Cảm Nhận Về Bài Thơ Nói Với Con Khổ 1 / 2023 / Top 12 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Kovit.edu.vn

Cảm Nhận Khổ Cuối Bài Nói Với Con Của Y Phương / 2023

Tìm hiểu về nhà thơ Y Phương và bài thơ Nói với con

Trước khi tìm hiểu và cảm nhận khổ cuối bài Nói với con, người đọc cần nắm được những nét chính về tác giả cũng như tác phẩm.

Đôi nét về tác giả Y Phương

Y Phương tên thật là Hứa Vĩnh Sước, quê ở huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Ông nhập ngũ năm 1968 trong kháng chiến chống Mỹ diễn ra ác liệt. Y Phương là bộ đội thuộc binh chủng đặc biệt tinh nhuệ. Ông phục vụ trong quân đội đến năm 1981 thì chuyển về công tác tại Sở Văn hoá – Thông tin Cao Bằng.

Năm 1993, ông là ủy viên ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam khóa VI. Thơ ông thể hiện tâm hồn chân thật, mạnh mẽ và trong sáng, cách tư duy giàu hình ảnh của con người miền núi. Tác giả cho ra đời những tập thơ như: Người núi Hoa (1982); Tiếng hát tháng giêng (1986); Lửa hồng một góc (1987); Lời chúc (1991); Đàn Then (1997),… Về thành tựu, nhà thơ Y Phương đã đạt Giải nhất cuộc thi thơ của tạp chí Văn nghệ quân đội năm 1984 và hai năm sau, ông nhận được Giải thưởng thơ của Hội nhà văn Việt Nam.

Hoàn cảnh ra đời bài thơ Nói với con

Trong số các bài thơ của ông, một bài thơ gợi nhắc biết bao tâm tình của người cha gửi đến con đó chính là bài thơ “Nói với con”, được sáng tác năm 1980. Như lời tác giả chia sẻ, năm 1979, vợ chồng ông đón chào đứa con đầu lòng và bài thơ này được ông sáng tác để tặng riêng con gái khi cô được một tuổi.

Bài thơ ca ngợi tình cảm gia đình, những phẩm chất cao đẹp của người đồng mình và tình yêu quê hương, đất nước trong bối cảnh còn rất nhiều khó khăn, gian khổ sau cuộc chiến vừa đi qua. Bài thơ có 28 câu, thường chia theo bố cục ba phần, trải dài qua đó là lời nói ân tình của người cha đối với con về đạo làm người, về lẽ sống vượt lên mọi nghịch cảnh bằng niềm tin về văn hóa truyền thống của dân tộc.

Trước một xã hội còn nheo nhóc biết bao đói khổ, thực giả lẫn lộn, con người hối hả, gấp gáp kiếm tiền thì để sống ở đời một cách đàng hoàng, Y Phương tin rằng con người phải bám vào giá trị tích cực của văn hóa. Ở phạm vi hẹp, bài thơ chủ yếu đề cập đến văn hóa dân tộc, nhằm tôn vinh nét đẹp của văn hóa truyền thống dân tộc Tày, về những phẩm chất cao đẹp của con người Tày.

Ở phạm vi lớn hơn, bài thơ là lời nhắc mọi người dân Việt Nam khi đứng trước cuộc hội nhập toàn cầu, đừng quên đi cội nguồn, bản ngã của dân tộc mình. Những cuộc di cư, du nhập của văn hóa ngoại lai làm lai căng, lu mờ những giá trị truyền thống là vấn đề gợi nhắc mà Y Phương luôn trăn trở. Một lần nữa, ông viết bài thơ dành tặng đến con gái và đồng thời cũng là lời tự nhắc nhở mình, là lời nhắc nhở bạn đọc khi đối diện với cuộc sống hôm nay.

Cảm nhận khổ cuối bài nói với con của Y Phương

Tình cảm và lời nhắn gửi dành cho con trong khổ cuối bài thơ đã thể hiện khái quát tình yêu thương bao la mà người cha đã ấp ủ. Vì vậy, cảm nhận khổ cuối bài Nói với con sẽ giúp người đọc thấy được giá trị nội dung cũng như nghệ thuật của bài thơ.

“Người đồng mình thương lắm con ơi Cao đo nỗi buồn Xa nuôi chí lớn”

Lời cha nhắc nhở luôn tự hào về nguồn cội

Khi cảm nhận khổ cuối bài Nói với con, ta thấy ngay ở phần mở đầu, tác giả đã mang đến lời thủ thỉ về nguồn cội sinh dưỡng của mỗi người. Đó chính là những khoảnh khắc hạnh phúc, yêu thương trong vòng tay của gia đình, xóm làng. Đến khổ thứ hai, người cha ân cần nhắc nhở con về những phẩm chất cao đẹp của dân tộc mình qua tiếng gọi “người đồng mình”.

