Cảm Nhận Về Bài Thơ Sang Thu Facebook / Top 2 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Kovit.edu.vn

Cảm Nhận Bài Thơ Sang Thu

Cũng như mùa xuân, mùa thu đã trở thành đề tài muôn thuở của thi ca Việt Nam. Có rất nhiều nhà thơ viết về mùa thu Việt Nam và mỗi người đều có một cảm nhận riêng, mang đậm dấu ấn cá nhân của mình. Với Nguyễn Khuyến mùa thu là bầu trời thu xanh ngắt, ngõ trúc quanh co… Với Xuân Diệu mùa thu là dáng liễu buồn, là màu áo mơ phai… Với Lưu Trọng Lư mùa thu là “Con nai vàng ngơ ngác/đạp trên lá vàng khô”. Và Hữu Thỉnh, một nhà thơ trưởng thành trong thời kì chống Mĩ đã góp vào tuyển tập những bài thơ thu Việt Nam một ấn tượng mới mẻ về mùa thu qua bài thơ “Sang thu”. Bài thơ đã đem lại cho người đọc cảm xúc nhẹ nhàng, bâng khuâng trước sự biến chuyển nhẹ nhàng của đất trời lúc giao mùa hạ – thu ở vùng đồng bằng Bắc Bộ qua sự cảm nhận tinh tế của tác giả.

Bài thơ chỉ có 12 câu thơ năm chữ nhưng đã miêu tả một cách tinh tế sự biến chuyển nhẹ nhàng, giao cảm của đất trời lúc giao mùa hạ thu. Nếu như trong thơ của Xuân Diệu, tín hiệu bắt đầu là màu sắc “mơ phai” của lá vàng:

“Đây mùa thu tới, mùa thu tới

Với áo mơ phai dệt lá vàng.”

Thì tín hiệu bắt đầu mùa thu trong bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh lại là hương ổi chín trong làn gió se se lạnh:

Sự biến đổi của đất trời lúc sang thu được nhà thơ phát hiện ra nhờ tín hiệu của sự chuyển mùa là làn gió se nhè nhẹ mang theo hương ổi chín lan vào không gian, một mùi hương đặc biệt của mùa thu ở nông thôn Việt Nam. Hữu Thỉnh đã mang đến cho người đọc một cảm giác bất ngờ ngay dòng thơ đầu tiên. “Bỗng” là bất chợt có pha chút ngỡ ngàng. Một mùi hương vốn dĩ quen thuộc mà có lúc nào đó bị bỏ quên đã bắt đầu trở về khi chớm sang thu để người đọc có cảm giác tưởng lạ mà quen. Hương vị thân thuộc của làng quê.

Từ “phả” có nghĩa là bốc mạnh và tỏa ra thành luồng, nhà thơ không tả mà chỉ gợi cho người đọc sự liên tưởng về màu vàng và hương thơm lừng tỏa ra từ những trái ổi chín nơi vườn quê Bắc Bộ. Làn gió se, nhẹ, khô và hơi lạnh của mùa thu càng làm cho hương ổi thêm nồng nàn. Mùi hương ổi chín vốn quen thuộc với người Việt nam nhưng lại xa lạ với thơ ca đã được tác giả đưa vào thơ hết sức tự nhiên. Và cũng từ đây một loạt hình ảnh quen mà lạ đã xuất hiện trong bài thơ để tạo nên một bức tranh mùa thu đẹp đẽ, trong sáng kì lạ. Sự kết hợp hài hòa giữa “động” và “tĩnh”, “mạnh” và “nhẹ” tạo cho câu thơ nhiều cung bậc như cảm xúc của nhà thơ lúc giao mùa.

Sau làn gió se lạnh mang theo hương ổi chín là làn sương mỏng giăng mắc, nhẹ nhàng, chuyển động chầm chậm nơi đường thôn ngõ xóm

“Sương chùng chình qua ngõ

Hai chữ “chùng chình” đã diễn tả rất nên thơ bước đi chầm chậm khi trở về của mùa thu. Và rõ ràng sự có mặt của hương ổi chín và làn sương mỏng đã khiến tác giả ngỡ ngàng, bâng khuâng khi nhận ra mùa thu đã về. Nếu như từ “bỗng” bộc lộ cảm xúc ngạc nhiên của tác giả khi mùa thu về thì từ “hình như” lại thể hiện sự phỏng đoán một cách mơ hồ của tác giả. Và để cảm nhận được bức tranh đẹp đẽ đó, tác giả đã huy động tất cả các giác quan và cả sự rung động tinh tế của mình.

