Khái Niệm Truyện Cổ Tích Lớp 6 / Top 3 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Kovit.edu.vn

Khái Niệm Truyện Cổ Tích Thần Kỳ

Cổ tích là thể loại truyện dân gian được hầu hết các dân tộc trên thế giới sáng tạo, lưu truyền rộng rãi và có giá trị cao nhất cả về nội dung lẫn nghệ thuật. Cổ tích nói chung, nhất là cổ tích thần kỳ, không chỉ cuốn hút hàng triệu triệu người từ trẻ em đến người lớn, từ cổ chí kim, mà thế giới nghệ thuật phong phú, đa dạng của nó cũng được rất nhiều nhà folklore học thế giới quan tâm.

Trước sự phong phú, đa dạng của cổ tích, nhiều nhà folklore học Việt Nam thế kỷ trước cũng đã nêu ra nhiều cách phân chia truyện cổ tích thành các tiểu loại khác nhau, nhưng chưa có cách phân chia nào đạt được sự nhất trí cao. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là, dù kết quả không giống nhau nhưng trong bảng phân loại của mỗi nhà khoa học đều có mặt tiểu loại cổ tích thần kỳ.

Cho đến nay, dường như các nhà cổ tích học thế giới đều chấp nhận cách phân loại của các nhà bác học Xô viết, theo đó truyện cổ tích được chia làm ba tiểu loại: cổ tích loài vật, cổ tích thần kỳ và cổ tích thế sự/ sinh hoạt/ thế tục. Hệ thống phân loại này cũng đã được các nhà folklore học Việt Nam tiếp thu từ thế kỷ trước. Trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của Đại học Tổng hợp Hà Nội, do GS,TS. Lê Chí Quế chủ biên, ba tiểu loại cổ tích này cũng đã được đề cập tới(1). Và từ đó đến nay cách phân loại này cũng đã xuất hiện trong hàng ngàn công trình nghiên cứu lớn nhỏ ở Việt Nam (nhất là tiểu loại cổ tích thần kỳ). Tuy nhiên, điều đáng nói là, tiếp thu cách phân tiểu loại truyện cổ tích từ các nhà khoa học Xô viết, nhưng dường như chưa có công trình nào của người Việt Nam nêu đầy đủ, chính xác các khái niệm cổ tích loài vật, cổ tích thần kỳ và cổ tích thế sự theo định nghĩa của họ. Hậu quả là không ít người nghiên cứu cổ tích Việt Nam, trong đó có nhiều nghiên cứu sinh, đã hiểu khái niệm truyện cổ tích thần kỳ một cách đơn giản, theo đó, tất cả những truyện cổ tích có yếu tố thần kỳ đều là cổ tích thần kỳ.

Năm 1994, trong cuốn Truyện cổ tích thần kỳ người Việt – đặc điểm cấu tạo cốt truyện(2), Tiến sĩ Tăng Kim Ngân đã dựa trên mô hình Hình thái học của truyện cổ tích(3) của nhà bác học Xô viết nổi tiếng – chúng tôi Prop, để nghiên cứu đặc điểm hình thái của truyện cổ tích thần kỳ người Việt. Từ những khảo sát công phu, tỉ mỉ, Tăng Kim Ngân đã đi đến kết luận: về cơ bản, cấu trúc cốt truyện của truyện cổ tích thần kỳ người Việt cũng giống như cổ tích thần kỳ Nga, được tổ chức bằng các chức năng hành động của nhân vật. Tuy nhiên, ở cổ tích thần kỳ người Việt, tổng số các chức năng hành động của nhân vật là 32, trong khi ở cổ tích thần kỳ Nga chỉ có 31. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi Prop dường như đã được hầu hết các nhà folklore học thế giới thừa nhận, tiếp thu và xem đó là mô hình cấu trúc của cổ tích thần kỳ nhân loại. Bởi vậy, chức năng thứ 32 – sự biến hình, mà Tăng Kim Ngân “tìm ra” ở cổ tích thần kỳ người Việt, phải chăng là đặc điểm điển hình của cổ tích Việt Nam so với cổ tích Nga và thế giới?! Thực ra kết quả này xuất phát từ sự sai lầm của nhà nghiên cứu, bởi nếu vận dụng đúng hệ thống lý thuyết của V. Ia. Prop thì truyện cổ tích thần kỳ người Việt cũng chỉ có 31 chức năng hành động nhân vật mà thôi. Sự vênh thêm một chức năng mà Tăng Kim Ngân chỉ ra thực chất là do khi vận dụng lý thuyết hình thái học của V. Ia. Prop, chị đã không sử dụng đúng định nghĩa về cổ tích thần kỳ của ông cũng như các nhà bác học Xô viết. Tăng Kim Ngân đã tự nêu ra định nghĩa về cổ tích thần kỳ, theo đó tất cả các truyện cổ tích có yếu tố thần kỳ đều được xem là cổ tích thần kỳ và một loạt truyện cổ tích có sự biến hình ở cuối truyện như Sự tích đá vọng phu, Sự tích trầu cau và vôi, Sự tích ba ông đầu rau,… đều được xem là cổ tích thần kỳ và đưa vào đối tượng nghiên cứu, từ đó chị tìm ra chức năng thứ 32 – sự biến hình. Dù chưa thấy ai ghi nhận, “tự hào” nhắc lại đặc điểm này của cổ tích thần kỳ người Việt, nhưng việc âm thầm mặc nhiên xem tất cả những cổ tích có yếu tố thần kỳ là cổ tích thần kỳ như Tăng Kim Ngân lại khá phổ biến trong nghiên cứu cổ tích Việt Nam.

