiêu biểu trong lớp nhà thơ trẻ thời chống Mĩ và tiếp tục bền bỉ sáng tác.

– Tác phẩm chính: Cát trắng (1973), Ánh trăng (1984), Mẹ và em (1987), Đường xa (1989), Quà tặng (1990), Về (1994), Bụi (1996),…

– Hoàn cảnh sáng tác: Ánh trăng được viết năm 1978 tại Thành phố Hồ Chí Minh, in trong tập Ánh trăng (1984).

Bài thơ ra đời sau ba năm cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc đã khép lại. Ba năm sống trong hòa bình với những tiện nghi hiện đại, không phải ai cũng nhớ đến gian lao và kỉ niệm nghĩa tình của một thời gian đã qua. Ánh trăng như một lời tâm sự, một lời nhắn nhủ chân tình với chính mình, với mọi người về lối sống thuuỷ chung, tình nghĩa.

Bài tập này yêu cầu HS làm rõ các nội dung sau:

– Chỉ rõ kết cấu bài thơ mang dáng dấp một câu chuyện kể.

– Kể (tự sự) kết hợp với trữ tình (cảm xúc, giọng điệu).

– Tính hàm súc và ý nghĩa của hình tượng ánh trăng.

Lần lượt triển khai như sau:

– Kết cấu bài thơ như một câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự thời gian:

+ Khổ 1, 2 kể về hồi nhỏ và khi trưởng thành đi chiến đấu, nhà thơ sống gắn bó với thiên nhiên: đồng, sông, bể rừng, trăng rất hồn nhiên, thân thiết. Đặc biệt là trăng. Trăng tỏa sáng cho trẻ thơ sống ở vùng quê nô đùa, vui chơi, trăng soi bước đường hành quân cho người chiến sĩ… trăng còn gợi cảm xúc thơ mộng trong tầm hồn mỗi người, trăng trở thành tri kỉ, nghĩa tình.

+ Khổ 3, 4 kể về thời gian hòa bình, trở về thành phố, nhà thơ được sống trong điều kiện đầy đủ: nhà cao cửa rộng, ánh điện lung linh, của gương sáng loáng… khác hẳn với những ngày thơ bé ở đồng ruộng và những ngày chiến đấu gian khổ ở rừng rú. Ánh sáng duy nhất là ánh trăng thì bây giờtrăng đi qua ngõ như người dưng qua đường, xa lạ, dửng dưng như người không quen biết. Nhưng thật trớ trêu, một tình huống bất ngờ xảy ra: thình lình tắt điện, phòng buyn – đinh tối om, cửa sổ được bật tung, đột ngột vầng trăng xuất hiện soi sáng căn phòng.

+ Khổ 5, 6: gặp lại trăng – người bạn cố tri, nghĩa tình, mặt đối mặt lòng bỗng dâng trào cảm xúc. Tất cả quá khứ ùa về gợi nhắc kỉ niệm xưa: đồng, bể, sông, rừng – những ngày khó khăn gian khổ nhưng gắn bó, nghĩa tình. Nhà thơ tự trách mình sao quá vô tình mà lãng quên quá khứ. Vầng trăng im phăng phắc nhhư nghiêm khắc lại như bao dung khiến nhà thơ càng thêm day dứt, giật mình, nhìn lại chính mình.

– Giọng kể kết hợp với giọng điệu trữ tình:

+ Ba khổ đầu: nhịp thơ chảy trôi thầm thĩ như một lời tâm tình.

+ Khổ 4: giọng thơ đột ngột chuyển hướng, tâm trạng ngỡ ngàng trước tình huống và sự xuất hiện của vầng trăng.

+ Khổ 5, 6: giọng điệu thiết tha, trầm lắng, xúc cảm và suy tư.

– Hình tượng trăng vừa có ý nghĩa cụ thể vừa có tính khái quát, mang ý nghĩa biểu trưng sâu sắc, gợi chiều sâu suy tư, triết lí.

+ Trăng là biểu tượng đẹp của tự nhiên, là đối tượng yêu mến của tuổi thơ gắn với cổ tích chị hằng chú cuội và những đêm trăng rằm tháng tám. Trăng thơ mông với tình yêu; trăng là cái liềm vàng, đĩa bạc, là vú mộngcủa thi sĩ ngụp lặn tâm tình. Vì thế, trăng người bạn tri kỉ.

