Đánh Giá Nội Dung Nghệ Thuật Bài Thơ Tây Tiến / Top 11 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Kovit.edu.vn

Phân Tích Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá

1. Hình ảnh đoàn thuyền đánh cá

Nói đoàn thuyền đánh cá, thực chất là nói đến những người dân chài trên biển, nói đến con người, nhân vật – “ta”. Chú ý rằng nhân vật “ta” là một trong nét đặc trưng nổi bật của thơ ca cách mạng. Những người đánh cá căng buồm ra khơi trong cảnh hoàng hôn chạng vạng. Tiếng hát mở đầu đầy khí thế, lồng ngực “ta” căng như cánh buồm no gió. Biển Đông giàu có chứa trong lòng bao nhiêu loài cá mà “ta” đã rất am tường; cá bạc, cá thu, cá nhụ, cá chim, cá đẻ, cá song,… Tình yêu cuộc sống mới thể hiện qua tiếng hát. Khổ thơ đầu tiên và khổ thơ cuối cũng đều có tiếng hát căng lồng ngực, được gió đưa đi xa khơi: Câu hát căng buồm với gió khơi. Lao động không còn là việc cực nhọc bất đắc dĩ nữa, đây là lao động của “ta”, cho “ta”, con người mới, chủ nhân của chính cuộc đời mình. Tình yêu biển cũng tức là tình yêu đất nước hòa vào tình yêu cuộc đời mới:

Ta hát bài ca gọi cá vào, Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao. Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.

Ý nghĩa cao cả của lao động đánh cá trong tất cả các công đoạn đều được hình dung mang tầm cỡ của những hành động trong vũ trụ, hòa điệu cùng vũ trụ. Lúc thuyền “ta” tiến ra khơi:

Thuyền ta lái gió với buồm trăng, Lướt giữa máy cao với biển bằng, Ra đậu dặm xa đó bụng biển, Dàn đan thế trận lưới vây giăng.

Khi ta gõ thuyền mời gọi các loài cá đến “dệt” vào lưới ta:

Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao. Và khi thuyền đã đầy ắp cá: Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.

Rồi thuyền ta đem cá từ phía biển Đông tiến về bờ,

Thuyền ta chạy đua cùng mặt trời.

Hình tượng “ta”, chủ nhân chân chính của cuộc sống mới được khắc họa bằng thi pháp đặc sắc. Sức mạnh của bàn tay lao động con người được đo và tả bằng những hình tượng lớn, hào sảng.

2. Hình ảnh biển cả

Bức tranh biển cả tráng lệ bao gồm cả vũ trụ, thiên nhiên, với mặt trời, mặt trăng, gió. Những hình ảnh “Mặt trời xuống biển như hòn lửa: “Sóng đã cài then, đêm sập cửa” gợi ý đất trời, biển cá có linh hồn, có sự sống như một con người. Gió cũng như phụ họa với câu hát, với cánh buồm căng phơi phới tình yêu đời và niềm lạc quan, con người hòa nhịp với vũ trụ. Biển giàu có với hàng trăm loài cá nuôi “ta” lớn. Nếu “ta” là trung tâm của bức tranh vũ trụ thì “cá” là nhân vật trung tâm của biển: Đêm ngày dệt biển mướn luồng sáng: Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông, lấp lánh đuốc đen hồng, cái đuôi quẫy trăng vàng chóe. Tâm trạng phấn chấn, yêu cuộc sống của người đánh cá trong không khí náo nức dựng xây cuộc sống mới đã hiện lên qua những sắc màu sinh động của biển cả. Tác giả đã sáng tạo nhiều hình ảnh đặc sắc để diễn tả vẻ đẹp huy hoàng, lãng mạn của biển cả,- của các loài cá, cảnh quăng lưới,…

Không gian thơ mang tầm kích rộng lớn và đầy màu sắc là môi trường hoạt động của “ta”. Biển bằng mênh mông, đối xứng với mây cao tạo nên ấn tượng khoảng không bao la, khoáng đạt. Gió là hình tượng vũ trụ gió là sức mạnh, gió căng buồm, đẩy thuyền đi xa, gợi sự tự do. Mặt trời, mặt trăng là nguồn sáng tạo nên bức tranh đầy màu sắc cho thế giới. Như hòn lửa đỏ rực – mặt trời đang lặn sau mặt biển. Buồm căng sáng dưới trăng; những con cá quẫy dưới trăng gợn ánh vàng chóe,ánh đuốc đen hồng và ngày mai, lại một rạng đông, mặt trời lại nhô lên tô điểm cho biển trời một màu mới, màu nắng hồng, vẩy bạc đuôi vàng của cá lóe rạng trong hình minh. Trung tâm của bức tranh vũ trụ ấy vẫn là con người. Con người cùng đất trời, biển cả vẽ nên bức tranh lao động thật tươi sáng, lạc quan.