Đặc biệt, gần đây tác giả Triều Nguyên đã mạnh dạn đề xuất cách hiểu này qua bài viết Truyện cổ tích và việc phân định giữa hai tiểu loại cổ tích thần kỳ và cổ tích thế tục(4) đăng trên Tạp chí Nguồn sáng dân gian số 3 năm 2017. Theo Triều Nguyên: ” Đã là truyện cổ tích thần kỳ thì phải có yếu tố thần kỳ “. Điều này là mặc nhiên, nhưng liệu có phải tất cả truyện cổ tích có yếu tố thần kỳ là cổ tích thần kỳ không (?) lại là chuyện khác.

Dù không nêu định nghĩa cụ thể thì một số nhà folklore học Việt Nam thế kỷ trước cũng đã đề cập đến vai trò yếu tố thần kỳ trong cổ tích thần kỳ và cổ tích thế sự để phân biệt hai tiểu loại này. Trong Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, PGS. Hoàng Tiến Tựu đã viết: “… không thể căn cứ vào số lượng yếu tố thần kỳ để xác định đâu là cổ tích thần kỳ, đâu là cổ tích sinh hoạt. Điều quan trọng là vai trò và tác dụng của yếu tố thần kỳ, chứ không phải số lượng của chúng. Khi nào yếu tố thần kỳ có vai trò quan trọng, quyết định hoặc chi phối mạnh mẽ đối với sự phát triển và giải quyết xung đột, mâu thuẫn trong truyện, thì đó là cổ tích thần kỳ. Khi nào xung đột, mâu thuẫn trong truyện được phát sinh, phát triển và giải quyết chủ yếu bằng tác động của con người (tức bằng sự vận động của bản thân các nhân vật người), các yếu tố thần kỳ không có vai trò quyết định hoặc chỉ có tác động chi phối theo qui luật thông thường của đời sống thực tại trần gian, thì đó là cổ tích sinh hoạt“(5). Như vậy PGS. Hoàng Tiến Tựu cũng thừa nhận có một bộ phận cổ tích có yếu tố thần kỳ, nhưng ” các yếu tố thần kỳ không có vai trò quyết định…” nên đó là cổ tích sinh hoạt. Phê phán quan điểm này, Triều Nguyên cho rằng ý kiến của Hoàng Tiến Tựu là mơ hồ và ” Điều này làm nảy sinh việc xác định một số văn bản tác phẩm, là thuộc truyện cổ tích thần kỳ hay truyện cổ tích thế tục trở nên khó khăn“. Để củng cố cho kết luận đó, Triều Nguyên đã dẫn công trình Thi pháp truyện cổ tích thần kỳ người Việt của Nguyễn Xuân Đức, trường Đại học Sư phạm Vinh xuất bản 1996. Thật ra đây là tài liệu chuyên đề đào tạo cao học, lưu hành nội bộ ở Đại học Sư phạm Vinh. Năm 1996, trường Đại học Sư phạm Vinh chưa có nhà xuất bản; còn bản thân chúng tôi cũng chưa hề gửi xuất bản công trình ấy cho bất kỳ nhà xuất bản nào. Mặt khác, quan niệm của chúng tôi bấy giờ (1996) có thể cũng chưa chính xác, chưa cập nhật đầy đủ những tiến bộ của khoa học về vấn đề này.

