Những Câu Thơ Hay Trong Truyện Kiều

Để giúp các bạn trẻ thời nay vì quá bận rộn với kinh tế thị trường, không có đủ thời gian đọc hết toàn bộ “Truyện Kiều”, tôi xin chọn 50 cặp lục bát mà tôi cho là hay nhất, để trong một quãng thời gian ngắn, bạn đọc có thể tiếp cận với những câu Kiều đặc sắc, đồng thời với các bạn đang yêu, may chăng từ những câu Kiều này, có thể “hoạt ngôn” hơn trong những trạng thái khó xử của cuộc sống.

Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

Sống làm vợ khắp người ta Hại thay thác xuống làm ma không chồng.

Người đâu gặp gỡ làm chi Trăm năm biết có duyên gì hay không.

Ngổn ngang trăm mối bên lòng Nên câu tuyệt diệu ngụ trong tính tình.

Một mình lưỡng lự canh chầy Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh.

Sầu đong càng lắc càng đầy Ba thu dồn lại một ngày dài ghê.

Mành tương phất phất gió đàn Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình.

Gió chiều như giục cơn sầu Vi lô hiu hắt như mầu khơi trêu.

Rằng: trăm năm, kể từ đây Của tin gọi một chút này làm ghi.

Bây giờ rõ mặt đôi ta Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao.

Gìn vàng giữ ngọc cho hay Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời.

Trăng thề còn đó trơ trơ Dám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng.

Ông tơ ghét bỏ chi nhau Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi.

Đau lòng tử biệt sinh ly Thân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên.

Phận sao đành vậy cũng vầy Cầm như chẳng đỗ những ngày còn xanh.

Trong tay đã sẵn đồng tiền Dù lòng đổi trắng thay đen khó gì.

Đau lòng kẻ ở người đi Lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm.

Biết thân đến bước lạc loài Nhị đào thà bẻ cho người tình chung.

Miếng ngon kề đến tận nơi Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham.

Đoạn trường thay lúc phân kỳ Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh.

Thôi con còn nói chi con Sống nhờ đất khách, thác chôn quê người.

Từ đây góc bể bên trời Nắng mưa thui thủi quê người một thân.

Vi lô san sát hơi may Một trời thu để riêng ai một người.

Dặm khuya ngất tạnh, mù khơi Thấy trăng mà thẹn những lời non sông.

Thoắt trông nhờn nhợt màu da Ăn gì to lớn đẫy đà làm sao.

Thương ôi tài sắc bậc này Một dao oan nghiệt đứt dây phong trần.

Cũng liều nhắm mắt đưa chân Mà xem con tạo xoay vần đến đâu.

Đêm thu khắc lậu, canh tàn Gió cây trút lá, trăng ngàn ngậm gương.

Thân lươn bao quản lấm đầu Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa.

Vui là vui gượng kẻo là Ai tri âm đó mặn mà với ai.

Đã đày vào kiếp phong trần Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi.

Rõ ràng trong ngọc trắng ngà Dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên.

Thương sao cho trọn thì thương Tính sao cho vẹn mọi đường thì vâng.

Vầng trăng ai xẻ làm đôi ửa in gối chiếc nửa soi dặm trường.

Long lanh đáy nước in trời Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng.

Bước vào phòng cũ lầu thơ Tro than một đống, nắng mưa bốn tường.

Bốn phương mây trắng một màu Trông vời cố quốc biết đâu là nhà.

Bề ngoài thơn thớt nói cười Mà trong nham hiểm giết người không dao.

Nhẹ như bấc, nặng như chì Gỡ cho ra nợ còn gì là duyên.

Phận bèo bao quản nước sa Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh.

Biết thân tránh chẳng khỏi trời Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh.

Đến bây giờ mới thấy đây Mà lòng đã chắc những ngày một hai.

Tiếc thay chút nghĩa cũ càng Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.

Đàn bà dễ có mấy tay Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan.

Phong trần mài một lưỡi gươm Những phường giá áo túi cơm sá gì.

Chọc trời khuấy nước mặc dầu Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.

Một cung gió thảm mưa sầu Bốn dây rỏ máu năm đầu ngón tay.

Đánh tranh chụm nóc thảo đường Một gian nước biếc mây vàng chia hai.

Thẫn thờ lúc tỉnh lúc mê Máu theo nước mắt, hồn lìa chiêm bao.

Tưởng bây giờ là bao giờ Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao.

Phân Tích 12 Câu Thơ Đầu Trong Bài Trao Duyên / Truyện Kiều

(Vanmauchonloc.com) – Anh(Chị) hãy phân tích 12 câu thơ đầu trong bài trao duyên của tác giả Nguyễn Du. Đề bài: Em hãy phân tích 12 câu thơ đầu trong bài trao duyên lớp 10 trích truyện Kiều của Nguyễn Du

Bài Làm

Nguyễn Du, một đại thi hào của dân tộc Việt Nam, ông sinh năm 1766 mất năm 1820, tên chữ là Tố Như. Quê ông ở Hà Tĩnh, ông được sinh ra trông một gia đình phong kiến quý tộc. Sống trong giai đoạn đồng tiền làm băng hoài đạo đức, đầy biến động, Nguyễn Du chứng kiến được rất nhiều cảnh đời bất công, cũng như sự thối nát của xã hội bấy giờ. Và ông có sự cảm thông sâu sắc đối với người phụ nữ bất hạnh. Nguyễn Du đã viết ra nhiều tác phẩm văn học để nói thay cho tấm lòng đầy ai oán, cho số phận bạc mệnh đáng thương của người phụ nữ. Trong đó có bài “Trao Duyên”, là một bài thơ trong tuyệt tác “Truyện Kiều” , một bài thơ bi cảm được thể hiện qua từng câu, từng chữ, nó mang đến một nổi xúc động khôn nguôi cho người đọc.

