Liên Hệ Bản Thân Về Bài Thơ Nhàn / 2023 / Top 20 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Kovit.edu.vn

Tây Tiến Có Thể Liên Hệ Với Bài Nào / 2023

CÂU HỎI: Bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng có thể liên hệ với những bài nào? TRẢ LỜI: – Liên hệ so sánh với bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu: Khi liên hệ so sánh “Tây Tiến” với “Việt Bắc”, người ta sẽ thường liên hệ về hình ảnh người lính trong hai bài với nhau, hình ảnh đoàn quân ra trận; liên hệ đến thiên nhiên, khung cảnh núi rừng của hai bài để từ đó chỉ ra sự giống và khác nhau trong 2 bài thơ, làm nổi bật hẳn lên cái khác của Quang Dũng trong bài thơ của mình.

– Liên hệ so sánh với bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận: Với bài thơ này, người ta sẽ liên hệ so sánh đến bức tranh thiên nhiên trong hai bài, để nêu rõ được nét đặc trưng trong tác phẩm của Quang Dũng, khác biệt với Huy Cận trong việc miêu tả thiên nhiên, cảm nhận và tâm trạng người nghệ sĩ gửi gắm trong cảnh.

– Liên hệ so sánh với bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử: Khi liên hệ so sánh “Tây Tiến” với “Đây thôn Vĩ Dạ”, người ta sẽ liên hệ đến khung cảnh thiên nhiên trong hai bài thơ, đặc biệt là khung cảnh trữ tình trong những câu thơ ở đoạn thứ 2 của bài thơ “Tây Tiến” về Châu Mộc chiều sương cùng nước cùng hoa với khung cảnh trong đoạn thơ thứ nhất của “Đây thôn Vĩ Dạ” để từ đó nêu ra sự giống và khác nhau, lí giải vì sao lại có sự khác biệt ấy để người đọc càng khắc ghi thêm dấu ấn đặc biệt của nhà thơ Quang Dũng trong việc miêu tả thiên nhiên qua ngòi bút của mình.

Một số bài văn liên hệ Tây Tiên với những tác phẩm văn học khác

Hệ Thống Kiến Thức Và Những Đề Thi Liên Quan Đến Bài Sóng Xuân Quỳnh / 2023

Phần 1 :Tổng hợp những dạng đề thi về bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh Dạng 1 : Cảm nhận về đoạn thơ, bài thơ. Đây là dạng đề phổ biến, thường xuất hiện trong đề thi. Thông thường với bài sóng, đề thi thường trích dẫn 1 vài khổ thơ tiêu biểu và yêu cầu học sinh nêu cảm nhận/ phân tích. Dạng 2 : Nghị luận ý kiến bàn về bài thơ, dạng đề chứng minh nhận định. Đề thi có thể trích dẫn một hoặc hai nhận định và yêu cầu học sinh phân tích bài thơ để chứng minh cho nhận định đó. Dạng 3 :Dạng đề so sánh văn học: Đây là dạng đề tương đối khó, thường xuất hiện trong đề thi học sinh giỏi. Dạng 4 : Liên hệ thực tế. Ví dụ đề bài cho phân tích, cảm nhận hình tượng sóng, em, sau đó liên hệ tới vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ XƯA VÀ NAY. Đây là dạng đề yêu cầu vận dung cao, đòi hỏi học sinh phải hiểu sâu sắc văn bản, và biết liên hệ thực tế cuộc sống Ví dụ 2 :Bài thơ “Sóng” gợi cho anh chị những suy nghĩ gì về tình yêu?

Một số đề tham khảo :

Đề 1 : Đề bài :Phân tích hình tượng sóng trong bài thơ sóng của Xuân Quỳnh Đáp án: http://vanhay.edu.vn/phan-tich-hinh-tuong-song-trong-bai-tho-song-cua-xuan-quynh Đề 2: Đề bài : Cảm nhận của anh/ chị về đoạn thơ sau trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh :

Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

Đáp án:http://vanhay.edu.vn/cam-nhan-doan-tho-con-song-duoi-long-sau-ca-trong-mo-con-thuc Đề 3 : Cảm nhận của em về hai đoạn thơ sau:

Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu

. ( Việt Bắc – Tố Hữu)

Dẫu xuôi về phương bắc

Dẫu ngược về phương nam […]

Đáp án :http://vanhay.edu.vn/bai-van-mau-cam-nhan-ve-hai-doan-tho-trong-bai-song-xuan-quynh-va-viet-bac-to-huu Đề 4: Phân tích hai khổ thơ đầu bài thơ “Sóng” của nữ sĩ Xuân Quỳnh. Đáp án:http://vanhay.edu.vn/phan-tich-hai-kho-tho-dau-bai-tho-song-cua-nu-si-xuan-quynh-2 Đề 5 : Đề bài : Anh (chị) hãy phát biểu cảm nhận của mình về hai đoạn thơ sau:

“Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

Nhớ từng rừng nứa bờ tre

Ngòi Thia, sông Đáy suối Lê vơi đầy

(Việt Bắc – Tố Hữu)

“Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức.”