“Sông được lúc dềnh dàng

Nét độc đáo của bài thơ sự chuyển đổi tầm nhìn từ trong vườn ra ngoài ngõ rồi mở rộng ra không gian bao la bên ngoài với sông với bầu trời bao la và khép lại sự nghiền ngẫm giá trị sống trong cõi đời. Tất cả các sự vật được tác giả lựa chọn để miêu tả cảnh đất trời sang thu đều ở trạng thái ngập ngừng. Dòng sông dường như cố ý trôi một cách chậm chạp, thanh thản, nhẹ nhàng gợi lên vẻ đẹp êm dịu của bức tranh mùa thu. Những cánh chim đã bắt đầu vội vã bởi vì mùa thu đã về, nó phải gấp gáp làm tổ, tha mồi chuẩn bị cho mùa đông rét mướt hoặc bay về phương Nam tránh rét. Hai tốc độ trái chiều nhau giữa chậm và nhanh của hai hình ảnh trên là quy luật tự nhiên không đồng đều ở thời điểm giao thoa của muôn loài, muôn vật những đồng thời cũng diễn tả tâm trạng con người trước đổi thay của cuộc sống.

Nét chấm phá độc đáo trong bức tranh thơ gợi nhiều suy tưởng cho người đọc có lẽ ở hai câu thơ sau:

Mùa hạ, mùa thu là hai đầu bến và đám mây là nhịp cầu ô thước vắt qua. Nhịp cầu duyên dáng nối hai bờ thời gian. Đây là một hình ảnh thơ đầy sáng tạo và thú vị của Hữu Thỉnh. Nhà thơ đã lấy không gian để miêu tả thời gian. Do đó câu thơ diễn tả cảm giác lúc giao mùa tinh tế, sống động hơn và hình ảnh hơn. Ẩn sau hình ảnh thơ ấy, nếu tinh tế người đọc sẽ cảm nhận một thoáng bâng khuâng trong tâm trạng nhà thơ. Âm điệu hai câu thơ có phần trầm lắng trong cảm xúc nhè nhẹ mà sâu lắng. Bài thơ viết năm 1977, hai năm sau chiến tranh chống Mỹ kết thúc. Là một người lính trở về cuộc sống đời thường, cảm nhận giây phút chuyển mùa ấy, có thể bất giác Hữu Thỉnh nghĩ về những đồng đội của mình đã an nghỉ mãi mãi giữa tuổi thanh xuân mang theo cả những ước mơ khát vọng cháy bỏng “đám mây mùa hạ” cống hiến cho quê hương, Tổ quốc. Có chút gì đó nuối tiếc, có chút gì đó vấn vương, hồi tưởng như đám mây hạ nhè nhẹ trôi qua bầu trời rồi ngập ngừng nên câu thơ “vắt nửa mình sang thu” không chỉ miêu tả hình ảnh thiên nhiên vào thu mà còn lắng đọng lòng người nỗi ưu tư, trăn trở.

Nắng, mưa, sấm, chớp là những hiện tượng thiên nhiên cũng được nhà thơ nhắc đến trong thời điểm giao mùa này.

Trên hàng cây đứng tuổi.”

Mùa thu đến nhưng mùa hạ chưa đi nên vẫn còn bao nhiêu nắng. Cái nắng cuối hạ vẫn còn nồng, còn sáng nhưng cũng đã bắt đầu nhạt dần. Và trong thời điểm giao mùa này, những cơn mưa rào mùa hạ thường hay ào ạt, bất ngờ cũng vơi dần đi. Theo đó, những tiếng sấm bất ngờ thường gắn với cơn mưa mùa hạ cũng ít đi và nó không còn làm cho những hàng cây xanh cổ thụ giật mình nữa. Những thi liệu như “nắng, sấm, mưa” là những hình ảnh đặc trưng của mùa hạ nhưng độ gay gắt của mùa hạ đang chuyển hóa thành dịu êm. Đây là dấu hiệu của mùa thu và sự phân hóa giữa hai bờ ranh giới hạ – thu cũng thật là mong manh. Người ta chỉ có thể xác định được bằng sự nhạy cảm của giác quan. Làm sao có thể đong đếm đầy vơi, nhiều ít, mau thưa? Người ta chỉ có thể ước lượng trong hồn mình mà thôi.

Âm điệu khổ thơ trở nên trầm lắng suy tư. Có “đầy” thì có “vơi”, có “còn” thì có “hết”, có “nắng” thì có “mưa”. Đó là quy luật của tự nhiên, của cuộc đời. Chính vì thế con người phải tiếp nhận một cách an nhiên. Trong hai câu cuối của bài thơ, hình ảnh hàng cây đứng tuổi giống như một chứng nhân đang quan sát và lắng nghe sự chuyển mình của vạn vật xung quanh nó và hình ảnh này cũng là những suy ngẫm mà tác giả muốn gởi gắm trong bài thơ. Tiếng sấm chính là những vang động bất thường của ngoại cảnh, hàng cây đứng tuổi là hình ảnh những người đã từng trải. Khi con người đã từng trải, đã đi qua mùa going bão thì cũng vững vàng hơn trước những tác động bất thường của ngoại cảnh, của cuộc đời. Có đặt hai câu thơ trong hoàn cảnh đất nước ta những năm đầy khó khăn thử thách thì mới thấy hết được ý nghĩa của hai câu kết. Nó khẳng định bản lĩnh cứng cỏi sẵn sàng đương đầu với mọi khó khăn thử thách trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta.

