Cảm Nhận Về Bài Thơ Trăng Ơi … Từ Đâu Đến (Trần Đăng Khoa)

1968

Nguồn: Trần Đăng Khoa, Góc sân và khoảng trời, NXB Văn hóa dân tộc, 1999

Bài thơ Trăng Ơi … từ đâu đến là một bài thơ hay của nhà thơ Trần Đăng Khoa, bài thơ với nội dung miêu tả ánh trăng vô cùng gần gũi, rất giàu trí tưởng tượng.

Bài thơ tác giả đã sử dụng điệp khúc “Trăng ơi.. từ đâu đến” từ khổ thơ đầu đến khổ thơ cuối của bài thơ. Điệp khúc “Trăng ơi.. từ đâu đến” như là một câu hỏi, gợi lên bao cảm xúc thật bâng khuâng và mênh mang.

Cái không gian mà vầng trăng xuất hiện thật bao la, mênh mông: “Hay từ cánh đồng xa”, “Hay biển xanh diệu kì”, “Hay từ một sân chơi”, “Hay từ lời mẹ ru” Hay từ đường hành quân”, hay “Trăng đi khắp mọi miền”, ở đây, trí tưởng tượng phong phú của nhà thơ thần đồng đã thắp sáng vần thơ kì diệu, bay bổng.

Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ đã không còn không còn là lá lúa, chiếc câu liêm vàng, chiếc đĩa bạc… nữa, mà Trần Đăng Khoa đã cảm nhận một cách tinh tế bằng tình yêu trăng của tâm hồn trẻ thơ, rất hồn nhiên, trong sáng.

“Trăng hồng như quả chín

Lửng lơ lên trước nhà”.

Hai chữ “lửng lơ” gợi tả vầng trăng nhẹ, từ từ bay lên “trước nhà” thật gần gũi thân thương. Đối với lứa tuổi trẻ em ở vùng nông thôn thì vầng trăng khi nào cũng thật đẹp, thật gần gũi

Trăng từ biển xanh diệu kì đến, nơi có lắm cá nhiều tôm. Trăng tròn lung linh được, so sánh với mắt cá “chẳng bao giờ chớp mi” là một hình tượng ngộ nghĩnh, giàu chất thơ:

“Trăng tròn như mắt cá

Chẳng bao giờ chớp mi”.

Trăng được ví như quả bóng từ một sân chơi của nhi đồng đã được “Bạn nào đá lên trời”. Thật hóm hỉnh!

Trăng từ lời ru của mẹ: “Chú Cuội ngồi gác cây da – Thả trâu ăn lúa, gọi cha ời ời….” đã nhập vào tâm hồn tuổi thơ khi còn nằm trên nôi. Ngắm trăng, bé Khoa hỏi Cuội và thương Cuội biết bao nhiêu:

“Thương Cuội không được học

Hú gọi trâu đến giờ!”.

Hai khổ thơ cuối, vầng trăng gợi mở tâm hồn tuổi thơ. Trần Đăng Khoa viết bài thơ này vào năm 1967, khi đất nước đang kháng chiến chống Mĩ. Trăng không chỉ soi sáng sân nhà em mà con soi sáng đường cho chú Giải phóng quân hành quân ra trận:

“Hay từ đường hành quân

Trăng soi chú bộ đội

Và soi vàng góc sân”.

Nước Việt Nam chúng ta đã đẹp, quê hương chúng ta đã đẹp: “Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi!” (Tố Hữu). Dưới vầng trăng sáng, đất nước ta càng thêm đẹp:

“Trăng ơi, có nơi nào

Sáng hơn đất nước em”.

Đó là niềm tự hào và tình yêu đất nước quê hương.

“Trăng ơi… từ đâu đến?” là một bài thơ đẹp và hay. Giọng thơ nhẹ nhàng thanh tao; tình yêu trăng chan hòa dào dạt với tình yêu đất nước, quê hương. Lời thơ trong sáng, hình tượng đẹp và mới lạ. Trăng đã trở thành một phần nhỏ trong tâm hồn của tuổi thơ mỗi người.

Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ “Trăng Ơi… Từ Đâu Đến” Của Trần Đăng Khoa

Cảm nghĩ của em về bài thơ “Trăng ơi… từ đâu đến” của Trần Đăng Khoa Lời giải chi tiết

Thuở nhỏ, Trần Đăng Khoa có một số bài thơ trăng, trong đó bài thơ ngũ ngôn “Trăng ơi… từ đâu đến?” là đặc sắc hơn cả.

Bài thơ có 6 khổ thơ, thì câu thơ “Trăng ơi… từ đâu đến?” (lược điệp lại đến 4 lần, gợi lên bao cảm xúc bâng khuâng và mênh mang, mênh mang.

Cái không gian mà vầng trăng xuất hiện thật bao la, mênh mông: “Hay từ cánh đồng xa”, “Hay biển xanh diệu kì”, “Hay từ một sân chơi”, “Hay từ lời mẹ ru” Hay từ đường hành quân”, hay “Trăng đi khắp mọi miền”, ở đây, trí tưởng tượng phong phú của nhà thơ thần đồng đã thắp sáng vần thơ kì diệu, bay bổng.

Trăng không còn là lá lúa, chiếc câu liêm vàng, chiếc đĩa bạc… nữa, mà Trần Đăng Khoa đã cảm nhận một cách tinh tế bằng tình yêu trăng của tâm hồn trẻ thơ, rất hồn nhiên, trong sáng.

Trăng hồng lơ lửng trước nhà thơm ngon, ngọt mát nơi vườn quê:

“Trăng hồng như quả chín

Lửng lơ lên trước nhà”.

Hai chữ “lửng lơ” gợi tả vầng trăng nhẹ, từ từ bay lên “trước nhà” thật gần gũi thân thương.

Trăng từ biển xanh diệu kì đến, nơi có lắm cá nhiều tôm. Trăng tròn lung linh được, so sánh với mắt cá “chẳng bao giờ chớp mi” là một hình tượng ngộ nghĩnh, giàu chất thơ:

“Trăng tròn như mắt cá

Chẳng bao giờ chớp mi”.

Trăng được ví như quả bóng từ một sân chơi của nhi đồng đã được “Bạn nào đá lên trời”. Thật hóm hỉnh!

Trăng từ lời ru của mẹ: “Chú Cuội ngồi gác cây da – Thả trâu ăn lúa, gọi cha ời ời….” đã nhập vào tâm hồn tuổi thơ khi còn nằm trên nôi. Ngắm trăng, bé Khoa hỏi Cuội và thương Cuội biết bao nhiêu:

“Thương Cuội không được học

Hú gọi trâu đến giờ!”.

Hai khổ thơ cuối, vầng trăng gợi mở tâm hồn tuổi thơ. Trần Đăng Khoa viết bài thơ này vào năm 1967, khi đất nước đang kháng chiến chống Mĩ. Trăng không chỉ soi sáng sân nhà em mà con soi sáng đường cho chú Giải phóng quân hành quân ra trận:

“Hay từ đường hành quân

Trăng soi chú bộ đội

Và soi vàng góc sân”.

Nước Việt Nam chúng ta đã đẹp, quê hương chúng ta đã đẹp: “Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi!” (Tố Hữu). Dưới vầng trăng sáng, đất nước ta càng thêm đẹp:

“Trăng ơi, có nơi nào

Sáng hơn đất nước em”.

Đó là niềm tự hào và tình yêu đất nước quê hương.

“Trăng ơi… từ đâu đến?” là một bài thơ đẹp và hay. Giọng thơ nhẹ nhàng thanh tao; tình yêu trăng chan hòa dào dạt với tình yêu đất nước, quê hương. Lời thơ trong sáng, hình tượng đẹp và mới lạ. Trăng đã trở thành một mảnh tâm hồn cùa tuổi thơ.

Chia sẻ: chúng tôi

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Cảm Nhận Về Bài Thơ Trăng Ơi … Từ Đâu Đến (Trần Đăng Khoa) Mới Nhất

Trăng Ơi Từ Đâu Đến

1968

Nguồn: Trần Đăng Khoa, Góc sân và khoảng trời, NXB Văn hóa dân tộc, 1999

Cảm nhận về bài thơ Trăng Ơi … Từ đâu đến

Bài thơ Trăng Ơi … từ đâu đến là một bài thơ hay của nhà thơ Trần Đăng Khoa, bài thơ với nội dung miêu tả ánh trăng vô cùng gần gũi, rất giàu trí tưởng tượng.