+ Trăng trong bài thơ cũng là biểu tượng của đạo lí nghĩa tình trọn vẹn, trong sáng của nhân dân trong những năm tháng đánh Mỹ gian khổ. Ánh trăng cũng như tình yêu thương đùm bọc, che chở của nhân dân đối với bộ đội, với đất nước, góp phần làm nên chiến thắng, mãi mãi tỏa sáng, thủy chung, tình nghĩa. Được xem như biểu tượng của đạo lí thủy chung, bất hiến, vĩnh hằng, ánh trăng nhắc nhở mọi người dù sống trong hoàn cảnh nào cũng đừng quên quá khứ ” Uống nước nhớ nguồn “.

– Chủ đề: Bài thơ cất lên từ một tâm sự rất riêng tư, nhưng đó là lời nhắc nhở thấm thía về thái độ sống, tình cảm đối với thiên nhiên, với nhân dân, với quá khứ gian lao mà tình nghĩa, bình dị, hiền hậu.

Bài tập này tích hợp cả 3 tri thức: đọc- hiểu tác phẩm văn học, làm văn và Tiếng Viẹt. Để làm tốt, HS cần:

– Về tri thức: căn cứ vào văn bản thơ, tri thức đọc- hiểu và một phần gợi ý ở câu 2 (tính hàm súc,đa nghĩa, nhiều tầng của hình tượng ánh trăng) để làm bài.

Câu 4. Tưởng tượng mình là nhân vật trữ tình trong Ánh trăng, hãy diễn tả dòng cảm nghĩ trong bài thơ thành một tâm sự ngắn.

-Yêu cầu người viết nhập than vào nhân vật trữ tình trong bài thơ để bày tỏ cảm xúc, tâm sự của minh về một tình huống: mất điện, giật mình gặp lại ánh trăng xưa, người bạn tri kỉ, nghĩa tình đã gợi lại bao kỉ niệm trong quá khứ. Bản thân bỗng xúc động và tự cứ trách mìnhđã quá vô tình lãng quên người bạn đã từng gắn bố trong những năm tháng gian lao…

– Đọc, tham khảo bài viết:

ÁNH TRĂNG

Hai mươi hai giờ đêm, bỗng cả một vùng của thành phố mất điện. Tôi vội vàng bật tung cửa sổ. Đột ngột vầng trăng tròn vành vạnh xuất hiên. Ánh trăng ùa vào căn phòng soi sang không gian. Thảng thốt nhận ra cố nhân, tôi vươn ra khỏi khung cửa sổ, ngửa mặt nhìn lên trăng, trăng cũng soi ngắm tôi. Nỗi xúc động trào dâng, tôi thấy dung dung trong long, rưng rưng khóe mắt…

Cuộc chiến tranh dai dẳng, khốc liệt đã lùi xa, thấm thoắt đã ba mươi năm rồi. Tôi về thành phố, song trong điều kiện đất nước đã thống nhất, độc lập, hào bình,đời sống đã khác xưa. Nhà cao tiện nghi hiện đại, khác xa với những năm tháng gian lao sống cùng đồng, cùng song, cùng bể, cùng trăng. Phải chăng giờ đây tôi đã quen với đèn điên, cửa gương trong cuộc sống hiện đại, đủ đầy, giàu sang mà lãng quên vô tình với trăng? Trăng vẫn đi qua ngõ. Vậy mà tôi như không thây, vô tình,bạc beo, dửng dung như người khách lạ qua đường. Đêm nay thình lình điện tắt, nổi bật trong không gian bao la kiêu hãnh chỉ có mình trăng. Trăng vẫn nhẫn nại tỏa sang cho bầu trời, mặt đất, nhân gian, không giận hờn, trách móc.

Đêm nay, dối diện với trăng trong tình huống bất ngờ, trăng đã gợi cho tối biết bao kỉ niệm ấu thơ với đồng, với sông, với bể, hòa nhập gắn bó với thiên nhiên. Trăng gợi cho tôi nhơ về tuổi thơ, nơi chôn rau cắt rốn của mình, yêu trăng yêu cả chú Cuội, chịHằng; về một thời chiến tranh ác liệt ở rừng ở rú được nhân dân che chở, yêu thương. Ngày ấy không có điện, trăng là bạn cố tri thường cùng tôi đàm tâm độc thoại, là bạn chiến đấu “Đầu sung trăng treo” là gương mặt mỹ nữ gợi bao khát khao yêu thương, gợi bao cánh thơ bay bổng tâm hồn,…Ngày ấy, duy nhất- trần trụi chỉ sống với trăng. Tình yêu thiên nhiên hồn nhiên như cỏ cây hoa lá không hề vụ lợi, ngỡ chẳng bao giờ tôi quên đồng, sông,bể, nhất là trăng. Ấy thế mà, khi cuộc sống đủ đầy, lòng tôi cũng đổi thay…vô tình nhìn trăng như người dưng qua ngõ.