Khảo sát kỹ toàn bộ những truyện cổ tích có yếu tố thần kỳ chúng ta sẽ thấy có hai nhóm truyện đã sử dụng yếu tố thần kỳ với vai trò khác nhau, trong đó, ở nhóm thứ nhất xung đột xã hội được giải quyết nhờ cái thần kỳ, dẫn đến sự thay đổi của cốt truyện theo mong ước của tác giả dân gian; còn ở nhóm thứ hai, yếu tố thần kỳ thực chất là bộ phận ngoại cốt truyện, không tham gia giải quyết xung đột xã hội, không tham gia làm thay đổi cốt truyện và thường chỉ giữ một chức năng ở cuối truyện – sự biến hình. Chỉ muốn đơn giản hóa việc phân chia tiểu loại, Triều Nguyên đã không chú ý tới sự khác nhau về vai trò của yếu tố thần kỳ trong hai nhóm cổ tích trên và đã nhập chung cả hai nhóm vào tiểu loại cổ tích thần kỳ. Từ kết quả có được, Triều Nguyên cảm thấy nhẹ nhõm: ” Khi đã cho”truyện cổ tích thần kỳ thì phải có yếu tố thần kỳ” và truyện cổ tích thế tục không có yếu tố thần kỳ, cũng không có môi trường thần kỳ”, thì việc phân định giữa truyện cổ tích thần kỳ và truyện cổ tích thế tục không có gì khó khăn nữa“(6). Trong hoạt động nghiên cứu, việc xác định khái niệm công cụ là hết sức quan trọng nhằm tiếp cận bản chất đối tượng, nhưng phải dựa trên những căn cứ khoa học, chứ không thể vì mục tiêu đơn giản hóa vấn đề, giảm khó khăn cho người nghiên cứu. Có vẻ như nhận rõ điều này, Triều Nguyên quay sang chủ trương phân biệt hai tiểu loại cổ tích thần kỳ và cổ tích thế sự bằng phương pháp sáng tác. Tác giả viết: ” Bấy giờ, có thể đặt vấn đề ở bình diện phương pháp sáng tác, rằng một bên cứ vào siêu nhiên, tạo ra điều con người muốn có, một đằng dựa vào hiện thực, kể lại điều con người hiện có. Nói khác đi, truyện cổ tích thần kỳ sử dụng phương pháp lãng mạn, qua các yếu tố thần kỳ, truyện cổ tích thế tục sử dụng phương pháp hiện thực, với logic thực tại (biểu hiện qua hoàn cảnh xã hội, tính cách nhân vật)“(7). Thế nhưng, ở đây Triều Nguyên đã không nhận ra rằng bộ phận truyện cổ tích có yếu tố thần kỳ ( sự biến hình) như: Sự tích chim hít cô, Sự tích chim năm trâu sáu cột, Sự tích chim đa đa hay là Truyện bố ghẻ ơi bát cát quả cà, v.v… đều dùng phương pháp sáng tác hiện thực. Loại truyện này không hề ” tạo ra điều con người muốn có“, số phận nhân vật chính ở đó được kể lại như ” hiện có” với kết thúc đau thương như cuộc đời thực của họ. Sự biến hình không phải là cuộc sống ước mơ của tác giả dân gian, mà là thủ pháp nghệ thuật nhằm tượng hình vào nhân gian dấu ấn về những nỗi niềm bi thương của người lao động. Trái lại, dù cách thức thể hiện khác nhau, dù mức độ có khác nhau nhưng tất cả cổ tích thần kỳ đều hướng tới ước mơ: người tốt được hưởng hạnh phúc, kẻ xấu bị trừng trị và điều đặc biệt là những ước mơ đó đều đạt được nhờ yếu tố thần kỳ và trong địa hạt cái thần kỳ. Các nhà khoa học gọi đó là lối kết thúc có hậu. Nói cách khác, sự biến hình như ở các truyện nêu trên không phải là kết thúc có hậu và những truyện cổ tích thuộc loại này không được sáng tác theo phương pháp lãng mạn.

Đến đây cũng phải nói thêm rằng: không phải mọi cổ tích thế sự đều không phản ánh ước mơ, không kết thúc có hậu. Một số truyện cổ tích nói về các nhân vật như chàng khỏe, chàng thiện xạ, anh tài, v.v… đều kết thúc có hậu, không nhờ yếu tố thần kỳ mà nhờ sức lực, trí tuệ,… con người. Những năng lực này không phải là yếu tố thần kỳ mà là hư cấu – phóng đại dựa trên cảm hứng lãng mạn – ước mơ.

Rõ ràng không thể dựa vào việc có hay không yếu tố thần kỳ, cũng như dựa vào phương pháp sáng tác hiện thực hay lãng mạn để phân biệt hai tiểu loại cổ tích thần kỳ và cổ tích thế sự như đề xuất của Triều Nguyên.

(1). Lê Chí Quế (Chủ biên), Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ (1999), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

(2). Tăng Kim Ngân (1994), Truyện cổ tích thần kỳ người Việt – Đặc điểm cấu tạo cốt truyện, Nxb KHXH.

(3). chúng tôi Prop (1928), Hình thái học của truyện cổ tích, Nxb Academia, Leningrad (Bản tiếng Nga).

(4). Triều Nguyên (2017), Truyện cổ tích và việc phân định giữa hai tiểu loại cổ tích thần kỳ và cổ tích.

(5). Triều Nguyên (2017), Truyện cổ tích và việc phân định giữa hai tiểu loại cổ tích thần kỳ và cổ tích thế tục, Tạp chí Nguồn sáng dân gian số 3, tr. 37 – 46. Quan niệm này lần đầu được tác giả thể hiện trong phần Dẫn luận cuốn Tìm hiểu về truyện cổ tích thế tục, Nxb. Thuận Hóa, 9/2017 (tr.39).

