Hình Ảnh Người Lính Qua Bài Thơ Ánh Trăng / Top 12 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 3/2023 # Top View | Kovit.edu.vn

Hình Ảnh Ánh Trăng Cùng Với Mạch Cảm Xúc Trong Bai Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy

Tiêu đề: hình ảnh ánh trăng cùng với mạch cảm xúc trong bai thơ ánh trăng của nguyễn duy

Tiêu đề: hình ảnh ánh trăng cùng với mạch cảm xúc trong bai thơ ánh trăng của nguyễn duy

 

a)-nơi thành phố lắm điện ,cửa gương người ta chẳng chú ý đến ánh trăng .Sự suất hiện đột ngột của vầng trăng ở tình huống đặc biệt đã gây ấn tượng manh-Vầng trăng là 1 hình ảnh thiên nhiên,hồn nhiên ,tươi mát,là người bạn chi kỉ suốt đời của tuổi thơ,rồi thời chiến tra ở rửng trong phút chốc sự suất hiện đột ngột của vầng trăng làm sống dậy trong tâm trí nhà thơ bao kỉ niệm của những tháng năm gian lao vất vả.Và hình ảnh của thiên nhiên ,đất nước bìng dị hiền hậu “như là đồng là bể như là sông là rừng”hiện hình trong mỗi câu thơ ,trong cảm súc rưng rưng cuả mỗi con người đã sống ở phố phường hiện đại-Vầng trăng có ý nghĩa biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình ,hơn thế trăng còn là vẻ đẹp bình dị ,vĩnh hằng của đời sống,đặc biệt là khổ cuối bài thơ là nơi tập chung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng .Chiều sâu tư tưởng mang tính chiết lí của tác phẩm “trăng cứ tròn vành vạnh “như tượng trưng cho quá khứ đẹp đẽ nguyên vẹn trẳng thể phai mờ “ánh trăng im phăng phắc ” chính là người bạn nhân chứng nghĩa tình mà nghiêm khắc ,đang nhăc nhở nhà thơ và cả chúng ta :con người có thể vô tình ,có thể lãng quên nhưng thiên nhiên nghĩa tình ,quá khứ thì luôn tròn đầy ,bất diệtchủ đề bài thơ và ý nghĩa:-từ 1 câu chuyện riêng bài thơ là lời tự nhăc nhở thấm thía về thái độ ,tình cảm đối với những năm tháng quá khứ gian lao tình nghĩa đối với thiên nhiên đât nước bình dị hiền hậu-Ánh trăng không chỉ là chuyện riêng ủa thiên nhiên ,của 1 người mà cả một thế hệ từng chải qua năm tháng dài ,gian khổ chiến tranh ,từng gắn bó với thiên nhiên ,nhân dân tình nghĩa.Giờ đươc sống trong hoa bình đươc tiêp súc với tiện nghi hiên đại ,hơn thế bài thơ còn có ý nghĩa với nhiều người ,nhiều thời ,nó đăt ra vấn đề về thái độ với quá khứ ,những người đã khuất và cả chính mình

Chữ ký của

huyenz0ny

Hình Ảnh Bác Hồ Hiện Lên Qua Bài Thơ Ngắm Trăng (Hồ Chí Minh)

Tháng 8-1942, Hồ Chí Minh từ Pác Bó (Cao Bằng) bí mật lên đường sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợ quốc tế cho cách mạng Việt Nam, nhưng khi đến gần thị trấn Túc Vinh thì Người bị chính quyền địa phượng ở đây bắt giữ, giải đi khắp gần 30 nhà giam của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây, bị đày đoạ hơn một năm trời. Thời gian này, Người đã viết Nhật kí trong tù bằng thơ chữ Hán, gồm 133 bài, phần lớn là thơ tứ tuyệt. Tập thơ thể hiện một tâm hồn cao đẹp, ý chí cách mạng kiên cường và nghệ thuật thi ca đặc sắc. Bài thơ Ngắm trăng được trích trong tập Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh.

