Kể Truyện Cổ Tích Hay / 2023 / Top 13 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 11/2022 # Top View | Kovit.edu.vn

Truyện Truyện Cổ Tích Chưa Được Kể / 2023

Sau khi nhấp miếng trà, cụ chậm rãi đặt chiếc ly sành nhỏ xuống mặt bàn đen bóng màu gỗ gụ, bắt đầu câu chuyện:

– Ngày xửa ngày xưa…

Cụ mới bắt đầu có thế, lũ trẻ đã thiu thiu ngủ. Cụ dừng lại không kể nữa. Duy nhất còn đứa bé tò mò xin cụ đừng vì lũ trẻ kia mà bỏ dở. Hai ông cháu bên buổi chiều tháng tư, rù rì tâm sự với nhau. Rồi cụ chết đi, câu truyện truyền lại cho đứa trẻ duy nhất ấy. Cũng may, vì thế mà hôm nay còn dấu tích câu truyện này.

Ðứa bé đó rồi cũng đến ngày thành cụ già. Ngày nọ, cụ già thứ hai này cũng lập lại y chuyện xẩy ra hơn ba phần tư thế kỷ về trước. Ðặt ly trà xuống chiếc khay, cụ bắt đầu:

– Ngày xửa ngày xưa…

Mới bắt đầu có thế, cụ nghĩ đến ngày còn bé như mấy đứa trẻ đây, lũ trẻ ngày xưa đã ngủ hết nên không đứa nào biết được câu truyện u uẩn kỳ thú này, chỉ riêng chú bé là chính cụ được biết thôi, cảm động, cụ rưng rưng nước mắt. Lũ trẻ thấy cụ khóc, chẳng đứa nào hiểu gì, chúng cùng nhau cười rồi kéo nhau chạy. Còn lại một đứa tật nguyền thấy cụ khóc, nó thương cụ ở lại kiên nhẫn nghe. Dĩ nhiên cụ già rồi cũng chết đi. May mắn nhờ đứa ốm yếu ấy mà câu truyện không bị tuyệt tích. Ðứa bé thấy câu truyện ly kỳ, nó ngày ngày ôn lại để nhớ. Sinh ra đời tật nguyền, trí kém, nó phải phấn đấu lắm mới nhớ được câu truyện. Ngày nào cũng phải tự kể cho mình nghe kẻo sợ quên mất. Rồi một ngày kia cũng già theo thời gian. Ðến lúc biết mình gần đất xa trời, cậu nhỏ tàn tật ngày xưa ấy, bây giờ là cụ già chống gậy đỡ từng ngày. Trước khi chết không bao lâu, cụ già thứ ba này gọi đám trẻ lại, kể cho chúng nghe câu truyện năm xưa.

– Ngày xửa ngày xưa…

Cụ mới bắt đầu tới đấy thì đã có đứa bỏ đi. Lũ trẻ này lạ lắm, chúng không thể hiểu mấy tiếng “ngày xửa ngày xưa” là gì, đối với bọn trẻ này, chúng tưởng cụ nói ngôn ngữ của người chết. Mỗi đứa xách theo đôi giầy có bánh xe, gắn vào chân, chúng chạy vù vù như gió làm cụ chóng mặt. Câu truyện hay quá. Cụ tiếc vì có khi câu truyện tuyệt tích mất. Chỉ còn lại có đứa cháu ngoại bị bố bỏ, thấy cụ tật nguyền là hay ở bên cạnh mà săn sóc cho cụ. Qua đứa này, cụ kể hết từng chi tiết cho nó nghe.

Rồi Cụ chết đi. Có đứa cháu ngoại là người biết gốc gác câu truyện thôi. Ðến khi đứa cháu ấy về già thì tính sơ qua mà đã ngót ngót hai trăm năm chứ đâu ít ỏi gì. Thời gian đi mau thế đấy. Thấm thoát mới có mấy chữ “ngày xửa ngày xưa” mà đã hai thế kỷ đi qua.

° ° °

Truyện kể rằng ngày xửa ngày xưa có mấy cha con lái buôn từ phương Bắc xuống phương Nam làm ăn. Họ sống bằng nghề làm xiệc. Mỗi cha con quẩy một đôi gánh tòong teng. Búa, liềm, khóa tay, xích sắt đủ thứ để diễn trò. Có mấy con chó, cặp khỉ, hai con gà trống cho đá nhau, cặp rồng và mấy cặp rắn. Phương Nam hiền hòa, dân chúng đa số nghề nông, ở thành từng làng. Mấy cha con cứ tuần tự đi hết làng này đến làng khác. Mỗi nơi dăm ba bữa, diễn xong trò thì kéo nhau đi. Chẳng có trò gì ra trò, nhưng dân quê phương Nam thấy thế là lạ mắt lắm rồi. Chỗ nào đông đúc làm ăn được, cha con họ dừng chân lâu hơn. Họ cũng chỉ ở lâu vừa đủ, nghề nghiệp mà, không bao giờ tham lam ở chỗ nào lâu quá, cho dù có làm ăn được, họ sợ ở lâu dân chúng sẽ học mất nghề. Chịu khó chông gai, rày đây mai đó, dân chúng chỗ nào cũng là khách mới, nên đến đâu cũng có người vỗ tay.

Vùng quê mà. Xích sắt, để cho người xem khóa tay hẳn hoi rồi lão chỉ trùm tấm khăn đỏ lên, múa một vòng là người xem có thể hoa mắt, lão gỡ xích ra lúc nào không hay. Búa liềm sáng choang, khách xem thử chém thì cây chuối lớn như đầu người cũng đứt ngọt, thế mà lão chém bùm bụp vào mấy đứa con không đứa nào bị sao cả. Dân quê cứ lè lưỡi ra kinh ngạc. Nhiều người tin rằng cha con họ có bùa ngải. Lão ta biết tâm lý đám nhà quê lắm. Thỉnh thoảng lim dim nói dăm ba câu thần chú, nói mà làm như cố ý không cho người khác biết. Lão làm ra có vẻ che che, đậy đậy. Ấy thế mới ăn tiền. Dân chúng càng tin cha con lão có phép mầu. Chuyện ma quỷ bùa ngải lúc bấy giờ đắt khách lắm. Chả mấy người không tin có những chuyện hoang tưởng ấy. Mấy cha con Bắc phương biết rõ yếu tố dân phương Nam, cứ đấy mà móc túi tiền. Cũng có những tay thông minh, lăm le muốn cắp nghề. Nhưng đó chỉ là chuyện hão, lão luyện, giang hồ tứ phương thì sao mà qua mặt lão già được.