Câu mở đầu này được lặp lại một lần nữa ở ý thơ thứ nhất. Có lẽ tác giả muốn khắc sâu vào tâm trí con những điều tốt đẹp và phẩm chất của người đồng mình. Điệp ngữ “Người đồng mình” được lặp lại nhưng không còn là “yêu” mà là “thương”. Cảm nhận khổ cuối bài Nói với con, ta thấy rằng cha thương buôn làng còn nghèo đói, còn vất vả, khó khăn nhưng cũng chính từ đó con hãy tự hào với sức sống của dân tộc mình.

Nhà thơ sử dụng nghệ thuật tương hỗ lấy “cao” so với “nỗi buồn”, lấy “xa” so với “chí lớn” thể hiện hình ảnh gần gũi, đậm chất tư duy của người miền núi. Dù có sự khác biệt về vị trí địa lí con cũng đừng mặc cảm,tự ti mà trái lại hãy nghĩ tích cực, tự tin và sống mạnh mẽ. Khi cảm nhận khổ cuối bài Nói với con, ta thấy hai câu thơ ” Cao đo nỗi buồn/ Xa nuôi chí lớn ” không chỉ là bài học người cha muốn gửi riêng đến con mà Y Phương của muốn gửi đến bao người.

“Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn Sống trên đá không chê đá gập ghềnh Sống trong thung không chê thung nghèo đói Sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc”

Những ước mong và hi vọng mà cha dành cho con

Cảm nhận khổ cuối bài Nói với con, ta thấy trong câu thơ tiếp theo, tình cảm và ước muốn của người cha ngày càng mạnh mẽ và kiên quyết hơn:

Nếu như hội họa, người họa sĩ dùng đường nét để sáng tạo, âm nhạc, người nghệ sĩ dùng âm thanh để tạo nên tác phẩm hay trong điêu khắc dùng hình khối để sáng tác thì văn chương dùng ngôn từ làm chất liệu. Nhà thơ đã chọn lọc, sử dụng điệp từ “sống” cùng phép liệt kê “đá, thung” đã khắc họa một bức tranh làng bản núi đồi thật đẹp.

Cụm từ phủ định nhưng mang ý khẳng định “không chê” được tác giả nhấn mạnh một điều tiên quyết, con không bao giờ được phép quên đi những khó khăn, vất vả của quê hương mình, con hãy nhớ và không ngừng vươn lên. Y Phương gợi ý một cách sống cho con mình đó chính là hãy sống như tự nhiên, hãy biết mềm dẻo, linh hoạt như con suối của bản làng để vượt qua những khó khăn trên đường đời.

Thành ngữ ” lên thác xuống ghềnh ” được tác giả sử dụng ở đây khá đặc sắc, nó tạo âm hưởng thơ thêm trúc trắc, giàu sức gợi. Nhịp thơ tuôn chảy mạnh mẽ gợi lên sức sống bền bỉ, mãnh liệt của con người trước vất vả, cực nhọc của cuộc đời. Nhà thơ biết rằng, con cũng như tất cả mọi người đều có những ước mơ, hoài bão như sông suối vì tất cả đều hướng ra nơi mênh mông của biển khơi để thấy cuộc đời rộng lớn và có nhiều điều cần phải học hỏi hơn.

“Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con”

Lời nhắn gửi con hãy luôn hướng tình cảm đến cội nguồn

“Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục”

Khi cảm nhận khổ cuối bài Nói với con, ta cũng thấy bên cạnh bày tỏ hoàn cảnh của quê hương của dân tộc mình, nhà thơ còn nhắn nhủ con hãy sống có ích và đừng quên đi nguồn cội của mình:

Hình ảnh ẩn dụ “thô sơ da thịt” đối lập “chẳng…nhỏ bé” càng làm toát thêm vẻ đẹp mạnh mẽ không chỉ ở bên ngoài mà còn tiềm ẩn bên sâu trong tinh thần của con người miền núi. Người đồng mình do cuộc sống vất vả, bước đầu còn gian nan nên vẻ ngoài của họ có phần đen đúa, thô kệch nhưng tâm hồn của họ lại rộng lớn, trong sáng như suối và mạnh mẽ, dạt dào như thác nước của núi rừng. Ở họ, nhà thơ còn nhận thấy:

Cảm nhận khổ cuối bài Nói với con sẽ thấy cụm từ “tự đục đá kê cao quê hương” thể hiện ý chí mạnh mẽ, tinh thần tự lực tự cường của người đồng mình. Từ những công việc vất vả, từ bàn tay lao động của họ sẽ đưa quê hương, đưa đất nước lên tầm cao mới, phát triển vững mạnh. Nhà thơ không dùng mĩ từ để ca ngợi tinh thần ấy mà ông chọn từ “đục đá, kê cao” một cách gần gũi và bình dị, đậm chất sử dụng ngôn ngữ của người dân tộc Tày.

“Con ơi tuy thô sơ da thịt Lên đường Không bao giờ nhỏ bé được Nghe con.”