“Ngục trung vô tửu diệc vô hoa

Đối thử lương tiểu nại nhược hà?

Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt

Nguyệt tòng song khích khán thi gia”

“Trong tù không rượu cũng không hoa Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ

Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”

Trong các các câu thơ dịch, câu thứ hai trong nguyên tác có nghĩa là “Trước cảnh đẹp đêm nay biết làm thế nào?”. Câu thơ dịch dịch thành: Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ đã làm mất đi cái xốn xang, bối rối của nhân vật trữ tình (cũng là mất đi sự lãng mạn và nhạy cảm trước thiên nhiên trong tâm hồn của Bác). Hai câu thơ cuối (bản dịch) cũng kém phần đăng đối hơn so với phiên âm. Hơn nữa từ nhòm và ngắm trong câu cuối là hai từ đồng nghĩa, khiến cho lời dịch không bảo đảm được sự cô đúc của ý tứ và thể thơ.

Thường người ta ngắm trăng vào những lúc thảnh thơi, thư thái. Thế nhưng ở đây, Hồ Chí Minh lại ngắm trăng trong một hoàn cảnh rất đặc biệt: ở trong tù. Khi Bác nói “Trong tù không rượu cũng không hoa” thì không có nghĩa là Bác đang than thở cũng không phải đó là một lời phê phán. Chỉ có thể nghĩ rằng, trước đêm trăng tuyệt đẹp ấy, Bác mong được thưởng trăng một cách trọn vẹn (và đúng là thật tiếc nếu không có rượu, có hoa). Chính việc nhớ đến rượu và hoa trong cảnh ngục tù đày đã cho thấy, người tù không hề vướng bận gì về vật chất và những gian nan mà mình đang phải chịu. Người tù vẫn ung dung tự tại, vẫn thả hồn mình cùng với thiên nhiên.

Hai câu cuối của bài thơ chữ Hán đối nhau rất chỉnh:

Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,

Nguyệt tòng song khích khán thi gia.

Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện lên trong bài thơ nổi bật ở khía cạnh người chiến sĩ không chút bận tâm về gông cùm, đói rét,…Trước khó khăn, Bác vẫn giữ được phong thái ung dung, tự tại. Bài thơ còn thể hiện nổi bật tâm hồn nghệ sĩ của Bác Hồ, một tâm hồn luôn rộng mở với thiên nhiên.

Cuộc ngắm trăng trong bài Vọng nguyệt có hoàn cảnh không giống như các cuộc ngắm trăng khác: bài thơ được Bác làm khi phải chịu cảnh tù đày. Và có thể nói, mỗi bài thơ Bác viết về trăng lại có những nét riêng: trăng đầy sức sống, đầy sức xuân trong Rằm tháng giêng (Nguyền tiêu); trăng thi vị và tri kỉ trong Báo tiệp (Tin thắng trận),..Nói chung, ở tất cả những bài này, Bác đều đã cho người đọc thấy vẻ đẹp của một tâm hồn thi sĩ, luôn mở rộng lòng để giao hoà cùng với thiên nhiên.

Phân Tích Bút Pháp Xây Dựng Hình Ảnh Thơ Trong Bài Thơ Đồng Chí Và Ánh Trăng

Đề bài:Phan tich but phap trong Dong chi va Anh trang. Phân tích bút pháp xây dựng hình ảnh thơ trong bài thơ Đồng chí và Ánh trăng.

Mở bài: Phân tích bút pháp xây dựng hình ảnh thơ trong bài thơ Đồng chí và Ánh trăng

Nói đến thơ không chỉ nói đến nhịp điệu, vần mà còn phải nói đến hình ảnh. Thơ mà không có hình ảnh thì không thể là thơ. Có những bài thơ hay vì xây dựng được những hình ảnh đặc sắc tiêu biểu trong đó có bài thơ Đồng Chí của nhà thơ Chính Hữu và bài thơ Ánh trăng của nhà thơ Nguyễn Duy.