Đêm nay đối diện với trăng, trăng vẫn tròn vành vạnh như đồng, như song, như bể, như rừng thủy chung, nghĩa tình, bất biến. Lòng tôi rưng rưng, hổ thẹn. Giá như trăng cứ lên tiếng trách cứ, mắng mỏ tôi: kẻ vô tâm, vô tình, vô ơn bạc nghĩa,.. cho tôi thấy nhẹ lòng. Nhưng trăng cứ tròn vành vạnh- nhìn lại như chất chứ một tấm lòng. Tấm lòng vị tha, độ lượng “kể chi người vô tình”. Chính lòng vị tha của trăng đã khiến tôi giật mình, trăn trở, suy ngẫm về quá khứ. Những năm tháng gian lao, trăng và nhân dân thật bình dị, dịu hiền biết bao nhiêu! Kể cả những người đã khuất đã kề vai sát cánh, gắn bó với nhau, cùng nhua đánh đuổi giặc thù, đem lại cuộc sống an bình hôm nay, sao tôi nỡ vô tình?

Cảm ơn trăng đã nhắc nhở tôi đại lí “Uống nước nhớ nguồn”, ” Ra sông nhớ suối, có ngày nhớ đêm”. Nếu không biết trân trọng quá khứ, gìn giữ và biết ơn, người ta rất dễ biến chất thành kẻ vô tình, vô tâm, vong ơn bội nghĩa.

-dehoctot.edu.vn-

Tây Tiến Có Thể Liên Hệ Với Bài Nào

CÂU HỎI: Bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng có thể liên hệ với những bài nào? TRẢ LỜI: – Liên hệ so sánh với bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu: Khi liên hệ so sánh “Tây Tiến” với “Việt Bắc”, người ta sẽ thường liên hệ về hình ảnh người lính trong hai bài với nhau, hình ảnh đoàn quân ra trận; liên hệ đến thiên nhiên, khung cảnh núi rừng của hai bài để từ đó chỉ ra sự giống và khác nhau trong 2 bài thơ, làm nổi bật hẳn lên cái khác của Quang Dũng trong bài thơ của mình.

– Liên hệ so sánh với bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận: Với bài thơ này, người ta sẽ liên hệ so sánh đến bức tranh thiên nhiên trong hai bài, để nêu rõ được nét đặc trưng trong tác phẩm của Quang Dũng, khác biệt với Huy Cận trong việc miêu tả thiên nhiên, cảm nhận và tâm trạng người nghệ sĩ gửi gắm trong cảnh.

– Liên hệ so sánh với bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử: Khi liên hệ so sánh “Tây Tiến” với “Đây thôn Vĩ Dạ”, người ta sẽ liên hệ đến khung cảnh thiên nhiên trong hai bài thơ, đặc biệt là khung cảnh trữ tình trong những câu thơ ở đoạn thứ 2 của bài thơ “Tây Tiến” về Châu Mộc chiều sương cùng nước cùng hoa với khung cảnh trong đoạn thơ thứ nhất của “Đây thôn Vĩ Dạ” để từ đó nêu ra sự giống và khác nhau, lí giải vì sao lại có sự khác biệt ấy để người đọc càng khắc ghi thêm dấu ấn đặc biệt của nhà thơ Quang Dũng trong việc miêu tả thiên nhiên qua ngòi bút của mình.

Một số bài văn liên hệ Tây Tiên với những tác phẩm văn học khác

Phân Tích Bài Thơ Ánh Trăng

Phân tích bài thơ ánh trăng – Bài làm 1

Nguyễn Duy thuộc thế hệ làm thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Vừa mới xuất hiện, Nguyễn Duy đã nổi tiếng với bài thơ ” Tre Việt Nam”. Bài “Hơi ấm ổ rơm” của anh đã từng đoạt giải thưởng báo Văn Nghệ. Hiện nay. Nguyễn Duy vẫn tiếp tục sáng tác. Anh viết đều và khỏe. “Ánh trăng” là một trong những bài thơ của anh được nhiều người ưa thích bởi tình cảm chân thành, sâu sắc, tứ thơ bất ngờ mới lạ.

Hai khổ thơ đầu tác giả nhắc đến những kỉ niệm đẹp:

“Hồi nh ỏ sống với đồng

với sông rồi với bể

hồi chiến tranh ở rừng

vầng trăng lị thành tri kỉ.”