“Trao Duyên” nói về một bi kịch dan dở trong tình yêu của Thúy Kiều và Kim Trọng. Bài thơ đã khắc họa một nổi đau mà khó ai có thể thấu hiểu cua Thúy Kiều, qua bài thơ chúng ta cũng thấy được một giá trị nhân văn sâu sắc, thể hiện một niệm khát khao có được hạnh phúc của con người. Nổi bật nhất trong bài thơ Trao Duyên chính là đoạn thơ:

“Cậy em, em có chịu lời, Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa. Giữa đường đứt gánh tương tư, Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em. Kể từ khi gặp chàng Kim , Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề. Sự đâu sòng gió bất kỳ, Hiều tình khôn lẽ hai bề vẹn hai? Ngày xuân em hãy còn dài, Xót tình máu mủ, thay lời nước non. Chị dù thịt nát xương mòn, Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”

Đọc nhan đề bài thơ là Trao Duyên nhưng tại sao mở đầu bài thơ lại khiến khó hiểu như vậy. “Cậy em, em có chịu lời”, đây giống như một lời nhờ cậy, một lời gửi duyên phận của mình cho người khác, nhờ họ thay mình tiếp tục một mỗi duyên dang dở. Nguyễn Du đã sử dụng từ “cậy” để cho chúng ta thấy rằng, Thúy Kiều đã nhờ bằng tất cả niềm hi vọng và tin tưởng, đồng thời dùng tự “chịu” để thể hiện cho việc phải đồng ý, phải bắt buộc nhận lời, không thể từ chối.Qua đó có thể thấy được tình yêu sâu sắc, chân thành của Thúy Kiều dành cho Kim Trọng. Và càng thấy cái nghĩa cái tình của của Thúy Kiều và Kim Trọng nó lớn biết nhường nào. Em ơi, ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa. Câu thơ như xé tâm can người con gái. Vừa cảm thấy có lỗi với người em gái, vừa cảm thấy xót xa cho số phận của mình. Kiều đã dùng lễ nghi lạy trước thưa sau, thay đổi ngôi của hai người để ràng buộc Thúy Vân. Để cái tình của mình trao lại cho em.

Sau đó, Thúy Kiều bắt đầu giải bày lí do cho những hành động trước đó. ” Giữa đường đứt gánh tương tư/ Keo loan chấp nối tơ thừa mặc em”. Câu thơ là sự giải bày cho em biết là cuộc tình của chị bây giờ đành dang dở “đứt gánh tương tư”. Cuộc tình của Kiều vừa mới chớm nở nhưng không thể đơm hoa kết trái bởi sóng gió đang ập đến. Kiều đau khổ, sót xa nhưng không thể làm khác được, đành trao lại mối duyên này cho em. Nàng đã mượn điển tích “keo loan” để nói lên ý định muốn Thúy Vân thay mình kết duyên với Kim Trọng. Nàng cảm thấy có lỗi, cảm thấy ray rứt vô cùng đối với em, vì cảm thấy như mình ép duyên, buộc em phải nhận, nhưng vẫn giao phó ” tơ thừa” để “mặc” Thúy Vân quyết định.

Mặc dù đã trao duyên cho em, nhưng dường như mối tơ duyên vẫn đè nặng trong lòng Thúy Kiều. Những kỉ niệm ngọt ngào như ùa về trong lòng, nàng đành bày tỏ tâm sự cùng em.

“Kể từ khi gặp chàng Kim

Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.”

Câu thơ đã liệt kê ra những kỉ niệm của Thúy Kiều và Kim Trọng, kỉ niệm cùng quạt ước, cùng nâng chén rượu thề nguyện, chúng ta dễ dàng nhìn thấy một cảnh tượng vô cùng sống động đang diễn ra của đôi uyên ương. Đẹp biết mấy. Từ “khi” được lập lại ba lần gợi cho ta cảm nhận một tình cảm sâu nặng, nhưng xót xa và dày xé tâm can nàng cũng như người đọc. Nguyên nhân tại đâu mà dẫn đến cơ sự này.

“Sự đâu song gió bất kì,

Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.”

Quá khứ tươi đẹp là thế, nhưng hiện tại của nàng, từ khi chàng Kim về chịu tang, bao sóng gió ập đến, đứng giữa chữ hiếu và tình nàng phải làm sao đây. Hoàn cảnh trái ngang, cha và em mắc oan bị bắt, nàng phải bán thân mình mới cứu được họ, nhưng người nàng yêu, một lòng vì nàng, lời thề nguyện mới hôm nào chưa kịp nguội. Cả một con tim đang chảy máu, đau đớn, day dứt, quằn quại. Nhìn cảnh cha và em bị tra tấn, đòn roi, là một người con có hiếu, nàng đành hi sinh tình yêu để làm trọn phận con, để báo đáp công ơn. Nàng nói cho em hiểu nổi đau của mình, mong em hiểu và chấp nhận lời yêu cầu ngang trái đó. Nàng sợ em mình không đồng ý, đã cố gắng dùng mọi lí lẻ để thuyết phục em.