Tóm lại, bằng các hình ảnh giàu sức biểu cảm và sự cảm nhận tinh tế, bài thơ “Sang thu” đã miêu tả thành công sự biến chuyển nhẹ nhàng mà rõ rệt của đất trời lúc cuối hạ sang đầu thu và qua hình ảnh thiên nhiên nhà thơ đã gửi gắm những suy ngẫm của mình về cuộc đời. Bài thơ “Sang thu” đã tôn thêm vẻ đẹp cho đất nước quê hương trong tiết trời thu và khiến cho ta thêm yêu quý đất trời quê hương mình.

Cảm Nhận Về Bài Thơ Sang Thu Của Hữu Thỉnh

Cảm nhận về bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh – Ngữ Văn 9

Cảm nhận về bài thơ Sang thu Đề bài: Cảm nhận về bài thợ Sang thu của Hữu Thỉnh. 1. Yêu cầu

– Viết bài nghị luận về một bài thơ.

– Vấn đề cần nghị luận (phân tích, cảm nhận) là bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh.

– Phân tích cảm nhận về cái hay, cái đẹp của nội dung và hình thức các khổ thơ.

2. Gơi ý

– Đọc kĩ cả bài thơ.

– Tham khảo các bài viết của các nhà nghiên cứu phê bình về bài thơ, kể cả một số bài viết trong Những bài làm uăn chọn lọc lớp 9 (sđd).

– Những cảm nhận mùa thu thể hiện qua các giác quan nào? Sự tinh tế và mới lạ trong cách cảm nhận và thể hiện là gì?

– Khổ thơ thứ hai đã mở rộng không gian và đối tượng như thế nào?

– Khổ thơ thứ ba chiêm nghiệm về mùa thu ra sao? Mối Hên quan của khổ thơ này với hai khổ trên?

– Sự sang thu của thiên nhiên và sang thu của hồn người có chung nhau và khác nhau điều gì?

– Kết hợp nghị luận với biểu cảm.

3. Lâp dàn ý (dàn ý sơ lược)

a. Mở bài: Thơ về mùa thu và bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh.

b. Thân bài

– Cảm nhận mùa thu của tác giả ở khổ đầu.

Phân tích vai trò các giác quan (khứu giác, xúc giác, thị giác).

Vẻ đẹp của các từ ngữ hương ổi, phả, gió se, chùng chình, hình như.

– Khổ thơ thứ hai

Không gian được mở rộng như thế nào?

Vẻ đẹp của hình ảnh dòng sông, đàn chim, đám mâỵ vắt nửa mình.

– Khổ thơ thứ ba

Chiêm nghiệm về mùa thu.

Mức độ của nắng, của mưa, của sấm.

Mối quan hệ giữa thiên nhiên và hồn người.

– Thành công của tác giả viết về mùa thu thiêrì nhiên ở thời khắc giao mùa.

c. Kết bài: Nhấn mạnh vẻ đẹp của toàn bài: mùa thu của đất trời và mùa thu trong hồn người.

4. Bài làm minh hoạ

Không biết tự bao giờ thu đã thành bến đợi của nhiều thi sĩ. Người ta yêu thu bởi cái dịu dàng, nhẹ nhàng mà thanh thoát. Thu đã gieo tình cho mỗi tâm hồn thi sĩ và dệt vần nên những bài thơ. Cái duyên tình thu ấy đã dệt nên vẻ đẹp tinh xảo trong Nguyễn Khuyến với chùm thơ thu nổi tiếng ; lắng sâu trong thơ Tản Đà với Cảm thu và Tiễn thu ; lại còn nồng nàn trong Đây mùa thu tới của Xuân Diệu,… Nhưng thu trong Sang thu của Hữu Thỉnh thật đặc biệt. Nó không hẳn là một bài thơ về mùa thu, mà là tiếng thầm thì của khoảnh khắc giữa hạ chuyển sang thu, cái khoảnh khắc sầu lắng một cách thật đáng yêu và cũng đáng nhớ.

Ngay từ khổ đầu, bốn câu thơ như gợi dậy ở ta một tình cảm sâu thẳm như rất thân quèn, hay như đã lâu mới gặp lại:

Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về.