Trăng gắn bó với tác giả ngay từ thời thơ ấu. Trăng gắn với đồng ruộng, dòng sông, biển cả. Dù ở đâu, đi đâu trăng cũng ở bên cạnh. Nhưng phải đến khi ở rừng nghĩa là lúc tác giả sống trên tuyến đường Trường Sơn xa gia đình, quê hương vầng trăng mới thành “tri kỉ”. Trăng với tác giả là đôi bạn không thể thiếu nhau. Trăng chia ngọt sẻ bùi, trăng đồng cam cộng khổ.

Tác giả khái quát vẻ đẹp của trăng, khẳng định tình cảm yêu thương, quý trọng của mình đối với trăng:

“Trần trụi với thiên nhiên

hồn nhiên như cây cỏ

ngỡ không bao giờ quên

cái vầng trăng tình nghĩa.”

Trăng có vẻ đẹp vô cùng bình dị, một vẻ đẹp không cần trang sức, đẹp mội cách vô tư, hồn nhiên. Trăng tượng trưng vẻ đẹp thiên nhiên nên trăng hóa vào thiên nhiên, hòa vào cây cỏ. “Vầng trăng tình nghĩa” bởi trăng từng chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ, bởi trăng là người bạn, tri âm, tri kỉ như tác giả đã nói ở trên.

Ấy thế mà có những thời gian tác giả tự thú là mình đã lãng quên cái “vầng trăng tình nghĩa” ấy:

“Từ hồi về thành phố

quen ánh điện, cửa gương

vầng trăng đi qua ngõ

như người dưng qua đường. “

Trước đây, tác giả sống với sông, với bể, với rừng, bây giờ môi trường sống đã thay đổi. Tác giả về sống với thành phố. Đời sống cũng thay đổi theo, “quen ánh điện”, “cửa gương”. “Ánh điện”, “cửa gương” tượng trưng cho cuộc sống sung túc, đầy đủ sang trọng… dần dần “cái vầng trăng tình nghĩa” ngày nào bị tác giả lãng quên. “Vầng trăng” ở đây tượng trưng cho những tháng năm gian khổ. Đó là tình bạn, tình đồng chí được hình thành từ những năm tháng gian khổ ấy. “Trăng” bây giờ thành “người dưng”. Con người ta thường hay đổi thay như vậy. Bởi thế người đời vẫn thường nhắc nhau: “ngọt bùi nhớ lúc đắng cay”. Ở thành phố vì quen với “ánh điện, cửa gương”, quen với cuộc sống đầy đủ tiện nghi nên người đời không thèm để ý đến”vầng trăng” từng là bạn tri kỉ một thời.

Phải đến lúc toàn thành phố mất diện:

“Thình lình đèn điện tắt

phòng buyn đinh tối om

vội bật tung cửa sổ

đột ngột vầng trăng tròn.”

“Vầng trăng” xuất hiện thật bất ngờ, khoảnh khắc ấy, phút giây ấy,… tác giả, bàng hoàng trước vẻ đẹp kì diệu của vầng trăng. Bao nhiêu kỉ niệm xưa bỗng ùa về làm tác giả cứ “rưng rưng” nước mắt:

“Ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rưng rưng

như là đồng, là bể

như là sông, là rừng”.

Nguyễn Duy gặp lại ánh trăng như gặp lại người bạn tuổi thơ, như gặp lại người bạn từng sát cánh bên nhau trong những tháng năm gian khổ. Tác giả không dấu được niềm xúc dộng mãnh liệt của mình. “Vầng trăng” nhắc nhở tác giả đừng bao giờ quên những tháng năm gian khổ ấy, đừng bao giờ quên tình bạn, tình đồng chí đồng đội, những người đã từng đồng cam cộng khổ. chia ngọt sẻ bùi trong những tháng năm chiến dấu đầy gian lao thử thách.

Khổ cuối bài thơ, Nguyễn Duy đưa người đọc cùng đắm chìm trong suy tư, trong chiêm nghiệm về “vầng trăng tình nghĩa” một thời:

“Trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình… “

Trăng vẫn thủy chung mặc cho ai thay đổi, vô tình với trăng. Trăng bao dung và độ lượng biết bao! Tấm lòng bao dung độ lượng ấy “đủ cho ta giật mình” mặc dù trăng không một lời trách cứ. Trăng tượng trưng cho phẩm chất cao quý của nhân dân, trăng tượng trưng cho vẻ đẹp bền vững của tình bạn, tình chiến đấu trong những tháng năm “không thể nào quên”.

“Ánh trăng” của Nguyền Duy gây được nhiều xúc động đối với nhiều thế hệ độc giả bởi cách diễn tả bình dị như những lời tâm sự, lời tự thú, lời tự nhắc nhở chân thành. Giọng thơ trầm tĩnh, sâu lắng. Tứ thơ bất ngờ, mới lạ. “Ánh trăng” còn mang ý nghĩa triết lí về sự thủy chung khiến người đọc phải “giật mình” suy nghĩ, nhìn lại chính mình để sống đẹp hơn, nghĩa tình hơn.

