Liên Hệ Bài Thơ Nhàn / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top View | Kovit.edu.vn

Tây Tiến Có Thể Liên Hệ Với Bài Nào

Chân Dung Người Lính Trong “Tây Tiến” Của Quang Dũng Và “Đồng Chí” Của Chính Hữu

Soạn Bài: Đồng Chí – Ngữ Văn 9 Tập 1

Top 6 Bài Văn Đóng Vai Người Lính Trong Bài Thơ “Đồng Chí” Kể Lại Câu Chuyện Lớp 9

Bài Văn: Phân Tích Bài Thơ “Đồng Chí”

Phân Tích 3 Câu Thơ Cuối Bài “Đồng Chí”

CÂU HỎI: Bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng có thể liên hệ với những bài nào?

TRẢ LỜI:

– Liên hệ so sánh với bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu: Khi liên hệ so sánh “Tây Tiến” với “Việt Bắc”, người ta sẽ thường liên hệ về hình ảnh người lính trong hai bài với nhau, hình ảnh đoàn quân ra trận; liên hệ đến thiên nhiên, khung cảnh núi rừng của hai bài để từ đó chỉ ra sự giống và khác nhau trong 2 bài thơ, làm nổi bật hẳn lên cái khác của Quang Dũng trong bài thơ của mình.

– Liên hệ so sánh với bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận: Với bài thơ này, người ta sẽ liên hệ so sánh đến bức tranh thiên nhiên trong hai bài, để nêu rõ được nét đặc trưng trong tác phẩm của Quang Dũng, khác biệt với Huy Cận trong việc miêu tả thiên nhiên, cảm nhận và tâm trạng người nghệ sĩ gửi gắm trong cảnh.

– Liên hệ so sánh với bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử: Khi liên hệ so sánh “Tây Tiến” với “Đây thôn Vĩ Dạ”, người ta sẽ liên hệ đến khung cảnh thiên nhiên trong hai bài thơ, đặc biệt là khung cảnh trữ tình trong những câu thơ ở đoạn thứ 2 của bài thơ “Tây Tiến” về Châu Mộc chiều sương cùng nước cùng hoa với khung cảnh trong đoạn thơ thứ nhất của “Đây thôn Vĩ Dạ” để từ đó nêu ra sự giống và khác nhau, lí giải vì sao lại có sự khác biệt ấy để người đọc càng khắc ghi thêm dấu ấn đặc biệt của nhà thơ Quang Dũng trong việc miêu tả thiên nhiên qua ngòi bút của mình.

Một số bài văn liên hệ Tây Tiên với những tác phẩm văn học khác

Phân Tích Bài Thơ Tây Tiến Bài Văn Đạt Điểm 9 Trong Kì Thi Học Sinh Giỏi Tỉnh

Phân Tích Bài Thơ “tây Tiến”

Văn Mẫu Tuyển Chọn 5 Bài Văn Mẫu “Phân Tích Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng

Dàn Ý Và Văn Mẫu Phân Tích Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng

Tải Nhạc Đọc Thơ Tây Tiến Mp3 Miễn Phí

Liên Hệ Sóng Và Vội Vàng Để Thấy Khát Vọng Sóng Và Khát Vọng Tình Yêu

So Sánh Sóng Và Vội Vàng

Lập Dàn Ý Đề Văn So Sánh Sóng Và Vội Vàng

Mở Bài Kết Bài Bài Thơ Sóng Đậm Chất Trữ Tình

Phân Tích Bài Thơ Sóng Khổ 5, 6, 7

Cảm Nhận Về Khổ Thơ 5, 6, 7 Trong Bài Thơ Sóng

Đề bài: Liên hệ Sóng và Vội Vàng để thấy khát vọng sóng và khát vọng tình yêu Ở ngoài kia đại dương Trăm ngàn con sóng đó Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ.

( Sóng – Xuân Quỳnh, Ngữ văn 12, tập một, NXB GD)

Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ trên. Từ đó liên hệ với khổ thơ cuối bài thơ Vội vàng – Xuân Diệu để nhận xét về khát vọng sống và khát vọng tình yêu của hai nhà thơ.

Nhà thơ Xuân Quỳnh quê ở Hà Đông một vùng dệt lụa the nổi tiếng. Xuân Quỳnh sớm mồ côi mẹ và chủ yếu sống với bà, lớn lên ở Hà Nội. Năm 13 tuổi, Xuân Quỳnh trở thành một nữ diễn viên múa xinh đẹp, đã từng đi nhiều nước biểu diễn. Cuộc sống thời chiến tranh dù còn nhiều gian lao vất vả nhưng Xuân Quỳnh vẫn vượt qua bằng sự khéo léo để được sống trọn vẹn với thơ. Năm 1963 Xuân Quỳnh chuyển hẳn sang viết báo, làm văn bởi với Xuân Quỳnh:

Nếu ngày mai em không làm thơ nữa Cuộc sống trở về bình yên Ngày nối nhau trên đường phố êm đềm Không nỗi khổ không niềm vui kinh ngạc

Sóng là một bài thơ tình yêu rất đằm thắm của Xuân Quỳnh, lời tự hát tình yêu chân thật, nồng nàn. Bài thơ Sóng được Xuân Quỳnh sáng tác năm 1967, tại bãi biển Diêm Điền, in trong tập Hoa dọc chiến hào (1968). Sóng là một trong những bài thơ tình yêu hay nhất của Xuân Quỳnh.

Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ đang nước sôi lửa bỏng, văn học thời đại thường âm vang cảm hứng anh hùng ca, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng, thì Sóng dường như chỉ nói về tình yêu thuần túy, đời thường. Nhưng vẻ đẹp dịu dàng, chung thủy trong tâm hồn tình yêu của ng con gái thể hiện trong bài thơ đẹp như một bông hoa dọc chiến hào.