Từ “bỗng” mở đầu bài thơ đã thông báo về sự xuất hiện đột ngột của sự vật trong không gian. Nhân vật trữ tình bỗng cảm nhận thấy nhiều điều ở trong ấy. Đó là cảm nhận bằng khứu giác hương thơm của ổi. Hương vị ấy không thoang thoảng, không bay bổng nữa mà nó đậm đặc, ngào ngạt thành từng luồng “phả vào trong gió se”, nó hoà quyện vào vởi tiết thu, với gió thu nhẹ nhàng, phảng phất đâu đây! Đó là cảm nhận bằng xúc giác qua cơn gió thu – thứ gió khô, lạnh và lại dịu dàng mà không mùa nào có được. Hương ổi gắn liền với bao kỉ niệm củà thời thơ ấu, là mùi vị quê hương đã thấm đẫm vào tâm tưởng nhà thơ và cứ mỗi độ thu về là nó lại trở thành tác nhân gợi hứng để gợi nhớ thương.

Sự cảm nhận bằng thị giác của nhà thơ cũng được thể hiện rất rõ. Đó là hình ảnh màn sương giăng trước ngõ vào lúc lập thu với tiết trời mát mẻ. Sáng sớm và chiều tối thường có sương. Vì vậy, sương cũng là một trong những dấu hiệu để nhận biết mùa thu. Hình ảnh “sương chùng chình qua ngõ” như để nhắc nhở lòng người đang mong đợi rằng mùa thu đã tới. Từ láy gợi hình “chùng chình” là một sáng tạo của riêng Hữu Thỉnh, nó gợi cảm giác sương như đang ngưng lại mịt mù hơi nước mà chưa kịp lan toả vào không gian. Hình như sương còn đang lưu luyến chưa muốn rời xa cảnh vật, còn đang say suầ ngắm nhìn hai mùa đằm thắm, giao hoà với nhau.

Như vậy, qua tất cả các giác quan, dấu hiệu mùa thu đã rất rõ. Nó không nhất thiết cứ phải như thơ cổ xưa đã tả:

Ngô đồng nhất diệp lạc Thiên hạ cộng tri thu. (Một lá ngô đồng rụng Thiên hạ biết thu sang.)

Hay phảng phất nỗi sầu vương vấn như Xuân Diệu:

Đây mùa thu tới, mùa thu tới Với áo mơ phai dệt lá vàng.

mà là một sự tinh tế, cụ thể ; nó hiện hữu trong không gian ngõ hẹp, đang xích lại gần, đang cố đánh thức hồn người. Vậy tại sao nhân vật trữ tình ở đây lại đầy lưỡng lự, chưa đủ “tự tin” để tiếp nhận mùa thu qua cách nói lấp lửng “Hình như thu đã về?”. “Hình như” sao mà lại vô tình, dửng dưng quá vậy! Một sự mâu thuẫn đầy dụng ý. Nó đã làm tăng thêm cảm giác bâng khuâng, xao xuyến, rất đúng với tâm trạng nhân vật trữ tình trước khung cảnh mùa thu đã hiện hữu trước mắt. “Bỗng nhận ra… “, đó đã là một sự khẳng định, thừa nhận một cách khách quan, vậy mà ở cuối khổ thơ thi nhân lại nói “hình như” – tạo ra một sự hẫng hụt vô cùng. Một tâm trạng xao xuyến, bâng khuâng mà cũng phong phú đến lạ kì. Đó là đang muốn “cố tình” lảng tránh khi chẳng dám đối diện với mùa thu – với chính mình, lại vừa sung sướng khi cảm nhận thấy thu càng ngày càng hiện hữu trước mắt. Phải chăng một không gian hạ nắng vẫn đang tràn ngập cả tâm tư nhân vật, hay là chính nhân vật đã biết rõ rằng mùa thu đã đến gần và cả một sự sung sướng, hạnh phúc đang trào dâng trong lòng nhưng vẫn còn dè dặt, e ngại, chưa dám tiếp nhận? Rồi không gian mùa thu không chỉ là “ngõ” nữa mà là cả một trời thu:

Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu.

Không gian mùa thu mở rộng dần, ngày càng đậm nét hơn qua hình ảnh “sông… dềnh dàng”, “chim… vội vã” – những hình ảnh rất chân thật về thiên nhiên mùa thu. Nhân vật trữ tình đã cảm nhận mùa thu bằng tất cả tâm hồn và con người của mình. Từ làn sương vấn vít trong những rặng cây, luỹ tre dọc theo lối ngõ cho đến dòng sông đã qua mùa lũ, giờ đây đều nhẹ nhàng, thanh thản trôi xuôi. Trên nền trời mùa thu trong xanh, những cánh chim dường như cũng vội vã hơn.