(6). Hoàng Tiến Tựu (1990), Văn học dân gian Việt Nam, tập 2, Nxb Giáo dục Hà Nội, tr.62-63. Dẫn theo Triều Nguyên trong bài viết nêu trên.

(7). Triều Nguyên, tài liệu đã dẫn, tr.44.

(8). Triều Nguyên, tlđd, tr .44,45.

(9). A.M.Nôvicôva, Sáng tác thơ ca dân gian Nga, tập I (1983), Đỗ Hồng Chung và Chu Xuân Diên dịch, Nxb. ĐHTHCN, tr.259.

Truyện Cười Là Gì? Định Nghĩa, Khái Niệm

Truyện cười là gì?

Truyện cười là những truyện kể về những hiện tượng đáng cười trong cuộc sống, làm cho chúng ta cười, có thể là cười mỉm hoặc cườigiòn giã, cũng có khi là nụ cười nhếch mép với thái độ căm phẫn hay khinh ghét.  

Về nội dung

Nhân vật trong truyện cười thực rất đa dạng phong phú tuy nhiêntheo như nghiên cứu của một số chuyên gia thì truyện cười xoay quanhcác nội dung như sau :

Truyện khôi hài( hài hước) là truyện có tiếng cười nhằm mục đíchmua vui là chủ yếu, không hoặc ít có tính chất phê phán đả kích. 

Truyện trào phúng( hay châm biếm) chứa đựng tiếng cười có nộidung phê phán, đả kích mạnh mẽ.

Truyện tiếu lâm(theo nghĩa hẹp) là những truyện cười dân gian mang yếu tố tục, có tác dụng gây cười mạnh mẽ.

 

Về nghệ thuật

Có nhiều phương pháp gây cười được sử dụng trong truyện cười dân gian Việt Nam như: – Lấy lời nói gây ra tiếng cười – Cử chỉ gây cười – Lấy hoàn cảnh gây cười – Ngoài ra còn một số phương pháp như phóng đại sự việc, dùng yếu tố bất ngờ, ẩn dụ, nhân hóa,… Người đăng: trang Time: 2020-07-20 13:34:35

Nhân vật trong truyện cười thực rất đa dạng phong phú tuy nhiêntheo như nghiên cứu của một số chuyên gia thì truyện cười xoay quanhcác nội dung như sau :Có nhiều phương pháp gây cười được sử dụng trong truyện cười dân gian Việt Nam như:- Lấy lời nói gây ra tiếng cười- Cử chỉ gây cười- Lấy hoàn cảnh gây cười- Ngoài ra còn một số phương pháp như phóng đại sự việc, dùng yếu tố bất ngờ, ẩn dụ, nhân hóa,…

Lập Dàn Ý Kể Lại Một Truyện Đã Biết (Truyền Thuyết, Cổ Tích) Lớp 6

Lập dàn ý Kể lại một truyện đã biết (truyền thuyết, cổ tích) lớp 6

Lập dàn ý Kể lại một truyện đã biết (truyền thuyết, cổ tích) bằng lời văn của em

Lập dàn ý Kể lại một truyện đã biết (truyền thuyết, cổ tích) bằng lời văn của em lớp 6 bao gồm các dàn ý chi tiết cho từng đề bài giúp các em học sinh củng cố kỹ năng cách làm bài kể chuyện cổ tích bằng lời văn, chuẩn bị cho bài viết văn lớp 6 số 1. Mời các em học sinh tham khảo chi tiết.

1. Truyền thuyết Thánh Giónglớp 6

I. Mở bài

“Thánh Gióng” là một truyện dân gian đáng yêu nhất (trong kho tàng văn học Việt Nam).

– Anh hùng Gióng tiêu biểu cho lòng yêu nước, quyết tâm thắng giặc ngoại xâm của nhân dân ta, đặc biệt của thỉếu niên Việt Nam.

II. Thân bài

1) Cậu bé làng Gióng ra đời

– Đời Hùng Vương thứ 6

– Cha mẹ cậu Gióng: chăm làm ăn, phúc đức, ao ước có con.

– Mẹ cậu Gióng ra đồng, đặt chân mình lên vết chân khổng lồ trên đường ướm thử, về nhà thụ thai mười hai tháng.

– Cậu bé làng Gióng ra đời: Mặt mũi khôi ngô, ba tuổi vẫn không biết đi, biết nói, biết cười.

2) Sự lớn lên kì diệu của cậu bé Gióng

– Giặc Ân, thế rất mạnh, đến xâm chiếm nước ta. Vua truyền sứ giả tìm người tài giỏi cứu nước.

– Cậu Gióng nói lời đầu tiên với mẹ: Mời sứ giả, lời thứ hai: tâu vua sắm ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt, mũ sắt.