(Sóng – Xuân Quỳnh)

Đáp án:http://vanhay.edu.vn/de-nghi-luan-so-sanh-song-xuan-quynh-va-viet-bac-to-huu Đề 6 :Có ý kiến cho rằng: 1.Sóng đã thể hiện được một tình yêu có tính chất truyền thống như tình yêu muôn đời. 2.Tình yêu mà Xuân Quỳnh thể hiện trong bài thơ mang tính chất hiện đại như tình yêu hôm nay. Bằng việc cảm nhận bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh, anh (chị) hãy bàn luận về những ý kiến trên. Đáp án 1 : http://vanhay.edu.vn/ve-bai-tho-song-cua-xuan-quynh Đáp án 2 :http://vanhay.edu.vn/ban-ve-quan-niem-tinh-yeu-trong-bai-tho-song-cua-xuan-quynh Đề 7 :Đề bài :Cảm nhận về hai đoạn thơ sau:

“Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm Đất Nước là nơi ta hẹn hò Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc” Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”

(Đất Nước – Trích Trường ca mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm)

“Con sóng dưới lòng sâu Con song trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức”

( Sóng – Xuân Quỳnh)

Gợi ý:http://vanhay.edu.vn/sanh-hai-doan-tho-trong-bai-song-xuan-quynh-va-dat-nuoc-nguyen-khoa-diem http://vanhay.edu.vn/tag/song-xuan-quynh