Cách diễn đạt đó thật khác lạ song cũng độc đáo không kém. Một bàn tay gầy dựng nên quê hương rồi từ chính mảnh đất ấy làm nên những phong tục giàu giá trị. Cảm nhận khổ cuối bài Nói với con để thấy đó là truyền thống, là nét văn hóa cần phải giữ gìn. Đó là cách thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, là cách nhìn, cách nghĩ nâng niu và trân quý bao giá trị văn hóa ngàn đời. Hình ảnh thơ vừa cụ thể, vừa mang ý nghĩa thực, vừa có sức khái quát, vừa mang ý nghĩa ẩn dụ sâu xa.

Khi cảm nhận khổ cuối bài Nói với con, đặc biệt trong hai câu thơ, người đọc thấy người cha như đang nhắn gửi với con về những phẩm chất tốt đẹp của người đồng mình. Tiếng gọi ấy còn được lặp lại trong khổ thơ như một điệu hát ru thân thương, trìu mến. Người cha tự hào, ca ngợi về phẩm chất tốt đẹp của người đồng mình: sống rộng mở, bao la, biết kiên trì và trân trọng những nét đẹp truyền thống của quê hương, nguồn cội. Để kết lại trọn vẹn cảm xúc trào dâng ở hai khổ trước, khổ cuối cùng với bốn câu thơ đã hoàn chỉnh ý thơ thêm trọn vẹn:

Càng lúc hình ảnh và lời nói của người cha hiện lên càng lớn lao, nhanh chóng thôi thúc con trên đường đời. Cảm nhận khổ cuối bài Nói với con, ta còn thấy cách so sánh đối lập “thô sơ da thịt” nhưng “không nhỏ bé” như khẳng định niềm tin cha tin ở con sẽ phát huy được truyền thống quê hương, sẽ nhớ đến lời cha dạy, sẽ không bao giờ nhỏ bé dù đi bất cứ nơi đâu và hơn hết là không bao giờ quên đi nguồn cội.

“Lời của cha như tiếng sóng thầm thì Hay tiếng lòng của cha từ một thời sâu thẳm Lần đầu tiên trước biển khơi vô tận Cha lại gặp mình trong tiếng ước mơ con” (Những cánh buồm – Hoàng Trung Thông)

Một lần nữa, cha lại gửi gắm nỗi niềm của mình, mong con ghi nhớ và tự hào những phẩm chất tốt đẹp của người đồng mình, đừng tự ti mà hãy tự tin, hãy trưởng thành trên đường đời với những hành trang ấy. Không những thế, giọng thơ nhỏ nhẹ chân tình kết hợp với các từ “con ơi”, “nghe con” sao mà ấm cúng, thân thương. Đó không còn là lời thơ trang hoàng mà trở thành một tiếng gọi vang vọng từ tâm hồn sâu thẳm từ đáy lòng của cha.

Suy cho cùng, tất cả lời cha viết nên trên trang thơ cũng chỉ mong con hãy luôn gắn bó với truyền thống, dân tộc mình, mong con vươn lên bất chấp khó khăn, gian khổ. Cảm nhận khổ cuối bài Nói với con cũng như khi đọc bốn câu thơ, ta thấy lời của cha không hề mang ý răn đe, giáo điều mà là những lời tâm tình thủ thỉ với con như một người bạn lớn. Do vậy, những lời dạy ấy có thể sẽ khắc sâu vào trong tâm trí con dễ hơn. Lời thơ gửi con cũng chính là lời gửi đến mình. Ta bắt gặp tiếng thơ đồng điệu với nhà thơ Hoàng Trung Thông:

Bên cạnh giọng thơ thiết tha, trìu mến, các hình ảnh thơ được tác giả lựa chọn vừa cụ thể vừa có tính khái quát, vừa mộc mạc mà vẫn giàu chất thơ. Khi cảm nhận khổ cuối bài Nói với con, ta thấy đoạn thơ chứa chan ý nghĩa lại đằm thắm và sâu sắc. Nó tựa như một khúc ca nhẹ nhàng mà âm vang. Lời thơ tâm tình của người cha sẽ là hành trang đi theo con suốt đời và có lẽ mãi mãi là bài học bổ ích cho các bạn trẻ – bài học về niềm tin, nghị lực, ý chí vươn lên.

Nhận xét tác phẩm khi cảm nhận khổ cuối bài Nói với con

Khi cảm nhận khổ cuối bài Nói với con cũng như toàn tác phẩm, người đọc nhận thấy bài thơ đã thể hiện tình cảm gia đình ấm cúng, ca ngợi truyền thống cần cù, sức sống mạnh mẽ của quê hương và dân tộc. Nó giúp ta hiểu thêm về sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của một dân tộc miền núi, gợi nhắc tình cảm gắn bó với truyền thống, với quê hương và ý chí vươn lên trong cuộc sống. Bài thơ gửi đến bài học tích cực về lối sống tự hào dân tộc mình, là việc hòa nhập như không hòa tan đi chính cá tính của mình, của dân tộc mình.