Ở vùng kia có hai làng xích mích nhau, một bên họ Lê, một bên họ Trần rồi thù hận mãi về sau. Một bên trồng bắp, một bên trồng lúa. Lão lái buôn mớm tí mồi, bày mưu cho bên trồng lúa thuê người từ xa đến mua hết râu bắp ngô của làng bên. Giá bao nhiêu cũng mua, dân chúng đua nhau vặt hết râu bắp đem bán. Ai ngờ khi cái bắp không còn râu che chở, nó không lớn lên được. Ðến ngày mùa, một ruộng bắp lèo tèo được vài cái. Mất mùa, dân chúng làng trồng bắp đói khốn khổ, phải làm công vay nợ cho dân làng trồng lúa. Dân bên trồng lúa khoái lắm vì thấy mình thông minh vượt bực. Bây giờ giàu có, làm chủ, có kẻ hầu người hạ. Mối hận ấy sâu lắm. Bên trồng bắp phải tìm cách mà rửa nhục.

Lão lái buôn lại bày trò khác, cha con lão xui bên trồng ngô gởi người phương xa đến mua móng chân trâu. Lợi quá, có mấy cái móng mà bán được bao nhiêu con bạc. Dân làng trồng lúa cậy hết móng chân trâu mà bán. Ðến mùa rét, trâu không cày được, lăn ra mà chết. Cứ thế, người cày thay trâu. Dân bên trồng bắp cười đến nôn ruột vì đã trả thù được. Bên nào cũng tự nhận là thông minh cực kỳ nên cả hai đều khốn khổ, đói rách lầm than.

Lão lái buôn cứ quẩy đôi gánh toòng teng giả ngu giả điếc, bị dân phương Nam gọi là lão già dốt nát. Về sau, mãi mãi về sau, con cái dân phương Nam bao giờ cũng nhận mình thông minh hơn người. Dân nào chê họ dốt là chết ngay. Thích khen lắm. Lão lái buôn xúi giục, bày mưu cho mấy tay trưởng làng thôi, rồi giấu mặt. Dân cứ tin rằng thông minh kia, mưu chước nọ là của làng mình chứ ai hay là do chính lão lái buôn kia bày trò. Con cái họ cũng cứ tin là họ thông minh. Vì thông minh nên họ không bao giờ tự đặt vấn đề. Thông minh, thế tại sao họ không giàu có? Thông minh, thế tại sao lại cứ triền miên nghèo đói hết đời cha đến đời con? Họ không cần biết, hễ mà được khen là thông minh thì hài lòng rồi. Về sau, ai muốn gì của con dân phương Nam thì cứ bảo là họ thông minh nhất, thế nào cũng được việc. Chuyện gì cũng có nguồn gốc cả đấy.

Cặp rồng và rắn của tay lái buôn cứ như yêu tinh. Chúng làm đủ trò. Tinh khôn quỷ ma. Lúc ấy dân phương Nam nhà nào cũng nuôi rồng, không có rắn. Hồi đó người phương Nam chỉ nói “rồng tiên” chứ không nói “rồng rắn” như bây giờ. Tại sao bây giờ lại nói là “rồng rắn”? Câu chuyện khá dài dòng. Cái gì cũng phải có nguyên nhân của nó. Hồi đó làng nào cũng có từng bầy rồng. Mùa hội, rồng bay khắp trời Nam, cứ như lụa đào trong gió xuân. Dân Nam nuôi rồng để múa hội. Các ngày hội làng là chiêng, trống, cồng âm vang lưng trời. Trai gái làng này đối tài mưu lược làng kia. Vui lắm chứ không như bây giờ. Hội hè liên miên. Dân phương Nam thích đàn ca múa hát. Mỗi kỳ hội là dăm ba ngày, có khi cả tháng. Ðời sống thong thả, thư thái, an hòa. Vì thế nhà ai, làng nào cũng có rồng. Hồi ấy không có vẽ rồng, khắc rồng như bây giờ. Nhất là không ai làm rồng giả bằng giấy. Vì có nhiều rồng thật. Ðêm rằm là trai thanh, gái lịch cưỡi rồng vờn trăng cứ như tiên bay lượn. Ðẹp lắm. Vui lắm. Thanh bình bốn bể.

Tay lái buôn từ phương Bắc đem theo cặp rắn và rồng để làm xiệc. Về sau này, bao nhiêu đời nghiên cứu mà cũng không rõ là con rồng của tay lái buôn kia có là rồng thật hay chỉ là con rắn già. Những nhà chuyên môn tìm hiểu không đồng ý với nhau. Rồng tại sao nó trườn như rắn? Rồng phương Nam chỉ bay và nhào lộn. Muốn đi là bay mà tới. Nhưng con rồng của lão lái buôn cứ trườn dưới đất không ngại sâu bọ, đất dơ. Nó làm nhiều trò rất thông minh, kỳ tài, dân chúng xem biểu diễn mà mát mắt, không ai mà không say mê con rồng của tay lái buôn. Chỉ có điều nó không thanh tao thôi. Phe nghiên cứu dốt thì kết luận đơn giản rằng đấy chỉ là con rắn già, không phải rồng, kết luận vậy là dễ nhất! Phe muốn tỏ ra mình là nhà nghiên cứu trí thức thì nói đấy là rồng thật, nhưng sống chung với rắn, được huấn luyện để làm trò với rắn nên nó pha máu rắn. Chả biết bên nào đúng, nhưng câu chuyện là thế.