Phần 2 : Kiến thức cần nhớ về bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Vài nét về tác giả, tác phẩm a. Tác giả Xuân Quỳnh + Xuất thân: gia đình công chức, mồ côi mẹ từ nhỏ, ở với bà nội. + Con người: – Thông minh, chân thành, nhân hậu. – Nghị lực vượt lên những bất hạnh của tuổi thơ, những trắc trở của duyên phận và cuộc sống để yêu thương. + Phong cách nghệ thuật: – Nhà thơ của hạnh phúc đời thường: tiếng thơ khao khát tình yêu,  hạnh phúc đời thường bình dị. – Cái tôi độc đáo: giàu vẻ đẹp nữ tính, thành thật, giàu đức hi sinh và lòng vị tha, khát vọng yêu chân thành, mãnh liệt gắn với cảm thức lo âu về sự phai tàn, đổ vỡ., cùng những dự cảm bất trắc. b. Tác phẩm + Xuất xứ: 1967, nhân chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), in trong tập thơ Hoa dọc chiến hào. + Vị trí văn học sử: bài thơ tình nổi tiếng của Xuân Quỳnh, góp phần tạo nên vị trí “nữ hoàng thơ tình Việt Nam”. + Cảm nhận chung: – Nhan đề: Sóng • Trong mối quan hệ với em: vừa song hành vừa chuyển hoá. Sóng chính là em, em chính là tình yêu: sóng = em = tình yêu. Sự sống của em và sóng chỉ thật sự cất nhịp khi tình yêu bắt đầu, còn em, còn sóng là còn yêu và ngược lại ( Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi). • Hành trình của sóng và em: “Sóng không hiểu nổi mình/ Sóng tìm ra tận bể.” – Vẻ đẹp của hình tượng: vừa truyền thống vừa hiện đại (Sóng gợi nhắc hình ảnh thuyền và bến – biểu trưng cho tình yêu trong ca dao nhưng ở bài thơ, người phụ nữ không bị động mà chủ động tự bạch, tự nhận thức để khao khát dâng hiến) 2. Phân tích văn bản a.  4 khổ đầu: Băn khoăn và khát vọng + Khổ 1: Dữ dội và dịu êm Ồn ào và lặng lẽ Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể – Tương quan sông – bể: tính chất mâu thuẫn • Sông: không gian nhỏ, hẹp, hữu hạn,nông cạn • Bể: không gian lớn, rộng, khoáng đạt, sâu sắc > Băn khoăn và tìm cách giải đáp: không hiểu nổi mình, tìm ra tận bể > mượn một qui luật tự nhiên để biểu trưng cho những băn khoăn trong lòng mình. Nước sông tự bao đời vẫn đổ ra biển lớn. Sóng chủ động từ bỏ không gian nông cạn chật chội về với không gian rộng lớn vô hạn> khát khao vượt giới hạn nhỏ bé, vươn tới không gian rộng lớn hơn để lí giải chính mình của con người. + Khổ 2 Ôi con sóng ngày xưa Và ngày sau vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ – Khám phá mới về sóng: tượng trưng cho sự bất diệt của tuổi trẻ và khát vọng tình yêu. – Mượn qui luật tự nhiên để diễn tả một triết lí dung dị nhưng thấm thía về tình yêu và tuổi trẻ: còn tuổi trẻ là còn khát vọng, mà khát vọng yêu thương mãi còn tức là con người mãi trẻ trung. (so sánh với triết lí của Xuân Diệu: Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn/ Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại) + Khổ 3, 4 Trước muôn trùng sóng bể Em nghĩ về anh, em Em nghĩ về biển lớn Từ nơi nào sóng lên? Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau. – Chuỗi câu hỏi liên tiếp truy đến cùng nguồn gốc của song cũng chính là nguồn gốc của tình yêu. – Khái quát một điều sâu kín trong tình yêu: tình yêu gắn với đức tin, với cảm xúc mà lí trí bất lực. (liên hệ với Xuân Diệu: “Làm sao lí giải được tình yêu/ Có nghĩa gì đâu một buổi chiều/ Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt/ Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu…” b. Khổ 5 – 6: Nhớ thương và chung thuỷ + Khổ 5: Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức – Quan sát nhịp vỗ của sóng: • Chìm (dưới lòng sâu) – nổi (trên mặt nước) • Nhớ bờ – ngày đêm không ngủ >Nhận xét • Từ vận động bình thường của sóng, liên tưởng: sóng vì nhớ bờ mà vỗ miên man, vô hồi vô hạn, bất kể ngày đêm. + Khổ 6: Dẫu xuôi về phương bắc Dẫu ngược về phương nam Nơi nào em cũng nghĩ Hướng về anh – một phương. – Vận động của sóng: phong phú, nhiều chiều (xuôi bắc – ngược nam) nhưng nhất phiến (hướng về anh một phương) – Khẳng định tấm lòng sắc son, như nhất. – Đến đây, sóng và em đã hoà làm một. c. Khổ 7 – 8: Lo âu phấp phỏng Ở ngoài kia đại dương Trăm ngàn con sóng đó Con nào chẳng tới bờ Dù muôn vời cách trở Cuộc đời tuy dài thế Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫu rộng Mây vẫn bay về xa – Hành trình vượt khó khăn để tới bờ của sóng: “muôn vời cách trở”, nhưng “con nào chẳng tới bờ” d. Khổ 9: Ước nguyện dâng hiến, khát vọng bất tử Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ. + Số từ: trăm – ngàn. + Lí giải bản lĩnh của sóng ở đoạn đầu tiên “Sông không hiểu nổi mình/ Sóng tìm ra tận bể”: bởi sóng mang trong mình khát vọng nhận thức và khát vọng yêu thương mãnh liệt. > Nhận xét: • Vẻ đẹp tình yêu, tâm hồn, thơ Xuân Quỳnh: thuỷ chung, dịu dàng, chân thật mà mãnh liệt, khao khát. • Nét truyền thống và hiện đại: vẫn mang những nét đẹp truyền thống nhưng tâm thế hoàn toàn hiện đại- vẻ đẹp của trí tuệ – tự nhận thức và khát vọng hiến dâng bất tử (so sánh với hình ảnh người phụ nữ trong ca dao: “Thân em như hạt mưa rào…”) http://vanhay.edu.vn/tag/song-xuan-quynh  

Trình Bày Cảm Nhận Của Bản Thân Về Bài Thơ Ngắm Trăng Của Hồ Chí Minh / 2023

[LIVE STREAM] Văn 8: Ngắm Trăng – Đi Đường (Hồ Chí Minh)

Giới thiệu tác giả Hồ Chí Minh và tác phẩm Ngắm trăng

Trong quá trình phân tích giá trị nội dung và thẩm mỹ của tác phẩm cũng như cảm nhận về bài thơ Ngắm trăng, người đọc cần nắm được những nét chính về tác giả cũng như tác phẩm.

Hồ Chí Minh (sinh vào năm 1890 – mất năm 1969) tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung. Người quê ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Người dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc bản địa, thống nhất Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Nhắc đến Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam không khỏi xúc động vì vị lãnh tụ vĩ đại ấy đã giành cả tuổi xuân ba mươi năm từ 1911 – 1941 để dạt dẹo khắp các châu lục, học tập những điều tốt đẹp để phụng sự cho đất nước khi về, mà lúc này Người đã ở độ tuổi trung niên.