Giải quyết vấn đề

Sự lo âu về phai tàn, đổ vỡ trong tình yêu

Ở ngoài kia đại dương Trăm ngàn con sóng đó Con nào chẳng tới bờ Dù muôn vàn cách trở

Sóng với Xuân Quỳnh không chỉ là biểu tượng của khát vọng tình yêu mà còn là phương tiện để bà bộc lộ những suy tư về cuộc sống, tình cảm:

Tình ta như hàng cây Đã qua mùa bão gió Tình ta như dòng sông Đã yên ngày thác lũ

Sóng muốn về với bờ sóng phải vượt qua giông tố, bão bùn. Em muốn hướng về anh em phải vượt qua những cạm bẫy cuộc đời. Tình yêu gắn liền với đời thường mà cuộc đời là dâu bể đa đoan. Tất cả những thử thách gian nan đang chờ trước mặt và là điều không thể thiếu đối với tình yêu:

( Thơ tình cuối mùa thu)

Trải qua không gian, thời gian, cuối cùng sóng vẫn về tới bờ và em cũng lại bên anh. Tình yêu trải qua thử thách là tình yêu đẹp, cao cả nhưng dù có cao đẹp đến đâu cũng rất mong manh trước thời gian vô thủy vô chung.

Cuộc đời tuy dài thế Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫu rộng Mây vẫn bay về xa

Nguyễn Minh Châu đã có lần ví von như cái sợi chỉ xanh nhỏ bé và óng ánh. Và nhà thơ Xuân Quỳnh vẫn còn sợ cái sợi chỉ mong manh ấy sẽ đứt, sẽ không còn nữa.

Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễn Hôm nay yêu mai có thể xa rồi

Một thoáng lo âu của nhà thơ khi ý thức được cái ngắn ngủi của cuộc đời. Một sự lo âu rất chính đáng bởi nhà thơ đã ý thức được cái mong manh của tình yêu:

( Nói cùng anh)

Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật, Không cho dài thời trẻ của nhân gian, Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, Nếu đến nữa không phải rằng gặp lại. Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi, Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;

Ở đây dường như Xuân Quỳnh và Xuân Diệu có sự đồng điệu với nhau trong quan điểm:

Cả hai nhà thơ đều nhận thấy sự hữu hạn và tiếc cho cuộc đời ngắn ngủi. Nhưng điểm khác biệt là Xuân Quỳnh tiếc cho đời người còn Xuân Diệu tiếc cho tuổi trẻ. Con người mang khát vọng lớn lao thì không bao giờ bằng lòng với giới hạn đó.

Sự rạo rực, xôn xao khát khao đến khắc khoải

Cuộc đời tuy dài nhưng không phải vô cùng, như biển lớn mênh mông nhưng không phải vô tận. Xuân Quỳnh rất nhạy cảm với sự trôi chảy của thời gian, ý thức về thời gian gắn với nỗi âu lo, dù vậy, nhân vật trữ tình trong thơ đã có cách ứng xử tích cực: âu lo nhưng không mấy thất vọng, mà chỉ khao khát nắm lấy hạnh phúc trong hiện tại, sống hết mình, mãnh liệt với tình yêu để vượt qua và chiến thắng sự hữu hạn của thời gian và đời người.

Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ

Khát vọng sống hết mình với tình yêu được Xuân Quỳnh diễn tả một cách giản dị. Thi sĩ ước muốn:

Tan ra để hòa vào biển lớn của tình yêu, biển lớn của hạnh phúc vĩnh hằng. Bởi với Xuân Quỳnh, cách để sống mãi là sống với tình yêu của mình. Ước muốn ấy của thi sĩ vừa dịu dàng, đôn hậu, vừa nồng nàn thiết tha. Bài thơ khép lại nhưng hai cặp hình tượng sóng – bờ, em – anh vẫn đan cài vào nhau, ngời sáng một vẻ đẹp vĩnh hằng của tình yêu.

Tình yêu đó là vĩnh cửu là bất tử với thời gian và nó càng đẹp hơn vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ khi tình yêu ấy không chỉ là tình cảm riêng tư mà hòa vào tình yêu chung của nhân loại. Xuân Quỳnh cũng thế, chị mong ước tình yêu của mình hòa vào tình yêu chung, tình yêu lớn của cuộc đời.

So với thơ lãng mạn trước cách mạng thì gương mặt tình yêu trong thơ thời đại mới dù riêng tư nhưng không cô đơn, lẻ loi, lạc lõng với cộng đồng mà tình cảm riên chung hài hòa tạo cho con người thời đại hôm nay có dáng dấp khác hẳn.

Hai đoạn thơ đều bộc lộ cảm xúc mãnh liệt, những suy ngẫm trước cuộc đời. Đây là hai đoạn thơ có sự kết hợp giữa cảm xúc – triết lí. Hình tượng sóng là một ẩn dụ độc đáo, khiến lời thơ vừa thực, vừa lãng mạn. Thể thơ tự do năm chữ ngắt nhịp linh họat và chủ yếu không ngắt nhịp, tạo âm hưởng thơ dạt dào, vừa gợi âm hưởng của sóng, vừa diễn tả tinh tế khát vọng tình yêu nồng nàn. Kết cấu song hành giữa hình tượng sóng và em tạo thành chiều sâu nhận thức và nét độc đáo của bài thơ.

Xuân Quỳnh là nhà thơ nữ viết về tình yêu rất nhiều và hay, điều làm nên sức sống mãnh liệt của thơ Xuân Quỳnh có lẽ là tính chân thực và niềm đam mê gửi gắm trong những lời thơ giản dị mà vô cùng sâu lắng.

Thơ Xuân Quỳnh giản dị nhưng không bao giờ cũ vì nó cũng có triết lí, thứ triết lí của thi ca, thứ triết lí đôn hậu của một ng phụ nữ làm thơ. Xuân Quỳnh nói chuyện tình yêu, chuyện cái chết, chuyện được mất một cách rất giản dị mà lại đi vào lòng người.

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn Cho no nê thanh sắc của thời tươi Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi!

Trong Vội vàng, thi nhân đã thức nhọn giác quan để sống toàn tâm, toàn ý, sống toàn hồn mà say, thâu, hôn, cắn cho kỳ hết những hương nồng của tuổi trẻ?

