Dàn Bài Thơ Việt Bắc / 2023 / Top 20 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Kovit.edu.vn

Dàn Ý Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Đầy Đủ / 2023

– Tố Hữu – *Vài nét về tiểu sử tác giả:

Tố Hữu (1920 – 2002), tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, quê ở Thừa Thiên Huế.

Ông sinh trưởng trong một gia đình nhà nho, có truyền thống nho học và văn chương.

Là người giác ngộ cách mạng sớm. Trong hai cuộc kháng chiến cho đến năm 1986, ông liên tục giữ những cương vị trọng yếu trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

Tố Hữu đến với thơ và đến với cách mạng gần như cùng một lúc, do đó con đường thơ của Tố Hữu song hành với con đường cách mạng.

Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình chính trị (chính trị, xã hội, lịch sử.. đều trở thành nguồn cảm hứng trong thơ Tố Hữu).

*Lí do thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình, chính trị:

Con đường thơ Tố Hữu song hành với con đường cách mạng.

Với Tố Hữu, làm thơ cũng là cách thức phục vụ cách mạng.

Tố Hữu không chỉ là một nhà cách mạng, Tố Hữu còn là một nhà thơ có tâm hồn tinh tế, nhạy cảm lại được nuôi dưỡng trong một gia đình nho gia có truyền thống nho học và văn chương, lớn lên ở xứ Huế có truyền thống văn hóa, văn học.

PHÂN TÍCH TÁC PHẨM:

+) Bài thơ “Việt Bắc” được rút ra từ tập “Việt Bắc”.

+) Hoàn cảnh ra đời bài thơ Việt Bắc:

“Việt Bắc” là tác phẩm xuất sắc của Tố Hữu nói riêng và thơ Việt Nam hiện đại nói chung.

Bài thơ được sáng tác vào tháng 10 năm 1954. Đây là thời điểm các cơ quan Trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trờ về thủ đô Hà Nội, sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc vẻ vang với chiến thắng Điện Biên phủ và hòa bình lập lại ở miền Bắc.

Nhân sự kiện có ý nghĩa lịch sử này, Tố Hữu viết bài thơ để ôn lại một thời kháng chiến gian khổ mà hào hùng, thể hiện nghĩa tình sâu nặng của những người con kháng chiến đối với nhân dân Việt Bắc, với quê hương cách mạng.

Vị trí:

Trích trong tập thơ “Việt Bắc”.

Việt Bắc là thành công xuất sắc của đời thơ Tố Hữu, là đỉnh cao của thời kì thơ ca kháng chiến chống Pháp. Tên của bài thơ được đặt tên cho cả tập thơ.

Bài thơ không chỉ là tình cảm riêng của Tố Hữu mà đó là suy nghĩ, tình cảm của những người kháng chiến đối với Việt Bắc, với đất nước, với cách mạng và với Bác Hồ.

Đoạn trích là nỗi nhớ thiết tha của: “kẻ ở – người đi”. Nhớ thiên nhiên Việt Bắc tươi đẹp, nhớ con người Việt Bắc ấm áp, nghĩa tình; nhớ Việt Bắc hào hùng trong kháng chiến.

Nỗi nhớ ấy đã bộc lộ tình cảm ân nghĩa, thủy chung với quê hương cách mạng.

Đoạn trích tái hiện không khí chia tay đầy lưu luyến, bịn rịn. Đó là không khí của ân tình, của hồi tưởng, của ước vọng và của tin tưởng.

Kết cấu: theo lối đối đáp quen thuộc của ca dao giao duyên.

Giọng điệu: Ngọt ngào, êm ái, giọng tâm tình của đôi lứa.

Bâng khuâng, lưu luyến, bịn rịn. Đó là tâm trạng không nỡ xa rời của những con người đã từng sống, từng gắn bó, từng chia sẻ trong suốt 15 năm.

Người ở lại: lên tiếng trước. Chữ “nhớ” được nhắc đi nhắc lại, vừa là lời hỏi, vừa là lời nhắn nhủ, vừa là nhịp cầu dãi bày tình cảm.

Những câu hỏi đã khẳng định nỗi lòng của người Việt Bắc. Việt Bắc hỏi người ra đi: có nhớ người ở lại. Nhớ 15 năm từng gắn bó ân tình. Nhớ sông núi, nhớ nguồn.