Nghệ thuật trong bài thơ mang tiết tấu nhịp điệu của thời gian lao động khẩn trương, mạnh mẽ. Lúc đoàn thuyền ra khơi là hoàng hôn và khi “ta” từ biển quay về đất liền, mát trời lại nhỏ lên mang màu mới. Thuyền lướt gió, “ta” hát, gõ nhịp gọi cá vào, cá đêm ngày dệt muôn luồng sáng trên tấm thảm biển trăng lên cao dần trong đêm như gõ nhịp cùng ta, cả quầy. đêm thở, rồi sao mờ ta kéo lưới trĩu nặng cá – kéo xoăn tay – cho kịp trời sáng và lóe sáng rạng đông là vẩy cá bạc đuôi vàng. Một buổi mai nắng hồng và ta xếp lưới chào một ngày mới. mặt trời nhô màu mới. Tất cả nhịp nhàng, khẩn trương, hài hòa giữa nhịp lao động của con người và nhịp vũ trụ. Ngày và đêm, nhịp sống vĩnh cửu của con người và biển cả. Một bài thơ có rất nhiều động từ diễn tả hành động, tiết tấu của những người đánh cá và của đại dương, của vũ trụ!

3. Thể thơ và nhịp điệu

Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá là tiếng hát lao động tươi vui, khỏe khoắn, đầy niềm tự hào trước cuộc sống mới. Phù hợp với âm hưởng chung đó. thể thơ và ngôn ngữ được sử dụng rất. linh hoạt, sáng tạo. Theo mô hình chung, trong mỗi khổ thơ, sự việc được kể, tả trước, tiếp sau đó là liên tưởng, cảm xúc. Chẳng hạn như trong khổ thơ thứ nhất, sau hai câu tả kể không gian hoàng hôn Mặt trời xuống biển như hòn lửa, Sóng đã cài then, đêm sập cửa và một câu kể Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi, ta gặp một câu diễn tả cảm hứng phơi phới: Câu hát căng buồm cùng gió khơi. Tuy nhiên, mạch cảm xúc mạnh mẽ của nhân vật trữ tình làm vỡ khuôn khổ cổ điển của các khổ thơ truyền thống này. Trong khổ thơ thứ hai, ta thấy có câu thơ bắt cầu nối “hát” ở khổ thơ thứ nhất sang khổ thơ thứ hai: Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng… Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!

Có khổ thơ không kể hay tả mà chỉ thuần túy liên tưởng:

Ta hát bài ca gọi cá vào Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.

Do vậy mà về hình thức thì bài thơ vẫn có dáng dấp truyền thống song nội dung mới đã thay đổi thi pháp của thể thơ. Không nói đến thơ tự do, trong thơ nói chung, vần thơ và thanh điệu của các từ đứng ở vị trí hiệp vần rất quan trọng, tạo nên đặc trưng nhạc tình của toàn bài.

Về cách hiệp vần, bài thơ không phải là dạng thơ tự do, không vần, song vần thơ đã được tổ chức không theo cách hiệp vần truyền thống. Khổ đầu có hai vần lửa (cửa) và khơi, hai câu đầu hiệp vần lửa, của đều ở thanh trắc; hai câu sau hiệp vần khơi, lại thuộc thanh không. Khổ thứ hai, lại tổ chức hiệp vần hai câu 1 và 3 (lặng và sáng – thanh trắc), hai câu 2 và 4 ( thoi và ơi – thanh không). Khổ thứ 3 lại hiệp vần như một khổ thơ Đường luật,… Nhìn chung, dạng thức hiệp vần và thanh điệu của các khổ thơ rất đa dạng. Nhịp điệu, thanh điệu trong mỗi câu thơ cũng đa dạng, bất ngờ. Phương tiện ngôn ngữ từ tạo nên giọng điệu cung phù hợp với điệu tâm hồn khỏe khoắn, mạnh mẽ trong không khí lạc quan của cuộc sống mới.

Phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ Đoàn thuyền đánh cá – Gợi ý

I. Những kiến thức chung

Huy Cận (1919-2005), tên đầy đủ là Cù Huy Cận

Quê ở tỉnh Hà Tĩnh.

Là nhà thơ nổi tiếng từ phong trào Thơ mới với tập thơLửa thiêng (1940).

Là nhà thơ tiêu biểu cho nền thơ hiện đại Việt Nam từ sau năm 1945:

+ Trước Cách mạng tháng Tám, thơ ông giàu chất triết lí, thấm thía bao nỗi buồn, tràn ngập cái sầu nhân thế.

+ Sau Cách mạng, thơ Huy Cận dạt dào niềm vui, là bài ca vui về cuộc đời, là bài thơ yêu thiên nhiên, con người và cuộc sống.

1996,ông được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học-nghệ thuật.

Tác phẩm tiêu biểu: Lửa thiêng(1940); Vũ trụ ca( 1942); Trời mỗi ngày lại sáng (1958);Đất nở hoa (1960); Bài thơ cuộc đời (1963); Hai bàn tay em (1967)…

Bài thơ được viết vào giữa năm 1958, khi cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc thắng lợi, miền Bắc được giải phóng và bắt tay vào công cuộc xây dựng cuộc sống mới. Niềm vui dạt dào tin yêu trước cuộc sống mới đang hình thành, đang thay da đổi thịt đã trở thành nguồn cảm hứng lớn của thơ ca lúc bấy giờ. Huy Cận có chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh. Từ chuyến đi ấy, hồn thơ của ông mới thực sự nảy nở trở lại và dồi dào cảm hứng về thiên nhiên đất nước, về lao động và niềm vui trước cuộc sống mới.

Bài “Đoàn thuyền đánh cá” được sáng tác trong thời gian ấy và in trong tập thơ “Trời mỗi ngày lại sáng” (1958).

b. Bố cục: 3 phần:

+ Hai khổ đầu: Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi lúc hoàng hôn buông xuống.