Như truyện đã kể, rồng phương Nam chỉ nuôi để chơi vui trong ngày hội. Từ khi lão lái buôn phương Bắc tới, đem theo con rồng kia, nhiều dân làng quê thấy hay quá, thuê lão lái buôn dạy cho con rồng của làng mình cũng biết trườn, biết làm trò. Chẳng mấy chốc, những con rồng phương Nam cũng học nhiều trò mới như con rồng của lão lái buôn. Từ làm trò đến học cách đấu nhau. Từ những ngày ấy, mỗi ngày hội là đem rồng ra đấu, dân chúng đứng chung quanh vỗ tay gào thét cổ võ. Ngày xưa, có hội là cưỡi rồng ca múa. Nghệ thuật múa rồng đòi nhiều tài năng, muốn ca múa phải tập luyện, mỗi kỳ hội làng là một bức tranh văn hóa không dễ vẽ đâu. Nói rằng dân phương Nam quanh năm ăn chơi, không có nghĩa là biếng nhác làm việc. Ăn chơi với vũ điệu, với văn chương thi ca, hát hò quan họ là cả một công trình đấy. Cho nên phải nói đời sống của họ là một vũ điệu mới đúng. Chẳng hạn như bay với rồng mà thả con diều. Diều phải lên cao, mà diều phải đón gió cho tiếng sáo xuống trần. Cả là một nghệ thuật tinh vi. Từ khi lão lái buôn dạy cho đá rồng thì dân chúng thích trò chơi mới này, không phải tập tành gì, chỉ việc đứng chung quanh sân đình mà xem rồng đá nhau thôi. Vỗ tay quá trời. Rồng đá tóe máu, có con chết đứt đầu. Càng vỗ tay.

Lão huấn luyện cho rồng biết vờn rắn. Hai con thi tài lừa nhau xem con nào gian xảo hơn. Con nào lừa được con kia là thắng cuộc. Các ngày hội sôi động hơn xưa, khác xưa nhờ những cuộc đấu rồng. Rồng lối xóm đấu với nhau, đấu vui rồi đấu ăn thua quyết liệt. Qua làng đó, làng bênh cạnh cũng vui lây, lão lái buôn lại phải đi huấn luyện những con rồng khác. Hắn đi khắp nơi để huấn luyện. Cuộc chơi càng ngày càng tàn bạo. Bây giờ đá rồng đã lan khắp cả. Ðể vui hơn, ngày hội họ thi đá rồng làng này với làng kia. Rồng họ này đấu với rồng họ kia. Rồng Nam đấu với rồng Bắc. Muốn thắng thì phải có rồng hay, thế là họ tranh nhau mời cha con lão lái buôn huấn luyện. Bây giờ, mấy cha con lão không phải làm xiệc kiếm sống nữa. Không bao giờ cha con lão dạy hết nghề. Làng nào trả nhiều vàng bạc thì lão tới. Một thời gian ngắn, cha con lão gánh không biết bao nhiêu vàng về quê cũ.

Vàng bạc nhiều, lòng tham nổi lên, cha con lão cãi nhau, đánh nhau rồi giải tán gánh xiệc. Mỗi người một giang sơn, tranh nhau gây thanh thế. Vàng bạc mà. Thế là bao nhiêu miếng võ độc ác đưa nhau truyền cho rồng phương Nam. Bây giờ rồng phương Nam mới có cơ hội học nghề thực thụ. Lão già trấn thủ một giang sơn. Mỗi đứa con một vùng. Người nào cũng đem hết mưu mô để thanh thế mình là bậc thầy. Ðến kỳ hội năm, làng nào cũng hồi hộp không biết rồng nào thắng trong cuộc tranh tài. Cứ như thế mấy mươi năm cho đến khi cha con lão lái buôn rủ nhau về quê cũ, phương Bắc.

° ° °

Kể đến đây, cụ già chảy nước mắt. Hai đứa cháu ngồi nghe im lặng thương cụ quá. Cụ nghẹn ngào không kể tiếp được, cụ nấc lên rồi gục đầu tắt thở.

Hai đứa cháu mơ hồ hiểu chuyện vì sao suốt đời cụ cứ băn khoăn khổ sở. Về sau hai đứa cháu ghi lại câu chuyện rồi lần mò đi tìm tiếp những đoạn cuối để chắp nối lại. Sau này, sống ở Phương Tây mà chúng là những nhà nghiên cứu lỗi lạc nhất về Phương Ðông. Mỗi đứa đem theo một dòng họ, chia làm hai, một tìm về hướng Bắc, một xuôi hướng Nam. Với những phương pháp khoa học cực kỳ tinh vi, hai đứa cháu của cụ già kia đào lên những tháng ngày của mấy trăm năm về trước. Vệ tinh trên trời tìm chụp lại các bóng hình quá khứ. Các làn sóng vi âm chạy trong lòng đất. Rồi một ngày kia, thời gian cũng lại đến, tất cả đều già. Bên tách trà nhỏ, hai nhà nghiên cứu ấy thành hai cụ già, họ chậm rãi kể truyện cho các cháu của họ nghe:

Ngày xửa ngày xưa… Chắc có một cuộc đánh nhau ghê gớm lắm. Các cháu có biết không, cụ tìm được nhiều dấu vết, cụ kể các cháu nghe. Câu chuyện tính cho đến nay chắc là ba, bốn trăm năm rồi. Sông ngòi thay đổi, nước lũ trên rừng soi mòn, lụt lội làm thay đổi quá nhiều, phải công khó lắm mới ghép nối lại được. Chắc chưa đủ đâu. Cụ kể, mai mốt có đứa nào đi tìm tiếp, viết cho xong câu truyện.

Những bộ xương người đào được ở hướng Bắc đa số đều có đeo một thẻ đồng khắc hình dấu chữ Hồ. Còn những bộ xương hướng Nam khắc dấu in hình chữ Ngô. Xương thì giống nhau. Khảo nghiệm cho biết một trăm phần trăm là cùng một nguồn gốc. Dĩ nhiên các cháu biết đó, nếu mà đánh nhau thì xương phải lẫn lộn chứ. Ðúng như vậy, lẫn lộn cả hai thẻ đồng các cháu ạ. Có khi bộ xương khắc dấu Hồ nằm lẫn bộ xương mang dấu Ngô. Như là hai bộ xương đang vật lộn với nhau. Rất nhiều như thế. Khắp cả. Hàng trăm, hàng ngàn, hàng triệu, không biết cơ man nào mà đếm. Chính vì vậy mà người ta cho rằng có cuộc chiến tranh rất dữ dội.