Cả một trời thu mênh mang hiện ra trước mắt, vậy mà “đám mây mùa hạ” mới chỉ “vắt nửa mình” sang thôi. Chưa bước hẳn sang thu nhưng cũng đã là một cách thừa nhận, dù không dứt khoát. Đây là hình ảnh thật độc đáo miêu tả cảnh mùa hạ chưa qua hẳn nhưng mùa thu đã tới. Âm điệu câu thơ như bị bỏ dở, lỡ làng chứ không hoàn chỉnh như những lời thơ trên. Rõ ràng chỗ đứng của thiên nhiên vẫn đang là ở mùa hạ. Động từ “vắt” tạo ra một thế di chuyển vô cùng mềm mại, nhẹ nhàng của thời gian. Ấn tượng về mùa hạ vẫn còn đọng lại nhưng nỗi bâng khuâng trước vẻ dịu dàng, êm mát của mùa thu đã lan nhẹ vào hương hoa trái, sông nước, mây trời từ lúc nào chẳng rõ. Cái thời khắc giao mùa từ hạ sang thu sao mà vẫn còn dùng dằng, khiên cưỡng quá! Hình như vẫn không bước nổi “sang thu”.

Nắng cuối hạ vẫn còn nhưng đã bớt nồng nàn, rực rỡ và những cơn mưa ào ạt cũng thưa dần:

Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa.

Nếu như ở hai khổ thơ đầu, dấu hiệu mùa thu đã quá rõ ràng qua không gian, thời gian thì ở khổ thơ cuối dấu hiệu mùa hạ vẫn còn vì những “nắng”, “mưa” vẫn tồn tại đấy. Chỉ khác là chúng dịu bớt đi mà thôi. Cảm xúc của nhân vật trữ tình đã được khắc hoạ rất thành công bằng những từ ngữ diễn tả cảm giác, trạng thái: chợt, phả vào, chùng chình, hình như, dềnh dàng, vắt nửa mình,…

Cả bài thơ là bức tranh thiên nhiên tuyệt mĩ của trời đất lúc vào thu được tác giả vẽ nên bằng sự rung động tinh vi của trái tim nghệ sĩ. Chính điều đó khiến cho mỗi từ ngữ, hình ảnh đều phập phồng sự sống. Ba khổ thơ, mười hai câu thơ, câu nào cũng đẹp, cũng hay nhưng nét riêng của thời điểm giao mùa giữa hạ – thu được Hữu Thỉnh tập trung thể hiện ở hai câu cuối bài thơ:

Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi.

Hai câu này có nhiều lớp nghĩa khác nhau. Tầng nghĩa thứ nhất tả thực hiện tượng sấm chớp và hình ảnh hàng cây trong cơn mưa mùa hạ. Lúc sang thu, tiếng sấm dữ dội và bất ngờ của những cơn muồ dông mùa hạ đã bớt đi, hàng cây không còn bị giật mình và run rẩy vì tiếng sấm. Tầng nghĩa thứ hai hàm ngôn thông qua hình ảnh có tính chất ẩn dụ nghệ thuật. “Sấm” là những vang động bất thường của ngoại cảnh, của cuộc đời ; “hàng cây đứng tuổi” ngụ ý chỉ con người đã trưởng thành về mặt tuổi tác, trải nghiệm nhiều trong đường đời. Nhà thơ Hữu Thỉnh tâm sự rằng mượn hình ảnh có giá trị tả thực về hiện tượng thiên nhiên để ông gửi gắm suy nghĩ, tâm tư của mình. Khi con người đã từng trải thì bản lĩnh càng vững vàng hơn trước những thử thách của cuộc đời. Đó chính là sự khẳng định sức sống mãnh liệt của tâm hồn dù đã “sang thu” vẫn còn rạo rực và nồng nàn hạ nắng.

Câu tứ bài thơ thật tự nhiên và hợp lí. Từ chỗ dè dặt, e ngại, đôi lúc muốn lảng tránh, chưa thật dứt khoát đến chấp nhận hoàn toàn rằng mùa thu đã về, đến lúc nhà thơ giúp chúng ta như nhìn thấy mùa thu, nghe thấy mùa thu, thậm chí có cả mùi hương thơm của hoa trái mùa thu ôm ấp quanh ta. Bằng cảm nhận tinh tế và dùng từ tự nhiên, chân thật của các phép ẩn dụ, nhân hoá tài tình, Hữu Thỉnh đã vẽ nên bức tranh đặc sắc về thời điểm giao mùa hạ – thu ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ. Bài thơ chính là sự cưỡng lại, níu kéo thời gian, một sự dùng dằng khó tả của một tâm hồn không hề muốn già đi theo năm tháng.