Ngày xuân em hãy còn dài,

Xót tình máu mủ thay lời nước non.

Chị dù thịt nát xương mòn

Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.

Nàng dùng tình máu mủ, nàng dùng đến cái chết để thuyết phục. Nguyễn Du đã dùng các thành ngữ để giúp nàng Kiều thể hiện sự quyết tâm thuyết phục em chấp nhận yêu cầu. Tình nghĩa của chàng Kim rất quan trọng, dù nàng có phải thịt nát xương mòn thì nàng cũng chấp nhận, chỉ mong sao Vân giúp nàng nối duyên với Kim Trọng. Dù xuống suối vàng nàng vẫn ngậm cười, vẫn cảm thấy hạnh phúc, mãn nguyện. Chính cách viện dẫn đến tình máu mủ và cái chết ấy đã khiến Vân không thể chối từ. Có thể nói đây là cách duy nhất để vẹn lý, vẹn tình.Đây cũng có thể là một lời trăn trối của nàng, mà ắt hẳn cả chúng ta cũng không thể nào nhẫn tâm từ chối yêu cầu ngạt lý đó. Nghe những lời xót xa đó, hẳn sẽ khiến nàng Vân càng thêm yêu quý chị mình.

Thể thơ lục bát đã giúp cho Nguyễn Du dễ dàng khắc họa tâm trạng dằn vặt, sự đớn đau khi phải hi sinh chữ tình để vẹn tròn chữ hiếu của Thúy Kiều. Nàng đã được ông tô vẽ lên thật đẹp đẽ trong lòng người đọc. Một cô gái quá mong manh nhưng rất mạnh mẽ.

Trao duyên đã cho chúng ta thấy được một cảnh đời đầy bi kịch, một số phận nghiệt ngã đến xé lòng của nàng Kiều. Nhờ sự trải nghiệm và cái nhìn sâu sắc cùng khả năng sử dụng từ điêu luyện của Nguyễn Du đã khiến cho nội tâm của nhân vật như được khắc họa rõ nét nhất, từ nổi đau đến tâm hồn của Kiều như đang trải dài qua từng câu chữ. Khiến người đọc mãi không thể thôi xót thương.

Bình Giảng Đoạn Thơ Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Trích Trong Truyện Kiều Của Nguyễn Du

Trong khoảng đời lưu lạc của Kiều, Nguyễn Du luôn theo sát bước chân của nàng để cùng thông cảm, chia sẻ với nàng. Ngay từ đoạn đầu đời của bước đường lưu lạc “trước lầu Ngưng Bích”, nàng phải đối diện với chính mình trong nỗi đau bi kịch. Bi kịch nội tâm của phép tả cảnh ngụ tình. Kiều ở lầu Ngưng Bích là một thành tựu đặc sắc của nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật.

Thúy Kiều thông minh, nhạy cảm, tài sắc, đang sống trong cảnh “êm đềm trướng rũ màn che”. Nhưng bất ngờ tai vạ lại ập đến với gia đình nàng. Nàng buộc phải bán mình chuộc cha, trao cả cuộc đời cho Mã Giám Sinh lưu manh, và rồi lại rơi vào chốn lầu xanh của Mụ Tú, cái lầu Ngưng Bích mà mụ dành cho Kiều ở thật ra là cái cạm bẫy để rồi đưa nàng vào cuộc đời của một cô gái lầu xanh. Tâm trạng của Kiều ở lầu Ngưng Bích là dự cảm về những đắng cay mà nàng sắp sửa phải gánh chịu.

Đoạn thơ trích là một bức tranh buồn, một nỗi buồn xót xa của thân gái dặm trường phải đối với bao nghiệt ngã ở chính mình – một nỗi buồn xa xót, thê lương, buồn từ lòng người thấm vào cảnh vật, buồn từ cảnh vật xoáy vào lòng người; một nồi buồn của con người hoàn toàn cô đơn giữa khung cảnh thiên nhiên vắng lặng.

Mở đầu đoạn thơ là khung cảnh bi kịch nội tâm Thúy Kiều:

Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân, Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung. Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia

Chỉ vài nét chấm phá của nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đã gợi lên một tâm trạng cô đơn, trơ trọi của Thúy Kiều trước không gian mênh mông vắng lặng. Từ lầu cao ngước mắt xa trông, nàng chỉ thấy trong tầm mắt dáng núi mờ xa và một mảnh trăng gần. Bức tranh thiên nhiên thì đẹp, nhưng lòng người thì buồn, nên cảnh cùng đeo sầu. “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Nhìn xuống mặt đất thì cảnh vật bốn về xa trông bát ngát, bên thì “cát vàng cồn nọ” nhấp nhô, lượn sóng, bên thì “bụi hồng dặm kia” thưa thớt thoáng hiện dưới ánh trăng vàng. Bức tranh thiên nhiên dù nên thơ, thoáng đãng, nhưng lại rất tĩnh – cái tình lặng gần như tuyệt đối ấy, cái mênh mông vắng lặng ấy lại càng khắc sâu thêm nỗi niềm cô đơn, buồn tủi của nàng. Để rồi nỗi cô đơn ấy lại càng đấy lên đến mức tuyệt đối:

Bẽ bàng mây sớm đèn khuya, Nửa tình, nửa cảnh như chia tấm lòng.