Những biết quá trình tìm kiếm và mang lại sự sung sướng cho nhân dân Việt Nam là một tuyến phố rất chông gai và thử thách nhưng cuối cùng bằng bản lĩnh và tài năng, Hồ Chí Minh đã đoạt được tuyến phố ấy. Chính vì sự kiện ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại trung tâm vui chơi quảng trường Ba Đình, Hà Thành, Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” – chính thức xác lập nền độc lập, tự do của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lưu lại một dấu son chói lọi trong sự nghiệp hoạt động cách mệnh của Hồ Chí Minh và trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

Khi giai đoạn trường kì chống Pháp kết thúc, tưởng rằng gian khó đã lui lại để nhường chỗ cho một cuộc sống hòa bình đầy tươi đẹp, vậy mà khi phát xít Nhật và đế quốc Mĩ lê gót giày xâm lược đến Việt Nam, nhân dân ta lại phải gồng mình chiến đấu với chúng để bảo vệ đất nước. Vết thương cũ mà cuộc chiến tranh gây ra còn chưa kịp liền sẹo thì lại phải chịu bỏng rát của một cuộc đấu mới, gay cấn hơn, khốc liệt hơn.

Tuy nhiên nhân dân ta vẫn không hề nhụt chí chùn bước, có lẽ bởi vì có sự sát cánh đồng hành của chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác bỏ là người đã tiếp tục trực tiếp lãnh đạo nhân dân ta chiến đấu chống giặc với lòng nhiệt thành và tình yêu nước. Tấm lòng cao quý mà Người dành riêng cho dân, cho nước ấy luôn chân tình cho tới tận ngày Người ra đi vào năm 1969.

Không chỉ là một nhà cách mệnh, nhà chính trị lỗi lạc mà Hồ Chí Minh còn là một một nhà văn, nhà thơ rất mực tài hoa. Cả cuộc đời gắn bó mật thiết với hoạt động cách mệnh đã hỗ trợ Tác giả rất nhiều những tác phẩm với thể loại phong phú.

Có thể nói đến việc một số tác phẩm chính luận nổi bật của Người như: “Bản án quyết sách thực dân Pháp” (năm 1925), “Tuyên ngôn Độc lập” (năm 1945), “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” (năm 1946), “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” (năm 1966) …, Người còn viết truyện kí: “Vi hành” (1923), “Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu” (1925), “Nhật kí chìm tàu” (1931) … Về thơ ca, tập thơ “Ngục trung nhật kí” ( “Nhật kí trong tù”) với hàng trăm bài thơ chữ Hán đặc sắc được xem là tác phẩm đặc sắc kết tinh giá trị tư tưởng và thẩm mỹ thơ ca của Hồ Chí Minh.

Theo kế hoạch, Bác bỏ Hồ phải đi một quãng đường dài đến Trung Quốc mà điểm xuất phát là Pác Bó (Cao Bằng). Thật không may, lúc tới thị xã Túc Vinh, Người bị tóm gọn và bắt đầu chuỗi ngày bị giam giữ đầy khổ cực ròng rã suốt hơn một năm trời. Khi bắt giữ, chính quyền trực thuộc địa phương còn hết lần này đến lần khác chuyển Người khắp 30 nhà giam của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây.

Chính trong tầm thời gian đó, “Nhật kí trong tù” ra đời, phần lớn là thơ tứ tuyệt và “Ngắm trăng” cũng nằm trong số những tác phẩm đã ra đời trong hoàn cảnh đó. Bài thơ nằm ở vị trí thứ 21 đã thể hiện rất chân thực tình yêu thiên nhiên say mê và tinh thần sắt thép ở Bác bỏ Hồ trong hoàn cảnh ngục tù gian khổ.

“Ngục trung vô tửu diệc vô hoa”

Cảm nhận về bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh

“Trong tù không rượu cũng không hoa”

Với “Ngắm trăng”, Hồ Chí Minh đã tái hiện trước mắt người đọc hình ảnh về một người tù dù phải sống trong hoàn cảnh ngang trái nhưng vẫn tha thiết rung cảm với vẻ đẹp của thiên nhiên và chính vì sự rung cảm đó đã hỗ trợ cho Người dân có một cuộc vượt ngục về tinh thần hoàn hảo.