Phân tích bài thơ ánh trăng – Bài làm 2

Nhà thơ Nguyễn Duy là nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, những sáng tác của ông đi vào lòng người đọc một cách vô cùng gần gũi, mộc mạc, thể hiện qua từ ngữ nhẹ nhàng tình cảm.

Bài thơ “Ánh trăng” được rút ra từ tập thơ cùng tên được tác giả viết trong những năm 1978 khi đang sống tại Hồ Chí Minh. Bài thơ “Ánh Trăng” chính là tựa đề của bài thơ cũng là hình ảnh xuyên suốt bài thơ, thể hiện tình cảm gắn bó trước sau như một thủy chung, của con người và ánh trăng.

Ánh trăng chính là người bạn thân thiết của con người xuyên suốt trong những câu thơ, thể hiện tình cảm gần gũi gắn bó.

Có thể nói Nguyễn Duy đã rất tinh tế để xây dựng thành công hình tượng ánh trăng nhưng có sức mạnh làm lay động tới trái tim người đọc. Bài thơ được tác giả Nguyễn Duy bằng những hình ảnh ánh trăng vô cùng thân thuộc, tình cảm gắn bó thật đẹp

Hồi nhỏ sống với đồng

với sông rồi với bể

hồi chiến tranh ở rừng

vầng trăng thành tri kỉ.

Hình ảnh ánh trăng chính là biểu tượng thành công mà tác giả đã xây dựng thành công thể hiện những kỷ niệm gắn bó giữa con người và ánh trăng.

Ánh trăng vô cùng tinh khiết, nhẹ nhàng lan tỏa từng cánh đồng mênh mông nuôi dưỡng những kỷ niệm đẹp tâm hồn của mỗi chúng ta.

Đến những năm tháng hồi chiến tranh ở rừng vô cùng gian khổ, vất vả, ánh trăng thể hiện ký ức tuổi thơ thân thiết gần gũi như hai người bạn tâm giao tri kỷ, tình cảm gắn bó xuyên thời gian và không gian.

Có thể nói Nguyễn Duy đã khéo léo tinh tế nên nhân hóa ánh trăng thành người bạn thân thiết, gắn bó tri kỷ của mình. Trong khổ thơ thứ hai của bài thơ, hình ảnh ánh trăng và con người lại được tái hiện thông qua những năm tháng chiến tranh, sự gắn kết của con người và ánh trăng thể hiện tình cảm gắn bó.

Trần trụi giữa thiên nhiên

Hồn nhiên như cây cỏ

Ngỡ không bao giờ quên

Cái vầng trăng tình nghĩa

Dù ở đâu thì ánh trăng vẫn thể hiện sự tròn vẹn của mình, thể hiện tình cảm ấm áp dành cho con người soi sáng những con người trong màn đêm hành quân tăm tối. Ánh trăng tình nghĩa, thủy chung luôn nhắc nhở con người tới những kỷ niệm thân thiết, không bao giờ có thể quên đi.

Trong khổ thơ từ “ngỡ” chính là dấu hiệu cho sự ly tan, rạn nứt lãng quên ở khổ thơ tiếp theo giữa con người và ánh trăng:

Từ hồi về thành phố

Quen đèn điện của gương

Vầng trăng đi qua ngõ

Như người dưng qua đường

Cuộc sống đô thi phồn hoa có nhiều ánh diện, nhà cao tầng, đầy đủ tiện nghi khiến cho con người quên dần đi người bạn thân thiết giản dị gắn bó với mình từ khi bé tới những ngày chiến tranh gian nan thử thách. Nhưng ánh trăng thì trước sau vẫn thủy chung son sắc, vẹn nguyên tròn đấy. Những câu thơ thể hiện cảm xúc nghẹn ngào

Thình lình đèn điện tắt

Phòng buyn-đinh tối om,

Vội bật tung cửa sổ,

Đột ngột vầng trăng tròn.

Đến những khổ thơ này thì giọng thơ, tứ thơ đột ngột thay đổi, có lẽ chính bản thân tác giả đã thay đổi nên mới dẫn tới sự thay đổi trong cuộc sống của con người. Sau chiến tranh hòa bình lập lại con người trở về thành phố xây dựng cuộc sống mới thì họ dần dần quên mất quá khứ khó khăn, những người bạn đã chung sức trong khó khăn gian khổ.