Cụ không kể chuyện ma đâu, chuyện có thật đấy. Trong một tối kia, ở chân rặng núi, oan hồn người chết khóc ngất. Tiếng khóc kỳ lạ ai oán ghê lắm. Bên cánh rừng nọ, xình từ cái hồ nông nước gẳn lên mùi thối xác người. Ghê lắm. Nhặng bay đàn đàn, bầy bầy, o e trên những xác người chặt cụt chân tay. Ghê lắm. Ghê lắm. Có ba người không quần áo gì cả, bị lột trần truồng trói ôm vào ba gốc cây bỏ đói. Ngày thứ nhất, một người bị vặn đầu từ từ cho đến khi đứt mà chết. Ghê quá. Ghê quá. Cái cổ cứng vậy sao mà vặn đứt được. Thế mà vặn được đấy. Hai mắt lồi lên. Càng vặn nó càng lồi. Sau cùng nó rớt ra ngoài. Ðầu mà, đỉnh cao trí tuệ mà. Ðến ngày thứ hai. Người kế tiếp. Không bị bịt mồm gì cả, cứ để thế cho la hét. Ghê quá. Họ lấy dao khoét hậu môn rồi kéo hết ruột ra. Ghê quá. Tiếng la đinh tai, buốt thấu óc. Vì thế dân phương Nam vẫn nói, “đau như cắt ruột.” Cái gì cũng phải có nguyên cơ, nguồn cội. Lũ trẻ nhỏ la lên. Cụ kể chuyện ma! Ghê quá! Ghê quá! Cụ kể chuyện ma! Không đứa nào dám nghe.

Các cháu đừng sợ, không có ma quỷ gì cả, họ là những con người như các cháu. Xem lại những hình ảnh ấy mà thương họ. Các cháu có biết họ là ai không? Là tổ tiên của các cháu đấy! Các cháu sợ tổ tiên của mình à? Với những chiếc máy này không còn gì giấu kín được nữa. Các cháu sống thế nào thì mai sau lịch sử ghi lại y như thế. Không thể giấu được. Kinh Thánh bảo không có gì giấu kín mà không bị tỏ lộ ra. Ðúng như thế.

– Thưa cụ, thế những người giết họ là ai? Là người đeo dấu chữ H hay chữ N.

– Cụ không cho các cháu biết được. Cụ muốn các cháu thử tự tìm xem.

Một đứa khác lại hỏi:

– Thưa cụ, làm sao mà họ thù ghét nhau như thế?

– À, chuyện này mới dài, cụ cũng để xem cháu nào tìm được lý do.

Hai câu hỏi ấy cụ biết chứ, mà đau lòng quá không trả lời nổi. Cụ thấy chính mình cũng sợ sự thật. Kinh Thánh nói sự thật sẽ giải phóng chúng con. Bây giờ chạm sự thật, cụ thấy linh hồn buồn quá. Khi Ðức Kitô bị đóng đinh, tổng trấn Philatô cũng hỏi câu hỏi ấy: Sự thật là gì. Cụ ngưng câu chuyện không kể tiếp nữa.

Mấy đứa bé tò mò tiếp tục hỏi chuyện nhau. Hai đứa ra chiều thông minh:

– Tao biết làm sao tụi nó đánh nhau rồi!

– Mày không được gọi là “tụi nó”, cụ đã chẳng bảo họ là tổ tiên của mình đó sao.

– Ừ, đúng rồi, tao biết làm sao tổ tiên chúng ta đánh nhau, tại họ dạy cho bày rồng đánh nhau đấy, lúc nào cũng muốn rồng nhà mình thắng, rồi rồng làng mình phải thắng, nên họ mới thù nhau. Ai cũng muốn rồng làng mình là vua.

– Nhưng mà tao biết họ dạy cho rồng đánh nhau là ngày xửa ngày xưa, có một ông lái buôn từ phương Bắc…

– Nhưng mà làm sao ông lái buôn lại dạy cho tổ tiên ta đem rồng của mình ra đấu nhau?

– Ờ.. ờ.. tao không biết!

Ðể trả lời câu hỏi ấy, sau này một đứa đem hết đời mình tìm kiếm. Thế là mất mấy trăm năm sau con cháu phương Nam mới có câu trả lời. Nhưng rồng của dân phương Nam không còn là rồng như ban đầu nữa, nó không biết bay, nó thích trườn dưới đất, quanh co, mưu mô nhưng không hút nước phun lên trời như rồng ngày xưa. Rồng của những vương quốc lân bang bơi lộn vùng vẫy ngoài khơi sóng nước Thái Bình Dương, tranh đua với trời, hưởng phúc lộc thiên nhiên mây gió trời ban. Rồng phương Nam chỉ loanh quanh trên bờ, nhiều con lộn xuống biển, ôi! chết không biết bao nhiêu là cơ man.

Sau bao năm tìm kiếm, hai đứa cháu đến thăm cụ. Những ngày cuối đời, cụ thao thức, buồn lặng lẽ trong hồn, cụ hỏi:

– Tại sao rồng chung quanh bơi khắp Thái Bình Dương, còn rồng dân phương Nam thì không?

Ðứa cháu của cụ thành một nhà nghiên cứu lỗi lạc, bảo cụ rằng:

– Trải qua mấy trăm năm, bây giờ gọi là rồng chỉ vì gốc tích ngày xưa thôi, theo nghiên cứu thì rồng phương Nam hết chất rồng rồi.

Cụ già sửng sốt. Ngạc nhiên kinh hoàng hỏi:

– Thế.. thế là rắn mất rồi sao?

Cụ già run lên. Ðứa cháu nhìn cụ không biết phải làm gì. Rung toàn thân người, cụ nấc lên rồi chết.