Khi cảm nhận về bài thơ Ngắm trăng, ta thấy ngay ở mở đầu bài thơ, Hồ Chí Minh viết:

Dịch nghĩa:

Trước nay, khi đối chiếu với một người thi sĩ có tâm hồn thưởng nguyệt, rượu và hoa thường làm cho họ có thêm sự hưng phấn để hồn thơ thêm dào dạt, thiết tha. Ấy vậy mà cũng trong thời điểm thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên, có một người lại ở vào hoàn cảnh lao tù.

“Đối thử lương tiêu nại nhược hà?”

Mà trong tù, tìm đâu thấy hoa và rượu để ngắm, để say. Có chăng chỉ là những gông cùm, xiềng xích, tra tấn, dọa nạt, đói khát hay bệnh tật mà thôi. Mà những thứ được liệt kê như trên giản dị và đơn giản dầu gì lại không khiến con người trở nên chán nản, bi lụy. Ngẫm lại để mà thấy một người đang sống đời tự do, từng bước một đi đều hừng hực một nỗi khát khao giành lại độc lập, tự do cho dân tộc bản địa mình bỗng chốc lại chịu cảnh lao ngục. Ngẫm lại để mà thấy hằng ngày, đối diện với họ chỉ là một không gian mịt mù, tối tăm, những song sắt lạnh lùng, chiếc gông xiềng nặng trĩu và bốn bức tường vô tri.

“Trước cảnh đẹp đêm nay biết làm thế nào?”

Chắc hẳn trong hoàn cảnh đó, con người dù có mạnh mẽ đến đâu, gai góc đến đâu cũng khó lòng vượt qua giản dị và đơn giản dàng. Ấy vậy khi cảm nhận về bài thơ Ngắm trăng, người đọc cũng thấy Bác bỏ vẫn từng ngày, từng giờ phải đương đầu với việc giam cầm như vậy, vẫn phải chịu đựng sự tàn nhẫn, dã man của cách tra tấn, đày đọa về tinh thần mà bọn cầm quyền áp dụng. Sống trong tham gia như vậy, có lẽ nếu không tự tìm cho mình một động lực để tồn tại, ắt hẳn rất khó khăn để sở hữu thể vượt qua.

Câu thơ thứ hai tựa hồ như một nét vẽ mà sau đường mang bút của Hồ Chí Minh, cảnh thiên nhiên hiện hữu khá rõ ràng:

Dịch nghĩa:

Nếu như câu thơ đầu tiên làm người đọc động lòng vì hoàn cảnh ngang trái mà Bác bỏ Hồ phải đối mặt. Tưởng như đến câu thơ tiếp theo, tác giả sẽ nói đến cảm xúc xót xa của mình khi sống trong tham gia đó. Thế mà thật lạ lùng, Bác bỏ lại hướng tầm mắt người đọc ra phía không gian mông mênh, rộng lớn của đất trời và không hết lời ca tụng cảnh đẹp ( “lương tiêu”).

Khi cảm nhận về bài thơ Ngắm trăng, ta thấy cảnh vật tươi đẹp, thu hút đến nỗi khiến người thưởng cảnh cũng bối rối, khó xử vì không “biết làm thế nào?” ( “nại nhược hà”) khi đối diện. Giờ phút này đây, bao nhiêu những khổ đau, vất vả, cực nhọc, xót thương của cảnh tù đày dường như vắng bóng, phải chăng mối bận tâm duy nhất của Bác bỏ lúc này là dành hết cho thiên nhiên vạn vật.

Cảnh ấy khiến Người cảm thấy bồn chồn, náo nức bởi vì một tâm hồn nghệ sĩ như Hồ Chí Minh, sao thể không rung động trước một khung cảnh mà Người dành hết lời truyền tụng như vậy. Có ý kiến nhận định rằng, trong bản dịch thơ của Nam Trân, khi sử dụng “khó hững hờ” để thể hiện ý nghĩa “biết làm thế nào?” thì chưa làm bộc lộ hết những bồn chồn, náo nức trong tâm trạng người thi sĩ vì bản thân từ “hững hờ” mang ý nghĩa thờ ơ, lạnh nhạt, không chú ý đến điều gì đó.

“Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt Nguyệt tòng song khích khán thi gia.”

Trong thơ Bác bỏ, có lẽ hơn hết sự để ý, quan tâm, trước cảnh đẹp có lẽ Bác bỏ cũng không giấu được sự đón đợi, phấn chấn. Nhưng xét thấy, để tìm được từ ngữ nào khác thể hiện trọn vẹn ý nghĩa câu thơ thì đó không phải là điều đơn giản. Thế nên thiết nghĩ cũng không nên khắt khe với tác giả bản dịch thơ.