Thân bài: Phân tích bút pháp xây dựng hình ảnh thơ trong bài thơ Đồng chí và Ánh trăng

Trước hết là bút pháp xây dựng hình ảnh người đồng chí trong bài thơ Đồng Chí của nhà thơ Chính Hữu. Có thể thấy nhà thơ Chính Hữu đã xây dựng hình ảnh đồng chí bằng bút pháp hiện thực kết hợp với lãng mạn. Từ những câu thơ đầu chúng ta đã thấy được hình ảnh người đồng chí tả thực với những nét đẹp về quê hương xử sở, những tình cảm gắn bó và ý chí đi lính của mình:

Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Tôi với anh đôi người xa lạ

….

Giếng nước gốc đa nhớ người đi lính

Người đồng chí xuất thân từ người nông dân, vốn dĩ sống hiền hậu bên gốc lúa bờ khoai nhưng những tên giặc không để cho họ sống yên nên họ gửi gắm tài sản của mình là ruộng vườn, ngôi nhà không để lên đường đánh giặc. Nơi đây những người đồng chí gặp nhau, đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ. Họ cũng đã từng sát cánh bên nhau, cùng cười, cùng chiến đấu:

Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh

Rét run người vầng chán đổ mồ hôi

…..

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay

Hình ảnh người đồng chí hiện lên với hiện thực gian khổ, họ phải mặc áo rách, phải chịu rét mướt sương đêm để chiến đấu với giặc.

Ngoài bút pháp hiện thực tả thực người chiến sĩ trong bài thơ Đồng Chí còn được xây dựng bởi bút pháp lãng mạn. Những hình ảnh về người đồng chí được lí tưởng hóa. Đặc biệt hình ảnh “Đầu súng trăng treo” là hình ảnh lãng mạn. Nó là sự kết hợp giữa hiện tại và tương lại, giữa chiến tranh và hòa bình, giữa chiến sĩ và thi sĩ.

Cùng với nhà thơ Chính Hữu, nhà thơ Nguyễn Duy cũng xây dựng thành công hình ảnh ánh trăng trong bài thơ cùng tên. Bằng bút pháp tự sự kết hợp trữ tình ánh trăng mang đến nhiều tầng nghĩa biểu tượng.

Ánh trăng là kỉ niệm thưở ấu thơ, là tri kỉ trong chiến đấu. Ánh trăng ấy đã theo nhà thơ đi khắp các nẻo đường chiến đâu:

Trần trụi với thiên nhiên

Hồn nhiên như cây cỏ

Ánh trăng còn là người bạn tri kỉ luôn theo sát nhân vật trữ tình. Dù chiến tranh đã lùi xa, ánh trăng bị lu mờ bởi những ánh điện cửa gương nhưng ánh trăng ấy vẫn theo người chỉ có người là lãng quên trăng. Khi bắt gặp ánh trăng tròn vành vạnh, tình cảm tri kỉ vẫn thế mà bấy lâu này mình đã bẵng quên, ánh trăng im lặng như trách móc khiến cho nhà thơ giật mình. Cái giật mình ấy thể hiện sự ngỡ ngàng, sự hối lỗi. Ánh trăng ở đây còn gợi nhớ cho con người về truyền thống uống nước nhớ nguồn. Qua bài thơ Nguyễn Duy muốn thể hiện quan điểm về đạo lí uống nước nhớ nguồn. Ánh trăng kia là những cái xưa cũ, những cái gắn bó với con người mà hiện đại con người đã vô tình lãng quên.

Kết bài: Phân tích bút pháp xây dựng hình ảnh thơ trong bài thơ Đồng chí và Ánh trăng

Tóm lại, hai nhà thơ đã xây dựng thành công hình ảnh trong thơ của mình, Những hình ảnh ấy mang đến đặc sắc cho bài thơ, và chính vì thế mà sức sống của hai bài thơ Đồng chí và Ánh trăng đến giờ vẫn còn mạnh mẽ.