4 chữ nhớ được láy đi láy lại gợi nỗi lòng thường trực, ám ảnh trong lòng người đọc. Sau mỗi chữ “nhớ” là một kỉ niệm ấm nồng được lặp lại.

+) Người ra đi hiểu được nỗi lòng của người ở lại cho nên có tâm trạng bâng khuâng, bồn chồn tha thiết:

“Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân ly Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

Ba tính từ trạng thái đi liền trong 4 câu thơ thể hiện rất rõ tâm trạng, nỗi lòng của người ra đi.

Tâm trạng của người ra đi thể hiện ở câu thơ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”. Đó là sự lưu luyến, bịn rịn không nỡ xa rời. Người ra đi cầm tay mà không biết nói gì nhưng thực chất đã nói lên rất nhiều điều trong thương nhớ. Đó là sự im lặng chứa đầy cảm xúc.

Tâm trạng của kẻ ở – người đi đã khơi nguồn cho toàn bộ nỗi nhớ trong bài thơ Việt Bắc. Đó là tâm trạng chan chứa ân tình của những con người đã gắn bó trong suốt 15 năm.

Hình ảnh Việt Bắc trong nỗi nhớ của người ra đi:

Nhớ con người và thiên nhiên Việt Bắc:

Nhớ con người Việt Bắc: Trong nỗi nhớ của người ra đi, người Việt Bắc là những con người cần cù, chịu thương, chịu khó, những con người sẵn sàng chia ngọt sẻ bùi, cùng chung tay gánh vác nghĩa tình cách mạng. Là những con người tài hoa và hơn hết những người Việt Bắc là những người ân tình, thủy chung.

Nhớ thiên nhiên Việt Bắc: Vẻ đẹp của 4 mùa: Mùa nào cũng đẹp, cũng đáng yêu, đáng nhớ.

Hình ảnh thiên nhiên và con người Việt Bắc được nhà thơ tái hiện sinh động, sâu sắc trong đoạn thơ:

“Ta về, mình có nhớ ta Ta về ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung” *10 câu thơ có thể coi là bức tranh tứ bình đẹp và quý về thiên nhiên, con người Việt Bắc:

Hai câu đầu: Mang ý nghĩa định hướng, cảm xúc bao trùm, khơi nguồn toàn bộ đoạn thơ. Đó là lời của người ra đi. Người ra đi khẳng định tình cảm chắc chắn của mình: Ta về ta vẫn nhớ, nhớ nhất là hoa và người Việt Bắc.

+) Hoa: tượng trưng cho vẻ đẹp của thiên nhiên Việt Bắc.

+) Nhớ người: Nhớ người Việt Bắc chịu khó, cần cù, ân tình thủy chung.

8 câu thơ tiếp theo: gợi vẻ đẹp hòa quyện giữa thiên nhiên và con người Việt Bắc trong nỗi nhớ khôn nguôi của kẻ ở, người đi.

+) Mở đầu bức tranh tứ bình là bức tranh mùa đông Việt Bắc: thực tế trong bức tranh này, tác giả không nói rõ tên mùa, nhưng đặt trong cấu trúc của toàn bộ bức tranh thì đó là mùa đông Việt Bắc. Bức tranh mùa đông với màu xanh bạt ngàn trầm tĩnh của núi rừng, màu đỏ tươi của hoa chuối đã xua đi cảm giác lạnh lẽo và u ám.

~ Động từ “nở” đem đến cho ta cảm nhận dường như cảnh vật đang vận động, đang chuyển động.

+) Bức tranh mùa hè: Có lẽ đây là bức tranh đặc sắc nhất của núi rừng Việt Bắc. Mùa hè Việt Bắc như đọng cả trong tiếng ve và trong màu vàng của rừng phách.

~ Động từ “đổ”: được tác giả sử dụng rất tinh tế, chỉ sự biến đổi mau lẹ, triệt để của màu sắc.

~ Hai chữ “đổ vàng” ngắn gọn, giản dị nhưng rất biểu cảm và đặc biệt nó đã mở ra 3 cuộc chuyển đổi: Thứ nhất, đó là sự chuyển đổi về không gian: chỉ trong thoáng chốc, cả khu rừng nhuốm sắc vàng của rừng phách. Thứ hai, đó là sự chuyển đổi về thời gian, sắc vàng của rừng phách đưa nhịp cầu thời gian từ xuân sang hè. Thứ ba, là cuộc chuyển đổi trong cảm giác (từ thính giác sang thị giác).