Chính cuộc sống đầy đủ, với ánh sáng của đèn điện sáng trưng, thì ánh trăng mờ nhạt chẳng là gì cả. Hai từ “thình lình” được tác giả dùng một cách độc đáo, có thể thấy sự không vững vàng trong thâm tâm của con người. Trong tâm hồn có một sự chuyển biến sâu sắc nên mọi thứ trở nên không rõ ràng vững vàng.

Nhưng rồi một ngày đèn điện biến mất, những thứ tiện nghi khiến cho con người lại tìm tới những thứ xưa cũ, khi cửa sổ được bật tung ra thì vầng trăng tròn vành vạnh đã làm cho tác giả cảm thấy ngỡ ngàng, cảm thấy hổ thẹn ánh trăng tình nghĩa tròn đầy kia.

Thực ra đến khổ thơ này tác giả đã nhận ra sự vô tâm, hững hờ của mình đối với quá khứ, những kỷ niệm thiêng liêng gắn bó qua những ngày khó khăn, gian khổ.

Khi tác giả đối diện với ánh trăng có điều gì đó rưng rưng xúc động khiến cho lòng người chợt chùng xuống, ngỡ ngàng xúc động. Một cuộc gặp gỡ hội ngộ vô cùng bất ngờ giữa tác giả và ánh trăng.

Vầng trăng tròn vành vạnh

Kể chi người vô tình

Ánh trăng im phăng phắc

Đủ cho ta giật mình

Trong những câu thơ thể hiện phép đối lập song song thể hiện lương tâm của con người đã được giác ngộ và thức tỉnh đúng lúc trước ánh trăng tròn đều, vẹn nguyên sau bao nhiêu thăng trầm của thời gian.

Dù cuộc sống của con người có thay đổi như thế nào thì ánh trăng vẫn mãi như vậy, vẫn chung thủy trước sau, vẫn tròn vẹn, không hề sứt mẻ, thể hiện sự bao dung của thiên nhiên dành cho con người. Những câu thơ của Nguyễn Duy đã gieo vào lòng người đọc những âm hưởng khó quên, nghẹn ngào và xúc động.

Bài thơ “Ánh trăng” của tác giả Nguyễn Duy với tứ thơ vô cùng độc đáo hấp dẫn mới mẻ, từ ngữ thể hiện phong cách phóng khoáng, tác giả đã thể hiện được tình cảm của mình với thiên nhiên và kỷ niệm trong quá khứ.

Phân tích bài thơ ánh trăng – Bài làm 3

Trong cuộc đời của mỗi con người, ai cũng mang cho mình những kí ức, những kỉ niệm khó quên, dù cho đó là kỉ niệm buồn hay những kỉ niệm vui. Đó là những hành trang đưa ta bước vào đời, để mỗi khi ta nhớ lại những phần kí ức ấy thì lại trỗi dậy những cảm xúc, tình cảm. Nhưng con người luôn bộn bề với những công việc của mình, chính sự bận rộn ấy đã vô tình khiến chúng ta quên đi những kí ức xưa, để khi chợt nhớ lại thì không tránh khỏi những cảm giác bàng hoàng. Cũng đã từng có những kí ức và cũng đã từng lãng quên, nhà thơ Nguyễn Duy trong bài thơ “Ánh trăng” của mình đã thể hiện một cách chân thực, sinh động cảm giác bàng hoàng, nuối tiếc, tự trách khi ông đã “trót” quên đi những kí ức tình nghĩa.

Nguyễn Duy từng là một người chiến sĩ cách mạng, đã từng cầm súng bảo vệ, đấu tranh cho hòa bình, cho sự độc lập của dân tộc. Nên có thể nói Nguyễn Duy đã có những khoảng thời gian nhất định gắn bó với cuộc sống chiến tranh, có những kỉ niệm không bao giờ quên ở những ngày tháng gian khổ nhưng đầy hào hùng đó. Sau khi đất nước thống nhất năm 1975 thì Nguyễn Duy đã trở về thành phố sinh sống, sống trong một môi trường, một cuộc sống hoàn toàn mới này, nhà thơ đã vô tình bị cuốn theo cuộc sống ấy mà lãng quên đi những kí ức xưa. Để khi nhớ lại thì không khỏi bàng hoàng, day dứt, trong tâm trạng ấy, nhà thơ đã viết bài thơ “Ánh trăng”.