TỪ KHÓA TÌM KIẾM BUT PHAP XAY DUNG HINH ANH THO TRONG BAI DONG CHI VA ANH TRANG EM HAY NEU BUT PHAP XAY DUNG HINH ANH THO TRONG BAI DONG CHI VA ANH TRANG BÚT PHÁP XÂY DỰNG HÌNH ẢNH THƠ TRONG BÀI ĐỒNG CHÍ VÀ ÁNH TRĂNG EM HÃY NÊU BÚT PHÁP XÂY DỰNG HÌNH ẢNH THƠ TRONG BÀI ĐỒNG CHÍ VÀ ÁNH TRĂNG Theo chúng tôi

Hình Ảnh Người Phụ Nữ Qua 2 Bài Thơ Tự Tình Và Thương Vợ

Hình ảnh người phụ nữ qua 2 bài thơ Tự tình và Thương vợ

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương có chùm thơ “Tự tình” 3 bài. Đây là bài thơ thứ nhất trong chùm thơ trữ tình ấy. Vẫn là thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật đã Việt hoá một cách tài ba, có điều chùm thơ mang một giọng điệu trữ tình thảm thiết, nhiều cay đắng tủi hờn, phản ánh tâm trạng của một người phụ nữ quá lứa lỡ thì, duyên ôi phận ẩm. Bài thơ “Tự tình” này thể hiện đậm nét cốt cách thi sĩ của Bà chúa thơ Nôm.

Tự tình nghĩa là tự phô bày, tự giãi bày những tình cảm ẩn chứa trong lòng, tự mình thổ lộ cho mình biết, cho mình hay. Tự tình mang tính hướng nội, nên rất chân thực, sâu sắc và cảm động. Nội dung “Tự tình” là tuổi tác và tình duyên.

Mở đầu bài thơ, hai đâu đề gợi ra một không gina bao la, mờ mịt từ trên bom thuyền ở nơi dòng sông đến khắp mọi chòm xóm, thôn làng. Người phụ nữ thao thức suốt những canh dài. Tiếng gà gáy “văng vẳng” như thế. Nghệ thuật lấy động (tiếng gà gáy) để diễn tả cái tĩnh lặng vắng vẻ của đêm dài nơi làng quê đã góp phần làm nổi bật tâm trạng “oán hận” , của người phụ nữ thao thức suốt những canh trường. Nàng ngồi dậy, lắng tai nghe tiếng gà gáy sang canh, rồi “trông ra” màn đêm mịt mùng. Màn đêm như bủa vây người phụ nữ trong nỗi buồn cô đơn, oán hận:

“Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom,

Oán hận trông ra khắp mọi chòm”.

Hai câu 3, 4 trong Phần thực, tác giả tảo ra hai hình ảnh “mõ thảm” và “chuông sầu” đối nhau, hô ứng nhau, cực tả nỗi đau khổ, sầu tủi của riêng mình đang sống trong cảnh ngộ qúa lứa lỡ thì, trắc trở trong tình duyên. Vần thơ đầy ám ảnh. Phủ định để khẳng định tiếng “cốc” của “mõ thảm”, tiếng “om” của “chuông sầu”. Nữ sĩ đã và đang trải qua những đêm dài thao thức và cô đơn, đau cho nỗi đau của đời mình cô đơn như “mõ thảm” chẳng ai khua “mà cũng cốc”, tủi cho nỗi tủi của riêng mình lẻ bóng chăn đơn như “chuông sầu” , chẳng dánh “cớ sao om”. Nỗi oán hận, đau buồn sầu tủi như thấm sâu vào vào đáy dạ, tê tái xót xa, như đang tỏa rộng trong không gian “khắp mọi chòm” , như kéo dài theo thời gian của những đêm dài. “Om” là tiếng tượng thanh, tiếng chuông sầu, cũng là lời gợi tả nỗi thảm sầu tê tái, đau đớn đến cực độ. Câu hỏi tu từ đã làm cho giọng thơ thảm thiết, xoáy sâu vào lòng người như một lời than, như một tiếng thở dài thương mình trong nỗi buồn ngao ngán:

“Mõ thảm không khua mà cũng cốc,

Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om?”