+) Nếu 3 bức tranh đông, xuân, hè được tác giả miêu tả vào ban ngày thì bức tranh mùa thu được tác giả miêu tả vào thời điểm ban đêm với ánh trăng thanh huyền ảo. Thời điểm này tạo ra một không gian thi vị, lãng mạn phù hợp với những cuộc hát giao duyên.

~ Rừng thu: mở ra chiều rộng mênh mang của đất, trăng thu gợi không gian thăm thẳm của trời khiến cho không gian trở nên bát ngát hơn, thi vị hơn, huyền ảo hơn.

+) Điểm đặc sắc trong cấu trúc của bức tranh tứ bình thì cứ câu lục tả cảnh thì câu bát tả người. Cảnh và người hòa quyện khiến cho bức tranh trở nên đẹp hơn, ấm áp hơn và mang đậm sắc thái cổ điển phương Đông.

Trong những câu thơ gợi tả vẻ đẹp con người Việt Bắc có 3 chữ “nhớ” được lặp lại, đứng ở vị trí đầu câu thơ. Đó là nỗi nhớ của người chiến sĩ cách mạng nặng lòng khi hướng tới những con người cụ thể. Thiên nhiên Việt Bắc là phông nền để nhà thơ tô đậm vẻ đẹp con người. Trước hết đó là những con người vững trãi, tự tin, làm chủ núi rừng:

“Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”

+) Đó là vẻ đẹp của những con người khéo lé, tài hoa, cần mẫn:

“Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”.

+) Vẻ đẹp của những con người chịu thương, chịu khó, giàu đức hi sinh:

“Nhớ cô em gái hái măng một mình”

+) Đặc biệt, vẻ đẹp của sự “ân tình thủy chung” của người Việt Bắc đã làm thành nỗi nhớ sâu nặng với người ra đi:

“Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung“.

4 chữ “ân tình thủy chung” đã chạm đúng vào gốc rễ của đạo lí dân tộc.

TIỂU KẾT: Đoạn thơ đã góp phần làm nên thành công của bài thơ Việt Bắc bởi nội dung chính trị đã được trữ tình hóa một cách đằm thắm. Tố Hữu viết về sự kiện chính trị, viết về tình cảm thủy chung cách mạng bằng giọng thơ nhỏ nhẹ của tâm tình, giọng của đôi lứa yêu thương.

Nhớ Việt Bắc trong kháng chiến:

“Những đường Việt Bắc của ta Ðêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay. Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Ðèn pha bật sáng như ngày mai lên. Tin vui chiến thắng trăm miềm Hoà Bình, Tây Bắc, Ðiện Biên vui về Vui từ Ðồng Tháp, An Khê Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”.

Tái hiện không khí hào hùng của cuộc kháng chiến chống Pháp đồng thời nói lên niềm tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc.

Giọng điệu đoạn thơ khỏe khoắn, mạnh mẽ, hào hùng và mang âm điệu sử thi.

+) Đại từ sở hữu “của ta” vang lên 1 cách giõng dạc thể hiện niềm tự hào của những con người được làm chủ đất nước, đồng thời khẳng định Việt Bắc là chiến khu tự do.

+) Không khí sôi động của những ngày chiến dịch được tác giả tái hiện sinh động qua những từ ngữ, hình ảnh: rầm rập, đất rung, quân đi điệp điệp trùng trùng.

+) Hai chữ “rầm rập” vừa gợi âm thanh, vừa tạo hình ảnh.

+) Những động từ mạnh được tác giả sử dụng liên tiếp: rung, nát đá, bay à gợi cho ta cảm nhận khí thế hào hùng của cả nước ra trận.

+) Biện pháp nghệ thuật so sánh, tượng trưng được tác giả sử dụng triệt để giúp ta cảm nhận hình ảnh những đoàn quân đan ngày đêm tiến về mặt trận.

+) Ở trong đoạn trích này, ánh sáng là 1 điểm nhấn đặc biệt, ánh sáng của ánh sao đầu súng là 1 niềm vui, 1 niềm tin. Còn ánh sáng của “dân công… lửa bay” thực sự là một ngày hội.

Ánh sáng ấy đã xua tan sương mù của những ngày đen tối.