“Hồi nhỏ sống với đồng

Với sông rồi với biển

Hồi chiến tranh ở rừng

Vầng trăng thành tri kỉ”

Đó là dòng kí ức của nhà thơ, khi còn là một cậu bé ngây thơ, hồn nhiên sống chan hòa với tự nhiên “Hồi nhỏ sống với đồng/ với sông rồi với biển”, trong kí ức tuổi thơ thì những hiện tượng tự nhiên “sông”, “đồng”, “biển” không phải là những vật vô tri vô giác mà nó đã trở thành những người bạn cùng sống, cùng vui chơi. Khi lớn lên đi bộ đội, cuộc sống gian khổ giữa mưa bom bão đạn, nơi điều kiện vô cùng thiếu thốn, khắc nghiệt ở rừng thì vầng trăng đã trở thành người tri kỉ cùng chia sẻ buồn vui, người đồng đội cùng nhau chiến đấu, cùng nhau đối mặt với những tình huống cam go nhất. Ở những câu thơ tiếp theo, nhà thơ đã thể hiện được tình cảm khăng khít của mình với những thiên nhiên, cũng là với những kí ức xưa nhưng cũng đồng thời thể hiện sự bàng hoàng, không tin rằng mình có thể quên đi được.

“Trần trụi với thiên nhiên

Hồn nhiên như cây cỏ

Ngỡ không bao giờ quên

Cái vầng trăng tình nghĩa”

Đó là khoảng thời gian nhà thơ gắn bó nhất với cuộc sống tự nhiên, “trần trụi” thể hiện sự thân thiết đến mức gắn bó, cũng thể hiện được sự tin tưởng, đồng cảm giữa mình với thiên nhiên, cuộc sống không nhiều suy tư mà “hồn nhiên như cây cỏ”, đó không phải cuộc sống vô lo vô nghĩ mà là cuộc sống giản đơn, chân chất, thuần hậu nhất. Và những kỉ niệm gắn bó ấy đã khắc sâu vào trong tâm hồn, máu thịt của nhà thơ. Có lẽ chưa bao giờ nhà thơ nghĩ rằng mình có thể quên được những kí ức đó, vì nó không chỉ là những kỉ niệm, mà nó còn là tình nghĩa của nhà thơ với quá khứ “Ngỡ không bao giờ quên”. Nhưng, khi sống trong một không gian mới, một môi trường mới thì những kí ức ấy liệu có còn ven nguyên?

“Từ ngày về thành phố

Quen ánh điện cửa gương

Vầng trăng đi qua ngõ

Như người dưng qua đường”

Cuộc sống mới của nhà thơ đó chính là nơi thành thị, nơi có nhịp sống tấp nập, huyên náo. Cũng có lẽ vậy mà nhà thơ đã bị cuốn vào vòng quay không ngừng của cuộc sống ấy, dần quen với “ánh điện, cửa gương”, những vật dụng hiện đại của cuộc sống, cũng vì quen thuộc với cái mới mà những cái thân thiết khi xưa lại vô tình lãng quên đi, vầng trăng vốn là người tri kỉ, người gần gũi nhất với nhà thơ khi còn nhỏ và khi đi lính thì giờ đây trở thành những người đầy xa lạ “Vầng trăng đi qua ngõ/ ngỡ ngời dưng qua đường”. Có lẽ vầng trăng tình nghĩa ấy mãi chìm vào trong quên lãng nhưng một tình huống bất ngờ đã xảy ra, thức tỉnh mọi kí ức xưa cũ ấy:

“Thình lình đèn điện tắt

Phòng buyn- đinh tối om

Vội bật tung cửa sổ

Đột ngột vầng trăng tròn”

Khi những ánh điện đang trở nên quen thuộc, vầng trăng bị quên lãng trở thành “người dưng” thì tình huống bất ngờ ấy đã xảy ra, đó là khi đèn điện bị tắt”, căn phòng trở nên tối om, và như một thói quen, nhà thơ đã vô thức bật tung cánh cửa sổ để tìm kiếm chút ánh sáng. Và khi này, ánh sáng vầng trăng không chỉ soi rọi vào căn phòng mà dường như nó nó còn soi chiếu đến một phần kí ức đã bị lãng quên của nhà thơ. Sự “trùng phùng” bất chợt này khiến cho nhà thơ hoang mang, khắc khoải, đó là khi dòng kí ức ào ạt đổ về, những kí ức ngỡ bị chon vùi thì nay sống dậy mạnh mẽ trong tâm hồn, tình cảm của nhà thơ:

“Ngửa mặt lên nhìn mặt

Có cái gì rưng rưng

Như là đồng là bể

Như là sông là rừng”

Khi ánh trăng tràn vào cửa sổ, cũng là lúc mà nhà thơ đối diện trực tiếp với vầng trăng “Ngửa mặt lên nhìn mặt”, chính sự tiếp xúc trực tiếp này khiến cho nhà thơ rưng rưng “Có cái gì rưng rưng”, ta có thể hiểu ở đây rưng rưng là những giọt nước mắt long lanh, trực rơi trên khóe mắt của nhà thơ, cũng có thể là cái rưng rưng trong tâm trạng của nhà thơ khi trải qua một trạng thái xúc động mạnh mẽ. Ánh trăng ấy đã soi chiếu vào sâu thẳm tâm hồn của nhà thơ, nơi những kí ức được cất giữ, làm những hình ảnh thân thương khi xưa lại tràn về “Như là đồng là bể/ Như là sông là rừng”.