Ngay sau đó là câu thơ thể hiện sự tươi non của cả cuộc sống mới bắt đầu mơn mởn. Từ láy mơn mởn được nhà thơ dùng rất gợi cảm và giàu ý nghĩa. Nó cho ta thấy các sự vật, cây cối đang ở độ non mướt, tươi tốt, đầy sức sống khiến cho thi nhân tràn lên khao khát.

Điệp ngữ ta muốn được lặp đi lặp lại như một nhịp điệu hối hả, như hơi thở gấp gáp của thi nhân. Chứng tỏ Xuân Diệu đang nồng nhiệt đến rối rít, cuống quýt như muốn cùng một lúc giang tay ôm hết cả vũ trụ cả cuộc đời, mùa xuân vào lòng mình. Đồng thời nó còn nói lên được cái ham muốn khát thèm đến hăm hở, cuồng nhiệt của nhà thơ.

Mỗi một lần khao khát ta muốn là một lần kết hợp với một động từ chỉ trạng thái yêu thương mỗi lúc một mạnh mẽ, nồng nàn hơn ôm- sự sống, riết- mây đưa, gió lượn, say- cánh bướm, tình yêu, thâu- cái hôn nhiều, để cuối cùng là một tiếng kêu của sự cuồng nhiệt, đắm say, thể hiện niềm yêu đời, khát sống chưa từng có trong thơ ca Việt Nam: Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi!

Thi nhân muốn ôm hết vào lòng mình mây đưa và gió lượn, muốn say đắm với cành bướm tình yêu, muốn gom hết vào lồng ngực trẻ trung ấy một cái hôn nhiều. Muốn thu hết vào hồn nhựa sống dạt dào và non nước và cây và cỏ rạng. Để rồi nhà thơ như con ong bay đi hút nhụy đời cho đến say chếnh choáng hút cho đã đầy ánh sáng, cho no nê thanh sắc của thời tươi mới lảo đảo bay đi.

Không chỉ nằm ở phong cách thơ (Xuân Diệu sôi nổi, mãnh liệt đầy nam tính, xuân Quỳnh thủ thỉ, tâm tình đầy nữ tính) mà còn trong cách ứng xử của mỗi nhà thơ: trước sự chảy trôi của thời gian.

Xuân Diệu thể hiện cái tôi ham sống, muốn tận hưởng cuộc đời mãnh liệt. Như một tuyên ngôn của lòng mình, nhà thơ tự xác định một thái độ sống gấp, tận hưởng vì cảm nhận cái hữu hạn của cuộc đời ( Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm); ý thức chiếm lĩnh, tận hưởng cuộc sống ở mức độ cao nhất ( chếnh choáng, đã đầy, no nê) những gì tươi đẹp nhất ( mùi thơm, ánh sáng, thời tươi).

Còn Xuân Quỳnh lại thể hiện ước mong được tan hòa cái tôi nhỏ bé – con sóng cá thể, thành cái ta chung rộng lớn – trăm con sóng giữa biển cả mênh mông. Những câu thơ có tính chất tự nhủ mình gợi cách sống, tình yêu mãnh liệt, hết mình: mong muốn được tan hòa vào tình yêu lớn lao của cuộc đời. Đó là cách để tình yêu trở thành bất tử.

Liên hệ Sóng và Vội Vàng bản quyền thuộc về hocvan12

Tác giả Xuân Diệu sử dụng các yếu tố nghệ thuật như điệp từ, điệp cấu trúc câu, động từ mạnh… góp phần thể hiện cái hối hả, gấp gáp, cuống quýt của tâm trạng, khiến nhịp điệu đoạn thơ sôi nổi, cuồng nhiệt. Bài thơ Sóng sử đụng thể thơ năm chữ với hình tượng sóng vừa ẩn dụ vừa giàu tính thẩm mỹ khiến đoạn thơ sâu sắc, giàu nữ tính.

Kết thúc vấn đề

So Sánh 3 Khổ Cuối Bài Sóng Xuân Quỳnh Với Khổ Cuối Bài Vội Vàng Xuân Diệu

So Sánh Đoạn Thơ Của Sóng

Phân Tích Bài Thơ “sóng” Của Xuân Quỳnh Hay Nhất

Bình Giảng Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh Hay Nhất

Bài Thơ “sông Hồng” Của Nhà Thơ Lưu Quang Vũ

Phân Tích Hình Tượng Người Lính Tây Tiến. Liên Hệ Người Chiến Sĩ Trong Từ Ấy

Những Dẫn Chứng Có Thể Liên Hệ, Mở Rộng Trong Bài Thơ Việt Bắc

Soạn Bài Thơ Tây Tiến

Phát Biểu Cảm Nhận Của Bản Thân Về Bài Thơ Tây Tiến Của Nhà Thơ Quang Dũng

Phân Tích Bài Thơ Tây Tiến Quang Dũng

Phân Tích Hình Tượng Người Lính Trong Bài Thơ “tây Tiến” Của Quang Dũng

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,

Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới,

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

Rải rác biên cương mồ viễn xứ,

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh,

Ảo bào thay chiếu anh về đất,

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Từ đó, liên hệ vẻ đẹp lí tưởng của người chiến sĩ cộng sản trong Từ ấy (Tố Hữu) để rút ra nhận xét về cách xây dựng hình tượng chung người chiến sĩ.

ĐĂNG KÝ KÊNH VĂN HỌC ONLINE CỦA THẦY Ở DƯỚI ĐỂ XEM NHIỀU VIDEO

– Quang Dũng (1921 – 1988) là một nghệ sĩ đa tài; làm thơ, vẽ tranh, soạn nhạc, viết văn… nhưng trước hết ông vẫn là một nhà thơ xuất sắc của thi ca Việt Nam hiện đại, một nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Pháp, một hồn thơ phóng khoáng và tâm huyết, một tiếng thơ tinh tế và lãng mạn. Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu nhất cho đời thơ Quang Dũng, thể hiện tập trung nét đặc sắc phong cách nghệ thuật của nhà thơ. Cùng với Từ ấy của Tố Hữu, Tây Tiến cũng là một trong những bài thơ hay nhất về đề tài người lính của thơ ca kháng chiến chống Pháp.