“Người hướng ra phía trước song ngắm trăng sáng, Từ ngoài khe cửa, trăng ngắm nhà thơ.”

Nhìn lại cảm nhận về bài thơ Ngắm trăng, có thế thấy, hai câu thơ đầu của bài thơ đã làm nổi bật một tâm hồn nghệ sĩ phải ngắm trăng trong một hoàn cảnh đặc biệt quan trọng chốn lao tù tưởng như không phù hợp. Tuy nhiên, Người đã mặc kệ hoàn cảnh, bỏ qua sự hiện hữu của vật chất là rượu và hoa để vẫn có thể thưởng cảnh ung dung, tự tại. Nhưng trước khoảnh khắc diệu kì của cảnh đẹp, Người vẫn không khỏi xốn xang.

Cảm nhận về bài thơ Ngắm trăng, ta thấy ở câu thơ thứ hai, người chiến sĩ – thi sĩ ấy đã vẽ ra trước mắt người đọc khung cảnh thiên nhiên đầy ấn tượng. Đến hai câu thơ cuối, trong cái nền của khung cảnh thiên nhiên, tác giả đã tập tập trung sự chú ý của người đọc vào quan hệ giữa thi sĩ và vầng trăng trên cao theo như đúng tinh thần “ngắm trăng” của bài thơ:

Dịch nghĩa:

Trong hai câu thơ đều phải sở hữu sự xuất hiện của rất nhiều hình ảnh: “nhân”, “nguyệt”, “song” (song cửa), vị trí của “song” cửa nhà tù luôn đứng chắn giữa câu thơ, còn người và “nguyệt” thì có sự hoán đổi. Chính vì sự linh hoạt hoán đổi vị trí này đã tạo nên tầng nghĩa giàu giá trị của bài thơ.

Ở câu thơ thứ ba, khi hướng tầm mắt ra phía “song tiền” để “khán minh nguyệt” cũng là lúc nhà thơ để cho tâm hồn mình thoát khỏi sự tù tội để giao hòa cùng vầng trăng sáng ở không gian khung trời mông mênh. Ở đây đã có một cuộc vượt ngục diễn ra, đó không phải là cuộc vượt ngục thông thường mà là vượt ngục về tinh thần.

Cảm nhận về bài thơ ngắm trăng, người đọc cũng nhận thấy không màng tới sự việc trớ trêu của hoàn cảnh, Bác bỏ Hồ đã neo tâm hồn mình vào vẻ đẹp của trăng trời. Đáp lại tình cảm của Người, vầng trăng cũng vượt qua rào cản của song sắt để tìm gặp mà “khán thi gia” như thể hiện sự đồng cảm, khích lệ. Sự tương giao, hòa hợp giữa trăng và người lúc này dường như đã đạp đổ cánh cửa vô tình, lạnh lùng của nhà tù.

Đến đây có thể thấy, song sắt tù tội có thể ngăn cách hai không gian đối lập: một bên là nhà tù tối tăm, là hiện thực tàn bạo, còn một bên là vầng trăng thơ mộng, biểu trưng của cái đẹp và sự tự do. Tuy nhiên, nó không thể nào ngăn nhà thơ hướng đến ánh sáng và sự tự do.

Hai câu thơ đã cho thấy cấu trúc đăng đối độc đáo khi xây dựng quan hệ: “nhân” – “song” – “nguyệt” (câu 3) và “nguyệt” – “song” – “thi gia” (câu 4), góp phần diễn tả được quan hệ gắn bó tri kỉ giữa trăng và người, giữa thiên nhiên và thi nhân: cả hai cùng hướng về nhau để chia sẻ cùng nhau.

Nhận xét khi cảm nhận về bài thơ Ngắm trăng

Kết bài: Tóm lại, với “Ngắm trăng”, nhà thơ đã để lại cho văn học dân tộc bản địa một thi phẩm tuyệt diệu về sự việc giao hòa giữa con người và thiên nhiên, sự kết hợp giữa chất thép và chất tình ở người chiến sĩ – thi sĩ Hồ Chí Minh. Bài thơ đấy là khúc nhạc lòng của người thi sĩ, là niềm tin hướng về ánh sáng trong chốn ngục tù. Vì vậy, cả bài thơ không chỉ được soi sáng bởi vẻ đẹp của ánh trăng mà còn được soi sáng bởi vẻ đẹp của tâm hồn thi nhân…

Dàn ý cảm nhận về bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh

Giới thiệu đôi nét về Hồ Chí Minh không chỉ là người chí sĩ mà còn là một một người nghệ sĩ – thi sĩ.