Hình ánh “mây sớm đèn khuya” gợi thời gian tuần hoàn, khép kín. Thời gian và không gian hãm con người nơi đất lạ, miền xa. Nàng chỉ còn biết làm bạn với “mây sớm đèn khuya” để mà tự thổn thức, tự hoài niệm. Thật oái oăm cho cảnh, “Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”. Một nửa là tâm sự của Thúy Kiều và nửa kia là cảnh vật trước lầu Ngưng Bích. Hai nỗi ấy đan xen vào nhau, làm choáng ngợp lòng Kiều, khiến Kiều đau đớn bơn, tan tác hơn. Nàng đắm chìm trong nỗi buồn cô đơn, tuyệt vọng.

Trong nỗi buồn cô quạnh đó, hình ảnh người thân lại hiện về. Nàng nhớ người yêu, nhớ cha mẹ. Nỗi nhớ của nàng được Nguyễn Du miêu tá thật xúc động và sâu sắc trong lời độc thoại nội tâm.

Nàng tưởng nhớ đến Kim Trọng, nhớ về mối tình trong sáng, đẹp đẽ. Hình ảnh ánh trăng gợi nhớ lại một đêm trăng mới ngày nào họ cùng nhau thề nguyền kết tóc xe tơ, nàng thương Kim Trọng vẫn tháng ngày mong chờ, không biết nàng ở tận góc bể chân trời nào:

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng, Tin sương xuống những rày trông mai chờ.

Hai câu thơ là lời độc thoại, nội tâm của trái tim yêu thương. Và giờ đây, nàng càng đau đớn xót xa hơn:

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.

Trong tình yêu, không biết bao giờ nàng mới thôi nhớ Kim Trọng. Chắc mải mãi là không bao giờ phai nhạt được. Lòng Kiều là một “tấm son” một tấm lòng son sắt thủy chung với Kim Trọng. Về sau, trong suốt mười lăm năm lưu lạc, hình bóng Kim Trọng lúc nào cũng khắc sâu trong tâm trí của Kiều. Câu thơ “tấm son gột rửa bao giờ cho phai” cũng có thể hiếu theo cách khác. Tấm lòng son của Kiều bị vùi dập hoen ố, biết bao giờ gột rửa được. Dù là hiểu câu thơ theo cách nào đi nữa, thì ta vẫn thấy nỗi trăn trở của Kiều là nỗi đau về mối tình tan vỡ, một nỗi đau về thân phận, về cuộc đời mà nàng đã phải chấp nhận.

Cánh ngộ của Kiều lại càng éo le hơn, khi nghi về cha mẹ:

Xót người tựa cửa hôm nay, Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ? Sân Lai cách mấy nắng mưa, Có khi gốc từ đã vừa người ôm.

Kiêu “xót” vì hình dung cha mẹ vẫn sớm hôm tựa cửa ngóng trông tin tức của nàng. Nàng xót thương da diết và day dứt khôn nguôi về nổi không thể “quạt nồng ấp lạnh”, phụng dưỡng cha mẹ đang ngày một già nua đau yếu. Thành ngữ “quạt nồng ấp lạnh”, điển cố “sân Lai”, “gốc tử” đều nói lên tâm trạng nhớ thương, tấm lòng hiếu thảo của Kiều.

Nàng nhớ người yêu trước, nhớ cha mẹ sau, còn là sự thế hiện một cách tinh tế của Nguyễn Du trong việc khắc họa một cách khách quan tâm trạng của Thúy Kiều. Là người đặc biệt biêu thảo như Kiều, Nguyễn Du đã thấy và thông cảm với những đổ vở, tan nát của một mối tình mà trái tim Kiều lúc nào cũng như chảy máu vì đau thương và hối hận. Chính vì vậy mà khi viết về tâm trạng của Thúy Kiều, ông đã đặt tình trước hiếu, đảo ngược trật tự đạo lí phong kiến, để Kiều nhớ đến người yêu trước. Mặt khác, đối với cha mẹ, Kiều đã bán mình chuộc cha, ơn sinh thành đã có phần đền đáp. Còn đối với người yêu, Kiều vẫn coi mình là người có tội bạc tình. Trong tâm trạng như vậy, khi một mình một bóng, Nguyễn Du đã để Kiều trước hết nghĩ tới người yêu thì thật là một nhà thơ tâm lí bậc thầy khó lần với bất cứ ai.

Trong tâm trạng ngổn ngang những nỗi đau dằn xé của nàng, nàng ngoảnh mặt trông bốn phương trời, đâu đâu cũng thấy buồn.

Bốn cặp câu cuối đoạn là bốn bức tranh mà Kiều nhìn đến được Nguyễn Du miêu tả bằng điệp khúc “buồn trông”. Đây là đoạn thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc, trong đó khung cảnh thiên nhiên luôn là khung cảnh tâm trạng, biểu đạt hoạt động nội tâm của Thúy Kiều.

Cảnh thứ nhất là cảnh chiều hôm trên cửa biển với cánh buồm thấp thoáng khi tỏ khi mờ:

Buồn trông cửa hể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cảnh buồm xa xa.