– Cậu Gióng lớn nhanh như thổi (ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc xong đã căng đứt chỉ), cha mẹ Gióng nhờ bà con, làng xóm gom góp thóc gạo nuôi Gióng, ai cũng sẵn lòng.

3) Chàng trai làng Gióng xung trận

– Thế nước rất nguy, giặc đến chân núi Trâu, người người hoảng hốt, sứ giả đem ngựa, roi, áo giáp sắt đến cho Gióng.

– Cậu bé vươn vai biến thành tráng sĩ, mặc giáp sắt, cầm roi sắt, cưỡi ngựa sắt: vỗ vào mông ngựa, ngựa hí vang.

– Tráng sĩ phi ngựa tiến thẳng tới nơi có giặc; đánh đón đầu giặc; giết hết lớp này đến lớp khác; giặc chết như rạ. Roi sắt gẫy, tráng sĩ nhổ tre cạnh đường quật vào giặc; ngựa phun lửa. Giặc tan tác.

4) Tráng sĩ Gióng bay lên trời

– Đuổi giặc đến núi Ninh Sóc, tráng sĩ cởi bỏ giáp sắt, cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời.

– Nhớ ơn cứu nước, Vua phong là Phù Đổng Thiên Vương và lập đền thờ tại quê nhà.

5) Vết tích còn lại

– Làng Gióng và đền thờ Phù Đổng Thiên Vương. Hội Gióng vào tháng tư hàng năm.

– Những bụi tre đằng ngà, bị ngựa phun lửa cháy, ngả màu vàng óng, ở huyện Gia Bình.

– Những vết chân ngựa nay thành những hồ ao liên tiếp; lửa do ngựa phun ra thiêu cháy một làng nay gọi là làng Cháy.

III. Kết bài

Niềm ao ước được một lần về dự hội Gióng, về thăm quê hương Phù Đổng Thiên Vương, niềm tự hào củà nhân dân nước Việt, của thiếu niên Viêt Nam.

Tham khảo chi tiết các bài văn mẫu: Văn mẫu lớp 6: Kể lại truyện Thánh Gióng bằng lời văn của em

2. Truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh

I. Mở bài

Giới thiệu chung về sự việc và nhân vật. Thời vua Hùng Vương thứ mười tám có con gái tên là Mị Nương, vua truyền lệnh kén rể.

II. Thân bài

Kể lại diễn biến của sự việc, theo trình tự:

– Có hai chàng trai đến cầu hôn Mị Nương: một người ở vùng núi Tản Viên, tên gọi là Sơn Tinh. Một người ở vùng biển, tên gọi là Thủy Tinh. cả hai đều tài giỏi hơn người. Vua phân vân không biết chọn ai nên ra điều kiện: ai đem lễ vật đến trước thì người đó là chồng Mị Nương.

– Sơn Tinh đến trước lấy được Mị Nương.

– Thủy Tinh đến sau không lấy được Mị Nương nên nổi giận.

– Thủy Tinh và Sơn Tinh giao chiến với nhau.

III. Kết bài

– Hằng năm, Thủy Tinh làm mưa gió đánh Sơn Tinh. Đây là chi tiết mà người xưa muốn giải thích về hiện tượng lũ lụt thường xảy ra trong năm.

Tham khảo chi tiết các bài văn mẫu: Văn mẫu lớp 6: Kể lại câu chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh bằng lời văn của em

3. Truyện cổ tích Thạch Sanh lớp 6

A. Mở bài

– Giới thiệu truyện cổ tích “Thạch Sanh”.

B. Thân bài (diễn biến sự việc)

– Mở đầu

– Ngọc Hoàng sai Thái tử xuống đầu thai làm con.

– Thắt nút

– Lý thông gạ cùng Thạch Sanh kết nghĩa anh em để lợi dụng.

– Phát triển

– Thạch Sanh dùng búa chém chết chằn tinh. Lý Thông cướp công.

– Thạch Sanh dùng tên bắn bị thương đại bàng, cứu công chúa.

– Mở nút

– Khi nghe tiếng đàn văng ra từ trong ngục, công chúa bỗng cười nói vui vẻ. Vua tìm ra sự thật, kết tội Lý Thông.

– Kết thúc

– Nhà vua gả công chúa cho Thạch Sanh. Chư hầu đến cầu hôn không được, kéo sang đánh …

C. Kết bài.

– Ý nghĩa câu chuyện: “Ở hiền gặp lành” và “ác giả ác báo”.

4. Truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên

I. Mở bài

– Tập trung kể về nguồn gốc dân tộc và đất nước, về công cuộc dựng nước và giữ nước là truyền thuyết dân gian về thời các vua Hùng.

– Truyện “Con Rồng cháu Tiên” giới thiệu với mọi người nguồn gốc thật đẹp, thật đáng tự hào của dân tộc Việt Nam.