1. Khái quát về bài thơ, vị trí đoạn thơ trong Tây Tiến:

– Tây Tiến là một đơn vị quân đội thành lập năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt – Lào và đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp ở Thượng Lào và miền Tây Bắc của Tổ quốc. Địa bàn hoạt động của đơn vị Tây Tiến chủ yếu là vùng rừng núi hiểm trở. Đó cũng là nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc Mường, Thái với những nét văn hoá đặc sắc. Lính Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên. Họ sinh hoạt và chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn, gian khổ nhưng vẫn rất lạc quan và dũng cảm.

– Quang Dũng là một người lính trong đoàn quân Tây Tiến. Cuối năm 1948, ông chuyển sang đơn vị khác. Một năm sau ngày chia tay đoàn quân Tây Tiến, nhớ về đơn vị cũ ông viết bài thơ Tây Tiến tại làng Phù Lưu Chanh (một làng thuộc tỉnh Hà Đông cũ, nay là Hà Nội). Bài thơ được in trong tập “Mây đầu ô”(1986)

– Đoạn thơ thuộc đoạn thứ 3 của bài thơ, thể hiện cảm hứng nỗi nhớ về đoàn quân Tây Tiến;

2. Cảm nhận nội dung, nghệ thuật về hình tượng người lính trong đoạn thơ:

HÃY ĐĂNG KÝ KÊNH YOUTUBE CỦA THẦY ĐỂ NHẬN BÀI GIẢNG. BẤM VÀO

– 4 câu đầu: Cuộc sống gian khổ, khó khăn và vẻ đẹp tâm hồn người lính

+ 2 câu đầu là bức chân dung người lính hiện lên với những nét vẽ chân thực qua hình ảnh so sánh, tương phản:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm. .

++ Quang Dũng đã không né tránh việc mô tả cuộc sông gian khổ mà người lính phải chịu đựng: Hình ảnh không mọc tóc, quân xanh màu lá là hậu quả những trận sốt rét rừng, của thiếu lương thực, thiếu thuốc men… Tất cả làm mái tóc xanh của các chàng trai trẻ không còn nữa, da xanh như tàu lá.

++ Tuy vậy, cái vẻ xanh xao vì đói rét, bệnh tật ấy của người lính Tây Tiến, qua cái nhìn của Quang Dũng vẫn toát lên vẻ oai phong, dũng mãnh như những con hổ nơi rừng thiêng: dữ oai hùm. Bút pháp lãng mạn đã tạo ra cái nhìn xoáy vào bên trong khiến hình tượng người lính hiện lên ốm mà không yếu, khắc khổ mà không tiều tụy.

++ Hai chữ đoàn binh âm Hán Việt đã gợi ra một khí nghiêm trang, hùng dũng kết hợp với các thanh trắc rơi vào trọng âm đầu của câu thơ như “tiến “, “mọc tóc” khiến âm hưởng của câu thơ vút lên mạnh mẽ, làm vợi đi ấn tượng xót xa về cuộc sống khó khăn, thiếu thốn.

+ 2 câu sau là vẻ đẹp tâm hồn đậm chất hào hoa, lãng mạn của các chàng trai Tây Tiến

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

++ Hình ảnh mắt trừng thể hiện ý chí quyết tâm của người lính Tây Tiến trong nhiệm vụ bảo vệ biên cương, thực hiện nghĩa vụ quốc tế của mình.

++ Hình ảnh Đêm mơ Hà Hội dáng kiều thơm lại là phút giây mơ mộng của tâm hồn trở về mái trường góc phố. Bên trong cái dữ dội, oai hùng của người lính là những tâm hồn, những trái tim rạo rực, khao khát yêu thương. Họ là những chàng trai ra đi khi mới mười tám, đôi mươi, chắc hẳn ai cũng ôm ấp trong tim một bóng hình. Ba chữ dáng kiều thơm gợi vẻ đẹp yêu kiều thanh lịch của các thiếu nữ Hà thành.

Quang Dũng đã tạo nên một tương phản hết sức đặc sắc – những con người chiến đấu kiên cường với ý chí sắt thép cũng chính là con người có một đời sống tâm hồn phong phú. Người lính Tây Tiến không chỉ biết cầm súng cầm gươm theo tiếng gọi của non sông mà còn rất hào hoa. Giữa bao nhiêu gian khổ, thiếu thốn trái tim họ vẫn rung động trong một nỗi nhớ về dáng kiều thơm, nhớ về vẻ đẹp của Hà Nội – Thăng Long xưa.

+4 câu sau: Những hi sinh mất mát và ý chí quyết tâm của người lính

++ Quang Dũng một lần nữa nhìn thẳng vào những mất mát hi sinh mà người lính phải trải qua: Rải rác biên cương mồ viễn xứ

+++ Từ láy tượng hình rải rác diễn tả hình ảnh những nấm mồ hoang lạnh trải khắp một vùng biên cương Tổ quốc. Nếu tách riêng câu thơ ra khỏi đoạn ta dễ có cảm giác đang đượe chứng kiến một bức tranh với màu sắc xám lạnh, u uất như vọng về từ thời chinh phu tráng sĩ;

+++ Tuy nhiên, cái bi như vơi bớt đi khi tác giả sử dụng ba từ Hán Việt liên tiếp: biên cương – mồ – viễn xứ gợi không khí thiêng liêng, trang trọng, làm nhòe đi nét nghĩa đau thương mà vang về âm thanh hào hùng. Những nấm mồ hoang lạnh nơi rừng sâu biên giới bỗng trở thành những mộ chí tôn nghiêm vĩnh hằng.

+ Câu thơ tiếp theo vang lên như một lời thề Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh. Đó cũng chính là lí tưởng quên mình, xả thân vì Tổ quốc của những chàng trai đô thành này.

+ Sự hy sinh của người lính còn được tráng lệ hoá trong câu thơ Áo bào thay chiếu anh về đất.