Hình ảnh cánh buồm thấp thoáng xa xa trong buổi chiều tà gợi lên ở nàng một nỗi buồn day dứt về quê nhà xa cách, về thân phận lẻ loi, cô đơn, hiu hắt đến khốn cùng!

Bức tranh thứ hai hiện ra trước mắt là hình ảnh:

Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu.

Một cánh “hoa trôi man mác” giữa dòng nước mênh mông đủ để chiếm thực tại ở nàng. Hình ảnh “hoa trôi” gợi lên nỗi buồn về thân phận lênh đênh, vô định của nàng. Nàng thực sự cảm nhận được số phận trôi nổi về sau của mình.

Càng buồn, cảnh vật càng thấm nỗi đau và gần như càng xa lạ đối với nàng:

Buồn trông nội cỏ dầu dầu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

Hình ảnh “nội cỏ dầu dầu” giữa “chân mây mặt đất” trong cái màu xanh xanh, mùa xa tít tắp ấy, là một nỗi bi thương vô vọng, kéo dài không biết đến tự bao giờ!

Lòng Kiều buồn, nỗi buồn tràn ngập cả bốn phương trời như bao phủ lấy nàng, ôm chặt nàng, lòng nàng cảm thấy cô đơn hơn, hãi hùng hơn. Nhưng có lẽ điều đã làm nàng khiếp sợ nhất là tiếng sóng:

Buồn trông gió cuốn mặt dềnh, Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

Tiếng sóng âm vang vây chặt lấy Kiều, ầm vang trong lòng Kiều. Tiếng sóng gào thét giận dữ như báo hiệu bão tố đang rình rập như chụp xuống đời nàng.

Kiều ở lầu Ngưng Bích là bức tranh phong phú và sinh động về ngoại cảnh và tâm cảnh. Với những nét phác họa có chọn lọc về cảnh vật thiên nhiên, về ngôn ngữ độc thoại và hề thống ngôn ngữ dân tộc là chủ yếu, Nguyễn Du đã miêu tả những diễn biến tâm trạng nhân vật một cách sinh động, tạo được ấn tượng mạnh mẻ đối với người đọc.

Với một trái tim nhân đạo, giàu tính nhân văn sâu sắc, kết hợp với bút lực tài hoa, Nguyễn Du đã tạo nên một đoạn thơ nổi tiếng nhất trong Truyện Kiều.

*****

Nguồn: chúng tôi

3254 Câu Thơ Lục Bát Truyện Kiều Nguyễn Du Trọn Bộ

Truyện Kiều (Đoạn Trường Tân Thanh) được coi là một trong số ít những tác phẩm bất hủ của kho tàng văn học Việt Nam nhưng lại chưa từng được đưa lên màn ảnh nhỏ. Mới đây, đạo diễn gạo cội Lưu Trọng Ninh (phim Thương Nhớ Ở Ai) đã tổ chức buổi casting diễn viên cho Truyện Kiều. Đây rõ ràng là một thông tin đáng trông đợi cho những người yêu mến điện ảnh cũng như văn học Việt Nam.

Truyện Kiều có nguồn gốc từ cuốn tiểu thuyết Trung Quốc là Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Tuy vậy, phán sáng tạo của Nguyễn Du là rất lớn.Tác phẩm về hai chị em đã được đưa vào chương trình học lớp 9

Có thuyết nói Nguyễn Du viết Truyện Kiều sau khi đi sứ Trung Quốc (1814-1820). Lại có thuyết nói ông viết trước khi đi sứ, có thể vào khoảng cuối Lê đầu Tây Sơn[2]. Thuyết sau được nhiều người chấp nhận hơn [3]. Ngay sau khi ra đời, Truyện Kiều được nhiều nơi khắc in và lưu hành rộng rãi. Hai bản in xưa nhất hiện còn là bản của Liễu Văn Đường (1871) và bản của Duy Minh Thị (1872), đều ở thời vua Tự Đức [3].

Truyện dựa theo bộ truyện văn xuôi Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân, lấy bối cảnh Trung Quốc thời vua Gia Tĩnh Đế đời nhà Minh (từ năm 1521 tới năm 1567). Có một số nhân vật như tổng đốc Hồ Tôn Hiến, nhân vật Từ Hải là có thật trong lịch sử.

Nghe Audio Full Trọn Bộ Truyện Kiểu Nguyễn Du

Ba trăm năm nữa nào biết được. Thiên hạ ai người khóc Tố Như. ~ Nguyễn Du – Bài ‘Đọc Tiểu Thanh Ký’ ~

Nguyễn Du (1766-1820) Hiệu Là Tố Như, Thanh Hiên, Người Xã Tiên Điền, Huyện Nghi Xuân, Tỉnh Hà Tĩnh