Có biết thời con gái, Hồ Xuân Hương đã có những vần thơ tươi xinh, phơi phới như “Thân em vừa trắng lại vừa tròn” (Bánh trôi nước). “Hai hàng chân ngọc duỗi song song” (Đánh du)… ta mới thấy hết nõi thảm sầu về bi kịch cô đơn của nữ sĩ được diễn tả tê tái trong hai câu trong phần thực này.

Lời than tự tình trong cô đơn được khơi sâu trong phần luận, để mà “rầu rĩ” thêm, giận hờn thêm cho duyên phận hẩm hiu:

“Trước nghe” đối với “sau giận”; “tiếng” hô ứng với “duyên”; “rầu rĩ” làm tâm trạng đối với “mõm mòm” là trạng thái. “Trước nghe những tiếng…”, là những tiếng gì? – Tiếng của miệng thế? Hay là tiếng gà văng vẳng gáy, tiếng “chuông sầu”, tiếng “mõ thảm” đang “cốc”, đang “om” trong lòng mình? Giữa canh khuya thao thức, càng nghe càng thêm “rầu rĩ”, buồn tủi. Giữa lúc tàn canh thao thức, càng nghe càng “giận”, càng hờn về tình duyên bẽ bàng. Tình duyên của mình được ví với trái cây, không còn “má hây hây gió”(Xuân Diệu) nữa mà đã chín “mõm mòm” , nghĩa là quá chín, đã nẫu đi! “Duyên mõm mòm” là duyên phận hẩm hiu, qúa lứa lỡ thì! Trong câu thơ như có nhiều lệ, nhiều tiếng thở dài, vừa than thân trách phận, vừa buồn hẩm hiu, quá lứa lỡ thì! Trong câu thơ như có nhiều lệ, nhiều tiếng thở dài, vừa than thân trách phận, vừa buồn tủi về con đường tình duyên. Tiếng thơ tự tình của Hồ Xuân Hương là lời than tự thương mình, đồng thời thương cho những người đàn bà cùng cảnh ngộ đã luống tuổi mà vẫn cô đơn lẻ bóng: “Giật mình mình lại thương mình xót xa” (Truyện Kiều).

Phần kết xuất hiện một tứ thơ rất lạ. Như một sự thách đố với số phận, với duyên số. Nữ sĩ vẫn “bướng bỉnh” trước bi kịch cô đơn của mình khi “duyên để mõm mòm” rồi:

Vừa nghi vấn, vừa cảm thán, hai câu kết đầy nghịch lí. Nữ sĩ như vẫn còn tin vào tài năng cảu mình có thể làm xoay chuyển được duyên phận, vẫn hy vọng tìm được bạn đời trăm năm trong đám tài tử văn nhân. Câu 6 nữ sĩ viết: “Sau giận vì duyên để mõm mòm”, câu 8, bà lại viết: “Thân này đâu đã chịu già tom!”. “Già tom”, nghĩa là rất già, già hẳn! Đó là một cách “nói cứng” thể hiện một thái độ “bướng bỉnh”, một bản lĩnh cứng cỏi trước ngang trái cuộc đời. Đọc chùm thơ “Tự tình” cũng như tìm hiểu cuộc đời của nữ sĩ, về mặt tình duyên, ta thấy hạnh phúc tình yêu chưa một lần mỉm cười với Xuân Hương. Bài thơ “Cảm cựu kiêm trình Cần chánh học sĩ Nguyên Hầu” (Nhớ người cũ, viết gửi Cần chánh học sĩ Nguyễn Du – tước hầu) như một bóng quang âm soi tỏ một “mảnh tình riêng” của “Bà chúa thơ Nôm”, giúp ta cảm nhận bài thơ “Tự tình” này:

“Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung,

Mượn ai tới đấy gửi cho cùng.