“Trăng cứ tròn vành vạnh

Kể chi người vô tình

Ánh trăng im phăng phắc

Đủ cho ta giật mình”

“Tròn vành vạnh” là sự vẹn nguyên của quá khứ, của những hồi ức khi xưa, trăng tròn vành vạnh là những tình nghĩa khi xưa vẫn như vậy, chẳng hề may may thay đổi, trăng vẫn là trăng của ngày xưa, nhưng con người giờ đây đã đổi khác “Kể chi người vô tình”, nhà thơ tự trách mình vô tình vì đã lỡ quên đi những tình nghĩa khi xưa, vầng trăng vẫn sáng như vậy nhưng lại im lặng đến đáng sợ, và trong cảm nhận của nhà thơ thì chính sự im lặng này lại là hình phạt đáng sợ nhất, vì nó đánh động mạnh mẽ vào tâm hồn, vào những tình cảm gắn bó của quá khứ, đây cũng là sự trách mắng đầy nghiêm khắc của vầng trăng “Ánh trằn im phăng phắc/ Đủ cho ta giật mình”

Cảm ơn các bạn các bạn vừa đọc xong top những bài làm văn Phân tích bài thơ ánh trăng hay nhất. Chúc các viết cho mình một bài văn Phân tích bài thơ ánh trăng thật hay và đạt được kết quả cao.

Hệ Thống 9+ Mở Bài Sóng Của Xuân Quỳnh

Nếu như Xuân Diệu đã từng thổn thức vì tình yêu, dâng hiến trọn đời cho tình yêu, chạy đua với thời gian để được yêu thì Xuân Quỳnh cũng thế, cũng từng thấp thỏm, lo âu, đau khổ vì yêu. Nhưng dù sao đi nữa, là phận nữ nhi nên người rất ít tỏ ra táo bạo, quá mạnh dạn như Xuân Diệu. Đọc thơ Xuân Quỳnh, ta thường bắt gặp hình ảnh con sóng, chiếc thuyền nói hộ tình yêu… Cũng vì lẽ ấy, suy cho cùng đây chỉ là những chất liệu dung di, bình thường nhất trong cuộc sống, song lại chứa đựng biết bao biết bao ân tình mà Xuân Quỳnh muốn bày tỏ.

Mở bài sóng của Xuân Quỳnh thứ 2

Tình yêu là một mô típ muôn thuở trong thi ca. Từ xưa đến nay, từ Đông sang Tây, mô-típ này đã làm hao tốn giấy mực của biết bao thi nhân như Nguyễn Du, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Nguyễn Đình Thi, Victo Huygo, M. Gorki, T. More, Tagore, Puskin,… Với nữ sĩ Xuân Quỳnh, mô-típ tình yêu cũng mang đến cho ngòi bút tài hoa của chị nguồn thi hứng nồng nàn như lớp thi nhân trước chị. Một lần, đứng ở biển Diêm Điềm (29-12-1967), nhìn những con sóng “dữ dội và dịu êm, ồn ào và lặng lẽ”, hồn thơ phong phú, trẻ trung, tươi mới, chân thành, sôi nổi khát vọng của chị bỗng cất cánh bay cao. Thế là bài thơ Sóng ra đời. Đây là một đoạn thơ có sức gợi cảm phong phú, ít nhiều mới mẻ của hình tượng sống trong bài thơ cùng tên ấy:

Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức.

Mở bài sóng của Xuân Quỳnh thứ 3

Trong thơ Việt Nam hiện đại, Xuân Quỳnh được coi là nhà thơ nữ viết hay nhất về tình yêu. Đặc sắc của thơ tình Xuân Quỳnh là tiếng nói trực tiếp, chân thành và mãnh liệt bày tỏ những khát vọng tình yêu của trái tim phụ nữ. Cùng với bài thơ Thuyền và Biển, bài thơ Sóng được coi là “hai bài thơ tình thuộc loại hay nhất của Xuân Quỳnh nói riêng và thơ hiện đại Việt Nam nói chung” (Lưu Khánh Thơ).