Kết bài: Kết lại, bằng cách nói giàu hình ảnh, vừa cụ thể, vừa gợi cảm, những ngôn từ đặc trưng của miền núi, bài thơ như là lời trò chuyện, tâm tình với con, thể hiện sự gắn bó, niềm tự hào về quê hương và đạo lí sống của dân tộc. Từ lời dạy đầy chân tình của cha, ta thấy tình cảm gia đình thật thiêng liêng và cao quý vô cùng. Bài thơ là một lối nhỏ để người đọc hiểu thêm về tâm hồn của người cha yêu thương con đến nhường nào. Qua đó, bài thơ truyền tải thông điệp hãy biết tự hào con người mình, dân tộc của mình dù cho có nghèo khổ, khó khăn, hãy biết trân trọng và yêu quý gia đình của mình khi còn có thể.

Dàn ý cảm nhận khổ cuối bài Nói với con của Y Phương

Sơ lược những nét chính về tác giả Y Phương cùng bài thơ Nói với con.

Tóm tắt nội dung chính cũng như nghệ thuật của tác phẩm này.

Tình cha con sâu nặng trong bài thơ, đặc biệt là ở khổ thơ cuối.

Để giúp các em nắm được những nét chính trong bài viết cảm nhận khổ cuối bài Nói với con, Vanmau.mobi sẽ giúp các em lập dàn ý khái quát như sau.

Giới thiệu về tác giả và hoàn cảnh ra đời tác phẩm Nói với con.

Những lời nhắc nhở của cha với con luôn tự hào về dân tộc mình.

Những hi vọng và ước mong cha gửi gắm cho con.

Lời nhắn gửi con hãy luôn sống cao đẹp và hướng về quê hương.

Mở bài cảm nhận khổ cuối bài Nói với con

Tóm tắt lại ý nghĩa của tác phẩm: Khi cảm nhận khổ cuối bài Nói với con nói riêng hay toàn bộ tác phẩm nói chung đều thấy tình cảm cha con sâu nặng..

Những lời trao gửi mà cha nhắn nhủ chính là những gửi gắm tới thế hệ tiếp nối về truyền thống của dân tộc, về những phẩm chất cao đẹp và đáng quý của “người đồng mình”.

Nêu suy nghĩ về vẻ đẹp của khổ thơ cuối bài thơ.

Thân bài cảm nhận khổ cuối bài Nói với con

Khi cảm nhận khổ cuối bài Nói với con cũng toàn bộ tác phẩm, ta thấy qua những từ ngữ và hình ảnh giàu sức gợi cảm, lối nói miền núi mộc mạc, cách ví von sinh động cùng với giọng điệu thiết tha trìu mến, đoạn thơ đã ca ngợi những đức tính tốt đẹp của người đồng mình. Từ đó, người cha nhắn gửi những ước mong đến con hãy luôn sống ngẩng cao đầu, luôn tự hào về quê hương mà trân trọng, gìn giữ và yêu mến…Người cha đã dạy con đạo lý cao cả “uống nước nhớ nguồn”, đồng thời phải biết chấp nhận gian khó và vươn lên bằng ý chí của mình.

Cảm Nhận Của Em Về Khổ Thơ Đầu Bài: “Nói Với Con” Của Y Phương. / 2023

Thơ của Y phương rất dễ nhận ra, ông thường viết về tình cảm gia đình, quê hương, đất nước. Thơ của ông thể hiện tâm hồn chân thật, mạnh mẽ trong sáng, cách tư duy giàu hình ảnh của người miền núi. Từ những đề tài quen thuộc đó, Y Phương đã cho ra một bài thơ về tình phụ tử “Nói với con”. Một cách diễn đạt mộc mạc, chân chất của người miền núi những lời tâm tình thiết tha, những lời dặn dò ân cần, chia sẻ của người cha đối với con lòng tự hào về con người và quê hương yêu dấu của mình.

Mở đầu của bài thơ là khổ thơ thứ nhất của bài. Khổ thơ đầu là lời nhắn nhủ của cha đối với con về gia đình, quê hương, đất nước, nghĩa tình:

Chân phải bước tới cha

Chân trái bước tới mẹ

Một bước chạm tiếng nói

Hai bước tới tiếng cười

Người đồng mình yêu lắm con ơi

Đan lờ cài nan hoa

Vách nhà ken câu hát

Rừng cho hoa

Con đường cho những tấm lòng

Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới

Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời.

Con được sinh ra và lớn lên trong tình yêu thương của cha mẹ, trong lao động và trong thiên nhiên thơ mộng nghĩa tình của quê hương. Gia đình quê hương là cái nôi êm của đời con.