Chữ tình chốc đã ba năm vẹn,

Giặc mộng rồi ra nửa khắc không

Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập

Phần son càng tủi phận long đong

Biết còn mấy chút sương siu máy

Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong”.

Bài thơ “Tự tình” – I gieo vần “om”, 5 vần thơ, vần nào cũng hóc hiểm, tài tình: “bom chòm om mòm tom”. Những vần thơ hóc hiểm ấy, một mặt thể hiện bút pháp điêu luyện, mặt khác đã tạo nên nhạc điệu, âm điệu như thật, như nén lại cái “oán”, cái “hận”, cái “ngang bướng” của một tâm trạng, một cá tính rất Xuân Hương. Duyên số và hạnh phúc tình yêu của người phụ nữ là nội dung đầy ám ảnh đối với mỗi chúng ta khi đọc bài thơ “Tự tình” này của Xuân Hương. “Tự tình” là tiếng than thân trách phận cho nỗi buồn cô đơn, vẻ bi kịch tình yêu, là niềm khao khát hạnh phúc của người phụ nữ. Vì lẽ đó, “Tự tình” mang giá trị nhân bản sâu sắc

Bài thơ sau đây là bài “Thương vợ” của Tú Xương:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Lặn lội thân cò khi quãng vẵng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Một duyên hai nợ âu đành phận,

Năm nắng mười mưa dám quản công.

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chồng hờ hững cũng như không!”

Trần Tế Xương lận đận trong thi cử, đi thi đến lần thứ tám mới đậu được cái tú tài. Ông học giỏi nhưng phải cái ngông quá, thật ra thái độ ngông của ông là một cách ông phản kháng lại chế độ thi cử lạc lậu, quan trường “ậm ọc” lúc bấy giờ. Mà đậu được cái tú tài thì rồi cũng làm “quan tại gia” thôi. Hồi đó phải đậu cử nhân mới được bổ tri huyện. Thế là bà Tú gần như phải nuôi chồng suốt đời. Ông Tú chỉ còn biết đem tài hoa của mình mà ghi công cho bà Tú:

“Quanh năm buôn bán ở mom sống,

Nuôi đủ năm con với một chồng”.

Từ “mom” thật là hay, vừa thấy được nỗi gian truân của bà Tú buôn bán quanh năm bên bờ sông Vị, vừa thấy được tấm lòng của nhà thơ đối với việc buôn bán khó nhọc của vợ. Từ “mom” là tổng hợp nghĩa của các từ ven, bờ, vực, thềm, thành một từ sáng tạo của nhà thơ làm giầu thêm cho tiếng Việt. Bà Tú buôn thúng bán bưng quanh năm ở “mom sông” mà nuôi chồng, nuôi con:

“Nuôi đủ năm con với một chồng”

Câu thơ chỉ mấy con số khô khốc thế vậy mà tế toái lắm đó! “Nuôi đủ năm con” là vì con, phải nuôi, nên đếm ra để mà nuôi. Nhưng còn chồng thì một chồng chứ mấy chồng, cớ sao lại cũng phải đếm ra “một chồng”? Là vì chồng cũng phải nuôi, mà bà Tú với cái gánh trên vai nuôi năm đứa con đã là vất vả, lại thêm một ông Tú trong nhà nữa thì gánh nặng gấp đôi. Thời đó mà nuôi một ông Tú, lại là Tú Xương nữa thì nhiêu khê lắm.