II. Thân bài

1) Sự xuất hiện của Thần Lạc Long Quân

– Thuở xưa đất Lạc Việt có nhiều yêu quái (Ngư Tinh, Mộc Tinh, Hồ Tinh…) quấy nhiễu, dân lành không yên ổn làm ăn.

– Thần Lạc Long Quân nòi Rồng, thường ở dưới Thủy cung, thinh thoảng lên giúp dân trừ yêu quái, dạy dân chăn nuôi, trồng trọt và cách àn ở.

2) Cuộc gặp gỡ Rồng Tiên

– Nàng Âu Cơ dòng họ Thần Nông, đẹp tuyệt trần, từ vùng núi cao phương Bắc nghe đất Lạc có nhiều hoa thơm cỏ lạ, đến thăm.

– Âu Cơ và Lạc Long Quân gặp nhau, đem lòng yêu nhau, kết nghĩa vợ chồng, chung sống ở cung điện Long Trang.

3) Bọc trứng kì diệu

Âu cơ có thai, sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra một trăm con trai hồng hào, khôi ngô, tự lớn lên như thổi.

4) Cuộc chia tay hùng vĩ

– Lạc Long Quân ở dưới nước, Âu Cơ ở trên cạn nên không thể sống với nhau mãi, đành phải chia tay với lời hẹn: “Khi có việc phải giúp đỡ lẫn nhau”.

– Lạc Long Quân mang 50 người con xuống biển, Âu Cơ mang 50 người con lên núi, các con chia nhau cai quản các phương.

5) Vị vua Hùng đầu tiên của nước Văn Lang

– Người con cả làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đóng đô ở Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang. Từ đấy, lệ truyền ngôi: Con trưởng thay cha, danh hiệu Hùng Vương không thay đổi.

– Triều đình có tướng văn, tướng võ. Con trai vua là quan lang con gái là mẹ nàng.

III. Kết luận

Người Việt Nam luôn tự hào là con Rồng cháu Tiên.

5. Truyện cổ tích “Cây tre trăm đốt”

1. Mở bài

– Giới thiệu câu chuyện

2. Thân bài

– Mở đầu

+ Giới thiệu anh trai cày hiền lành và lão nhà giàu tham lam, lừa lọc.

– Thắt nút:

+ Lão lừa dối “sẽ gả con gái” cho anh.

– Phát triển

+ Anh quần quật làm giàu cho lão suốt ba năm.

+ Lão nhà giàu gả con gái với diều kiện anh phải đi tìm được cây tre trăm đốt

+ Anh trai cày không tìm được nhưng nhờ có Bụt ra tay giúp đỡ, anh đã thành công và mừng rỡ gánh về.

– Mở nút: Khi thấy hai họ ăn uống linh đình và sửa soạn đón dâu, anh mới hiểu âm mưu thâm độc của lão nhà giàu và anh ra tay trừng phạt.

– Kết thúc: Lão nhà giàu phải gả con gái cho anh trai cày. Hai vợ chồng sống với nhau hạnh phúc.

3. Kết bài

– Nêu cảm nghĩ

– Rút ra bài học

Theo chúng tôi

Chủ Đề: Truyện Dân Gian Lớp 6

BÀI TẬP THỰC HÀNH LÊ HỒNG PHONG Chủ đề: Truyện dân gian lớp 6 – THCS I. Xác định chuẩn Kiến thức – Kĩ năng – Thái độ – Năng lực

– Hiểu được đặc trưng của các thể loại truyện dân gian (truyện truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười) qua các tác phẩm cụ thể.

– Nắm vững giá trị nội dung, nghệ thuật, ý nghĩa của các văn bản truyện dân gian (Việt Nam và nước ngoài)

– Biết cách đọc hiểu các thể loại truyện dân gian theo đặc trưng của từng thể loại.

– Vận dụng kiến thức tổng hợp viết đoạn/bài văn tự sự.

– Bồi dưỡng niềm tự hào đối với nguồn gốc giống nòi, với truyền thống lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc;

– Biết cảm thông với số phận những con người bất hạnh; biết tin vào đạo đức, công lí, lí tưởng nhân đạo, những khả năng kì diệu, siêu việt của con người; sống yêu đời, lạc quan.

– NL trình bày suy nghĩ, cảm nhận của bản thân về ý nghĩa văn bản

– NL thưởng thức văn học và cảm thụ thẩm mỹ.