Đoạn thơ mở ra mới hình ảnh gia đình ấm êm, hạnh phúc:

Chân phải bước tới cha

Chân trái bước tới mẹ

Một bước chạm tiếng nói

Hai bước tới tiếng cười

Người đồng mình yêu lắm con ơi

Bằng những hình ảnh cụ thể giản dị, Y phương đã gợi tả hình ảnh gia đình ấm êm, hạnh phúc. Đó là hình ảnh con đang chập chững bước đi. Tiếng nói, tiếng cười của con đều do ba mẹ ban tặng. Con lớn lên từng ngày trong vòng tay yêu thương của gia đình, trong sự nâng niu và mong chờ của cha mẹ. Những hoạt động bình dị của dân tộc Tày “Đan lờ”, “Ken”.

Ba chữ “Người đồng mình” Y Phương gọi tên người cùng làng thân mật đầy giản dị, bộc lộ tình cảm quê hương, gắn bó. “Người đồng mình” tuy cuộc sống vật vã nhưng họ có ý chí mạnh mẽ, khoáng đạt, nghĩa tình gắn bó với quê hương, dẫu quê hương có nhiều khó khăn. “Người đồng mình” là người quê mình, là những biểu tưởng cho vẻ đẹp của quê hương.

Bài thơ thể hiện tình yêu thương thắm thiết của cha mẹ dành cho con cái, tình yêu và niềm tự hào về quê hương đất nước. Bài thơ còn thể hiện lòng yêu thương con cái, ước mong thế hệ sau nối tiếp xứng đáng truyền thống của tổ tiên, dân tộc, quê hương.

Bài thơ “Nói với con” của Y Phương bằng những cách nói, cách nghĩ, những hình ảnh mộc mạc, cụ thể của người dân tộc Tày, tác giả cho người đọc hiểu được sự nuôi dưỡng, che chở của cha mẹ đối với con và mong con sống xứng đáng với quê hương.

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Nói Với Con / 2023

Đề bài: Cảm nhận của em về bài thơ “Nói với con”

Bài làm

Cảm nhận của em về bài thơ “Nói với con” – Gia đình là tổ ấm, là nơi mà ai cũng mong muốn được trở về. Ở đó, ta nhận được tình yêu, sự quan tâm, chăm sóc chân thành từ những người thân yêu nhất. Tác phẩm “Nói với con” của Y Phương là một bài thơ xúc động thể hiện tình cha con thiêng liêng đồng thời từ đó nói lên tình yêu quê hương, đất nước, yêu cội nguồn, dân tộc.

Mở đầu bài thơ, tác giả vẽ lên một bức tranh gia đình vô cùng thân thuộc với những tiếng cười nói ấm áp, hạnh phúc.

Chân phải bước tới cha

Chân trái bước tới mẹ

Một bước chạm tiếng nói

Hai bước tới tiếng cười

Từ những ngày còn thơ bé, con được lớn lên trong vòng tay yêu thương của cha mẹ. Mẹ dạy con bi bô tập nói, cha dạy con chập chững những bước đi đầu đời. Dù con có vấp ngã cũng được nâng đỡ, chở che bởi vòng tay cha mẹ. Cuộc đời con trôi qua êm đềm trong tình yêu thương, trong tiếng cười giòn tan bên mái ấm gia đình.

Người đồng mình thương lắm con ơi!

Đan lờ cài nan hoa, vách nhà ken câu hát

Rừng cho hoa, con đường cho những tấm lòng

Cuộc sống của những người nông dân trôi qua từng ngày trong tình cảm gắn bó thân thiết. Họ cùng nhau chăm chỉ làm ăn, cùng giúp đỡ nhau những ngày gian khó. Cùng hát ca niềm vui hân hoan. Cái chữ người đồng mình nghe sao thật gần gũi, mến thương. Họ không phải chỉ là những gia đình đơn lẻ, cái tình cảm chân thành keo sơn đã gắn kết những gia đình ấy thành một gia đình lớn hơn với tên gọi “quê hương”. Con không chỉ lớn trong tình thương của gia đình, của xóm làng mà mẹ thiên nhiên cũng là cái nôi nuôi con khôn lớn. Rừng núi với thác với ghềnh, với cây với cỏ đã nuôi dưỡng con cả về thể chất lẫn tâm hồn. Rừng cho con hoa thơm trái ngọt. Sự hiền hòa bao dung của núi rừng nuôi dưỡng tâm hồn con trở nên nhân hậu, dịu hiền.

Tác giả muốn mượn lời nói với con để ngợi ca vẻ đẹp của những người con quê hương, đồng thời nói lên lòng biết ơn đối với những khổ cực, gian lao mà họ trải qua để xây dựng nên sự bình yên cho xóm làng.

Người đồng thô sơ da thịt

Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con

Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương

Còn quê hương thì là phong tục

Người đồng mình với biết bao phẩm chất tốt đẹp. Họ cùng nhau vượt qua gian khó để bám trụ, để xây dựng quê hương ngày càng phát triển. Những con người mộc mạc ấy tuy bé nhỏ về thể lực nhưng mà ý chí, sức mạnh của họ lại không hề nhỏ bé. Nó mạnh mẽ và kiên cường, bất kì khó khăn nào cũng không thể quật ngã. Họ dựng xây quê hương và giữ gìn những truyền thống, những phong tục tốt đẹp của quê hương mình bằng một lòng tựu hào và tôn kính.