Bài thơ tác giả đã sử dụng điệp khúc “Trăng ơi.. từ đâu đến” từ khổ thơ đầu đến khổ thơ cuối của bài thơ. Điệp khúc “Trăng ơi.. từ đâu đến” như là một câu hỏi, gợi lên bao cảm xúc thật bâng khuâng và mênh mang.

Cái không gian mà vầng trăng xuất hiện thật bao la, mênh mông: “Hay từ cánh đồng xa”, “Hay biển xanh diệu kì”, “Hay từ một sân chơi”, “Hay từ lời mẹ ru” Hay từ đường hành quân”, hay “Trăng đi khắp mọi miền”, ở đây, trí tưởng tượng phong phú của nhà thơ thần đồng đã thắp sáng vần thơ kì diệu, bay bổng.

Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ đã không còn không còn là lá lúa, chiếc câu liêm vàng, chiếc đĩa bạc… nữa, mà Trần Đăng Khoa đã cảm nhận một cách tinh tế bằng tình yêu trăng của tâm hồn trẻ thơ, rất hồn nhiên, trong sáng.

“Trăng hồng như quả chín

Lửng lơ lên trước nhà”.

Hai chữ “lửng lơ” gợi tả vầng trăng nhẹ, từ từ bay lên “trước nhà” thật gần gũi thân thương. Đối với lứa tuổi trẻ em ở vùng nông thôn thì vầng trăng khi nào cũng thật đẹp, thật gần gũi

Trăng từ biển xanh diệu kì đến, nơi có lắm cá nhiều tôm. Trăng tròn lung linh được, so sánh với mắt cá “chẳng bao giờ chớp mi” là một hình tượng ngộ nghĩnh, giàu chất thơ:

“Trăng tròn như mắt cá

Chẳng bao giờ chớp mi”.

Trăng được ví như quả bóng từ một sân chơi của nhi đồng đã được “Bạn nào đá lên trời”. Thật hóm hỉnh!

Trăng từ lời ru của mẹ: “Chú Cuội ngồi gác cây da – Thả trâu ăn lúa, gọi cha ời ời….” đã nhập vào tâm hồn tuổi thơ khi còn nằm trên nôi. Ngắm trăng, bé Khoa hỏi Cuội và thương Cuội biết bao nhiêu:

“Thương Cuội không được học

Hú gọi trâu đến giờ!”.

Hai khổ thơ cuối, vầng trăng gợi mở tâm hồn tuổi thơ. Trần Đăng Khoa viết bài thơ này vào năm 1967, khi đất nước đang kháng chiến chống Mĩ. Trăng không chỉ soi sáng sân nhà em mà con soi sáng đường cho chú Giải phóng quân hành quân ra trận:

“Hay từ đường hành quân

Trăng soi chú bộ đội

Và soi vàng góc sân”.

Nước Việt Nam chúng ta đã đẹp, quê hương chúng ta đã đẹp: “Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi!” (Tố Hữu). Dưới vầng trăng sáng, đất nước ta càng thêm đẹp:

“Trăng ơi, có nơi nào

Sáng hơn đất nước em”.

Đó là niềm tự hào và tình yêu đất nước quê hương.

“Trăng ơi… từ đâu đến?” là một bài thơ đẹp và hay. Giọng thơ nhẹ nhàng thanh tao; tình yêu trăng chan hòa dào dạt với tình yêu đất nước, quê hương. Lời thơ trong sáng, hình tượng đẹp và mới lạ. Trăng đã trở thành một phần nhỏ trong tâm hồn của tuổi thơ mỗi người.

Bài Thơ ‘Đừng Tưởng’ Đọc Đến Đâu Thấm Đến Đó

chúng tôi –

Đừng tưởng cứ dưới là ngu.. Cứ trên là sáng cứ tu là hiền

Đừng tưởng cứ đẹp là tiên.. Cứ nhiều là được cứ tiền là xong

Đừng tưởng không nói là câm.. Không nghe là điếc không trông là mù.