Ðứa cháu, nhà nghiên cứu lỗi lạc, nhớ lại ngày xưa cụ không dám trả lời khi nó hỏi: “Làm sao họ ghét nhau thế.” “Bên nào có dấu chữ H, bên nào chữ N.” Bây giờ ông ta hiểu, cụ sợ sự thật không dám trả lời. Cũng như bây giờ, chính ông ta chỉ nói cho cụ biết là rồng phương Nam hết chất rồng rồi, chứ không dám trả lời hẳn câu hỏi của cụ vậy bây giờ là rắn rồi sao. Ông ta nhủ thầm, lại tới phiên mình sợ sự thật. Còn lại hai người, ông ta quay sang hỏi người bạn cũ, kẻ mà lúc nhỏ ngồi nghe cụ kể chuyện rồi sau đó hai đứa đã đua tài trí thức xem ai biết nhiều, ông hỏi:

– Bây giờ có cách nào làm cho rồng dân phương Nam trở thành rồng thật mà ganh đua với các rồng lân bang được không?

Người bạn năm cũ thản nhiên trả lời bằng một câu tiếng ngoại quốc: “I DON’T KNOW. I DON’T CARE.” Rồi bỏ đi.

Còn lại một mình. Ông cũng không biết rồi đây có cách nào rồng phương Nam bay lộn hào hùng như rồng thật của mấy trăm năm về trước nữa không hay là hết chất rồng thật mất rồi. Ông ta cặm cụi ghi lại tất cả nối kết của mấy đời các cụ xưa đang kể mà chết ngang chừng, thành một câu chuyện. Câu chuyện bắt đầu bằng mấy chữ: Ngày xửa ngày xưa…

Kể Lại Truyện Cổ Tích Tấm Cám / 2023

Đề bài: Kể lại truyện cổ tích “Tấm Cám”

Bài làm

Kể lại truyện cổ tích “Tấm Cám” – Chào các bạn, mình tên là Tấm. Hôm nay, tôi sẽ kể cho các bạn nghe về cuộc đời của mình.

Gia đình tôi vốn dĩ rất hạnh phúc nhưng thật không may mẹ lại mất sớm. Cha lấy một người dì ghẻ và có với nhau một đứa con, nó là Cám, em cùng cha khác mẹ với tôi. Chẳng bao lâu cha cũng bệnh nặng mà qua đời, còn lại ba mẹ con. Vì sống trong cảnh mẹ ghẻ con chồng nên tôi luôn cố gắng để giữ gia đình hòa thuận nhưng rất khó. Bao nhiêu công việc gia đình mình đều làm, từ cắt cỏ, chăn trâu tất cả đều đến tay, tôi cũng chẳng dám kêu than một lời, còn mẹ con Cám thì cả ngày chỉ lo ăn chơi, làm đẹp. Một hôm dì gọi hai chị em lại và bảo hai đứa ra đồng mò tép, ai mò nhiều thì sẽ được cho một cái yếm đâò. Tôi thích lắm nên cố gắng mò mẫm, chẳng mấy chốc đã đầy giỏ. Trong khi đó em Cám cứ mải chơi chẳng chịu làm gì. Bỗng nó bảo tôi hụp sâu xuống sông rửa sạch bùn trên đầu không về mẹ mắng. Tôi nghe lời em hụp thật sâu, không ngờ nó trên bờ trút hết giỏi tép của tôi vào giỏ của nó rồi chạy về nhanh để lấy cái yếm. Lên bờ thấy vậy tôi ngồi khóc. Bỗng một ông Bụt hiện lên hỏi sao tôi lại khóc. Tôi kể cho ông nghe câu chuyện rồi ông bảo trong giỏ còn một con cá bống, tôi đem về nuôi mỗi bữa cho nó một bắt cơm trắng. Tôi nghe lời ông, chăm sóc cá cẩn thận nên nó lớn nhanh lăm, tôi rất mừng. Một hôm dì bảo tôi dắt trâu đi chăn nhưng phải chăn ở đồng xa, tôi thấy lạ nhưng vẫn làm theo. Buổi chiều, tôi mang cơm ra cho bống ăn thì không thấy nó đâu, chỉ thấy một cục máu đỏ nổi lên. Tôi biết là bống bị giết, xót thương nó tôi ngồi khóc thì ông Bụt lại hiện lên. Ông bảo tôi nhặt hết xương bống bỏ vào bốn lọ rồi chôn xuống chân giường. Tôi ngoan ngoãn làm theo.

Đến ngày giỗ cha, tôi về nhà chơi. Tôi trèo cau để bứt xuống lấy cái thắp hương. Thấy cây rung rung, dì bảo đang đuổi kiến cho tôi. Một lát sau cây đổ và tôi chết. Tôi may mắn được hóa thành chim Vàng Anh. Tôi về cung thăm nhà vua và được ngài rất yêu thích. Thấy vậy, Cám lại giết hại tôi, vặt lông rồi vứt ra vườn. Chỗ long ấy lại mọc lên hai cây xona, ngày ngày vua mắc võng ra đó nằm. Thấy vậy mẹ con Cám lại chặt xoan đóng thành khung cửi. Bất bình trước hành động của Cám, tôi về cảnh báo nó qua tiếng kêu của khung cửi. Nó sợ nên lại đốt khung cửi đi và đem tro đổ ở một nơi xa hoàng cung. Đám tro ấy mọc lên một cây thị xanh tốt chỉ có đụng một trái thị to đùng, thơm mát. Tôi trốn trong trái thị ấy. Một hôm có bà lão bán nước đi qua, thấy thị bà bảo “Thị ơi thị, thị rụng bị bà, bà để bà ngửi chứ bà không ăn”. Thấy bà lão tốt bụng nên tôi rơi vào bị bà để ngày ngày có thể hưởng thơm cho căn phòng của bà. Mỗi lần bà đi chợ tôi lại chui ra khỏi vỏ thị để giúp bà lau dọn nhà cửa và nấu cơm cho bà vì bà ở một mình lại còn công việc nữa nên rất vất vả. Một hôm, đợi bà đi ra ngoài tôi cũng chui ra như mọi hôm bất ngờ thấy bà trở về. Tôi định trốn vào vỏ thị nhưng không kịp vì bà đã xe nó tan nát. Thế là tôi và bà sống hạnh phúc bên nhau, tôi coi bà như người mẹ thứ hai của mình.