“Nghìn đêm” và “thăm thẳm” là những từ cùng một trường nghĩa chỉ độ dài thời gian và độ dài tâm lí. Chỉ một cuộc ra quân mà bình minh của thời đại đã hé mở. Tất cả là nhờ sức mạnh của khối đại đoàn kết và tình quân dân.

~ Điệp từ “Vui” được lặp lại nhiều lần với những danh từ chỉ địa danh thể hiện chiến thắng liên tiếp của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

*TIỂU KẾT:

Đoạn thơ là bức tranh hào hùng về khí thế và sức mạnh vô song của cả nước ra trận. Đoạn thơ giàu chất sử thi, anh hùng ca tái hiện một thời đáng nhớ, đáng tự hào.Với đoạn thơ này, Việt Bắc không chỉ là bản tình ca ca ngợi cách mạng, mà là bản hùng ca ca ngợi kháng chiến và con người kháng chiến.

Việt Bắc hội tụ tình yêu và niềm tin của con người trong kháng chiến. Người ta nhận ra trong lời thơ tình cảm tha thiết, bền chặt của con người. Không chỉ là chín, mươi hay mười lăm năm mà chính sự gắn bó sâu sắc giữa người và đất đã tạo nên một tình yêu sâu nặng, một mối ân tình cao đẹp. Việt Bắc chính là cội nguồn của quê hương cách mạng, những câu thơ chính là tiếng lòng nhớ thương của con người. Cái hay của bài thơ chính là cái hay của một khúc ca đằm thắm, yêu thương, hùng tráng mà chung thuỷ, ngọt ngào, lắng sâu.

Dàn Ý Cho Đề: Phân Tích Bài Thơ “Việt Bắc” Của Tố Hữu / 2023

Lập dàn ý cho đề: Em hãy phân tích bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu để thấy được bài thơ chứa chan những lời tâm tình ngọt ngào

I. MỞ BÀI – Tố Hữu là một nhà thơ viêt nhiều và viết hay nhất về cách mạng Việt Nam, những trang thơ của ông luôn luôn gắn bó với các chặng đường lịch sử của dân tộc. -Thơ Tố Hữu dễ đến với mọi tấm lòng, không chỉ vì nội dung mà còn do giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết và nghệ thuật biểu hiện đậm đà tính dân tộc. Điều này được thể hiện rõ nét trong phần đầu của bài thơ Việt Bắc.

II. THÂN BÀI1. Giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết của Tố Hữu trong Việt Bắc a) Bài thơ ” Việt Bắc” nói đến nghĩa tình cách mạng nhưng Tố Hữu lại dùng giọng của tình thương, lời của người yêu để trò truyện, giãi bày tâm sự. Cả bài thơ được viết theo lối đối đáp giao duyên của nam nữ trong ca dao, dân ca, và phần đầu này cũng thế – nó là lời giãi bày tâm sự giữa người đi (người về xuôi) với người ở lại là đồng bào Việt Bắc. Mười lăm năm cách mạng thành mười lăm năm ấy tha mặn nồng, người đi người ở thành mình – ta, ta – mình quấn quýt bên nhau trong một mối ân tình sâu nặng.

Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn.

b) Giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết ấy tạo nên âm hưởng trữ tình sâu đậm của khúc hát ân tình cách mạng Việt Bắc, từ khúc hát đạo đầu Mình về mình có nhớ ta… đến những lời nhắn gửi, giãi bày tình cảm tha thiết nhưng rất đỗi chân thành:

Mình đi có nhớ những ngàyMình về rừng núi nhớ ai…Ta đi ta nhớ những ngàyMình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi…

Đó là những câu thơ ăm áp tình cảm dạt dào của người ở lại và người đi, câu thơ như những câu hát nhẹ nhàng bay bổng nhưng lại ẩm chứa một sức nặng về tình cảm dạt dào Nhớ gì như nhớ người yêu,

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương.

Nhớ từng băn khói cùng sương,

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

…..Nhớ người mẹ nắng cháy lưng,

Dịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô.