+ Bốn khổ tiếp: Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển trong một đêm trăng rất đẹp.

+ Khổi cuối: Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về khi bình minh đã rạng ngời trên biển.

II. Phân tích tác phẩm

Bốn câu thơ có kết cấu gọn gàng, cân đối như một bài tứ tuyệt: hai câu đầu tả cảnh, hai câu sau nói về con người. Cảnh và người tưởng như đối lập song lại hòa hợp, cảnh làm nền để cho hình ảnh con người nổi bật lên như tâm điểm của một bức tranh – bức tranh lao động khỏe khoắn, vui tươi tràn ngập âm thanh và rực rỡ sắc màu.

“Mặt trời xuống biển như hòn lửa … Câu hát căng buồm cùng gió khơi.”

+ Hai câu thơ đầu tả cảnh hoàng hôn trên biển, cũng là thời điểm đoàn thuyền đánh cá ra khơi:

Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Sóng đã cài then, đêm sập cửa

Biện pháp so sánh làm nên vẻ đẹp hùng vĩ, tráng lệ của biển khơi. Bút phán nhân hóa, ẩn dụ “Sóng đã cài then, đêm sập cửa” làm cho thiên nhiên trở nên gần gũi với con người.

+ 2 câu thơ tiếp theo nói về hoạt động của con người:

Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

Co n người hiện lên dưới phông nền của thiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ. Vẻ đẹp gợi lên ở đây vừa hùng vĩ, vừa nên thơ. Từ “lại” chỉ mức độ đều đặn thường xuyên của hoạt động “ra khơi”. Câu thơ “Câu hát căng buồm cùng gió khơi” thể hiện niềm vui lao động, sự hào hứng cho chuyến ra biển của ngư dân. Từ “căng” như nhãn tự của khổ thơ, giống như một sự tràn căng về sức sống, về niềm tin vào lao động và khả năng chinh phục biển khơi của con người.

Tiếng hát đầy hứng khởi cũng thể hiện niềm mong ước của người đánh cá: mong ước một chuyến ra khơi đánh bắt thuân lợi giữa sự giàu đẹp của biển khơi:

Câu hát căng buồm cùng gió khơi

” Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng,

Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển:

Cảm hứng lãng mạn giúp nhà thơ phát hiện vẻ đẹp của cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển trong đêm trăng với niềm vui phơi phới, khỏe khoắn khi con người làm chủ cuộc đời, làm chủ biển trời quê hương.

Cảnh đoàn thuyền lướt sóng ra khơi, từng luồng cá bủa lưới vây giăng mang vẻ đẹp vừa hoành tráng, vừa thơ mộng:

Đến dệt lưới ta,đoàn cá ơi!”

“Thuyền ta lái gió với buồm trăng

Dàn đan thế trận lưới vây giăng”.

+ Con thuyền được tác giả nâng tầm thành tầm vóc vũ trụ. Thuyền có gió làm bánh lái, có trăng làm cánh buồm, lướt giữa mây cao với biển bằng, giữa mây trời và sóng nước.

+ Chủ nhân con thuyền – những người lao động cũng trở nên oai phong giữa biển cả với tư thế của người làm chủ. Hình ảnh con người đã hòa nhập với kích thước rộng lớn của thiên nhiên vũ trụ. Không chỉ vậy, họ còn nổi bật ở vị trí trung tâm – ra tận khơi xa dò bụng biển, tìm luồng cá, dàn đan thế trận,bủa lưới vây giăng.

Cá nhụ cá chim cùng cá đé

Cá song lấp lánh đuốc đen hồng.

Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe

Biện pháp liệt kê kết hợp với sự phối sắc tài tình qua việc sử dụng các tính từ chỉ màu sắc “đen hồng”,”vàng chóe”… đã tạo nên một bức tranh nhiều màu sắc. Mỗi loài cá là một kiểu dáng, một màu sắc: “Cá nhụ cá chim cùng cá đé/ Cá song lấp lánh đuốc đen hồng”. Hai câu thơ làm nên sự giàu đẹp của biển cả quê hương. “Cái đuôi em quẫy”, trăng như vàng hơn, rực rỡ hơn, biển cả như sinh động hẳn lên. Tác giả dùng đại từ “em” để nói về những con cá giống như một sự hòa nhập và thiên nhiên, gần gũi với thiên nhiên, biển cả.

+ Cảnh đẹp không chỉ ở màu sắc, ánh sáng, mà còn ở âm thanh.Nhìn bầy cá bơi lội, nhà thơ lắng nghe tiếng sóng vỗ rì rầm:

Bút pháp lãng mạn, trí tưởng tượng phong phú của tác giả đã sáng tạo nên những hình ảnh đẹp khiến công việc lao động nặng nhọc của người đánh cá trở thành bài ca đầy niềm vui, nhịp nhàng cùng Ta hát bài ca gọi cá vào

“Đêm thở sao lùa nước Hạ long”

Sóng biển đu đưa rì rào va đập vào mạn thuyền. Trăng, sao phản chiếu ánh sáng xuống nước biển, mỗi khi sóng vỗ nhịp tưởng như có bàn tay của sao trời đang “lùa nước Hạ Long”. Đó là sự độc đáo, mới lạ trong sáng tạo nghệ thuật. Có thể nói, bằng tâm hồn hết sức tinh tế, tác giả đã cảm nhận được hơi thở của thiên nhiên, vũ trụ.

Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.

+ “Gõ thuyền” là công việc thực của người đánh cá, nhưng cái độc đáo ở đây là vầng trăng được nhân hóa, tham gia lao động cùng con người.

+ Người dân chài hát bài ca gọi cá vào bằng bài ca, khúc hát của người lao động. Mọi sự mệt nhọc của mưu sinh dường như tan biến, nhường chỗ cho những niềm hân hoan, hứng khởi. Sao mờ, đêm tàn cũng là lúc người dân chài kéo lưới kịp trời sáng. Cảnh kéo lưới, bắt cá được miêu tả vừa chân thực, vừa đầy chất thơ với không khí khẩn trương, gấp gáp:

Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng

Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về

Đoàn thuyền đánh cá thắng lợi trở về trong bình minh rực rỡ, tráng lệ.

Câu đầu của khổ thơ lặp lại gần như nguyên vẹn câu cuối của khổ thứ nhất, chỉ thay có một từ ( từ “với”) đem đến kết cấu đầu – cuối tương ứng, tạo sự hài hòa cân đối. Cấu trúc lặp lại ấy trở thành điệp khúc ngân nga, nhấn mạnh niềm vui lao động làm giàu đẹp quê hương và khắc họa đậm nét vẻ đẹp khỏe khoắn cùng niềm vui phấn khởi của người ngư dân.

Phép nhân hóa: “Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời” cho thấy tư thế chủ động chinh phục biển trời, vũ trụ của người ngư dân.

Nếu khổ thơ đầu, mặt trời xuống biển báo hiệu hoàng hôn thì ở khổ cuối lại là mặt trời đội biển – là ngày mới bắt đầu – ngày mới với thành quả lao động bội thu và niềm tin yêu phấn chấn.

Câu thơ kết bài vừa mang ý nghĩa tả thực, vừa khiến người đọc liên tưởng tới một tương lai tươi sáng, huy hoàng: “Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi”. Ngày mới bắt đầu – thành quả lao động trải dài muôn dặm phơi – một cuộc đời mới đang sinh sôi, phát triển…

Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.

Bài thơ có nhiều sáng tạo trong việc xây dựng hình ảnh bằng liên tưởng, tưởng tượng phong phú, độc đáo; có âm hưởng khỏe khoắn, hào hùng,lạc quan.

Sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật: So sánh, ẩn dụ, nhân hóa, liệt kê,…

Có thể nói, cảnh lao động đánh cá trên biển như bức tranh rực rỡ. Người kéo lưới là trung tâm của cảnh được khắc họa rất độc đáo với thân hình gân guốc, chắc khỏe cùng thành quả thu về “vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông”. Màu hồng của bình minh làm ấm sáng bức tranh lao động. Thiên nhiên và con người cùng nhịp nhàng trong sự vận hành của vũ trụ.

III – Tổng kết:

Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” vẽ nên bức tranh tráng lệ, hùng vĩ của thiên nhiên và hình ảnh con người hăng say lao động. Bài thơ cũng bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước đất nước và cuộc sống.

Giá Trị Nội Dung Nghệ Thuật &Amp; Cảm Nhận Bài Thơ Tức Cảnh Pác Bó

Ba câu thơ đầu trong bài thơ tứ tuyệt có cách ngắt nhịp 4/3 tạo thành hai vế sóng đôi, giúp giọng thơ trở nên hài hòa, tự nhiên.

Trong câu thơ thứ 3 “Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng” đang nói về công việc của Bác, thời gian này Bác đang phải tìm đường lối, hướng đi cho cách mạng dân tộc vốn đang rất nguy cấp. Với lối nói giản dị nhưng đã thể hiện được công việc của Bác và sự vất vả của công việc đang trải qua.

Câu thơ thứ 3 trong bài thơ chính là trung tâm của bài thơ tứ tuyệt, ở đó người chiến sỹ hoạt động cách mạng trở nên vĩ đại, lớn lao.

Câu thơ cuối trong bài thơ Tức cảnh Pác Bó thể hiện sự lạc quan, vui vẻ, dù gian khổ nhưng tràn đầy sức sống cách mạng. Từ “sang” trong bài pha một chút vui vẻ trong giọng thơ đã nói lên sự lạc quan trong hoàn cảnh khó khăn, sự tự hào của những người đang làm cách mạng.

Giá trị nghệ thuật bài thơ Tức cảnh Pác Bó

– Tác giả sử dụng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, giọng thơ trong sáng, sâu sắc, thể hiện sự lạc quan trong hoàn cảnh khó khăn.

– Ngôn từ sử dụng giản dị, trật tự từ ngữ tự nhiên.

Như vậy, chúng tôi vừa hướng dẫn một số gợi ý tham khảo giá trị nội dung, nghệ thuật của bài thơ Tức Cảnh Pắc Bó, chúc các em học sinh học tốt.

Cảm nhận về bài thơ Tức cảnh Pác Bó

Cảm nhận về bài thơ Tức cảnh Pác Bó

Sau quãng thời gian dài đằng đẵng Bác bôn ba nước ngoài tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc tháng 2 – 1941 Bác trở về quê hương, sinh sống làm việc tại hang Pác Bó. Trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn Bác vẫn vui vẻ, lạc quan xem mọi gian khổ đều trở thành sang trọng. Đó cũng là hoàn cảnh sáng tác của bài thơ Tức cảnh Pác Bó.