++ Hình ảnh áo bào thay chiếu thực chất là hiện thực thiếu thốn, gian khổ: tiễn đưa người lính về nơi vĩnh hằng không có cả một chiếc quan tài, thậm chí không cả manh chiếu che thân. Câu thơ của Quang Dũng không dừng lại ở mức tả thực mà đẩy lên thành cảm hứng tráng lệ, hai chữ “áo bào” lấy từ văn học cổ, gợi hình ảnh tấm áo choàng màu đỏ của các dũng tướng ra trận thuở xưa.

++ Nghệ thuật nói giảm, nói tránh anh về đất gợi tư thế ung dung, thanh thản, nhẹ nhõm của người lính khi đón nhận cái chết.

+ Đoạn thơ kết thúc bằng hình ảnh dòng sông Mã gầm lên khúc độc hành. Sự hi sinh của người lính Tây Tiến còn lay động đến cả đất trời, khiến dòng sông Mã gầm lên đau đớn, tiếc thương. Trong âm hưởng hào hùng và dữ dội của thiên nhiên, sự hi sinh của người lính Tây Tiến không bi lụy mà thấm đẫm tinh thần bi tráng.

Tây Tiến xứng đáng được xem là một tượng đài kỉ niệm bằng thi ca về đoàn quân Tây Tiến nói riêng về con người Việt Nam nói chung của một thời đại đầy gian lao mà anh dũng.

– Kết hợp hài hoà giữa bút pháp hiện thực và lãng mạn.

– Ngôn ngữ giàu tính tạo hình, giàu nhạc điệu, sáng tạo khi kết hợp từ Hán Việt và thuần Việt

– Nhiều biện pháp nghệ thuật: nói giảm, đối lập…

3. Liên hệ vẻ đẹp lí tưởng của người chiến sĩ cộng sản trong Từ ấy (Tố Hữu) để rút ra nhận xét về cách xây dựng hình tượng chung người chiến sĩ.

– Về vẻ đẹp lí tưởng của người chiến sĩ cộng sản trong Từ ấy (Tố Hữu)

+ Phân tích vẻ đẹp lí tưởng của người chiến sĩ cộng sản

++Người chiến sĩ cộng sản có tình yêu, niềm say mê mãnh liệt với lí tưởng cộng sản. Lí tưởng chính là ánh nắng hạ rực lửa, là mặt trời chói sáng, soi rọi giúp cho nhà thơ nhận ra con đường đi đến với chân lí, lẽ phải, công bằng, niềm tin, hi vọng. Lí tưởng còn hồi sinh, chỉ đường, đem đến cảm xúc mới, sức sống mới cho nghệ thuật thơ ca của người chiến sĩ.

++ Đó là người chiến sĩ có lẽ sống nhân đạo cao đẹp. Con người ấy từ khi được giác ngộ lí tưởng, ý thức rằng cuộc sống và nghệ thuật thơ ca của mình không thuộc về cá nhân mình nữa mà thuộc về quần chúng cần lao và cuộc đấu tranh chung của dân tộc. Con người đã tự nguyện đem cái “tôi” nhỏ bé của mình gắn kết với cuộc đời để tạo nên sức mạnh đoàn kết, tranh đấu. Người chiến sĩ cũng ý thức rằng mình sẽ là một thành viên ruột thịt trong đại gia đình cách mạng của những người lao khổ, bị áp bức, chiến đấu vì một lí tưởng cao đẹp.

– Nhận xét về cách xây dựng hình tượng chung người chiến sĩ.

+ Cả 2 nhà thơ Tố Hữu và Quang Dũng đều xây dựng hình tượng chung người chiến sĩ cách mạng với vẻ đẹp lí tưởng sáng ngời, cùng sử dụng bút pháp lãng mạng cách mạng để thể hiện;

+ Tuy nhiên, mỗi nhà thơ đều sáng tạo hình tượng người chiến sĩ cách mạng với vẻ đẹp độc đáo riêng. Người chiến sĩ cộng sản trong Từ ấy say mê lí tưởng Đảng, cất lên tiếng hát của một tâm hồn trẻ trong buổi đầu giác ngộ cách mạng. Tất cả đều thể hiện phong cách thơ trữ tình chính trị của Tố Hữu. Người chiến sĩ trong Tây Tiến là đoàn binh hùng mạnh, can trường, tài hoa và lãng mạn khi còn sống và khi đã hi sinh. Tất cả đều thể hiện phong cách thơ trữ hồn hậu, phóng khoáng, tài hoa, lãng mạn của Quang Dũng.

+ Nguyên nhân sự khác biệt :

++ Mỗi tác giả đều mang một cảm xúc riêng khi thể hiện hình tượng người chiến sĩ

++Hoàn cảnh sáng tác: cảnh ngộ riêng và hoàn cảnh thời đại để lại dấu ấn trong cảm xúc và hình tượng người chiến sĩ của mỗi tác giả.

Kết luận về vẻ đẹp hình tượng người chiến sĩ trong thơ Quang Dũng và Tố Hữu. Cảm nghĩ của bản thân về hình tượng.

–Sưu tầm–

ĐĂNG KÝ KÊNH VĂN HỌC ONLINE CỦA THẦY Ở DƯỚI ĐỂ XEM NHIỀU VIDEO

Cùng Bộc Lộ Nỗi Nhớ Về Tây Bắc, Trong Bài “sông Mã Xa Rồi Tây Tiến Ơi!… Khi Ta Đi, Đất Đã Hóa Tâm Hồn”. Cảm Nhận Của Anh (Chị) Về Hai Đoạn Thơ Trên

Bình Giảng Đoạn Thơ ” Sông Mã Xa Rồi Tây Tiến Ơi…mai Châu Mùa Em Thơm Nếp Xôi” Trong Bài Thơ Tây Tiến