(Nguyễn Hoàng Lan, lớp 9A9, Trường THCS Ngô Sĩ Liên,

Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội)

Nhận xét

Bài viết tốt, giàu cảm xúc, có những nhận xét tinh tế, chính xác về vẻ đẹp của cả ba khổ thơ trong một chỉnh thể làm nên vẻ đẹp của bài thơ. Nhận xét sau chứng tỏ người viết có suy nghĩ độc lập và phát hiện: Không biết tự bao giờ thu đã thành bến đợi của nhiều thi sĩ. Người ta yèu thu bởi cái dịu dàng, nhẹ nhàng mà thanh thoát. Thu đã gieo tình cho mỗi tâm hồn thi sĩ và dệt nên những bài thơ. Cái duyên tình thu ấy đã dệt nên vẻ đẹp tinh xảo trong Nguyễn Khuyến với chùm thơ thu nổi tiếng ; lắng sâu trong thơ Tản Đà với “Cảm thu” và “Tiễn thu” ; lai còn nồng nàn trong “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu… Nhưng thu trong “Sang thu” của Hữu Thỉnh thật đặc biệt. Nó không hẳn là một bài thơ về mùa thu, mà là tiếng thầm thì của khoảnh khắc giữa hạ chuyển sang thu, cái khoảnh khắc sâu lắng một cách thật đáng yêu và cũng đáng nhớ.

Việc liên hệ thơ cổ Trung Quốc và thơ Xuân Diệu một cách tự nhiên, hợp lí để làm rõ nét riêng, nét độc đáo trong thơ Hữu Thỉnh cũng đáng khen.

Theo chúng tôi

Cảm Nhận Bài Thơ Sang Thu Hay Nhất

Gia sư tại nhà tphcm nhận thấy mùa thu là một đề tài rộng lớn mà hầu như tác giả nào cũng có một vài tác phẩm về nó. Mùa thu đến với sự lười biếng oằn mình chuyển mùa của đất trời, là mùi ngọt ngào của cây trái, là tiếng lá rơi khe khẽ nằm trong vòng tuần hoàn của cây cối. Hữu Thỉnh cũng viết về đề tài này với một bài thơ có tựa đề là “Sang thu”

Sương chùng chình qua ngõ

Khổ thơ đầu tiên này chính là những cảm nhận đầu tiên của tác giả về mùa thu đang dần dần chạm chân đến với con người. “Hương ổi”, “gió se” được tác giả đem hòa quyện lại với nhau và tạo nên một đặc trưng của vùng quê bình yên và giản dị cùng với không khí trong lành. Đây là sự cảm nhận bằng khứu giác và xúc giác.

Trung tâm tìm gia sư ở tphcm thấy tác giả giật mình khi “bỗng” nhận ra hương ổi, đó là một việc bất ngờ và không được báo trước. Và có lẽ mùa thu đã đến, hay vẫn chưa nhỉ, chính tác giả cũng đang hoang mang chưa chắc chăn, cảm giác mơ hồ, chưa rõ ràng này lại càng khiến cho ta thấy rằng những giác quan của tác giả thật nhanh nhạy và tinh té biết bao. Ông để ý đến những mùi hương dù là nhẹ nhất, hình ảnh sương chùng chình nào phải ai cũng thấy. Vậy mà tác giả lại còn thấy nó đi qua ngõ, như kéo mùa thu đến với xóm làng.

” Sông được lúc dềnh dàng

Trung tâm dạy kèm tại nhà tphcm cho rằng khổ thơ này là những cảm nhận rõ ràng hơn của tác giả về cảnh vật xung quanh, không còn là cảm giác mơ hồ như ở khổ thơ đầu tiên nữa, mà bây giờ đã là những chuyển mình có thể nhìn thấy được của cảnh vật. Tác giả sử dụng từ láy “dềnh dàng”, “vội vã” làm nổi lên hai thái cực đối lập của hai sự vật đó là dòng sông và chim chóc. Sông không còn chảy ào ạt, dồn dập như mùa hè nữa, giờ đây nó được dịp lười biếng, cứ dềnh dàng trôi một cách chậm rãi như đã thoát khỏi được cái ánh mặt trời chói chang của mùa hè vậy. Còn đàn chim thì hoạt động năng nổ hơn, chúng vội vã hội họp nhau lại để cùng nhau bay về phương nam tránh rét. Hình ảnh đám mây “vắt nửa mình sang thu” là một hình ảnh đắt giá và cũng là hình ảnh đẹp làm nên tên tuổi của tác giả Hữu Thỉnh, câu thơ được sử dụng biện pháp nhân hóa, làm chúng ta tưởng chừng như đám mây đang lười biếng quá thể, đã ườn được một nửa qua mùa thu rồi mà vẫn còn vương vấn mùa hạ chưa chịu bước hẳn sang.

Gia sư uy tín tphcm nhận thấy tác giả mang vào khổ thơ này một cảm giác say sưa với cảnh vật, làm nổi bật lên một tâm hồn giao cảm mãnh liệt với đất trời, và bởi chính sự giao cảm đó đã tạo ra được những hình ảnh lúc đất trời sang thu cực kì thi vị.