Những câu thơ đầu tiên của bài thơ cho thấy hoàn cảnh sống rất khó khăn:

Sáng ra bờ suối tối vào hang

Câu thơ có cách ngắt nhịp 4/3 rõ ràng, dễ hiểu, mô tả khái quá nếp sống của Bác. Ban ngày Bác làm việc tối mới trở về hang để nghỉ ngơi. Bác là con người yêu thiên nhiên nên rất thích thú khi làm việc bên bờ suối, làm bạn với thiên nhiên, tối về hang nghỉ ngơi sau khi làm việc. Cuộc sống con người như giao hòa cùng thiên nhiên.

Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng

Câu thơ tiếp theo nói về đời sống vật chất trong hoàn cảnh đó, cuộc sống núi rừng đạm bạc với thức ăn sẵn có từ thiên nhiên nhưng toát lên khí thế của người chiến sĩ cách mạng sẵn sàng đương đầu với khó khăn, thử thách để làm việc lớn.

Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng

Trong điều kiện đó Bác làm việc rất khó khăn, không có bàn, người chiến sĩ cách mạng dùng dạ làm bàn, lại là bàn đá chông chếnh. “Chông chênh” cho thấy điều kiện làm việc khó khăn cần người chiến sĩ cách mạng phải cố gắng nỗ lực. Ba tiếng cuối cùng sử dụng toàn thanh trắc thể hiện sự vất vả, khó khăn nhưng toát lên tinh thần vượt khó. Bác đã thể hiện làm cách mạng cần thiết phải vượt qua khó khăn, gian khổ để đi đến thành công.

Cuối bài thơ là câu nói thể hiện sự lạc quan, vui vẻ với hoàn cảnh hiện tại:

Cuộc đời cách mạng thật là sang.

Câu cuối chốt lại bài thơ làm cho người đọc cảm thấy thú vị. Việc ăn, việc ở khộng phải là sang, chỉ có việc làm dịch sử Đảng là sáng nhất giúp đấu tranh giải phóng dân tộc, mang lại tự do, hạnh phục cho nhân dân. Câu thơ toát lên khẩu khí của người chiến sĩ cách mạng coi thường vật chất, quyết định theo cách mạng để làm nghiệp lớn.

Tức cảnh Pác Bó là bài thơ Đường viết theo lối hóm hỉnh, qua đó ta thấy thú lâm tuyền của Bác cùng với tinh thần lạc quan, cố gắng vượt qua khó khăn vì sự nghiệp cách mạng thắng lợi.

Chúng tôi vừa nêu nội dung nghệ thuật và cảm nhận về bài thơ Tức cảnh Pác Bó của tác giả Hồ Chí Minh giúp học sinh hiểu rõ bài thơ này.

Đặc Điểm Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Bài Thơ “Vội Vàng”

” Vội vàng” là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Xuân Diệu trước Cách mạng. Đây là tiếng nói của một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt, nhưng đằng sau đó là cả một quan niệm nhân sinh mới chưa thấy trong thơ ca truyền thống.

Đặc điểm về nội dung

“Vội vàng” chỉ là một cách nói. Trong cốt lõi, đây là một quan niệm sống mới mang ý nghĩa tích cực nhằm phát huy cao độ giá trị của “cái tôi” cá nhân trong thời hiện đại. Quan niệm sống nói trên được diễn giải qua một hệ thống cảm xúc và suy nghĩ mang màu sắc “biện luận” rất riêng của tác giả.

Phát hiện mới của Xuân Diệu: Cuộc đời như một thiên đường trên mặt đất

Bước vào bài thơ, độc giả ngạc nhiên trước những lời tuyên bố lạ lùng của thi sĩ:

Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất; Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi

Những lời tuyên bố đó chỉ có vẻ kì dị, ngông cuồng bề ngoài, nhưng thực chất bên trong chứa đựng một khát vọng rất đẹp: chặn đứng bước đi của thời gian để có thể vĩnh viễn hoá vẻ đẹp của cuộc đời.

Nhưng lí do nào khiến nhà thơ nảy sinh niềm khao khát đoạt quyền tạo hoá để chặn dòng chảy của thời gian?

Trong quan niệm của người xưa, đời là chốn bụi trần, cuộc đời là bể khổ. Đấy là lí do vì sao lánh đời nhiều khi đã trở thành một cách sống mà cả tôn giáo cũng như văn chương đều chủ trương vẫy gọi mọi người trên hành trình tìm sự an lạc tâm hồn. Cũng chẳng phải ngẫu nhiên, đạo Phật tô đậm vẻ đẹp của cõi Niết bàn, cõi Tây phương cực lạc; văn học cổ Trung Quốc cũng như văn học trung đại Việt Na, đều đề cao tâm lí hoài cổ, phục cổ, khuyến khích xu hướng tìm về những giá trị trong quá khứ vàng son một đi không trở lại như đi tìm một thiên đường đã mất. Xuân diệu thuộc thế hệ những người trẻ tuổi ham sống và sống sôi nổi, họ không coi lánh đời là một xử thế mang ý nghĩa tích cực mà ngược lại, họ không ngần ngại lao vào đời. Và thật ngạc nhiên, nhờ tuổi trẻ, họ phát hiện ra cuộc đời thực chất không phải là một cõi mông lung, mờ mờ nhân ảnh, cũng chằng phải là cái bể khổ đày đoạ con người bằng sinh, lão, bệnh, tử… những định mệnh đã hàng ngàn năm ám ảnh con người mà trái lại là cả thế giới tinh khôi, quyến rũ. Tất cả đều hiện hữu, tất cả đều gần gũi, đầy ắp, ngay trong đời thực và trong tầm tay với:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật; Này đây hoa của đồng nội xanh rì; Này đây lá của cành tơ phơ phất; Của yến anh này đâu khúc tình si; Và này đây ánh sáng chớp hàng mi, Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa; Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;