Dàn Ý Nêu Bài Học Rút Ra Từ Truyện Lợn Cưới Áo Mới

Nghị Luận Xã Hội: Bài Học Rút Ra Từ Bài Thơ Những Bó Hoa Của Văn Cao

Dàn Ý Nêu Bài Học Rút Ra Từ Truyện Thầy Bói Xem Voi

Liên Hệ Việt Bắc Và Từ Ấy Để Thấy Sự Vận Động Và Phát Triển Của Cái Tôi Tố Hữu Mới Nhất 2022

Cảm Nhận Bức Tranh Tứ Bình Trong Bài Thơ Việt Bắc

Top 10+ Mở Bài Việt Bắc Hay Và Đạt Điểm Cao Nhất Chọn Lọc 2022

Bình Giảng Bài Thơ Việt Bắc Của Nhà Văn Tố Hữu

Giáo Án Ngữ Văn 12: Việt Bắc

Vĩnh Biệt Nsnd Trần Thị Tuyết

Liên hệ Việt Bắc và Từ Ấy để thấy sự vận động và phát triển của cái tôi Tố Hữu

Đề bài

Cảm nhận của anh/chị về cái tôi trữ tình trong đoạn thơ sau:

…Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ

nan.

Dân công đỏ

đuốc từng đoàn

Bước chân nát

đá muôn tàn lửa bay…

(Trích Việt Bắc, Tố

Hữu – Ngữ văn 12, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2022, tr. 112)

Từ đó liên hệ với đoạn:

…“Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải với trăm nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối

đời”…

(Trích Từ ấy , Tố

bước chân đi đầy khí thế hăng say và sức mạnh áp đảo của một tập thể người đông

đúc có đội ngũ chỉnh tề. Với từ rầm rập đặc

sắc ấy, cuộc ra trận của quân ta bỗng trở thành một cuộc duyệt binh, diễu binh

hùng tráng:

Xuân hãy xem cuộc diễn binh hùng vĩ

Ba mươi mốt triệu nhân dân

Tất cả hành

quân

Tất cả thành chiến sĩ.

Vì thế mà bước chân của đoàn quân ấy đêm đêm như làm rung chuyển cả mặt đất. Hình ảnh thơ mang đậm mầu sắc thần thoại. Trên con đường ấy, dường như cả nước cùng ra trận. Tất cả đã khắc họa đoàn quân đông đảo bước đi mạnh mẽ như những đợt sóng dâng trào, đợt này nối tiếp đợt kia tưởng chừng kéo dài đến vô tận.

Tuy trang bị vật chất còn thiếu thốn (chiến sĩ phải đội mũ nan đan bằng tre lợp vải) nhưng đoàn quân điệp điệp trùng trùng chính là hình ảnh tượng trưng cho sự trưởng thành vượt bậc của quân đội ta, của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến.

Trong những đêm dài hành quân chiến đấu ấy, ở đầu mũi súng của người lính ngời sáng ánh sao, đó là ánh sao sáng

hiện thực trong đêm tối hay là một hình

ảnh ẩn dụ: ánh sao của lí tưởng chỉ đường dẫn lối cho người chiến sĩ đánh đuổi

kẻ thù bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc. Ánh

sao đầu súng bạn cùng mũ nan. Câu thơ vừa có ý nghĩa tả thực vừa có ý nghĩa

khái quát tượng trưng sâu xa. Trước hết nó diễn tả đoàn quân đi trong đêm, đầu

súng lấp lánh ánh sao trời. Nhưng đó cũng là lấp lánh ánh sao lý tưởng.

Anh đi bộ đội

sao trên mũ

Mãi mãi là sao

đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá, muôn tàn

lửa bay.

Những bó đuốc đỏ rực soi rọi đường đã làm sáng bừng lên hình ảnh những đoàn dân công tiếp lương tải đạn, kiên cường vượt núi cao đèo dốc đảm bảo sức mạnh vật chất cho bộ đội chiến đấu, chiến thắng. Thành ngữ có câu chân cứng đá mềm, Tố Hữu chuyển thành Bước chân nát đá – hình ảnh cường điệu ấy khẳng định ý chí phi thường, sức mạnh to lớn của nhân dân kháng chiến.

Cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến toàn dân, là cuộc chiến tranh toàn nhân dân, nó phát huy cao độ sức mạnh của toàn dân tộc chiến đấu cho sự nghiệp chính nghĩa, vì thế ta nhất định thắng. Ở hai câu thơ này, tác giả sử dụng được nhiều hình ảnh giàu màu sắc tạo hình vừa chân thực, vừa bay bổng.

Đoàn dân công đi vào chiến dịch mà như thể đi trong đêm hội hoa đăng. Thật đẹp đẽ biết bao mà cũng tự hào biết bao về khí thế và niềm vui ra trận của quân ta. Thật sự Cách mạng là ngày hội của quần chúng (Mác).

Cái tôi nhân danh Việt Bắc – trung tâm của kháng chiến, đầu não của cách

mạng, trái tim của dân tộc với khí thế ra trận hào hùng sôi nổi; với niềm hãnh

diện, tự hào, tin tưởng vào chiến thắng… Từ những đêm Việt Bắc đó, một cảm

hứng lãng mạn bay bổng về tương lai tươi sáng của dân tộc chói lòa qua những

câu thơ:

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Đèn pha bật sáng như ngày mai lên

Hai câu thơ tạo ra tương quan đối lập giữa bóng tối và ánh sáng: nếu câu trên khắc họa bóng đêm đen tối thăm thẳm gợi kiếp sống nô lệ của cả dân tộc dưới ách độ hộ của kẻ thù thì câu dưới lại bừng lên ánh sáng của niềm tin vào ngày mai chiến thắng huy hoàng, tương lai tốt đẹp.

Thực ra trong đoạn thơ trên người ta đều nhận thấy sự đối lập này. Tố Hữu đã sử dụng cả một hệ thống từ chỉ ánh sáng như ánh sao, đỏ đuốc, lửa bay, bật sáng tương phản với một hệ thống chỉ bóng tối như đêm đêm, nghìn đêm, thăm thẳm – với xu thế ánh sáng lấn át bóng tối dường như tác giả có dụng ý nêu bật xu thế của dân tộc ta trước mọi kẻ thù  hắc ám, đồng thời khẳng định những ngày tươi sáng, hạnh phúc nhất định sẽ tới với dân tộc ta.