II. Bảng mô tả các mức độ đánh giá theo định hướng phát triển năng lực

– Thể loại văn bản

– Nhận biết các thông tin về tác phẩm, thể loại, phương thức biểu đạt

– Hiểu đặc điểm thể loại truyện

– Vận dụng hiểu biết về tác phẩm, thể loại để lý giải giá trị nội dung, nghệ thuật của từng tác phẩm

– Trình bày những kiến giải riêng, phát hiện sáng tạo về văn bản

– Lý giải sự phát triển của các tình tiết, sự kiện, tình huống

So sánh giữa các tình tiết, sự kiện, tình huống trong cùng một tác phẩm hoặc giữa các tác phẩm cùng thể loại để chỉ ra điểm giống và khác nhau

– Biết tự đọc và khám phá các giá trị của một văn bản mới cùng thể loại

– Ý nghĩa, nội dung

– Nhận diện hệ thống nhân vật ( nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật chính nghĩa, nhân vật phi nghĩa)

– Chỉ ra được nguồn gốc ra đời, đặc điểm tính cách, số phận của nhân vật, ý nghĩa

– Từ cuộc đời tính cách, số phận của nhân vật khái quát giá trị nội dung của tác phẩm, ý nghĩa tư tưởng mà tác giả gửi đến bạn đọc

– Vận dụng tri thức đọc hiểu văn bản để kiến tạo những giá trị sống của cá nhân (những bài học rút ra và được vận dụng vào cuộc sống)

– Giá trị nghệ thuật (chi tiết, hình ảnh, biện pháp,…)

– Chỉ ra các chi tiết, hình ảnh nghệ thuật đặc sắc của mỗi truyện và các đặc điểm nghệ thuật của thể loại truyện.

– Lý giải ý nghĩa, tác dụng của các chi tiết, hình ảnh nghệ thuật trong tác phẩm

– Khái quát về giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm, chỉ ra điểm khác biệt giữa các chi tiết trong cùng tác phẩm hoặc cùng thể loại

– Đọc diễn cảm tác phẩm

– Kể chuyện theo ngôi kể

– Thuyết trình về tác phẩm

– Kể sáng tạo

– Chuyển thể văn bản (thơ, kịch, vẽ tranh…)

Câu hỏi định tính,định lượng

– Trắc nghiệm khách quan (về tác giả, tác phẩm, đặc điểm thể loại, chi tiết nghệ thuật…)

– Câu tự luận trả lời ngắn (lí giải, phát hiện, nhận xét đánh giá …)

– Bài luận (kể chuyện sáng tạo, trình bày cảm nhận, kiến giải riêng của cá nhân …)

– Hồ sơ (tập hợp các sản phẩm thực hành)

– Bài trình bày miệng (thuyết trình, đọc diễn cảm, kể chuyện …)

III. Câu hỏi và bài tập minh họa Văn bản: Các truyện truyền thuyết

– Truyền thuyết là gì ?

-Phương thức biểu đạt của truyện ?

– Nhân vật chính trong truyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh là ai ?

– Chi tiết nào không thể hiện tính chất hoang đường, kì ảo về

nhân vật Thánh Gióng ?

– Vua Hùng chọn người nối ngôi trong hoàn cảnh nào ?

– Ý nghĩa nổi bật nhất của hình tượng “cái bọc trăm trứng” là gì ?

– Sự ra đời của Thánh Gióng có gì kì lạ ?

– Vì sao Sự tích Hồ Gươm được coi là truyền thuyết ?

– Người xưa dùng trí tưởng tượng của mình để sáng tạo ra hình tượng Sơn Tinh, Thuỷ Tinh nhằm mục đích gì ?

– Truyện Thánh Gióng phản ánh sự kiện gì của lịch sử dân tộc ta ngày xưa ?

– Tại sao tác giả dân gian lại để cho Thánh Gióng bay về trời sau khi thắng giặc Ân ?

– Hai thứ bánh của Lang Liêu có ý nghĩa gì ?

– Những yếu tố cơ bản tạo ra tính chất truyền thuyết ở truyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh là gì?

– Trong truyền thuyết Sơn Tinh, Thuỷ Tinh, người Việt cổ đã nhận thức và giải thích quy luật thiên nhiên như thế nào ?

– Trong các chi tiết sau của truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh, chi tiết nào mang dấu ấn lịch sử ?

– Truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm có mối quan hệ với di tích lịch sử nào của nước ta ?

– Hãy nêu một số hiểu biết của em về Hội Gióng

– Kể lại truyền thuyết Sơn Tinh, Thuỷ Tinh bằng lời của vua Hùng.

– Kể lại truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm bằng lời của Long Quân.

– Sau khi học xong truyền thuyết Thánh Gióng, em có cảm nghĩ gì về nhân vật người anh hùng Thánh Gióng và ý nghĩa của câu chuyện.

– So sánh cách kết thúc truyện Thánh Gióng và kết thúc kịch bản phim Ông Gióng của Tô Hoài (Gióng cùng ngựa sắt thu nhỏ dần thành em bé cưỡi trâu trở về trên đường làng mát rượi bóng tre)

– Em nằm mơ thấy mẹ Gióng kể chuyện về con trai mình. Hãy kể lại giấc mơ ấy.

Khoanh tròn chữ cái trước câu trả lời mà em cho là đúng (các câu 1, 2, 3) Câu 1: Nhân vật chính trong truyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh là ai ?