Trong cái nhìn mới mẻ, say sưa thi nhan vồn vã liệt kê bao vẻ đẹp của cuộc đời hằng ngày loạt đại từ chỉ trở này đây làm hiện lên cả một thế giới thật sống động. Hơn thế, cõi sống đầy quyễn rũ ấy như đang vẫy gọi, chào mời bằng vẻ đẹp ngọt ngào, trẻ trung và có ý để dành cho những ai đang ở lứa tuổi yêu đương, ngọt ngào: đây là tuần tháng mật để dành cho ong bướm, đây là hoa của đồng nội (đang) xanh rì, đây là lá của cành tơ phơ phất và khúc tình si kia là của những lứa đôi…..

Với đôi mắt xanh non của người trẻ tuổi, qua cái nhìn bằng ánh sáng chớp hàng mi, thi nhân còn phát hiện ra điều tuyệt vời hơn: tháng giêng, mùa xuân sao ngon như một cặp môi gần!

Nỗi ám ảnh của nhà thơ Xuân Diệu về số phận mong manh của những giá trị đời sống và sự tồn tại ngắn ngủi của tuổi xuân

Tuy nhiên, trong ý thức mới của con người hiện đại về thời gian, khi khám phá ra cái đẹp đích thực kia của đời cũng là lúc người ta hiểu rằng điều tuyệt diệu này có số phận thật ngắn ngủi, mong manh và sẽ nhanh chóng tàn phai vì theo vòng quay của thời gian có cái gì trên đời là vĩnh viễn? Niềm ám ảnh đó khiến cái nhìn của thi nhân về thế giới bỗng đổi khác, tất cả đều nhuốm màu của lo âu, bàng hoàng, thoảng thốt.

Đấy là lí do vì sao mạch cảm xúc trong đoạn thơ bỗng liên tục thay đổi: từ việc xuất hiện các kiểu câu định nghĩa, tăng cấp nghĩa là (3 lần/3 dòng thơ), để định nghĩa về mùa xuân và tuổi trẻ, mà thực chất là để cảm nhận về hiện hữu và phôi pha đến ý tưởng ràng buộc số phận cá nhân mình với số phận của mùa xuân, tuổi xuân thổ lộ niềm xót tiếc cái phần đẹp nhất của đời người rồi cất lên tiếng than đầy khổ não:

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.

Cũng từ đây thiên nhiên chuyển hoá từ hợp thành tan:

Cơn gió xinh thì thào trong gió biếc, Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi? Chim rộn ràng bộng dứt tiếng reo thi.

Dường như tất cả đều hoảng sợ bởi những chảy trôi của thời gian, bởi thời gian trôi đe doạ sẽ mang theo tất cả, thời gian trôi dự báo cái phai tàn sắp sửa của tạo vật. Thế là từ đây, thơi gian không còn là một đại lượng vô ảnh, vô hình nữa, người ta nhận ra nó mang hương vị đau xót của chia phôi, người ta phát hiện nó tựa như một vết thương rớm máu trong tâm hồn:

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,

Niềm xót tiếc cứ thế tuôn chảy miên man trong hàng loạt câu thơ và khắc nghiệt với bất công đã trở thành một quan hệ định mệnh giữa tự nhiên với con người. Nỗi cay đắng trước sự thật đó được triển khai trong những hình ảnh và ý niệm sắp xếp theo tương quan đối lập giữa: lòng người rộng mà lượng trời chật; Xuân của thiên nhiên thì tuần hoàn mà tuổi trẻ của con người thì chẳng hai lần thắm lại. Cõi vô thuỷ vô chung là vũ trụ vẫn còn mãi vậy mà con người, sinh thể sống đầy xúc cảm và khao khát lại hoá thành hư vô. Điều “bất công” này thôi thúc “cái tôi” cá nhân đi tìm sức mạnh hoá giải.

Cách hoá giải mâu thuẫn, nghịch lí của Xuân Diệu

Từ nỗi ám ảnh về số phận mong manh chóng tàn lụi của tuổi xuân, tác giả đề ra một giải pháp táo bạo. Con người hiện đại không sống bằng số lượng thời gian mà phải sống bằng chất lượng cuộc sống – sống tận hưởng phần đời có giá trị và có ý nghĩa nhất bằng tốc độ thật lớn và một cường độ thật lớn. Đoan thơ cuối trong bài thơ gây ấn tượng đặc biệt trước hết bởi nó tựa như những lời giục giã chính mình lại như lời kêu gọi tha thiết đối với thế nhân được diễn đạt bằng một nhịp thơ gấp gáp bộc lộ vẻ đẹp của một tâm hồn trẻ trung, sôi nổi, cuồng nhiệt yêu đời và yêu sống.