Tình yêu của người cha không chỉ thể hiện ở sự chăm sóc, nuôi dưỡng mà nó còn được bộc lộ qua những lời nhắc nhở, những mong ước chân thành.

Sống trên đá không chê đá gập ghềnh

Sống trong thung không chê thung nghèo đói

Sống như sông như suối

Lên thác xuống ghềnh

Không lo cực nhọc

Cha mong con sống ngay thẳng, chính trực, phải biết yêu thương và những con người nơi đây. Dù quê hương có nghèo có đói thì đó vẫn là cội nguồn, là nơi mà con lớn lên. Con không được chê bai, không được nản lòng mà phải biết tự hào về quê hương. Con phải biết trèo đèo lội suối, biết vượt qua gian nan, thử thách, không được bỏ cuộc trước sóng gió và những cực nhọc của cuộc đời. Con phải sống xứng đáng với tình yêu của mẹ cha, của người đồng mình.

Với lời thơ nhẹ nhàng, chan chứa tình cảm, tác giả Y Phương qua bài thơ “Nói với con” không chỉ thể hiện được tình cảm cha con thiêng liêng mà còn bộc lỗ rõ nét lòng tự hào về quê hương, lòng tự tôn dân tộc. Bài thơ như muốn răn dạy con người, đặc biệt là thế hệ trẻ phải biết yêu, biết quý và tự hào về quê hương nơi mình sinh ra. Để từ đó sống và cống hiến hết mình vì sự giàu đẹp của quê hương, đất nước.

Seen

Cảm Nhận Về Bài Thơ Nói Với Con Lớp 9 Hay Nhất / 2023

Cảm nhận về bài thơ Nói với con lớp 9 hay nhất

BÀI VĂN MẪU SỐ 1 CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ “NÓI VỚI CON”

Viết về tình cảm gia đình, quê hương và ước nguyện của cha mẹ gửi vào những thế hệ sau có nhiều tác phẩm. Có nhiều bài thơ đã trở nên quen thuộc với độc giả như “Quê Hương” Tế Hanh, của Hoàng Trung Thông. Mỗi nhà thơ luôn tìm thấy cho mình những hình thức khác nhau để diễn đạt tình cảm nguyên sơ mà chân thành ấy. Y Phương cũng góp vào đề tài này bài thơ “Nói Với Con”. Bởi bài thơ đi từ tình cảm riêng là tình cảm gia đình mà nâng lên thành lẽ sống, thành tình yêu quê hương, đất nước.

11 câu thơ đầu bài thơ Y Phương đã thể hiện tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước sâu sắc. 4 dòng thơ mở đầu mở ra khung cảnh gia đình đầm ấm, hạnh phúc, rộn rã, đầy ắp tiếng nói, tiếng cười:

Tuổi thơ có mỗi chúng ta đầy ắp những kỉ niệm. Bài thơ “Con Cò” của Chế Lan Viên ghi lại khoảnh khắc đầu đời của con trẻ khi còn nằm trong nôi:

Nếu như Chế Lan Viên trong những câu hát đưa nôi của mẹ ghi dấu ấn tuổi thơ thì Y Phương lại có một cách nói độc đáo về tuổi thơ. Đó là những bước chân chập chững non nớt đầu đời của con trẻ. Điệp ngữ “chân”, “bước” lặp đi lặp lại hai lần như gợi ra những bước chân nhỏ bé non nớt đang tập những bước đi của cuộc đời. Điệp từ “tiếng” gợi âm thanh rộn rã, náo nức, vui sướng của cha mẹ. Mỗi bước đi của con trẻ có tiếng nói tiếng cười của cha mẹ. Mỗi bước đi của con trẻ có ánh mắt chăm chú dõi theo, có tình yêu thương vô bờ của cha mẹ. Và cứ thế con lớn lên trong tình yêu thương, chăm sóc của gia đình.

Những câu thơ tiếp theo, Y Phương gợi ra hình ảnh quê hương đẹp đẽ, thơ mộng, ân tình để làm nổi bật vẻ đẹp của con người nơi đây, đồng thời bộc lộ tình yêu, niềm tự hào về quê hương:

“Người đồng mình yêu lắm con ơi

Đan lờ cài nan hoa

Vách nhà ken câu hát

Rừng cho hoa

Con đường cho những tấm lòng”