Khổ thơ này tác giả sử dụng các từ ngữ chỉ mức độ: Vẫn còn, vơi dần, bớt, đây là những dấu hiệu cho biết rằng mùa hạ vẫn còn nhưng mức độ đã giảm đi phần nào và mùa thu đang chiếm phần ưu thế. Chứng tỏ cái nhìn của tác giả thật sự rất tinh tế và nhạy cảm. Sử dụng biện pháp nhân hóa “sấm bất ngờ”, “mây đứng tuổi”, tác giả cũng cho biết rằng mùa hạ đã dần di qua, không còn đủ sức tác động lên cảnh vật nữa, cũng giống như con người, khi họ đã trải qua cuộc đời và đạt đến một độ tuổi nào đó thì có lẽ chẳng có gì khiến họ sợ hãi được nữa. Nắng vẫn còn và mưa nhạt dần chính là dấu hiệu tiêu biểu nhất cho một mùa hạ sắp kết thúc và chào đón một nàng thu với bao mùi hương cùng sự mát lành ngọt ngào quyện trong làn gió.

Trung tâm gia sư uy tín tphcm cho rằng Hữu Thỉnh đã dùng ngòi bút tài tình cùng sự cảm quan tinh tế và sự giao hòa với cảnh vật đã vẽ nên trước mắt chúng ta một bức tranh cảnh vật chớm vào thu với những đặc trưng không phải ai cũng vẽ nên được.

Tham khảo từ khóa tìm kiếm bài viết từ google :

cảm nhận bài thơ sang thu hay nhất

cảm nhận của em về bài thơ sang thu văn 9

cảm nhận về bài thơ sang thu facebook

trình bày cảm nhận của em về bài thơ sang thu của hữa thỉnh

dàn ý cảm nhận về bài thơ sang thu

cảm nhận về bài thơ sang thu hay nhất

cảm nhận về khổ thơ đầu bài sang thu

cảm nhận của em về bài thơ sang thu của hữu chỉnh

cảm nhận của em về bức tranh thu trong bài sang thu

Các bài viết khác…

Dàn Ý Cảm Nhận Về Bài Thơ Sang Thu Ngắn Gọn Hay Nhất

Dàn ý cảm nhận về bài thơ Sang Thu ngắn gọn hay nhất là bước đệm hoàn hảo giúp bạn có thể hoàn thành tốt đề bài cảm nhận về bài thơ Sang Thu.

I. Đọc – tìm hiểu chung về văn bản

1. Tác giả, tác phẩm

a) Tác giả

Nguyễn Hữu Thỉnh sinh năm 1942

Quê: Tam Dương – Vĩnh Phúc

– Nhập ngũ năm 1963, rồi trở thành cán bộ tuyên huấn trong quân đội và bắt đầu sáng tác thơ.

– Tham gia ban chấp hành hội nhà văn Việt Nam các khoá: III, IV,V

– Từ năm 2000, là tổng thư ký Hội nhà văn Việt nam.

– Hữu Thỉnh là người viết nhiều, viết hay về những con người, cuộc sống ở nông thôn về mùa thu: cảm giác bâng khuâng, vấn vương trước đất trời trong trẻo đang biến chuyển nhẹ nhàng.

b) tác phẩm

– Bài thơ được sáng tác vào cuối năm 1977, in lần đầu tiên trên báo Văn nghệ. Sau đó được in lại nhiều lần trong các tập thơ.

– Bài thơ rút từ tập “Từ chiến hào đến thành phố”, NXB Văn học, Hà nội, 1991.

– Thể thơ: Ngũ ngôn (5 chữ)

2. Đọc, tìm hiểu chú thích

– Đọc bài thơ

– Chú thích (SGK)

II. Đọc, hiểu văn bản

Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về.

– Tín hiệu của mùa thu đã về (sự chuyển mùa cuối hạ đầu thu)

+ Gió se: Gió khe khẽ, hơi lạnh chỉ có ở mùa thu.

+ Hương ổi: Đầu thu (cuối tháng 7 đầu tháng 8) mùa ổi chín rộ.

Từ “phả”: Hương ổi ở độ đậm nhất thơm nồng quyến rũ, hoà vào gió heo may của mùa thu lan toả khắp không gian tạo ra một mùi thơm ngọt mát, của trái ổi chín vàng – hương thơm nông nàn hấp dẫn của những vườn cây sum suê trái ngọt ở nông thôn Việt Nam.