Rõ ràng, lẽ sống Vội vàng bộc lộ một khát vọng chính đáng của con người. Như đã nói đây không phải là sự tuyên truyền cho triết lí sống gấp mà là ý thức sâu sắc về cuộc sống của con người khi anh ta đang ở lứa tuổi trẻ trung, sung sức nhất. Xuân Diệu từng tuyên ngôn: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối – Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm” chính là tuyên ngôn cho chặng đường đẹp nhất này. Vội vàng, vì thế là lẽ sống đáng trân trọng mang nết đẹp của một lối sống tiến bộ, hiện đại. Đây chưa phải là lẽ sống cao đẹp nhất lúc bấy giờ nhưng dù sao, trong một thời đại mà lối sống khổ hạnh, “ép xác”, “diệt dục” là không còn phù hợp nữa, là lời cổ động cho một lối sống tích cực, sống trong ý thức phát huy hết giá trị của tuổi trẻ và cũng là của “cái tôi”.

Tuy nhiên, lối sống Vội vàng đang còn dừng ở sự khẳng định mọt chiều. Một lẽ sống đẹp phải toàn diện và hài hoà: không chỉ tích cực tận hưởng mà còn phải tích cực tận hiến.

Đặc điểm nghệ thuật

Vội vàng có nét độc đáo trong cấu tứ. Bài thơ có sự kết hợp hài hoà hai yếu tố: trữ tình và chính luận. Trong đó, chính luận đóng vai trò chủ yếu. Yếu tố trữ tình được bộc lộ ở những rung động mãnh liệt bên cạnh những ám ảnh kinh hoàng khi phát hiện sự mong manh của cái đẹp, của tình yêu và tuổi trẻ trước sự huỷ hoại của thời gian. Mạch chính luận là hệ thống lập luận, lí giải về lẽ sống Vội vàng, thông điệp mà Xuân Diệu muốn gửi đến các độc giả được trình bày theo lối quy nạp từ nghịch lí, mâu thuẫn đến giải pháp.

Ví dụ trong đoạn thơ cuối, tác giả cũng đã mạnh dạn và táo bạo trong việc sử dụng một hệ thống từ ngữ tăng cấp như: ôm (Ta muốn ôm), riết (Ta muốn riết), say (Ta muốn say), thâu (Ta muốn thâu)… Và đỉnh cao của sự đam mê cuồng nhiệt là hành động cắn vào mùa xuân của cuộc đời, thể hiện một xúc cảm mãnh liệt và cháy bỏng. Không dừng lại ở đó, tác giả còn sử dụng một hệ thống từ ngữ cực tả sự tận hưởng: chếch choáng, đã đầy, no nê.. diễn tả niềm hạnh phúc được sống cao độ với cuộc đời.

Nội Dung &Amp; Nghệ Thuật Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kính

Phạm Tiến Duật (1941 – 2007), quê ở tỉnh Phú Thọ, sinh ra trong một nhà nho với cha là nhà giáo dạy tiếng Hán và tiếng Pháp. Sau khi tốt nghiệp, ông đi nhập ngũ. Đây là giai đoạn ông sống và chiến đấu chủ yếu trên tuyến đường Trường Sơn. Và cũng là giai đoạn cho những tác phẩm thơ nổi tiếng của ông ra đời. Có thể nói ông đã có những đóng góp to lớn cho nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Tham gia chiến đấu và trưởng thành từ cuộc cách mạng máu lửa, đã làm cho hồn thơ ông sâu sắc, trẻ trung mà không kém phần tinh nghịch. Các sáng tác của ông cũng được phổ nhạc tiêu biểu là bài “Trường Sơn đông, Trường sơn tây”. Các tập thơ chính của ông phải kể đến như “Vầng trăng quầng lửa” (1970), “Ở hai đầu núi” (1981), Thơ một chặng đường, Nhóm lửa…

“Bài thơ tiểu đội xe không kính” nằm trong tập thơ Vầng trăng, quầng lửa của Phạm Tiến Duật bài thơ được ra đời ngày trong thời điểm chống Mĩ diễn ra ác liệt và căng go nhất. Những chiếc xe tiếp tế vận hành quân trên con đường vì miền Nam thân yêu bất chấp mưa bom bão đạn từ kẻ thù.

Bố cục bài thơ

“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật chúng ta có thể chia là 3 phần:

Phần 1: 2 khổ đầu – Những người lính lái xe với tư thế hiên ngang ra trận

Phần 2: 4 khổ tiếp – Tinh thần lạc quan, ngang tàng của những người lính Trường Sơn.

Phần 3: còn lại – Ý chí chiến đấu mãnh liệt của những người lính vì miền Nam ruột thịt.

Ý nghĩa nhan đề

Nhan đề bài thơ khá dài, với 8 chữ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” tạo nên sự độc đáo cho toàn bài. Với nhan đề này, đây là sự phát hiện độc đáo, sáng tạo của nhà thơ: những chiếc xe không có kính. Trên chiến trường ác liệt mưa bom bão đạn, người chiến sĩ phải trải qua biết bao hi sinh gian khổ, khó khăn thiếu thốn mọi mặt. Và hình ảnh những chiếc xe không có kính đó là hiện thực khốc liệt ngoài kia mà các anh phải gánh chịu. Không có kính các anh vẫn “ung dung” – một phát hiện mới mẻ của tác giả, hiện thực dù có khốc liệt đến đâu thì cũng không làm nguôi tinh thần lạc quan cùng ý chí chiến đấu của những người lính trên chiến trường.