Bà bán một quán nước nhỏ nên tôi hay têm trầu cho những người khách ăn khi ngồi nghỉ ngơi ở quán. Bỗng tôi thấy bà gọi tôi ra có người gặp. Thì ra người đó là vua, là người chồng mà tôi đã xa cách bao năm qua. Chàng ôm tôi vào lòng. Tôi thấy vui và hạnh phúc lắm. Tôi tạm biệt bà cụ để trở về hoàng cung cùng nhà vua. Mẹ con Cám thấy tôi trở về thì rất bất ngờ vì họ đã cố tình ám hại tôi bao nhiêu lần nhưng tôi đều may mắn mà thoát được. Và bây giờ cơ hội trả thù đã đến. họ phải chịu quả báo bằng một cái chết chẳng bao giờ có thể hồi sinh.

Cuộc đời của tôi gặp rất nhiều khó khăn nhưng cuối cùng tôi cũng thoát nạn và được hưởng cuộc sống hạnh phúc bên cạnh nhà vua. Còn mẹ con Cám, sau bao nhiêu tội lỗi thì cũng phải chịu cái kết cay đắng. Vậy nên tôi khuyên các bạn hãy sống lương thiên và yêu thương người khác. Chỉ có như vậy ta mới mong có được một cuộc sống ấm êm, hạnh phúc bên cạnh người mình yêu thương.

Seen

Kể Lại Truyện Cổ Tích Mà Em Yêu Thích / 2023

Ngày xưa, có hai vợ chồng một lão nông nghèo đi ở cho nhà một phú ông. Họ hiền lành, chăm chỉ nhưng đã ngoài năm mươi tuổi mà chưa có lấy một mụn con. Một hôm, người vợ vào rừng lấy củi. Trời nắng to, khát nước quá, thấy cái sọ dừa bên gốc cây to đựng đầy nước mưa, bà bèn bưng lên uống. Thế rồi, về nhà, bà có mang. ít lâu sau, người chồng mất. Bà sinh ra một đứa con không có chân tay, mình mẩy, cứ tròn lông lốc như một quả dừa. Bà buồn, toan vứt nó đi thì đứa bé lên tiếng bảo.

– Mẹ ơi! Con là người đấy! Mẹ đừng vứt con mà tội nghiệp. Bà lão thương tình để lại nuôi rồi đặt tên cho cậu là Sọ Dừa. Lớn lên, Sọ Dừa vẫn thế, cứ lăn lông lốc chẳng làm được việc gì. Bà mẹ lấy làm phiền lòng lắm. Sọ Dừa biết vậy bèn xin mẹ đến chăn bò cho nhà phú ông. Nghe nói đến Sọ Dừa, phú ông ngần ngại. Nhưng nghĩ: nuôi nó thì ít tốn cơm, công sá lại chẳng đáng là bao, phú ông đồng ý. Chẳng ngờ cậu chăn bò rất giỏi. Ngày ngày, cậu lăn sau đàn bò ra đồng, tối đến lại lăn sau đàn bò về nhà. Cả đàn bò, con nào con nấy cứ no căng. Phú ông lấy làm mừng lắm! Vào ngày mùa, tôi tớ ra đồng làm hết cả, phú ông bèn sai ba cô con gái thay phiên nhau đem cơm cho Sọ Dừa. Trong những lần như thế, hai cô chị kiêu kì, ác nghiệt thường hắt hủi Sọ Dừa, chỉ có cô em vốn tính thương người là đối đãi với Sọ Dừa tử tế. Một hôm đến phiên cô út mang cơm cho Sọ Dừa. Mới đến chân núi, cô bỗng nghe thấy tiếng sáo véo von. Rón rén bước lên cô nhìn thấy một chàng trai khôi ngô tuấn tú đang ngồi trên chiếc võng đào thổi sáo cho đàn bò gặm cỏ. Thế nhưng vừa mới đứng lên, tất cả đã biến mất tăm, chỉ thấy Sọ Dừa nằm lăn lóc ở đấy. Nhiều lần như vậy, cô út biết Sọ Dừa không phải người thường, bèn đem lòng yêu quý.

Đến cuối mùa ở thuê, Sọ Dừa về nhà giục mẹ đến hỏi con gái phú ông về làm vợ. Bà lão thấy vậy tỏ ra vô cùng sửng sốt, nhưng thấy con năn nỉ mãi, bà cũng chiều lòng. Thấy mẹ Sọ Dừa mang cau đến dạm, phú ông cười mỉa mai: – Muốn hỏi con gái ta, hãy về sắm đủ một chĩnh vàng cốm, mười tấm lụa đào, mười con lợn béo, mười vò rượu tăm đem sang đây. Bà lão đành ra về, nghĩ là phải thôi hẳn việc lấy vợ cho con. Chẳng ngờ, đúng ngày hẹn, bỗng dưng trong nhà có đầy đủ mọi sính lễ, lại có cả gia nhân ở dưới nhà chạy lên khiêng lễ vật sang nhà của phú ông. Phú ông hoa cả mắt lúng túng gọi ba cô con gái ra hỏi ý. Hai cô chị bĩu môi chê bai Sọ Dừa xấu xí rồi ngúng nguẩy đi vào, chỉ có cô út là cúi đầu e lệ tỏ ý bằng lòng.

Trong ngày cưới, Sọ Dừa cho bày cỗ thật linh đình, gia nhân chạy ra chạy vào tấp nập. Lúc rước dâu, chẳng ai thấy Sọ Dừa trọc lốc, xấu xí đâu chỉ thấy một chàng trai khôi ngô tuấn tú đứng bên cô út. Mọi người thấy vậy đều cảm thấy sửng sốt và mừng rỡ, còn hai cô chị thì vừa tiếc lại vừa ghen tức.