Đừng tưởng cứ trọc là sư.. Cứ vâng là chịu cứ ừ là ngoan

Đừng tưởng có của đã sang.. Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây

Đừng tưởng cứ uống là say.. Cứ chân là bước cứ tay là sờ

Đừng tưởng cứ đợi là chờ.. Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần

Đừng tưởng cứ mới là tân.. Cứ hứa là chắc cứ ân là tình

Đừng tưởng cứ thấp là khinh.. Cứ chùa là tĩnh cứ đình là to

Đừng tưởng cứ quyết là nên.. Cứ mạnh là thắng cứ mềm là thua

Đừng tưởng cứ lớn là khôn… Cứ bé là dại, cứ hôn… là chồng

Đừng tưởng giàu hết cô đơn.. Cao sang hết ốm, tham gian hết nghèo

Đừng tưởng cứ gió là mưa.. Bao nhiêu khô khát trong trưa nắng hè

Đừng tưởng cứ hạ là ve.. Sân trường vắng quá ai khe khẽ buồn…

Đừng tưởng thu lá sẽ tuôn.. Bao nhiêu khao khát con đường tình yêu.

Đừng tưởng cứ thích là yêu.. Nhiều khi nhầm tưởng bao điều chẳng hay

Đừng tưởng đời mãi êm đềm.. Nhiều khi dậy sóng, khó kềm bản thân.

Đừng tưởng cười nói ân cần.. Nhiều khi hiểm độc, dần người tan xương.

Đừng tưởng cứ chọc là cười.. Nhiều khi nói móc biết cười làm sao

Đừng tưởng khó nhọc gian lao.. Vượt qua thử thách tự hào lắm thay

Đừng tưởng cứ giỏi là hay.. Nhiều khi thất bại đắng cay muôn phần

Đừng tưởng nắng gió êm đềm.. Là đời tươi sáng hóa ra đường cùng

Đừng tưởng góp sức là chung.. Chỉ là lợi dụng lòng tin của người

Đừng tưởng cứ tiến là lên.. Cứ lui là xuống, cứ yên là nằm

Đừng tưởng rằm sẽ có trăng.. Trời giăng mây xám mà lên đỉnh đầu

Đừng tưởng cứ khóc là sầu.. Nhiều khi nhỏ lệ mà vui trong lòng

Đừng tưởng cứ nghèo là hèn.. Cứ sang là trọng, cứ tiền là xong.

Đời người lúc thịnh, lúc suy

Lúc khỏe, lúc yếu, lúc đi, lúc dừng.

Bên nhau chua ngọt đã từng

Gừng cay, muối mặn, xin đừng quên nhau.

Ở đời nhân nghĩa làm đầu

Thủy chung sau trước, tình sâu, nghĩa bền.

Ai ơi nhớ lấy đừng quên…!

Tác giả: nhà thơ Bùi Giáng

Lão hòa thượng đáp: “Ta chẻ củi, gánh nước, nấu cơm.”

Nghe xong, hành giả tiếp tục hỏi: ” Vậy sau khi đắc Đạo thì sao?”

Lão hòa thượng nói: “Ta vẫn chẻ củi, gánh nước, nấu cơm.”

Hành giả lại hỏi tiếp: ” Vậy cái gì gọi là đắc Đạo?”

Lúc này, lão hòa thượng ôn tồn trả lời: “Trước khi đắc Đạo, lúc chẻ củi thì nghĩ về gánh nước, lúc gánh nước lại nghĩ về nấu cơm, nấu cơm rồi lại lo ngày mai đi chẻ củi gánh nước. Sau khi đắc Đạo, chẻ củi thì là chẻ củi, gánh nước thì là gánh nước, nấu cơm thì là nấu cơm.”

Thực ra, đắc Đạo hay chưa chỉ khác nhau ở một chữ “Tâm” mà thôi. Trước khi đắc Đạo, lão hòa thượng cũng giống như những người phàm phu khác, tâm không thể tĩnh tại, làm chuyện gì cũng nghĩ tưởng về quá khứ và tương lai.