Qua không gian rộng lớn, thời gian đằng đẵng, khí thế hào hùng ở Việt Bắc có thể thấy rõ cuộc kháng chiến chống Pháp là trường kì, gian khổ nhưng dân tộc Việt Nam không nhụt chí, trái lại vẫn vững vàng, kiên cường, chung sức chung lòng đưa cuộc kháng chiến tới thắng lợi.

Và đây là một bản đồ vui tỏa rộng khắp đất nước báo tin chiến thắng:

Tin vui chiến thắng trăm miền

Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về

Vui từ Đồng Tháp, An Khê

Vui lên Việt

Bắc, đèo De, núi Hồng.

Nhịp điệu dồn dập tươi vui, náo nức phấn khởi. Mỗi địa danh là một nốt nhạc vui rộn ràng trong bản hùng ca chiến thắng. Các địa danh không chỉ có ở Tây Bắc mà còn trải dọc trăm miền từ Nam Bộ, Tây Nguyên, cho tới Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên.

Những từ như vui, vui về, vui từ, vui lên mặc nhiên đã đặt Việt Bắc vào tâm điểm của mọi niềm vui. Từ Việt Bắc niềm vui tỏa đi. Và từ khắp nơi, tin vui bay lại Việt Bắc. Từ đó Tố Hữu mở ra một viễn cảnh mơ ước với bức tranh mang tên Ngày mai…

Nét chủ đạo trong bức tranh ấy là Việt Bắc sẽ nối liền với miền xuôi và miền ngược – nơi núi rừng hoang vu, heo hút. Tố Hữu cũng mơ ước về một Việt Bắc có giao thông thuận tiện, điện tới mọi nhà, khoáng sản quý được khai thác, phố phường, trường học đua nhau mọc lên, chợ phiên đày ắp hàng hóa của mọi miền đất nước… Những gì là mơ ước của một thời sẽ hiển hiện rạng rỡ giữa cuộc đời.

Đoạn thơ gợi nhớ về những kỷ niệm kháng hiến hào hùng với nhịp điệu nhanh, chắc gợi không khí khẩn trương sôi sục, cũng như những chiến thắng càng ngày càng lớn, càng ngày càng mạnh. Không khí kháng chiến vui tươi sôi sục, ào ạt của những đoàn ô tô chạy liên tiếp, trùng trùng ra trận, tiếng quân đi rung chuyển đất rừng.

Đây là hình ảnh khái quát biểu tượng cho cuộc hành quân mang tính lịch sử của dân tộc những năm kháng chiến chống Pháp lại được nhìn bằng đôi mắt thi sĩ lãng mạn, cảm quan lạc quan hướng về tương lai của người chiến sĩ.

Liên hệ

Tố Hữu là một nhà thơ cách mạng, ông đã sớm giác ngộ lí tưởng cách mạng, chặng đường thơ ông song hành với gian đoạn của cuộc cách mạng. Con người trữ tình trong thơ ông tương ứng với cái đẹp của cuộc sống mới và phản ứng quyết liệt với những hành động xấu xa của quân thù.

Cái tôi cách mạng của Tố Hữu từ bài thơ Từ ấy đến Việt Bắc đã có sự chuyển biến. Cái tôi trữ tình của Thơ Tố Hữu trong tập Từ ấy‖ là cái tôi mang tính chất chính trị, mang tích chất thời đại.

Cái tôi trữ tình này được hình thành phát triển trong cuộc đấu tranh, trong mối tương với cuộc đời lớn cả dân tộc bởi cái tôi này không còn là cái tôi cô đơn bé nhỏ không có chỗ đứng trong cuộc sống dân tộc và thời đại, mà là cái tôi phong phú đa dạng, cái tôi gắn với mọi người với quá khứ hiện tại tương lai. Cái tôi đó lần đầu tiên đi vào cái ta chung của xã hội của cách mạng.

Từ ấy được xem như bản tuyên ngôn về sự giác ngộ cách mạng, thơ ca cách mạng được xem như một tuyên ngôn cho sự ra đời của một kiểu nhà thơ mới: nhà thơ- chiến sĩ. Trong tập Từ ấy là một cuộc đấu tranh cách mạng trong nhà tù cho nên cái cốt cách tâm trạng của người chiến sĩ cộng sản cái tâm tình của nhân vật trữ tình là sự biểu hiện của tâm hồn và khát vọng của một kiểu con nguời mới trong thời đại mới. Bài thơ Từ ấy là cái tôi tự nguyện gắn bó với quần chúng lao khổ, với cuộc đời rộng lớn, với đất nước, nhân dân…

Trong quan niệm về lẽ sống, giai cấp tư sản và tiểu tư sản có phần đề cao chủ nghĩa cá nhân (Ta là một, là riêng là thứ nhất Không có ai bè bạn nổi cùng ta). Nhưng từ khi được giác ngộ lý tưởng, Tố Hữu tử nhủ:

Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải với trăm nơi

Đại từ ―tôi‖ được điệp lại góp phần nhấn mạnh ý thức sâu sắc về mục đích  và phong  cách  sống  của nhà thơ. Tôi là cái tôi cá nhân; mọi người‖ là cái ta, cái chung mang tính cộng đồng, tính tập thể. Tác giả nói ―Tôi  buộc lòng  tôi với  mọi người‖, ta  có  thể hiểu  tôi ra lệnh  bắt buộc lòng tôi phải đến với mọi người, hòa nhập cùng mọi người.

Nhưng ta cũng có thể hiểu là tôi tự trói buộc , ràng buộc lòng tôi với mọi người. Dù hiểu theo cách nào thì động từ, kết hợp với cách nói quá, nhà thơ đã khẳng định ý thức tự nguyện sâu sắc và quyết tâm cao độ muốn hòa nhập cái tôi cá nhân với cái ta chung của mọi người.