Từ ngày ấy, hai vợ chồng Sọ Dừa sống với nhau rất hạnh phúc. Không những thế, Sọ Dừa còn tỏ ra rất thông minh. Chàng ngày đêm miệt mài đèn sách và quả nhiên năm ấy, Sọ Dừa đỗ trạng nguyên. Thế nhưng cũng lại chẳng bao lâu sau, Sọ Dừa được vua sai đi sứ. Trước khi đi, chàng đưa cho vợ một hòn đá lửa, một con dao và hai quả trứng gà nói là để hộ thân. Ganh tị với cô em, hai cô chị sinh lòng ghen ghét rắp tâm hại em để thay làm bà trạng. Nhân quan trạng đi vắng, hai chị sang rủ cô út chèo thuyền ra biển rồi cứ thế lừa đẩy cô em xuống nước. Cô út bị cá kình nuốt chửng, nhưng may có con dao mà thoát chết. Cô dạt vào một hòn đảo, lấy dao khoét bụng cá chui ra, đánh đá lấy lửa nướng thịt cá ăn. Sống được ít ngày trên đảo, cặp gà cũng kịp nở thành một đôi gà đẹp để làm bạn cùng cô út. Một hôm có chiếc thuyền đi qua đảo, con gà trống nhìn thấy bèn gáy to: ò… ó… o

Phải thuyền quan trạng rước cô tôi về. Quan cho thuyền vào xem, chẳng ngờ đó chính là vợ mình. Hai vợ chồng gặp nhau, mừng mừng tủi tủi. Đưa vợ về nhà, quan trạng mở tiệc mừng mời bà con đến chia vui, nhưng lại giấu vợ trong nhà không cho ai biết. Hai cô chị thấy thế khấp khởi mừng thầm, tranh nhau kể chuyện cô em rủi ro ra chiều thương tiếc lắm. Quan trạng không nói gì, tiệc xong mới cho gọi vợ ra. Hai cô chị nhìn thấy cô em thì xấu hổ quá, lén bỏ ra về rồi từ đó bỏ đi biệt xứ.

Truyện Cổ Tích Sọ Dừa [Kể Chuyện Lớp 4 / 2023

Truyện cổ tích Sọ Dừa

Truyện cổ tích Sọ Dừa ca ngợi vẻ đẹp bên trong mỗi con người, kể về một chàng trai có phẩm chất và tài năng đặc biệt nhưng lại luôn ẩn mình trong hình hài dị dạng.

Truyện này được trích trong sách Kể chuyện lớp 4 (1984), nêu lên bài học khi đánh giá, nhìn nhận một con người: phải xem xét toàn diện, không nên chỉ nhìn vẻ bề ngoài. Người nghèo khổ chăm chỉ lao động sẽ được đền bù, người thủy chung hiền hậu sẽ được hưởng hạnh phúc. Chỉ có kẻ ác nghiệt, chua ngoa mới phải chịu số phận hẩm hiu.

1. Giới thiệu mẹ con Sọ Dừa

Ngày xưa, có hai vợ chồng người nông dân hiền lành, chuyên đi làm thuê cho phú ông, đã ngoài tuổi năm mươi mà vẫn muộn đường con cái.

Một hôm nắng gắt, người vợ làm việc khát nước quá liền vào rừng tìm nước để uống. Bà chỉ thấy một cái sọ người bên trong một tảng đá, hổ bỏ lại từ lâu, trong sọ có đấy nước trong vắt. Vì khát quá bà ta đành bưng lên uống. Uống xong, bà thấy khoan khoái khác thường. Từ đấy bà có mang. Chẳng bao lâu người chồng chết. Đến kì sinh nở, bà đẻ ra được một cục thịt tròn lông lốc[1], có đủ mắt, mũi, mồm, tai, nhưng không có mình mẩy chân tay gì cả. Bà kinh hãi toan vứt đi thì cục thịt thốt nhiên bảo bả rằng:

– Mẹ ơi, con là người đấy! Mẹ đừng vứt đi mà tội nghiệp!

Bà cảm động, ấp iu cục thịt vào lòng, nâng niu và cho bú. Biết việc ấy, phú ông liền đuổi bà ra ở túp lều ngoài vườn sắn. Đứa con trông kì quái[2] nhưng rất khôn, bà đặt tên là . Mỗi buổi sáng, trước khi đi làm thuê bà thường dặn con:

2. Sọ Dừa nhận chăn dê và được nàng Ba thầm yêu mến

Một lần đi làm về bà thở dài bảo con:

– Giá mày như con người ta thì cũng kiếm thêm được ít gạo đổ vào nồi cho mẹ rồi đó. Hiện giờ phú ông có một đàn dê mà chưa tìm được người chăn.

Sọ Dừa nói:

– Mẹ ơi, con chăn được. Mẹ cứ nói với phú ông đi.

Thế là Sọ Dừa bắt đầu nhận việc chăn dê cho phú ông. Từ khi Sọ Dừa chăn đàn dê thì đàn dê lúc nào cũng no nê, béo trông thấy. Phú ông bằng lòng. Lão lại rất thích vì mỗi ngày Sọ Dừa chỉ ăn hết có hai nắm cơm rất nhỏ của lão.

Phú ông có ba người con gái. Đứa lớn thì ác nghiệt[3]. Đứa thứ hai chua ngoa[4]. Chỉ có người con thứ ba là hiền hậu[5]. Ngày mùa, tôi tớ[6] ra đồng làm cả, ba cô phải thay nhau mang cơm cho Sọ Dừa.

Một hôm đến lượt cô ba đi mang cơm. Đến chân núi cô nghe có tiếng sáo véo von. Cô gái cảm thấy bồn chồn[7]. Núi thấp, cô chỉ trèo một quãng ngắn là đã lên tới lừng chừng. Đứng nấp trong bụi nhìn ra cô thấy một chàng trai tuấn tú[8] độ mười sáu, mười bảy tuổi đang thổi sáo. Người con gái mải lắng nghe, mải nhìn quá, vịn ngay phải một cành khô. Cành khô gãy “rắc” một tiếng. Lập tức chàng trai biến ngay vào trong vỏ Sọ Dừa. Từ đấy cô ba đem lòng yêu Sọ Dừa.

3. Sọ Dừa hỏi vợ và cưới vợ

Bà mẹ Sọ Dừa chỉ phiền một nỗi là con mình người không ra người thì còn mong gì có dâu, có cháu. Sọ Dừa biết ý bảo mẹ rằng:

– Phú ông có ba cô con gái. Mẹ kiếm lấy buồng cau vào xin một cô cho con.