2. Nghệ thuật đặc sắc giàu tính dân tộc trong Việt Bắc

a) Thể thơ: Trong phần đầu (cũng như cả bài thơ), Tố Hữu đã sử dụng thể thơ dân tộc, đó là thể thơ lục bát. Thi sĩ đã nhuần nhuyễn thể thơ này và có những biến hoá, sáng tạo cho phù hợp với nội dung, tình ý câu thơ. Câu tha thiết sâu lắng trong bốn câu mở đầu, có câu nhẹ nhàng thơ mộng (Nhớ gì như nhớ người yêu…) lại có đoạn hùng tráng như một khúc anh hùng ca (Những đương Việt Bắc của ta… Đèn pha bật sáng như ngày mai lên)

b) Kết cấu: Kết cấu theo lối đốì đáp giao duyên của nam nữ trong ca dao dân ca là kết cấu mang đậm tính đân tộc. Nhờ hình thức kết cấu này mà bài thơ có thể đi suốt một trăm năm mươi câu lục bát không bị nhàn chán.

c) Hình ảnh: Tố Hữu có tài sử dụng hình ảnh dân tộc một cách tự nhiên và sáng tạo trong bài thơ: Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn; mưa nguồn suối lũ; bước chân nát đá (sáng tạo từ câu ca dao: trông cho chân cứng đá mềm). Có những hình ảnh đã được Tố Hữu lựa chọn, chắt lọc từ cuộc sống thực cũng đậm tính dân tộc: miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai; hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son và đặc biệt là tình đậm đà của tình giai cấp:

Thương nhau chia củ sắn lùi,Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng.

d) Ngôn ngữ: Tính dân tộc được thể hiện rõ nhât trong cặp đại từ nhân xưng ta – mình, mình – ta quấn quýt với nhau và đại từ phiến chỉ ai. Đây là một sáng độc đáo và cũng là một thành công trong ngôn ngữ thơ ca của Tố Hữu. Nhạc điệu: Trong bài thơ ý nhị và thấm đẫm tình cảm cách mạng này là nhạc điệu dân tộc với thể thơ lục bát nhịp nhàng, thiết, ngọt ngào, sâu lắng nhưng biến hoá, sáng tạo, không có đơn điệu (có hùng tráng như cảnh “Việt Bắc ra quân”, trang nghiêm như cảnh buổi họp trung ương, chính phủ…)

III. KẾT BÀI

Giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết và nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân của Tố Hữu đã góp phần quan trọng vào thành công của bài thơ Việt Bắc, cho nó nhanh chóng đến với người đọc và vẫn sống mãi trong lòng nhân ta từ khi ra đời cho đến hôm nay.

Từ khóa tìm kiếm

Phân Tích Vẻ Đẹp Của Núi Rừng Việt Bắc Qua Bài Thơ Việt Bắc / 2023

Tố Hữu là nhà thơ tiêu biểu nhất của nền thơ Cách mạng và kháng chiến thế kỉ 20. Ở Tố Hữu có sự thống nhất đẹp đẽ giữa cuộc đời cách mạng và cuộc đời thơ. Việt Bắc là bài thơ xuất sắc của Tố Hữu. Vẻ đẹp thiên nhiên và con người Việt Bắc được ông gió gọn trong 8 câu thơ:

……..

Mở đầu đoạn thơ là nỗi nhớ thương, là tình cảm ân tình thủy chung của người ra đi đối với chiến khu Việt Bắc:

Cách sử dụng các đại từ nhân xưng ” ta” – ” mình” vốn rất quen thuộc trong ca dao, dân ca. Mượn lời ví von của dân gian, Tố Hữu vận dụng một cách sáng tạo mang một nội dung mới mẻ hiện đại. Chỉ riêng trong hai câu thơ đầu, đại từ “ta” xưng hô đến bốn lần tạo được ấn tượng mạnh mẽ. Nó bộc lộ cảm xúc trực tiếp của nhà thơ, của người ra đi đối với người ở lại. Tình cảm này hết sức chân thành, thiết tha, có sức lôi cuốn mạnh mẽ và tạo nên được đồng vọng, sẻ chia với người đọc.