Nhưng bà Tú được an ủi là vì ông Tú, cái con người tưởng như chỉ biết bông đùa, cười cợt đó lại để tâm đến từng bước chân của bà trên đường lặn lội buôn bán:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

Có thể nói lòng thương vợ của nhà thơ dào dạt lên trong hai câu thơ này. Hình ảnh lặn lội thân cò được tác giả mô phỏng theo một biểu tượng trong thi ca dân gian để nói về người phụ nữ lao động:

“Con cò lặn lội bờ sông

Gánh tạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non”

Nếu như từ “lặn lội” được đảo ra phía trước chủ ngữ để nhấn mạnh sự vất vả của bà Tú, thì từ “eo sèo” gợi lên âm thanh hỗn tạp (tiếng kì kèo mặc cả, tiếng cãi cọ tranh giành) của “buổi đò đông”. Hai tình huống đối lập thật hay: “vắng” và “đông”. Người phụ nữ gánh hàng lặn lội trên quãng đường vắng thật là khổ. Mà đến chỗ “đò đông” thì thật là đáng sợ! Nghĩa là nhìn từ phía nào, nhà thơ cũng thương vợ, tình thương thấm thía, cảm động.

Sang hai câu luận, tác giả chuyển sang diễn tả nội tâm của bà Tú, lời thơ như lời độc thoại của người vợ:

“Một duyên hai nợ âu đành phận,

Năm nắng mười mưa dám quản công”

Nhân dân ta thường nói “vợ chồng là duyên nợ”. Nhà thơ Tú Xương đã chỉ từ ghép “duyên nợ” thành hai từ đơn: “duyên – nợ”. “Duyên” thì thiêng liêng rồi vì đã có sự tham gia của đấng vô hình (ông Tơ bà Nguyệt), còn “nợ” thì đã thành trách nhiệm nặng nề. “Một duyên hai nợ” đã diễn tả được sự vận động trong tâm trí của bà Tú. “Một duyên hai nợ âu đành phận” là bà Tú đã thuận theo lòng trời và thuận theo lòng người (tấm lòng của chính bà!). Nói gọn lại là bà Tú đã chấp nhận! Và chấp nhận cuộc hôn nhân duyên nợ này, bà chấp nhận một ông đồ nho ngông “tám khoa chưa khỏi phạm trường quy”, bà chấp nhận vị quan “ăn lương vợ” nên bà đâu “dám quản công”:

“Năm nắng mười mưa dám quản công”

Thành ngữ “dầm mưa dãi nắng” được tác giả vận dụng sáng tạo thành “năm nắng mười mưa”. Phải nói những con số trong thơ Tú Xương rất có thần. Ta đã thấm thía với hai số năm – một trong câu thừa đề (Nuôi đủ năm con với một chồng). Giờ đây là sự linh diệu của những con số một – hai và năm – mười trong câu luận. “Một duyên hai nợ” đối với “Năm nắng mười mưa”, cho thấy gian khổ cứ tăng lên, bà Tú chịu đựng hết.

Trước người vợ giỏi giang, tần tảo, chịu đựng mọi gian lao vất vả để “nuôi đủ năm con với một chồng” thì nhà thơ chỉ còn biết tự trách mình.

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chồng hờ hững cũng như không!”

Vì quá thương vợ mà nhà thơ tự trách mình, trách một cách nặng nề. “Cha mẹ thói đời…” thì đã thành lời xỉ vả mình. Thật ra là một cách ông Tú nhún mình để cho công trạng của bà Tú nổi lên, chứ Tú Xương đâu phải là người “ăn ở bạc”. Ăn chơi sa đà thì có, “hờ hững” nữa, thì nhà thơ đã thành thật nói rồi, chứ bạc tình, bạc nghĩa thì không. Gang thép với cường quyền mà nhũn với vợ như thế thì thật là con người đáng kính.

Bằng tình cảm chân thành, bằng nghệ thuật sống động, Tú Xương đã thể hiện được hình ảnh người phụ nữ giỏi giang, lam lũ, tần tảo nuôi chồng nuôi con. Bà Tú có những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam xưa.

Bao nhiêu công trạng trong gia đình, ông Tú giành cho bà Tú, ông chỉ nhận về cho mình một chữ “không”. Nhưng bình tâm mà xét thì ông Tú cũng xứng với bà Tú vì trên đất nước gian lao và vất vả này có hàng triệu người như bà Tú, nhưng chỉ có một bà Tú là được vào cõi thơ, cõi bất tử!