Sơ qua về giá trị nội dung và thẩm mỹ của tác phẩm: Bài thơ Ngắm trăng đã thể hiện rất rõ ràng tình yêu thiên nhiên say mê và phong thái ung dung của Bác bỏ trong cả trong cảnh ngục tù.

Hoàn cảnh ngang trái của người chí sĩ chốn ngục tù.

Thiên nhiên xuất hiện trong cảm nhận của người chiến sĩ – thi sĩ.

Cuộc vượt ngục về tinh thần của người chiến sĩ – thi sĩ.

Tóm tắt lại giá trị nội dung và thẩm mỹ tạo ra sự thành công của tác phẩm.

Thi phẩm Ngắm trăng đã cho tất cả chúng ta hiểu thâm thúy hơn về cốt cách thanh cao của người chiến sĩ cách mệnh đồng thời có tâm hồn thi sĩ.

Như vậy, khi cảm nhận về bài thơ Ngắm trăng, ta thấy đây là một trong những bài thơ tứ tuyệt hay và đặc sắc nhất của Bác bỏ trong tập Nhật kí trong tù. Ngắm trăng với lối ngôn ngữ cô đọng, hàm súc, giàu ý nghĩa, cùng với thẩm mỹ đối tài tình đã cho thấy tình yêu thiên nhiên của Người, đồng thời cũng cho thấy tấm lòng yêu tự do với một phong thái dung dung và tự tại trong hoàn cảnh tù ngục.

Phân Tích 8 Câu Thơ Đầu Bài Thơ Việt Bắc Liên Hệ Với 9 Câu Đầu Bài Đất Nước Để Thấy Điểm Tương Đồng / 2023

Phân tích 8 câu thơ đầu bài thơ Việt Bắc liên hệ với 9 câu đầu bài Đất nước để thấy điểm tương đồng

Nguyễn Văn Thiều từng nhận xét: “Tố Hữu là một nhà thơ lớn. Nói đúng hơn, ông là nhà thơ lãng mạn cách mạng. Cả cuộc đời ông gắn bó với cách mạng. Thơ với đời là một. Trước sau đều nhất quán. Tố Hữu nhìn cách mạng bằng con mắt lãng mạn của một thi sĩ.” Quả đúng vậy, Việt Bắc đã gói trọn lại nét tâm tình, lãng mạn giữa cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc. Tám câu thơ mở đầu ngân lên đầy da diết, gợi chúng ta nhớ về những vần thơ của Nguyễn Khoa Điềm trong “Đất nước”.

Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành, mang trong mình tâm hồn của xứ Huế mộng mơ. Phải chăng bởi vậy mà những câu văn, vần thơ của ông đều thấm đượm chữ tình, chữ nhạc?Việt Bắc được sáng tác trong không khí vui tươi của chiến dịch Điện Biên Phủ đại thắng, đồng thời cũng thấm đượm ánh buồn của buổi chia tay khi những người kháng chiến rời miền cao để trở về. Tám câu thơ mở đầu chính là lời thủ thỉ tâm tình của người ở lại với người ra đi về niềm thương nỗi nhớ cùng nghĩa tình kháng chiến.

” – Mình về mình có nhớ ta?

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ không?

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.”

Tố Hữu đã vô cùng tinh tế khi vận dụng chất liệu văn học dân gian từ thể thơ đến cách xưng hô thật bình dị mà ngọt ngào. Lời thơ mang âm hưởng như những lời tâm tình, thủ thỉ, gợi cho bạn đọc cảm giác gần gũi, thân thương. Người đi với người ở hay đồng bào vùng cao với những người chiến sĩ giờ đây gắn bó mật thiết như người một nhà “mình-ta”. Cặp từ hô ứng gợi ta nhớ về những vần ca dao xưa quen thuộc:

“Mình nói với ta mình hãy còn son

Ta đi qua ngõ thấy con mình bò

Con mình những trấu cùng tro

Ta đi xách nước rửa cho con mình.”