Thơ Lục Bát, 3254 Câu Truyện Kiều Nguyễn Du

1A. Kiều Thăm Mộ Đạm Tiên (Câu 1-244) 01 = CÂU 1 – 50

1.Trăm năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau. Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy mà đau đớn lòng. 5.Lạ gì bỉ sắc tư phong, Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen. Cảo thơm lần giở trước đèn, Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh. Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh, 10.Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng. Có nhà viên ngoại họ Vương, Gia tư nghĩ cũng thường thường bực trung. Một trai con thứ rốt lòng, Vương Quan là chữ, nối dòng nho gia. 15.Đầu lòng hai ả tố nga, Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân. Mai cốt cách, tuyết tinh thần, Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười. Vân xem trang trọng khác vời, 20.Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang. Hoa cười ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da. Kiều càng sắc sảo, mặn mà, So bề tài, sắc, lại là phần hơn. 25.Làn thu thủy, nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh. Một, hai nghiêng nước nghiêng thành, Sắc đành đòi một, tài đành họa hai. Thông minh vốn sẵn tư trời, 30.Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm. Cung thương làu bậc ngũ âm, Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương. Khúc nhà tay lựa nên chương, Một thiên bạc mệnh, lại càng não nhân. 35.Phong lưu rất mực hồng quần, Xuân xanh sấp xỉ tới tuần cập kê Êm đềm trướng rủ màn che, Tường đông ong bướm đi về mặc ai. Ngày xuân con én đưa thoi, 40.Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi. Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa. Thanh minh trong tiết tháng ba, Lễ là tảo mộ, hội là đạp Thanh. 45.Gần xa nô nức yến anh, Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân. Dập dìu tài tử, giai nhân, Ngựa xe như nước áo quần như nêm. Ngổn ngang gò đống kéo lên, 50.Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay.

1B. Kiều Thăm Mộ Đạm Tiên (Câu 1-244) 02 = CÂU 51 – 131

Tà tà bóng ngả về tây, Chị em thơ thẩn dan tay ra về. Bước dần theo ngọn tiểu khê, Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh. 55.Nao nao dòng nước uốn quanh, Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang. Sè sè nấm đất bên đàng, Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh. Rằng: Sao trong tiết thanh minh, 60.Mà đây hương khói vắng tanh thế mà? Vương Quan mới dẫn gần xa: Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi. Nổi danh tài sắc một thì, Xôn xao ngoài cửa hiếm gì yến anh. 65.Kiếp hồng nhan có mong manh, Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương. Có người khách ở viễn phương, Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi. Thuyền tình vừa ghé tới nơi, 70.Thì đà trâm gẫy bình rơi bao giờ. Buồng không lạnh ngắt như tờ, Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh. Khóc than khôn xiết sự tình, Khéo vô duyên ấy là mình với ta. 75.Đã không duyên trước chăng mà, Thì chi chút ước gọi là duyên sau. Sắm xanh nếp tử xe châu, Vùi nông một nấm mặc dầu cỏ hoa. Trải bao thỏ lặn ác tà, 80.Ấy mồ vô chủ, ai mà viếng thăm! Lòng đâu sẵn mối thương tâm, Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa. Đau đớn thay phận đàn bà! Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung. 85.Phũ phàng chi bấy hoá công, Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha. Sống làm vợ khắp người ta, Khéo thay thác xuống làm ma không chồng. Nào người phượng chạ loan chung, 90.Nào người tích lục tham hồng là ai? Đã không kẻ đoái người hoài, Sẵn đây ta kiếm một vài nén hương. Gọi là gặp gỡ giữa đường, Họa là người dưới suối vàng biết cho. 95.Lầm rầm khấn khứa nhỏ to, Sụp ngồi vài gật trước mồ bước ra. Một vùng cỏ áy bóng tà, Gió hiu hiu thổi một vài bông lau. Rút trâm sẵn giắt mái đầu, 100.Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần. Lại càng mê mẩn tâm thần Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra. Lại càng ủ dột nét hoa, Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài. 105.Vân rằng: Chị cũng nực cười, Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa. Rằng: Hồng nhan tự thuở xưa, Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu? Nỗi niềm tưởng đến mà đau, 110.Thấy người nằm đó biết sau thế nào? Quan rằng: Chị nói hay sao, Một lời là một vận vào khó nghe. Ở đây âm khí nặng nề, Bóng chiều đã ngả dậm về còn xa. 115.Kiều rằng: Những đấng tài hoa, Thác là thể phách, còn là tinh anh, Dễ hay tình lại gặp tình, Chờ xem ắt thấy hiển linh bây giờ. Một lời nói chửa kịp thưa, 120.Phút đâu trận gió cuốn cờ đến ngay. Ào ào đổ lộc rung cây, Ở trong dường có hương bay ít nhiều. Đè chừng ngọn gió lần theo, Dấu giày từng bước in rêu rành rành. 125.Mắt nhìn ai nấy đều kinh, Nàng rằng: Này thực tinh thành chẳng xa. Hữu tình ta lại gặp ta, Chớ nề u hiển mới là chị em. Đã lòng hiển hiện cho xem, Tạ lòng nàng lại nối thêm vài lời. 130.Lòng thơ lai láng bồi hồi, Gốc cây lại vạch một bài cổ thi.