Bà mẹ đánh liều kiếm một buồng cau vào nói với phú ông. Lão phú ông nghe thủng câu chuyện, vuốt râu cười hề hề, cố nén giận bảo rằng:

– Con mụ hình thù quái quỷ như thế mà cũng dám chòi voi à? Nhưng thôi, mụ về bảo nó hễ có đủ các thứ này thì ta gả cho: một chĩnh vàng cốm, mười tấm lụa đào, mười con lợn béo, mười con dê béo, mười vò rượu tăm. Lại phải dựng lấy năm gian nhà ngói câu đầu bằng bạc, xà ngang bằng đồng thì ta mới cho rước dâu về.

Bà về nói với con, tưởng con thôi hẳn việc lấy vợ, không ngờ Sọ Dừa vẫn cứ khăng khăng một mực nói:

– Mẹ sang nói ngay với phú ông rằng con sẽ có đủ những thứ ấy mà còn có nhiều hơn nữa.

Bà ngần ngừ không đi sợ con nói liều. Nhưng Sọ Dừa giục mãi, bà ta lại tất tưởi vào nói với phú ông. Lần này thì lão ta có vẻ ngần ngại. Lão bảo bà mẹ:

– Để ta cho gọi cả ba đứa con gái ra đây, xem có đứa nào nó ưng lấy thằng Sọ Dừa không đã.

Lão gọi ba cô con gái ra lần lượt hỏi từng cô một. Hai cô chị đều giãy nảy như đỉa phải vôi[9]: “Thủi thui, có là ngợm mới lấy cái thứ thằng Sọ Dừa”. Đến lượt cô ba, cô liền thưa:

– Cha đặt đâu, con xin ngồi đấy ạ!

Phú ông giận con tím mặt, song không biết nói thế nào, bèn quay lại hẹn với bà mẹ ngày đưa sính lễ[10].

Quả nhiên đúng ngày hẹn, Sọ Dừa có đầy đủ những thứ mà phú ông thách cưới. Sọ Dừa rước dâu về đến nhà. Đến tối, khi các cây sáp lớn đã thắp sáng trưng nhà trên, nhà dưới thì không ai thấy Sọ Dừa đâu cả. Bỗng xuất hiện một chàng trai tuấn tú ở phòng trong sánh vai cùng với cô dâu đi ra chào khách. Mọi người sửng sốt. Chàng trai đó chính là Sọ Dừa đã lột bỏ cái vỏ Sọ Dừa.

4. Sọ Dừa đi sứ

Ít lâu sau, Sọ Dừa miệt mài học tập và nhân gặp khoa thi, chàng đỗ Trạng nguyên. Nhà vua cử chàng đi sứ phương Bắc. Trước khi đi chàng đưa cho vợ một hòn đá lửa, một con dao và hai quả trứng gà dặn vợ phải luôn giữ trong mình, phòng lúc gặp nạn bất ngờ.

Từ ngày thấy em lấy được chồng tuấn tú, lại đỗ Trạng nguyên[11], hai cô chị định tâm hại em, hòng thay em làm bà Trạng.

Một hôm hai cô chị rủ em đi chơi thuyền. Chúng đẩy thuyền ra giữa dòng nước xoáy. Thuyền bị xoáy nước hút xuống chìm nghỉm. Một con cá kình[12] lớn nuốt chửng cả thuyền lẫn người vào bụng. Cô em vẫn tỉnh táo như thường. Nhớ lời chồng dặn cô lấy dao khoét thịt cá làm cho cá vùng vẫy một lúc rồi chết nổi lên mặt nước. Xác cá trôi dạt vào một cánh bãi bên rừng. Cô liền khoét bụng cá chui ra, rồi xẻo thịt cá, hớt muối ở bờ biển đem muối cá vào một hốc cây khô để ăn dần. Cô lại lấy cỏ khô áp vào đá lửa, lấy dao đánh đá để có lửa sưởi và nướng cá. Cô dựng một cái lều nhỏ ngay gần bờ sông chờ ngày có thuyền đi qua thì gọi. Ít lâu sau, hai quả trứng nở thành hai con gà con. Đôi gà lớn mau rõ ra một trống, một mái.

Một buổi chiều, có chiếc thuyền lớn có cắm cờ đuôi nheo đi vào sông. Thuyền càng đến gần thì con gà trống càng gáy dồn dập:

Ò ó ó… Phải thuyền quan Trang rước cô tôi về!

Một người từ trong thuyền bước ra đứng phía đầu mũi. Người ấy chính là Sọ Dừa. Thuyền ghé bờ, Sọ Dừa đón vợ xuống thuyền.

Về đến nhà, chàng bày cỗ to mời cả nhà vợ và bà con hàng xóm sang ăn mừng.

Rượu uống nửa tuần, quan Trạng xin phép vào buồng có chút việc riêng. Lát sau quan Trạng đưa vợ ra chào mọi người. Thừa lúc mọi người tíu tít hỏi chuyện, hai cô chị lẻn ra ngoài trốn biệt.

Truyện Sự tích Sọ Dừa Nguồn: Kể chuyện 4, NXB Giáo dục – 1984 – chúng tôi –

Chú thích trong truyện Sự tích Sọ Dừa:

[1] Tròn lông lốc: tròn trịa và nhẵn nhụi. [2] Kì quái: trông lạ lùng như loài quái vật. [3] Ác nghiệt: độc ác, cay nghiệt. [4] Chua ngoa: lắm điều và đanh đá. [5] Hiền hậu: hiền lành và nhân hậu. [6] Tôi tớ: người ăn kẻ ở để sai bảo trong nhà. [7] Bồn chồn: nóng ruột, có cái gì bứt rứt không yên trong lòng. [8] Tuấn tú: đẹp và có tài hơn người khác. [9] Đỉa phải vôi: đỉa chạm phải vôi, ý nói giãy nảy lên không chịu được (thành ngữ). [10] Đồ sính lễ: đồ dẫn thách cưới. [11] Trạng nguyên: người đỗ đầu khoa thi đình thời phong kiến (tổ chức ở sân chầu trong cung vua). [12] Cá kình: loài cá dữ và to ở biển.