Nội dung chính bài thơ

Bài thơ khắc họa hình ảnh lạ mắt: chiếc xe không kính, tác giả làm nổi bật hình ảnh của những người lính lái xe ở Trường Sơn dũng cảm, bất chấp khó khăn, thể hiện niềm lạc quan tuổi trẻ và ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam. Tinh thần vui vẻ, lạc quan vì niềm tin chiến thắng được thể hiện một cách rõ nét qua khổ cuối:

“Không có kính rồi xe không có đèn

Không có mùi rồi thùng xe có xước

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

Chỉ cần trong xe có một trái tim”

Nghệ thuật trong bài thơ

Phạm Tiến Duật đã thành công trong việc sử dụng nghệ thuật đặc sắc khắc họa hình ảnh những chiếc xe không kính và hình ảnh những người chiến sĩ:

– Tác giả viết bài thơ theo thể tự do, các câu dài ngắn khác nhau, được gieo vần ở tiếng thơ cuối cùng của dòng thơ. Với cách sử dụng thể thơ này cho thấy tinh thần phóng khoáng, yêu thích sự tự do không chỉ của tác giả mà còn là của những người chiến sĩ.

– Biểu đạt chủ yếu dùng trong bài thơ là phương thức biểu cảm, có kết hợp thêm yếu tố tự sự vào bài thơ. Yếu tố biểu cảm giúp cho bài thơ thêm tình cảm, mềm mại trong cách kể chuyện của tác giả. Cuộc sống nơi thao trường tưởng chừng như chỉ có gian nan, thử thách nhưng với cách kể chuyện của Phạm Tiến Duật, nó trở nên vui tươi, lạc quan và có phần tinh nghịch, ngang tàn.

– Giọng điệu trong bài thơ lạc quan, vui vẻ. Giọng điệu vui tươi xuyên xuốt cả bài thơ làm cho người đọc cảm nhận được hiện thực tàn khốc ngoài kia như dịu đi trong con mắt của người chiến sĩ. Tác giả làm nên hình ảnh sinh động của cuộc sống người lính trong chiến trường, ngôn ngữ tự nhiên, có những nét khá giống với văn xuôi.

– Đặc biệt trong bài thơ, tác giả đã sử dụng rất nhiều các biện pháp tu từ như nhân hóa, so sánh, điệp từ, ẩn dụ. Các biện pháp nghệ thuật này làm cho bài thơ thêm sinh động, dễ đi vào lòng người.

Dàn bài phân tích nội dung

Hình ảnh những chiếc xe không kính:

– Hai câu thơ đầu là nguyên nhân của những chiếc xe không có kính. Tác giả sử dụng hàng loạt các động từ mạnh như “giật”, “rung”, kết hợp với điệp từ không cho thấy hiện thực ngoài chiến trường đang rất ác liệt. Đây chính là lý do mà những chiếc xe không có kính.

– Hình ảnh những chiếc xe không kính đã quá quen thuộc với những năm tháng chống Mĩ, tuy nhiên chỉ khi đến với Phạm Tiến Duật thì nó mới đi vào thơ và trở thành hình ảnh độc đáo. Những nét của một hồn thơ tinh nghịch, ngang tàng làm cho hình ảnh những chiếc xe vừa thân thuộc lại có chút gì đó mới mẻ.

Hình ảnh người chiến sĩ lái xe Trường Sơn

– Tư thế ung dung, hiên ngang “Ung dung…như ùa vào buồng lái”: biện pháp nhân hóa được sử dụng “gió vào xoa”, “con đường chạy” và ẩn dụ chuyển đổi cảm giác “mắt đắng” làm nổi bật hiện thực theo cảm nhận của người chiến sĩ. Biện pháp đảo ngữ trong câu thơ đầu tiên làm nổi bật lên tư thế hiên ngang, đĩnh đạc, không sợ trước những gian khổ.

– Tinh thần lạc quan, sục sôi của những người lính :”Không có kính ừ có bụi…gió lùa khô mau thôi”. Những khó khăn trên tuyến đường trường sơn đầy máu lửa, nào những bụi, những mưa như tuôn xối xả. Không có kính bụi bay, gió thổi nhưng người lính vẫn một thái độ :ừ thì”. Đây là thái độ mang một chút nganh tàn, hống hách, mặc kệ những khó khăn ngoài kia

-Tinh thần đồng chí đồng đội thắm thiết, quây quần bên bếp lửa Hoàng cầm. Sau những chặng đường mệt mỏi, người lính phải nghỉ ngơi và cũng là lúc “gia đình” bên nhau, “chung bát chung đũa”. Trong chiến tranh tinh thần đó thật chân quý biết bao.

-Lòng yêu nước, tinh thần chiến đấu sục sôi. Có thể nói đây là đỉnh điểm của những gian nan “không kính”, “không đèn”, “không mui xe”, “thùng xe có xước”. Nhưng cũng không thể quật ngã được tinh thần của các anh. Các chiến sĩ vẫn đứng lên tiếp tục chặng đường vì miền Nam yêu dấu “Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước”.