Nỗi nhớ Việt Bắc của nhà thơ, người về xuôi đã được Tố Hữu biểu hiện hết sức cụ thể, phong phú. Không phải ngẫu nhiên mà trong bài thơ Việt Bắc, tác giả đã sử dụng 34 lần từ “nhớ” (biện pháp điệp từ) để làm nổi rõ tấm lòng ân nghĩa thủy chung, thương nhớ đối với chiến khu Việt Bắc. Từ “nhớ” được tác giả nhắc đến với nhiều ý nghĩa phong phú. Có khi diễn tả nổi nhớ như “nhớ gì như nhớ người yêu”. Cũng có lúc từ “nhớ” được sử dụng với hàm ý là nhớ lại “nhớ khi giặc đến giặc lùng”, …

Ngay trong đoạn thơ trích chỉ có 10 câu thì đã tới 5 lần từ “nhớ” được nhắc đến. Nào là “mình có nhớ ta”, “nhớ những hoa cùng người”, “nhớ người đan nón”, “nhớ cô em gái”, “nhớ ai tiếng hát”. Tất cả từ “nhớ” ở đoạn thơ này đều bao trùm hàm ý nhớ thương. Nỗi nhớ cứ tăng dần lên với nhiều biểu hiện và sắc thái khác nhau. Khi thì nhớ về một đối tượng cụ thể, xác định:

– “Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”.

– “Nhớ cô em gái hái măng một mình”

Khi lại hướng về một đối tượng mơ hồ:

– Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”.

Mặc dù sắc thái và cung bậc có khác nhau song nỗi nhớ của nhà thơ bao giờ cũng hướng về những con người lao động cân cù, chất phác với một lòng một dạ thủy chung, sắc son với Cách mạng.

Mỗi cặp thơ là một nỗi nhớ da diết cháy bỏng của nhà thơ. Nỗi nhớ cảnh và nhớ người như đan xen hòa quyện với nhau trong bốn cặp thơ lục bát. Nếu câu 6 dành cho nỗi nhớ cảnh thì câu 8 thì diễn tả nỗi nhớ con người. Cảnh và người trong mỗi cặp thơ lại mang những đặc điểm sắc thái riêng. Cứ như thế, đoạn thơ lần lượt gợi nhớ những vẻ đẹp nên thơ, trữ tình của cảnh và người Việt Bắc. Bức tranh phong cảnh thiên nhiên đa dạng về nghệ thuật màu sắc, ánh sáng và âm thanh dần hiện ra trước mắt người đọc. Nét hài hòa của nhịp thơ và hình ảnh gợi lên ở người đọc những cảm xúc và rung động trước khung cảnh vừa hùng vĩ nên thơ, vừa mênh mông man mác.

Phong cảnh thiên nhiên mà tác giả gợi tả ở đây là phong cảnh thiên nhiên rừng núi Việt Bắc. Búc tranh thiên nhiên hiện lên tự nhiên mà đẹp và nên thơ một cách tinh tế. Tố Hữu đã làm hiện rõ cảnh sắc riêng của bốn mùa trong năm một cách tài tình chỉ bằng những cặp lục bát ngắn ngủi mà đầy đủ. Việt Bắc được ghi nhận theo dòng chảy của thời gian vĩnh hằng.

Đó là cảnh mùa đông với:

Mùa đông hiện lên với sắc đỏ của hoa chuối rừng giữa đại ngàn. Trên nền xanh bất tận của muôn cây, hoa chuối rừng kiêu hãnh khoe sắc dỏ thắm tươi. Cái màu ấn tượng ấy dù đứng từ rất xa cũng có thể nhìn thấy được. Nó tập trung và thu hút cái nhìn của người đọc. Bởi nhìn từ từ rát xa nên mới có thể thấy ánh sáng phản chiếu chiếc “dao cài thắt lưng” của người đi rừng. Ánh sáng lấp lóe, bất chợt và đột nhưng rất rõ ràng.

Bức tranh mùa đông Việt Bắc không hề hiu hắt, tàn tạ như cái vốn có của thiên nhiên đất trời. Ngược lại, nó cuồn cuộn sức sống. Nó rực rỡ sắc màu và tràn trề niềm tin. Thiên nhiên đã tươi xanh, con người cũng mạnh mẽ kiên cường.

Tiếp đến, hình ảnh mùa xuân hiện ra với sắc trắng của hoa mơ trắng ngút ngàn:

Hoa mơ trắng vốn là một nét đẹp chỉ có ở núi rừng Việt Bắc. Ngày xuân, rừng mơ buông hoa trắng xóa cả núi rừng, tạo nên cảnh sắc thật kì vĩ. Những dải màu trắng hoa mơ kéo dài bất tận, như chiếc khăn mềm mại vắt ngang ngọn núi. Hình ảnh con người hiện lên trong tư thế lao động. Đôi bàn tay khéo léo chuốt từng sợi giang tỉ mỉ và cẩn trọng. Bức tranh mùa xuân tươi mát, trong sạch như tình người cán bộ son sắt, thủy chung với núi rừng, với nhân dân Việt Bắc.