1C.Kiều Thăm Mộ Đạm Tiên (Câu 1-244) 03 = CÂU 132 -170

Dùng dằng nửa ở nửa về, Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần. 135.Trông chừng thấy một văn nhân, Lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng. Đề huề lưng túi gió trăng, Sau chân theo một vài thằng con con. Tuyết in sắc ngựa câu giòn, 140.Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời. Nẻo xa mới tỏ mặt người, Khách đà xuống ngựa tới nơi tự tình. Hài văn lần bước dặm xanh, Một vùng như thể cây quỳnh cành dao. 145.Chàng Vương quen mặt ra chào, Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa. Nguyên người quanh quất đâu xa, Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh. Nền phú hậu, bậc tài danh, 150.Văn chương nết đất, thông minh tính trời. Phong tư tài mạo tót vời, Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa. Chung quanh vẫn đất nước nhà, Với Vương Quan trước vẫn là đồng thân. 155.Vẫn nghe thơm nức hương lân, Một nền đồng Tước khoá xuân hai Kiều. Nước non cách mấy buồng thêu, Những là trộm nhớ thầm yêu chốc mòng. May thay giải cấu tương phùng, 160.Gặp tuần đố lá thoả lòng tìm hoa. Bóng hồng nhác thấy nẻo xa, Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai. Người quốc sắc, kẻ thiên tài, Tình trong như đã, mặt ngoài còn e. 165.Chập chờn cơn tỉnh cơn mê. Rốn ngồi chẳng tiện, dứt về chỉn khôn. Bóng tà như giục cơn buồn, Khách đà lên ngựa, người còn nghé theo. Dưới cầu nước chảy trong veo, 170.Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.

1D. Kiều Thăm Mộ Đạm Tiên (Câu 1-244) 04 = CÂU 171 – 244

Kiều từ trở gót trướng hoa, Mặt trời gác núi chiêng đà thu không. Mảnh trăng chênh chếch dòm song, Vàng gieo ngấn nước, cây lồng bóng sân. 175.Hải đường lả ngọn đông lân, Giọt sương gieo nặng cành xuân la đà. Một mình lặng ngắm bóng nga, Rộn đường gần với nỗi xa bời bời: Người mà đến thế thì thôi, 180.Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi! Người đâu gặp gỡ làm chi, Trăm năm biết có duyên gì hay không? Ngổn ngang trăm mối bên lòng, Nên câu tuyệt diệu ngụ trong tính tình. 185.Chênh chênh bóng nguyệt xế mành, Tựa nương bên triện một mình thiu thiu. Thoắt đâu thấy một tiểu kiều, Có chiều thanh vận, có chiều thanh tân. Sương in mặt, tuyết pha thân, 190.Sen vàng lãng đãng như gần như xa. Chào mừng đón hỏi dò la: Đào nguyên lạc lối đâu mà đến đây? Thưa rằng: Thanh khí xưa nay, Mới cùng nhau lúc ban ngày đã quên. 195.Hàn gia ở mé tây thiên, Dưới dòng nước chảy bên trên có cầu. Mấy lòng hạ cố đến nhau, Mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng. Vâng trình hội chủ xem tường, 200.Mà sao trong sổ đoạn trường có tên. Âu đành quả kiếp nhân duyên, Cùng người một hội, một thuyền đâu xa! Này mười bài mới mới ra, Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời. 205.Kiều vâng lĩnh ý đề bài, Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm. Xem thơ nức nở khen thầm: Giá đành tú khẩu cẩm tâm khác thường Ví đem vào tập Đoạn Trường 210.Thì treo giải nhất chi nhường cho ai. Thềm hoa khách đã trở hài, Nàng còn cầm lại một hai tự tình. Gió đâu xịch bức mành mành, Tỉnh ra mới biết rằng mình chiêm bao. 215.Trông theo nào thấy đâu nào Hương thừa dường hãy ra vào đâu đây. Một mình lưỡng lự canh chầy, Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh. Hoa trôi bèo dạt đã đành, 220.Biết duyên mình, biết phận mình thế thôi! Nỗi riêng lớp lớp sóng dồi, Nghĩ đòi cơn lại sụt sùi đòi cơn. Giọng Kiều rền rĩ trướng loan, Nhà Huyên chợt tỉnh hỏi: Cơn cớ gì? 225.Cớ sao trằn trọc canh khuya, Màu hoa lê hãy dầm dề giọt mưa? Thưa rằng: Chút phận ngây thơ, Dưỡng sinh đôi nợ tóc tơ chưa đền. Buổi ngày chơi mả Đạm Tiên, 230.Nhắp đi thoắt thấy ứng liền chiêm bao. Đoạn trường là số thế nào, Bài ra thế ấy, vịnh vào thế kia. Cứ trong mộng triệu mà suy, Phận con thôi có ra gì mai sau! 235.Dạy rằng: Mộng triệu cớ đâu, Bỗng không mua não chuốc sầu nghĩ nao. Vâng lời khuyên giải thấp cao, Chưa xong điều nghĩ đã dào mạch Tương. Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng, 240.Nách tường bông liễu bay ngang trước mành. Hiên tà gác bóng chênh chênh, Nỗi riêng, riêng trạnh tấc riêng một mình. Cho hay là thói hữu tình, Đố ai gỡ mối tơ mành cho xong.

2.5

/

5

(

84

bình chọn

)

Phân Tích Đoạn Thơ Nỗi Thương Mình Trong Truyện Kiều Của Nguyễn Du

Phân tích đoạn thơ Nỗi thương mình trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

Nội dung chính của đoạn trích là Tâm trạng Thuý Kiều dày vò đau khổ trong bi kịch thứ hai: bi kịch về nhân phẩm. Là người trọng danh dự, phẩm tiết, thế mà phải tự giày xéo cái cao quí đó, đau khổ biết bao khi tự mình chán ghét mình.