+ Cùng với gió se: Là những hạt sương nhỏ li ti giăng mắc nhẹ nhàng như “cố ý” chậm lại thong thả nhẹ nhàng, chuyển động chầm chậm sang thu. Hạt sương sớm mai cũng như có tâm hồn, có cảm nhận riêng cũng nhẹ nhàng, thong thả qua ngưỡng cửa (qua ngõ) của mùa ghu vậy (ngõ thực và cũng là cửa ngõ thời gian thông giữa 2 mùa)

-Kết hợp một loạt các từ: “Bỗng – phả – hình như” thể hiện tâm trạng ngỡ ngàng, cảm xúc bâng khuâng, cảm nhận tinh tế của tác giả tâm hồn thi sĩ biến chuyển nhịp nhàng với phút giao mùa của cảnh vật. Từng cảnh thu của tạo vật đã thấp thoáng hồn người sang thu: chùng chình, bịn rịn, lưu luyến, bâng khuâng, chín chắn, điềm đạm.

* GV chốt: khổ thơ nói lên những cảm nhận ban đầu của nhà thơ về cảnh sang thu của đất trời. Thiên nhiên được cảm nhận từ những gì vô hình (hương, gió) mờ ảo (sương chùng chình), nhỏ hẹp và gần (ngõ).

Sông được lức dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu.

+ Dòng sông thướt tha mềm mại, hiền hoà trôi một cách nhà hạ, thanh thản, gợi lên vẻ đẹp êm dịu của bức tranh thiên nhiên mùa thu.

+ Những cánh chim chiều bắt đàu vội vã tìm về tổ trong buổi hoàng hôn (không còn nhởn nhơ rong chơi hoài bởi tiết trời mùa hạ).

+ Hình ảnh đám mây mùa hạ với sự cảm nhận đầy thú vị, sự liên tưởng độc đáo “vắt nửa mình sang thu”: Cảm giác giao mùa được diễn tả cụ thể và tinh tế bằng một hình ảnh đám mây của mùa hạ cũng như đang bước vào ngưỡng của của mùa thu vậy. Dường như giữa mùa hạ và mùa thu có một ranh giới cụ thể, hữu hình, hiển hiện, liên tưởng đầy thú vị không chỉ cảm nhận thị giác mà là sự cảm nhận bằng chính tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, yêu thiên nhiên tha thiết của Hữu Thỉnh.

Tóm lại: Bằng sự cảm nhận qua nhiều giác qua, sự liên tưởng thú vị bất ngờ, với tâm hồn nhạy cảm tinh tế của tác giả, tất cả không gian cảnh vật như đang chuyển mình từ tư điềm tĩnh bước sang thu.

Vẫn còn bao nhiêu nắng

– Nắng cuối hạ vẫn còn nồn, còn sáng nhưng đã nhạt dần (tuy không còn nét tươi mới của đầu hạ), nắng đã yếu dần bởi gió se đã đến. Không gian đó, cảm giác thời điểm đó thật thú vị.

-Cơn mưa mùa hạ thường nhanh bất chợt đến rồi chợt đi. Tác giả dùng từ “vơi” có giá trị gợi tả như sự đong đếm những vật có khối lượng cụ thể để diễn tả cái số lượng vô định – diễn tả cái thưa dần, ít dần, hết dần những cơn mưa rào ào ạt bất ngờ của mùa hạ. Tất cả đều chầm chậm, từ từ, không vội vã, không hối hả.

Hai câu thơ cuối:

Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi.

– Ý nghĩa tả thực:

+ Hình tượng sấm thường xuất hiện nhiều và bất ngời đi liền với những cơn mưa rào chỉ có ở mùa hạ (sấm cuối mùa, sấm cuối hạ cũng bớt đi, ít đi lúc sang thu).

+ Hàng cây cổ thụ, cảnh vật thiên nhiên vào thu không còn giật mình, bất ngờ bởi tiếng sấm mùa hạ.

– Nghĩa ẩn dụ (đầy tính suy ngẫm)

+ Sấm: Những vang động bất thường của ngoại cảnh, của cuộc đời.

+ Hàng cây đứng tuổi: Hình ảnh gợi tả những con người từng trải đã từng vượt qua những khó khăn, những thăng trầm của cuộc đời. Qua đó, con người càng trở nên vững vàng hơn.

III. Tổng kết

– Thể thơ 5 chữ. Nhịp thơ chậm, âm điệu nhẹ nhàng.

– Nhiều từ có giá trị gợi tả, gợi cảm sâu sắc.

– Sự cảm nhận tinh tế, thú vị, gợi những liên tưởng bất ngờ.

– Hình ảnh chọn lọc mang nét đặc trưng của sự giao mùa hạ – thu.

Từ cuối hạ sang đầu thu, đất trời có những biến chuyển nhẹ nhàng mà rõ rệt. Sự biến chuyển này đã được Hữu Thỉnh gợi lên bằng cảm nhận tinh tế, qua những hình ảnh giàu sức biểu cảm trong bài Sang thu. – Lòng yêu thiên nhiên tha thiết của nhà thơ Hữu Thỉnh

Theo chúng tôi