Hay “Mình về có nhớ ta chăng

Ta về ta nhớ hàm răng mình cười”

Nhà thơ còn gợi về quãng thời gian “15 năm thiết tha mặn nồng”. Đó là quãng thời gian lịch sử hào hùng, thấm đấm máu, nước mắt và công sức của biết bao thế hệ con người, nhưng cũng là quãng thời gian tươi đẹp gắn bó keo sơn của tình quân-dân, đồng chí-đồng bào. Điệp từ “nhớ” tiếp tục được láy đi láy lại nhiều lần như lời gặng hỏi, gợi nhắc người đi xa liệu có còn nhớ về quãng thời tươi đẹp đó hay không. Nỗi băn khoăn cứ thế mở rộng ra cứ chiều rộng không gian rừng núi đại ngàn. Đi xa rồi, hình ảnh làng quê, rừng núi non sông nơi xa xôi này có còn lưu luyến trong trái tim mỗi người lính hay không. Hàng ngàn câu hỏi được đặt ra thôi thúc, dồn dập mong tìm được lời giải đáp. Giọng thơ bộc lộ nỗi niềm mong ngóng của người ở lại với người ra đi, đồng thời cũng khắc họa tình cảm gắn bó, thân thiết của con người với con người trong hoàn cảnh khắc nghiệt của lịch sử dân tộc. Những lời yêu thương cứ thế mở rộng ra miên man, da diết.

“- Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân ly

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

“Tiếng ai”- cụm từ phiếm chỉ vô định, mông lung, “ai” là người vùng cao ở lại, nhưng cũng có thể là người chiến sĩ cất bước lên đường. Nhưng dù là ai thì tiếng nói ấy cũng khắc khoải, lưu luyến không rời. Họ ra đi mang trong lòng bao nỗi nhớ thương, luyến tiếc. Nhà thơ đã vô cùng tinh tế khi sử dụng phép hoán dụ “áo chàm”. Đây là trang phục truyền thục của đồng bào dân tộc nơi miền cao của Tổ quốc. Không nói rõ, không chỉ đích danh, chỉ một hình ảnh cũng đủ sức lan tỏa, sáng bừng không khí của cả bài thơ. Trong giây phút chia ly ngậm ngùi, đồng bào cùng chiến sĩ nắm tay nhau không rời. Bao nhiêu lời nói, bao nhiêu kỉ niệm giờ đây đều nhường chỗ cho những khoảng lặng của thời gian để lắng sâu, để cảm nhận, để lắng nghe những lời thủ thỉ từ tận trái tim mình. Cái cầm tay ấy như xóa bỏ hoàn toàn khoảng cách giữa miền ngược với miền xuôi, giữa dân với quân. Tất cả hòa chung trong không khí buổi chia tay, trong niềm vui say của chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử. Sự gắn bó mật thiết cùng giọng thơ đằm sâu, triết lý của Tố Hữu gợi ta nhớ về những dòng thơ đầu tiên của “Đất Nước”- Nguyễn Khoa Điềm. Tuy được viết vào những thời khắc khác nhau, khởi nguồn cảm xúc từ hai trái tim khác biệt, nhưng cả hai thi phẩm đều gặp nhau trong cái gần gũi, thân thuộc của quê hương, đất nước. Họ đều tìm về cội nguồn dân tộc, gắn nó với vẻ đẹp truyền thống quý báu bao đời nay. Nếu như với Tố Hữu, cái kế thừa hiển hiện rõ trong thể thơ, cách xưng hô thì với Nguyễn Khoa Điềm, cái “xưa” của ông nằm trong từng từ từng chữ, trong mỗi hình ảnh giản dị mà thân quen.

“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

Đất Nước có từ ngày đó…”

Hình ảnh Đất Nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm không hề xa xôi, không hề lớn lao vĩ đại mà rất gần gũi, thân quen. Nó gắn với những câu chuyện cổ tích diệu kì của tuổi thơ, gắn với những truyền thuyết, phong tục tập quán của dân tộc. Chính bàn tay những người dân lao động “xay, giã, giần, sàng,…”, chính mồ hôi công sức bao thế hệ nay đã vun đắp nên quê hương đất nước, làm nên nền lịch sử văn hóa lâu đời của dân tộc. Với Tố Hữu, dù có đi đâu về đâu, những người lính cũng luôn lưu giữ những hình ảnh tươi đẹp của mười lăm năm lịch sử, luôn khắc ghi công ơn, thành quả lao động của bản thân và cha ông. Dù cách biểu đạt có khác biệt thì họ vẫn gặp nhau trong tư tưởng gắn đất nước với nhân dân, gắn con người với cội nguồn lịch sử. Đó là truyền thống “uống nước nhớ nguồn” quý giá của cả dân tộc gìn giữ suốt bao đời.

Hai bài thơ, hai giọng điệu, hai tâm hồn nhưng cùng chung một trái tim gắn bó, thân thương với quê hương, đất nước. Tố Hữu và Nguyễn Khoa Điềm đã góp phần không nhỏ trong công cuộc xây dựng nền văn học Cách mạng Việt Nam thêm hào hùng, tươi sáng hơn.