Đó còn là cái tôi khát khao được cống hiến hết mình cho lí tưởng, thể hiện ý thức trách nhiệm của người chiến sĩ… Cái tình ở đây là tâm hồn của nhà thơ, là cái tôi cá nhân của nhà thơ.

Cái tôi ấy trang trải với muôn nơi. Nghĩa là cái tôi ấy không bó hẹp mà mở rộng ra cuộc đời với mọi người ở khắp muôn nơi. Nghệ thuật hoán dụ đã giúp Tố Hữu diễn tả sinh động sự đồng cảm sâu sắc của nhà thơ với từng hoàn cảnh của từng con người cụ thể.

Là cái tôi nhận thức sâu sắc về sức mạnh của khối đoàn kết… Và không chỉ là sự đồng cảm chung chung mà tác giả đặc biệt quan tâm đến bao hồn khổ những con người cần lao

Để hồn tôi với

bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối

đời

Khối đời mà nhà thơ nói đến phải chăng là hình ảnh ẩn dụ cho một khối

người đông đảo cùng chung cảnh ngộ, đoàn kết chặt chẽ để cùng phấn đấu cho môt

mục đích chung. Qua hình ảnh thơ này, nhà thơ đã nhận thức sâu sắc rằng khi cái

tôi chan hòa với cái ta, khi cá nhân hòa mình trong một tập thể cùng chung lý

tưởng thì sức mạnh đó sẽ được nhân gấp bội. Như vậy, Tố Hữu đã đặt mình giữa

dòng đời và trong môi trường rộng lớn của quần chúng lao khổ, để rồi ở đó .

Đến tập thơ Việt Bắc, nghệ thuật thơ Tố Hữu đã bước sang một giai đoạn mới hoà nhập vào bước đi của cuộc cách mạng, giai đoạn này thơ Tố Hữu được mở rộng cả về cảm hứng, lí tưởng, đối tượng miêu tả. Sự mở rộng không gian và thời gian tạo cho Việt Bắc một khuôn mặt nghệ thuật mới.

Tập thơ Việt Bắc đậm đà bản sắc dân tộc, có những câu thơ phản ánh sức mạnh của toàn dân tộc trong cuộc kháng chiến. Trong nghệ thuật miêu tả quan hệ xã hội mới Tố Hữu là người đầu tiên phát hiện  ra  tình  quân  dân  được  ví  như  tình  cá  nước đó là  một  nét  đẹp trong truyền thống của ta.

Có  thể  nói,  lí  tưởng  cách  mạng  từ Từ  ấy  đến Việt  Bắc đã  được nâng lên một bước. Cuộc kháng chiến càng lớn bao nhiêu thì lí tưởng càng đẹp đẽ, rạng rỡ bấy nhiêu.

Cho đến thời kì này, hầu như tất cả mọi người không chỉ được giác ngộ cách mạng mà đã biết đi theo con đường cách mạng. Từ em bé Lượm đến các anh vệ quốc, anh cán bộ…đều chung một lí tưởng và gặp nhau trên đường ra mặt trận.

Hình ảnh chú bé liên lạc Lượm ở đây không những mang trong mình một lí tưởng cách mạng mà hình ảnh em cũng là lí tưởng, cái lí tưởng ấy là tiêu biểu cho những em bé liên lạc của Việt Nam hồi kháng chiến chống Pháp, tiêu biểu của cái vui tươi, hồn nhiên và dũng cảm.

Qua đây ta thấy, lúc đầu lí tưởng cộng sản đến với Tố Hữu giống như một

luồng ánh sáng mãnh liệt và mới lạ. Trong tâm hồn sôi nổi của nhà thơ trẻ, nó

trở thành một năng lượng thẩm mỹ tự phát sóng, tự toả hương ra thế giới bên

ngoài.

Và đặc sắc chủ yếu trong thời kì Từ ấy không phải là những khám phá phong phú về đời sống hiện thực mà là sự biểu hiện một cách chân thực cái tôi hết sức trong sáng, hồn nhiên của một thanh niên khao khát lí tưởng, tự ca hát niềm vui lớn của mình khi bắt gặp lí tưởng cộng sản và chiến đấu hy sinh cho lí tưởng ấy. Nhưng cho đến Việt Bắc thì lí tưởng không phải là đối tượng miêu tả trực tiếp. Nó được vận dụng như là một quan điểm tiếp cận, đánh giá và khái quát hiện thực (Nguyễn Đăng Mạnh).

Có thể nói, lí tưởng thời kì này đã biến thành đời sống hàng ngày mà quần

chúng đã thực hiện, đã sống với lí tưởng đó một cách bình dị:

Cái  đẹp  của  lí  tưởng,  của  ước  mơ  đã  biến  thành  cái  đẹp  của  quần chúng kháng chiến, cái đẹp của con người và quần chúng thực (Trần Đình Sử).

Kết bài

Khuynh hướng sử thi đòi hỏi người cầm bút nhìn con người và cuộc đời

không chỉ bằng con mắt của cá nhân

mình mà chủ yếu là bằng con mắt có tầm bao quát của lịch sử, dân tộc và thời

đại. Cảm hứng lãng mạn chủ yếu được thể hiện trong việc khẳng định phương diện

lý tưởng của cuộc sống mới và vẻ đẹp

của con người mới, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tin tưởng vào tương

lai tươi sáng của dân tộc. Tất cả đã

hội tụ trong Việt Bắc góp phần xây dựng hình tượng đất nước, con người Việt Nam

vươn lên trong thử thách để có được ngày chiến thắng. Đó là kết quả của quá

trình trải nghiệm trong thực tế sống, chiến đấu và gắn bó với cách mạng của

người chiến sĩ.

Rate this post

Những Bài Thơ Hay Về Tuổi Học Trò Hồn Nhiên Và Đầy Cảm Xúc Khó Quên

Những Dòng Thơ Ước Vọng…

Ước Vọng Mùa Xuân Trong Thơ Nguyễn Bính

Xin Dâng Lời Của Năng Mang Lửa Ấm M…

Bài Thơ Thả Diều

🌟 Home
🌟 Top