Chỉ khi đã khắc chế cái tâm này, thì lòng người mới có thể ung dung tự tại, tinh thần mới có thể thảnh thơi… Vậy mới nói, hết thảy mọi phiền não trong đời là bởi tâm phàm quá nặng. Chỉ khi buông bỏ mọi dính mắc trong tâm, chúng ta mới có thể giải thoát chính mình.

Đọc đến đây, có lẽ bạn đã tìm được lời giải cho câu hỏi “Vì sao cuộc sống mệt mỏi?” Đó là vì những thứ kiểm soát tâm trạng của bạn có quá nhiều! Chẳng hạn như sự thay đổi của thời tiết, sự nóng lạnh của tình người, những phong cảnh khác nhau, v.v. đều có thể ảnh hưởng đến tâm trạng của bạn.

Và dĩ nhiên, đó đều là những thứ mà bạn không thể kiểm soát. Khi đã xem nhẹ rồi, thì bầu trời dẫu u ám hay trong xanh, con người dẫu chia ly hay tái hợp, vạn vật dẫu xoay vần biến đổi, thì lòng ta an nhiên không sợ hãi, thuận theo tự nhiên mà yên ổn.

Có thể nói, nỗi đau của hôm nay bắt nguồn từ sự phóng túng của hôm qua; nỗi khổ của đời này đều do nghiệp chướng từ kiếp trước. Thế nên, biết đối diện với hoàn cảnh, chấp nhận thực tại, sống thuận theo tự nhiên, thì mọi buồn phiền hay oán trách mới có thể tan hòa vào trong sự cảm ân…

Cảm Nhận Về Bài Thơ “Bác Ơi!” Của Tố Hữu

Ngày 2-9-1969, Hồ Chủ tịch tạ thế. Cả một rừng thơ khóc Bác xuất hiện, trong đó bật lên cây đại thụ Tố Hữu với bài thơ “Bác ơi!”

Bốn khổ thơ đầu nói cái đau xót tột cùng của thi sĩ trước sự kiện Bác ra đi:

Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa

Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa…

Khi Bác đi xa, Tố Hữu đang nằm điếu trị ở bệnh viện. Nghe tin, nhà thơ hoảng hốt chạy về phủ Chủ tịch, nơi nhà sàn của Người:

Chiều nay con chạy về thăm Bác

Từ “chạy”được dùng rất tài, nói lên sự nóng gan nóng ruột của người con khi nghe tin cha mất.

Con lại lần theo lối sỏi quen

Đến bên thang gác đứng nhìn lên

Chuông ôi, chuông nhỏ còn reo nữa

Phòng lặng, rèm buông, tắt ánh đèn!

Ta thấy tác giả rất ý tứ cho nên “đến bên thang gác đứng nhìn lên” mà chưa vào nhà vội. Vì sao vậy? Vì đến thăm một người tạ thế là thăm vợ goá, con côi. Còn Bác không có gia đình thì xử lí như Tố Hữu là rất tinh tế. Nhà Bác hôm nay đã khác xưa rồi: Chuông không còn reo để báo tin với Người có khách đến. Đặc biệt câu thơ: “Phòng lặng, rèm buông, tắt ánh đèn “, bị cắt ra làm ba nhịp như muốn diễn tả nỗi nghẹn ngào của Tố Hữu.

Nhìn vườn cây Bác từng vun trồng, tác giả bâng khuâng:

Trái bưởi kia vàng, ngọt với ai

Thơm cho ai nữa hỡi hoa nhài!

Hai câu này làm cho một số độc giả thắc mắc: Chẳng lẽ Bác trồng cây chỉ cho một mình Bác thôi ư? Tôi đã có dịp hỏi nhà thơ Xuân Diệu; thi sĩ bảo: Ai lại đi thẩm định văn chương như vậy! Đây chỉ là một cách nói của thi ca để biểu lộ tình thương sâu sắc của con đối với Cha mà thôi. Cha chết không thương Cha hay sao?