Cụm từ “Người đồng mình” chỉ những người cùng sống chung một quê hương bản làng, suy rộng ra là những người sống chung trên một đất nước, lãnh thổ. Cách gọi của người cha mộc mạc, bình dị nhưng xiết bao ân tình đằm thắm, xiết bao nghĩa tình của người cha dành cho con và cho người đồng mình. Người đồng mình là những người yêu lao động, cần cù lao động họ đang lờ để đánh bắt cá dưới núi, dưới khe. Vách nhà được thưng bằng gỗ bằng tre để che chắn gió mưa bão tố đổ về. Người đồng mình đâu chỉ cần cù lao động mà còn có đôi bàn tay khéo léo, óc sáng tạo, giàu cảm xúc, giàu trí tưởng tượng. Với họ nan vầu, nan tre đã trở thành những nan hoa đẹp đẽ. Vách nhà đâu chỉ ken bằng gỗ mà còn bằng những câu hát then, hát lượn ngọt ngào quyến rũ của người Tày. “Nan hoa”, “câu hát” đâu chỉ là hình ảnh tả thực mà còn là hình ảnh ẩn dụ, thể hiện cuộc sống tươi trẻ, tinh thần lạc quan vui sống. Nhờ đó mà họ biến cuộc sống lao động thành thơ, đẹp như thơ. Cuộc sống của người đồng mình gần gũi, chan hòa, gắn bó với thiên nhiên. Hình ảnh “hoa” được nhắc tới vừa là hình ảnh tả thực vừa là hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng cho tâm hồn tươi trẻ phong phú tràn đầy lạc quan. Hình ảnh “con đường” cũng vừa mang ý nghĩa tả thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng. Con đường ở đây nối bản gần với bản xa, con đường lên nương, lên rẫy, con đường vào thung lấy nước. Tất cả đều in dấu chân của người đồng mình. Con đường tựa như một nhịp cầu gắn kết những con người quê hương. Tấm lòng cũng được coi là hình ảnh ẩn dụ, chính là tấm lòng của quê hương theo con đường gần, đường xa để đến với quê hương, đất nước mình. Điệp từ “cho” nhắc đi nhắc lại hai lần nhấn mạnh vẻ đẹp giàu có, hào phóng, thơ mộng, giàu yêu thương của thiên nhiên, núi rừng dành cho con và cho người đồng mình. Từ những câu thơ bình dị đó, ta thấy người cha mong con giữ gìn, trân trọng những giá trị của quê hương, gia đình, của dân tộc mình. Hai dòng thơ cuối kết thúc bằng hình ảnh cha mẹ:

“Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới

Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời”

Ngày cưới là ngày khởi đầu của một mái ấm, của tình yêu đôi lứa. Ngày cưới là ngày gặp gỡ của những tấm lòng, của những con người quê hương. Tình cảm riêng đã hoà và tình cảm chung, tình cảm gia đình đã hòa vào tình cảm quê hương. Đoạn thơ mở ra bằng hình ảnh đứa con, kết thúc bằng hình ảnh cha mẹ, mở ra bằng cội nguồn gia đình, kết thúc bằng cội nguồn quê hương, gia đình và quê hương sẽ mãi mãi luôn bên nhau, nâng đỡ con trong suốt hành trình dài của cuộc đời.

Sang đến khổ thơ thứ hai Y Phương đã thể hiện lòng tự hào về quê hương và niềm mong ước của người cha, con sẽ là người kế tục và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình, quê hương, đất nước. Mở đầu vẫn là lời gọi ra thiết của người cha:

“Người đồng mình thương lắm con ơi

Cao đo nỗi buồn

Xa nuôi chí lớn”

Chỉ một chữ “thương” mà chất chứa cảm xúc yêu thương, cảm thông sâu sắc của người cha dành cho con và cho người đồng mình. Từ cảm thán “con ơi” cất lên ở cuối dòng thơ khiến dòng thơ nghẹn ngào, rưng rưng. Hai dòng thơ tiếp theo diễn tả cuộc sống thiếu thốn, nhọc nhằn, cơ cực của người đồng mình. Y Phương đã diễn tả cách nói mộc mạc của người miền núi. Nỗi buồn vốn là một khái niệm trừu tượng, nỗi buồn ấy nhiều vô hạn không thể cân đong đo đếm hết được, chỉ có thể lấy độ cao chất ngất của núi non mới có thể đo, đếm được. Người cha buồn vì đó là một cuộc sống lao động thủ công thô sơ, lạc hậu, thiếu thốn, lam lũ, vất vả và cực nhọc. Nỗi buồn của người đồng mình cao như núi nhưng ý chí và tầm vóc của người đồng mình lại không kém phần mạnh mẽ Chỉ có thể lấy cái xa ngất, rộng dài của thiên nhiên mới có thể đo được. Hai câu thơ như thành ngữ cô đọng, đối sóng nhau cùng Khắc hoạ, làm nổi bật vẻ đẹp, ý chí bản lĩnh, tâm trí sống để vượt qua gian khổ thử thách. Câu thơ “Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn” cất lên tha thiết sâu lắng, mang âm hưởng của núi rừng khiến cho lời nhắc nhở của người cha thêm sâu sắc. Hai câu thơ tiếp:

“Sống trên đá không chê đá gập ghềnh

Sống trong thung không chê thung nghèo đói”