Mùa hạ hiện ra với âm thanh réo rắt của tiếng ve rừng:

Tiếng ve rừng là âm thanh sống động nhất của núi rừng Việt Bắc. Không phải là tiếng kêu đơn lẻ lạc điệu của một vài chú ve. Đó là một bản đồng ca xáo động, dữ dội và rộn vang. Người nghệ sĩ của rừng cây tấu lên những khúc nhạc rộn ràng, âm vang đất trời. Có lúc im bặt rồi bất ngờ cất lên ầm ĩ. Tiếng ve hòa trong sắc vàng của rừng phách. Ve kêu cũng là lúc rừng cây phách đổ vàng. Bức tranh mùa hạ núi rừng Việt Bắc thay màu mới.

Hiện lên trong bức tranh là hình ảnh cô gái yêu kiều một mình hái măng giữa rừng. Cô hòa mình với thiên nhiên vĩ đại. Cô vui vẻ tìm kiếm những phẩm vật quý giá của rừng xanh. Dường như, cô cũng đang hân hoan ca hát cùng những chú ve, lòng rộn ràng trong bản tình ca đắm say bất tận.

Cuối cùng, hình ảnh mùa thu đọng lại với ánh trăng rừng huyền diệu và khát vọng hòa bình thiết tha:

Ánh trăng thu mở ra bức tranh mở ảo. Thật không thể nói hết vẻ đẹp của đêm trăng chốn đại ngàn. Trong bóng tối bao la và sự vắng lặng của vũ trụ, ánh trăng là nguồn sáng thu hút hồn ta, tưới tắm hồn ta tình yêu cái đẹp và tình yêu cuocj sống. Từ bào đời nay, trăng luôn là biểu tượng của cuộc sống yên bình và tươi đẹp. Trăng kết nối hồn ta với đất trời, kết nối người đi kẻ ở. Trăng luyến lưu đưa tiễn và cũng gợi nhớ kí ức xa xăm. Khi tất cả đã xa rời, trang chính là nguồn ánh sáng kì điệu đưa ta trở về.

Tố Hữu đã rất thành công khi sử dụng thể thơ lục bát mềm mại, nhuần nhuyễn một cách điêu luyện. Các câu thơ nhịp nhàng, cân đối, hài hòa đến tuyệt vời. Hình ảnh thơ được chọn lọc kĩ càng, biểu đạt sâu sắc vẻ đẹp thơ mộng của con người và thiên nhiên Việt Bắc nghĩa tình, thủy chung.

Đoạn thơ là sự hòa quyện tuyệt vời giữa âm thanh, sắc màu và hình ảnh tạo nên một bức tranh núi rừng hết sức tráng lệ, kì vĩ. Hình ảnh con người được khác họa tinh tế và đẹp đẽ. Tuy nhỏ bé nhưng không hề bị chìm lấp giữa núi rừng bạt ngàn. Con người là điểm nhấn, điểm tô cho bức tranh thêm sinh động. Tuy nhiên, sự thành công không chỉ ở nghệ thuật ngôn từ mà chính là tấm lòng tha thiết của tác giả đối với Việt Bắc.

Đây là đoạn thơ đẹp và hay. Đoạn thơ có cấu trúc hài hòa, cân đối, có giá trị tạo hình mang nhiều sắc thái biểu cảm và thể hiện cảm xúc chân thành nhất, sâu lắng nhất của nhà thơ Tố Hữu đối với cảnh vật và con người Việt Bắc.

Mở Bài Kết Bài Cho Bài Thơ Việt Bắc / 2023

Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị, là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ Tố Hữu thể hiện lẽ sống lớn, tình cảm lớn của con người Cách mạng. Thơ ông đậm đà tính dân tộc trong nội dung và hình thức thể hiện. Bài thơ “Việt Bắc” là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Bài thơ qua đối đáp của hai nhân vật Mình – Ta đã trở thành một bài ca không bao giờ quên về những năm tháng kháng Pháp gian khổ, hào hùng mà nghĩa tình son sắt, thuỷ chung. Tất cả những giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc của Việt Bắc đã được ngòi bút Tố Hữu tập trung thể hiện tinh tế qua đoạn thơ: (đoạn nào thì dẫn vào)

Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng triết lý: “Khi ta ở, đất chỉ là nơi ở/ Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”. Và có một mảnh đất tình người đã hóa thân thành hồn thành nỗi nhớ trong lòng người cán bộ về xuôi. Đó là mảnh đất Việt Bắc ân tình – quê hương của kháng chiến, quê hương của những con người áo chàm nghèo khó mà “đậm đà lòng son” khiến ai đã từng đặt chân đến nơi đây cũng phải bồi hồi, xao xuyến . Mảnh đất ấy đã trở thành niềm thương, nỗi nhớ, thành cảm hứng cho thơ ca. Và có một bài thơ đã ra đời vì mảnh đất yêu thương nghĩa tình ấy – đó là bài thơ Việt Bắc của nhà thơ cách mạng Tố Hữu.

HÃY ĐĂNG KÝ KÊNH YOUTUBE CỦA THẦY ĐỂ NHẬN BÀI GIẢNG. BẤM VÀO

Tố Hữu đã từng nói : “ Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống đã thật đầy “, chính những niềm thương, nỗi nhớ trào dâng ấy đã tạo ra những rung động mãnh liệt trong cảm xúc để rồi thơ ca đã trào ra bao nỗi nhớ thương vô vàn. Việt Bắc chính là những rung động mạnh liệt ấy của Tố Hữu. Bài thơ là kết tinh, là di sản của “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng” giữa cán bộ cách mạng và nhân dân Việt Bắc. Tác phẩm là một khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Bài thơ được viết ra như lời hát tâm tình của một mối tình thiết tha đầy lưu luyến giữa người kháng chiến và đồng bào Việt Bắc được thể hiện qua lăng kính trữ tình – chính trị, đậm tính dân tộc và ngòi bút dạt dào cảm xúc của thi nhân.

Có ai đó từng nói: “Thơ ca bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ”. Thật vậy hiện thực của cuộc kháng chiến chống Pháp và trái tim chân thành của Tố Hữu dành cho mảnh đất quê hương Cách Mạng Việt Bắc đã chắp cánh cho hồn thơ ông bay lên cùng tâm hồn thời đại. Bằng tình cảm của nhà thơ trữ tình chính trị – Tố Hữu đã hái lượm những bông hoa ngôn từ trong vườn hoa từ ngữ dân tộc để sáng tác nên bài thơ Việt Bắc. Bài thơ là khúc hùng ca kháng chiến mà cũng là bản tình ca cách mạng về những năm tháng quá khứ gian lao mà nghĩa tình. Trong những vần thơ đầy cảm động của Việt Bắc, đoạn thơ sau là đoạn thơ ấn tượng hơn cả:

Sau mở bài dẫn đoạn sau vào phần đầu tiên của thân bài:

– Việt Bắc là khu căn cứ địa kháng chiến được thành lập từ năm 1940, gồm sáu tỉnh viết tắt là “Cao – Bắc – Lạng – Thái – Tuyên – Hà”. Nơi đây, cán bộ chiến sĩ và nhân dân Việt Bắc đã có mười lăm năm gắn bó keo sơn, nghĩa tình (1940 – 1954).

– Sau hiệp định Giơnevơ, tháng 10.1954, Trung ương Đảng và cán bộ rời Việt Bắc. Buổi chia tay lịch sử ấy đã trở thành niềm cảm hứng cho Tố Hữu sáng tác bài thơ “Việt Bắc”. Trải dài khắp bài thơ là niềm thương nỗi nhớ về những kỷ niệm kháng chiến gian khổ nhưng nghĩa tình.

Trước khi kết bài nhớ đánh giá lại nghệ thuật

Nghệ thuật: Thể thơ lục bát truyền thống ngọt ngào sâu lắng mà cũng biến hoá linh hoạt. Sử dụng nhiều biện pháp tu từ: … Hai đại từ nhân xưng Ta – Mình quấn quýt giao hoà; ngôn ngữ giản dị, mộc mạc như lời ăn tiếng nói của nhân dân nghĩa tình…

Là người, ai mà chẳng có trong tim mình một miền đất để nhớ để thương. Bởi “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở – Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”. Có lẽ vì thế mà quê hương cách mạng Việt Bắc đã không ngần ngại chắp cánh cho hồn thơ Tố Hữu viết nên thi phẩm cùng tên mà ngày nay chúng ta vẫn nâng niu trên tay như một hòn ngọc quý.

Xem video cách viết mở bài hay