A. Vua Hùng Vương thứ mười tám.

B. Vua Hùng Vương thứ mười tám và con gái.

C. Sơn Tinh, Thuỷ Tinh.

Câu 2: Phương thức biểu đạt chính của truyện Thánh Gióng là gì ? Câu 3: Chi tiết nào sau đây không thể hiện tính chất hoang đường, kì ảo về

D. Sơn Tinh, Thuỷ Tinh và vua Hùng.

A. Tự sự B. Miêu tả C. Biểu cảm D. Nghị luận

A. Bà lão ướm vào vết chân to về thụ thai, 12 tháng sau mới sinh. Ba năm sau, cậu Gióng vẫn không nói không cười, đặt đâu nằm đấy.

Câu 4: Điền vào chỗ trống các từ ngữ thích hợp để hoàn thành khái niệm sau:

B. Nghe sứ giả rao bỗng cất tiếng nói, đòi vua rèn ngựa sắt, áo giáp sắt, roi sắt để đi đánh giặc. Cậu Gióng lớn nhanh như thổi, ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc xong đứt chỉ.

Câu 5……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………. : Hình ảnh bánh chưng, bánh giầy do Lang Liêu sáng tạo ra có ý nghĩa như thế nào? Ý nghĩa của phong tục ngày Tết làm bánh chưng bánh giầy ? ……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………..

C. Gióng vươn vai thành tráng sĩ, lên ngựa, ngựa phun lửa lao đến chỗ giặc. Thắng giặc, Gióng để lại áo giáp sát, cả người và ngựa bay lên trời.

V. Hướng dẫn chấm I. Đọc – hiểu:

D. Đền thờ Thánh Gióng ở làng Phù Đổng, hằng năm mở hội vào tháng tư.

“Truyền thuyết là loại truyện dân gian kể về các nhân vật và sự kiện có ………………………………, thường có yếu tố tưởng tượng kì ảo. Truyền thuyết thể hiện thái độ và cách đánh giá của nhân dân đối với các sự kiện và nhân vật lịch sử được kể.”

Câu 6: Người xưa dùng trí tưởng tượng của mình để sáng tạo ra hình tượng Sơn Tinh, Thuỷ Tinh nhằm mục đích gì ?

Hãy đóng vai Long Quân để kể sáng tạo truyện Sự tích Hồ Gươm.

Câu 1: (0.5 điểm)

– Mức đầy đủ: đáp án C

– Mức không tính điểm: câu trả lời khác hoặc không trả lời

Câu 2: (0.5 điểm)

– Mức đầy đủ: đáp án A

– Mức không tính điểm: câu trả lời khác hoặc không trả lời

Câu 3: (0.5 điểm)

– Mức đầy đủ: đáp án D

– Mức không tính điểm: câu trả lời khác hoặc không trả lời

Câu 4: (0.5 điểm)

– Mức đầy đủ: học sinh điền được

– Mức không đầy đủ: chỉ điền được một từ (lịch sử hoặc thời quá khứ) (0.25 đ)

– Mức không tính điểm: câu trả lời khác hoặc không trả lời

Câu 5: (1.0 điểm)

– Mức đầy đủ: Học sinh trả lời được hai trong các ý sau (0.5 x 2):

+ Đề cao nghề nông và giá trị của hạt gạo

+ Quan niệm về Trời Đất, muôn loài

+ Ngụ ý đùm bọc nhau.

– Mức không đầy đủ: trả lời một ý.

– Mức không tính điểm: câu trả lời khác hoặc không trả lời

II. Tạo lập văn bản 1. Mức đầy đủ: Về phương diện nội dung: (3.5 điểm)

Câu 6: (1.0 điểm)

– Mức đầy đủ: Học sinh nêu được mục đích: Phản ánh, giải thích hiện tượng lũ lụt sông Hồng và thể hiện ước mơ chiến thắng thiên nhiên của nhân dân ta.

– Mức không đầy đủ: trả lời chỉ được một ý

– Mức không tính điểm: câu trả lời khác hoặc không trả lời

– Đảm bảo được hệ thống các sự kiện của cốt truyện và nhân vật

Các sự kiện, chi tiết phải có: (đang tranh luận)

+ Long Quân cho mượn gươm

+ Lê Thận nhặt được lưỡi gươm

Về phương diện hình thức: (2.5 điểm)

+ Lê Lợi nhặt được chuôi gươm

….

– Biết đóng vai nhân vật Long Quân để kể lại sự kiện

– Biết sáng tạo, gia tăng thêm các yếu tố biểu cảm, miêu tả trong bài viết

– Bài viết không sai lỗi chính tả

– Văn phong mạch lạc, trong sáng

– Từ ngữ giàu hình ảnh, có tính biểu cảm.

2. Mức chưa đầy đủ: Chưa đảm bảo nội dung và hình thức như trên.

3. Mức không tính điểm: Không làm bài hoặc làm lạc đề.

Trần Văn Huy @ 19:24 21/10/2015 Số lượt xem: 14572