Nhìn ao cá, nhà thơ bỗng tiếc nuối:

Còn đâu bóng Bác đi hôm sớm

Quanh mặt hồ in mây trắng bay…

Bác hiện lên trong kí ức đẹp như một ông Tiên trong thần thoại. Đúng! Trong tâm trí nhà thơ cũng như trong tâm trí dân tộc ta, Bác là một “Ông tiên Mác-xít”

Sau những ngày bàng hoàng đau xót, nhà thơ bình tâm lại, khắc hoạ hình tượng Bác. Tố Hữu đã viết nhiều bài thơ về Bác nhưng bài này hay hơn cả vì đây là thơ tổng kết một cuộc đời.

Hình ảnh bao trùm là: “Bác ơi tim Bác mênh mông thế”. Đó là một trái tim giàu tình thương: “Ôm cả non sông, mọi kiếp người”

Một trái tim thương nước, thương dân bao la, mênh mông. Từ “ôm “được dùng rất gợi cảm: ôm là nâng niu, che chở, giữ gìn.

Thương bao nhiêu thì đau bấy nhiêu:

Bác chẳng buồn đâu, Bác chỉ đau

Nỗi đau dân nước, nỗi năm châu

Từ đau là lấy lại chữ dùng của Bác trong di chúc. Đau dân nước vì dân nước đang bị đế quốc xâm lược; đau năm châu vì có sự bất hoà trong phong trào cộng sản quốc tế. Chỉ con người vĩ đại mới có nỗi đau đớn lớn lao như thế.

Có một câu thơ tuyệt hay nói về cuộc đời của lãnh tụ:

Bác sống như trời đất của ta

Bác vui như ánh buổi bình minh

Vui mỗi mầm non, trái chín cành

Vui tiếng ca chung hoà bốn biển

Nâng niu tất cả, chỉ quên mình

Vì sao vậy? Vì giải phóng miền Nam là trung tâm của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ. Nhiều người gặp Bác đều kể lại mỗi khi trò chuyện, thế nào Người cũng nhắc đến miền Nam. Trong phòng của Bác có treo bản đồ miền Nam về sự bố trí binh lực của địch. Có lần phát biểu trước Quốc hội, Người nói: “Miền Nam, luôn trong trái tim tôi”

Đạo đức của Bác thật cao khiết:

Một đời thanh bạch, chẳng vàng son

Mong manh áo vải, hồn muôn trượng

Hơn tượng đồng phơi những lối mòn.

Bác là vị lãnh tụ kiểu mới; khác với những người ưa sùng bái cá nhân. Vì tâm hồn Bác giàu quá (hồn muôn trượng) nên bề ngoài Bác rất giản dị (mong manh áo vải). Bác không cần tượng đồng vì nhân dân đã đúc cho Người hàng triệu tượng trong tim.

Trong ba khổ cuối, nhà thơ nói lên cảm nghĩ của nhân dân ta trước sự ra đi của Bác.

Trước hết là nhớ lời Dì chúc:

Ra đi Bác dặn: “Còn non nước… ”

Nghĩa nặng lòng không dám khóc nhiều

Câu thơ nhắc lại lời Người:

“Còn non còn nước còn người

Thằng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”.

Vậy thì thương Bác tức là phải làm theo lời Bác dặn, tập trung sức để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Bác Hồ nay đã nhập vào một thế giới đặc biệt:

Mác-Lê nin thế giới Người Hiền

Hiền ở đây là hiền minh, hiền triết – tức là những vĩ đức cao cả. Chính những con người đó đã dẫn dắt lịch sử tiến lên không ngừng.

Kết thức thi phẩm này, Tố Hữu có một câu thơ rất hay:

Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn.

Yêu Bác là noi theo tấm gương trong suốt như pha lê của Người; sẽ có sức mạnh tẩy sạch những vết mờ đục trong lòng ta, nâng chúng ta lên tầm cao mới.

Chúng ta quyết biến đau thương thành sức mạnh:

“Xin nguyện cùng Người vươn tới mãi

Vững như muôn ngọn dải Trường Sơn”.

Bài thơ “Bác ơi” là một điếu vãn bi hùng. Lối thơ thất ngôn tạo nên một nhạc điệu trang trọng, cùng với hình ảnh thơ kì vĩ đã diễn đạt rất tài tình những cảm xúc cao đẹp của toàn thể dân tộc ta trong những ngày quốc tang năm 1969.