Cảnh thật mà người giả:

Mở đoạn là cảnh thanh lâu: người ra vào tấp nập, gái trai dập dìu, ngả nghiêng trong tiếng nhạc, ánh mắt đưa tình, ngập ngụa trong cơn say, cười nói như điên dại. Cuộc sống lấy đêm làm ngày, phấn son nhớp nhúa.

Nguyễn Du tả cảnh tế nhị này bằng những hình ảnh ước lệ: bướm ong, dùng điển tích, điển cô”: lá gió cành chim, Tống Ngọc, Trường Khanh nên tránh cho người đọc khỏi phải chứng kiến trực tiếp cảnh xấu xa, đồi bại, nhưng cảnh vẫn hiện lên rất thực, sống động. Bằng những từ láy: lả lơi, dập dìu và biện pháp thậm xưng: Cuộc say đầy thảng, trận cười suốt đèm, Nguyễn Du đã dựng dược toàn bộ không khí của chốn lầu xanh. Nguyễn Du không chỉ có tài tả cảnh thiên nhiên mà còn có tài tả cảnh sinh hoạt.

Khi sao phong gấm rủ là, Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?

Trong cảnh rất phản cảm ấy, người đọc thấy hiện lên nhân vật Kiều phải say, phải cười, phải ngả nghiêng, lơi lả, phải dìu bước, gắng gượng vào ra… nghĩa là phải làm tất cả như cái máy để quên. Đó là một Kiều giả – Kiều kĩ nữ. Nguyễn Du dã truyền đến người đọc nỗi xót đau trước cánh hoa tươi bị dập nát trong chốn bùn dơ, niềm căm phẫn trước bọn ác nhân: Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Tú Bà…

Cảnh lùi xa, Kiều còn lại một mình, trơ ra con người thật:

Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh, Giật mình, mình lại thương mình xót xa.

Thao thức trong đêm vắng canh dài, Kiều hình dung lại cảnh sống ê chề nên càng xót xa tiếc nuôi thời vàng son nhung lụa đã mất:

Cảnh thật đối chọi tương phản giữa xưa và nay. Quá khứ êm đẹp chỉ nhắc lại một câu còn là ba câu nói đến thực tại phũ phàng, bao trùm đè nặng chôn lấp quá khứ, Kiều càng đau đớn hơn. Hàng loạt câu hỏi tu từ và điệp từ sao cho thấy giọng điệu vừa đau xót vừa đay nghiến. Mặt sao… Thân sao… là lời Kiều tự đay nghiến mình, tự chán mình. Thật đau xót biết bao khi phải tự ruồng bỏ chính mình. Đây là bi kịch tự thân, diễn ra trong nội tâm nhân vật khi ý thức nhân phẩm trỗi dậy. Con người tự đau cho mình cũng như tự nhận thức giá trị bản thân là điểm mới trong văn chương trung đại. (Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn / Trơ cái hồng nhan với nước non – Hồ Xuân Hương).

Cách kết cấu chêm xen thành ngữ đầy sáng tạo: bướm lả ong lơi, dày gió dạn sương, bướm chán ong chường đã tạo ra giọng thơ nhấn nhá diễn tả tâm trạng bị dày vò đau đớn. Giọng nhân vật trùng với giọng kể chuyện đã thể hiện niềm đồng cảm đau xót sâu xa của nhà thơ.

Bôn câu thơ đầu là người đọc đau cho Kiều, bốn câu tiếp theo là cùng đau với Kiều.

Cuối cùng là cảm nghĩ của Kiều về cảnh sống hiện tại:

Thi liệu thơ mang tính ước lệ, cách điệu: mưa Sở, mây Tần, xuân, gió tựa hoa kề, tuyết, trăng, cầm kì thi hoạ nên nhìn bề ngoài có vẻ thanh tao, trang nhã nhưng kì thực là một cảnh nhơ nhớp nên lòng buồn mênh mông vô hạn.

Có bốn câu nói về cảnh thiên nhiên, bốn câu nói về cảnh sinh hoạt. Cấu trúc tám câu thơ cuôl đoạn rất nhịp nhàng đăng đối: thiên nhiên lạnh lẽo trống vắng, còn sinh hoạt nhạt nhẽo rời rạc. Tất cả đều góp phần thể hiện cảnh sống lạnh lẽo, cô quạnh, tâm trạng nàng Kiều cô đơn, thẫn thờ, vô cảm buông trôi.

Đoạn thơ có nhiều câu tiểu đối, hoặc đối giữa câu lục với câu bát rất nhịp nhàng, khi thì diễn tả sự đối lập, khi thì cho thấy sự liên tục, kéo dài của sự việc… để thấy nỗi đau đớn hay nỗi buồn mênh mông. 

Nhờ xúc cảm da diết và sâu lắng nên Nguyễn Du đã viết những câu thơ đẹp nhất, mang tính phổ quát cao, đầy chiêm nghiệm triết lí:

Đoạn thơ thấp thoáng ẩn hiện cuộc sống lầu xanh và diễn tả chồng chất nỗi đau đớn xót xa trong bi kịch nhân phẩm của nàng Kiều. Đau xót vì cái đẹp bị vùi dập là biểu hiện của tinh thần nhân văn cao đẹp trong đoạn trích.

Nguồn: Vietvanhoctro.com