“Đá gập ghềnh”, “thung nghèo đói” vừa là hình ảnh tả thực, vừa mang tính khái quát. “Đá gập ghềnh” gợi cuộc sống không bằng phẳng mà gian khổ, lam lũ cực nhọc. Điệp ngữ “không chê” cùng với kiểu câu “sống… không chê…” khiến cho âm hưởng câu thơ thêm mạnh mẽ, thiết tha, hoà vào khát vọng của người cha. Vất vả cực nhọc là thế nhưng người đồng mình vẫn sống lạc quan, không chê cuộc sống nghèo đói, vẫn thủy chung trước sau như một với quê hương. Đó cũng là lời nhắn nhủ của người cha về một lẽ sống thủy chung, ân tình, ân nghĩa, gắn bó với quê hương, đừng phũ phàng phũ phàng, đừng quay lưng ngoảnh mặt. Nhưng gắn bó với cuộc sống quê hương đói nghèo cơ cực đâu có phải là chuyện dễ dàng. Hiểu được điều đó người cha mong con hãy sống lẽ sống của “sông” và “suối”:

“Sống như sông như suối

Lên thác xuống ghềnh

Không lo cực nhọc”

Nghệ thuật so sánh mang đậm âm hưởng miền núi, gợi ra một lối sống hồn nhiên, bền bỉ, mạnh mẽ, phóng khoáng, trong sáng. Chỉ Khi ấy con người mới không lo cực nhọc, không sợ gian nan dẫu đời nhiều lần ghềnh thác. Điệp từ “sống” nhắc đi nhắc lại hai lần vang lên như một lời thề, một lời quyết tâm. Thành ngữ đối sóng “lên thác, xuống ghềnh” cho thấy dù quê hương có vất vả nhọc nhằn, nỗi buồn chất cao như núi, nhưng người đồng mình không bao giờ quay lưng lại với nơi mình đã từng chôn rau cắt rốn, nơi cha mẹ đã từng cày xới vun trồng và luôn biết vượt qua gian khổ bằng ý chí và nghị lực vững vàng. Gởi trong lời nói với con, người cha mong con biết chấp nhận, biết vượt qua gian lao và thử thách bằng ý chí và niềm tin, hãy thẳng lưng mà bước, hãy ngẩng đầu mà đi, đi cho “Chân cứng đá mềm”.

Phẩm chất của con người quê hương được người ta ngợi ca qua cách nói đối lập tương phản giữa hình thức bên ngoài và phẩm chất bên trong:

Họ là những con người thôn quê chân chất bình dị mà cả cuộc đời gắn bó với núi rừng. Đối lập với vẻ ngoài ấy, với vóc dáng nhỏ bé là ý chí tầm vóc mạnh mẽ, lớn lao. Ẩn chứa trong hai dòng thơ đầu là lòng tự hào của người cha về tầm vóc ý chí của người đồng mình. Cụm từ “tự đục đá kê cao quê hương” là một cách nói độc đáo, cụ thể mà khái quát, gợi lên hình ảnh những con người yêu lao động, không lùi bước trước gian khổ, tự lực, tự cường xây dựng quê hương bằng chính sức lực và sự bền bỉ của mình. Chính họ là những người sáng tạo và lưu truyền những phong tục, tập quán, tốt đẹp riêng của dân tộc mình và lấy quê hương làm chỗ dựa cho tinh thần mình. Điệp ngữ “quê hương” nhắc đi nhắc lại hai lần nhấn mạnh niềm tự hào vô bờ bến của người cha dành cho quê hương.

Bốn câu thơ cuối bài thơ là lời nhắn nhủ chân thành về lẽ sống:

Cụm từ “thô sơ da thịt” được lặp lại cùng với cách nói nhấn mạnh “không bao giờ nhỏ bé được” bộc lộ tha thiết niềm mong ước của người cha. Niềm mong ước ấy được đặt trong lời nhắn nhủ “Con ơi”, “nghe con” khiến cho câu thơ mềm mại, giọng thơ tha thiết, ngọt ngào, tình rhow lan toả thấm vào lòng người. Điều người cha muốn nói với con ngắn gọn, hàm súc mà sâu sắc, có chút nghiêm nghị của mệnh lệnh trái tim. Dẫu thô sơ da thịt nhưng đừng tầm thường về lẽ sống và tâm hồn. Hãy sống có niềm tin, có ý chí để không bao giờ gục ngã trên mỗi chặng đường dài. Làm được điều đó là con đã kế tục truyền thống của người đồng mình và quê hương.

Bài thơ viết theo thể thơ tự do phù hợp với tư duy của người miền núi, nhịp điệu thơ linh hoạt, tạo ra sự cộng hưởng với những cung bậc cảm xúc khác nhau. Ngôn ngữ giản dị, trong sáng, hình ảnh cô đọng, mộc mạc và vẫn phong phú.

Y Phương đã góp vào đề tài tình cha con cao quý, tình yêu quê hương sâu sắc một áng thơ hay. Bởi yêu gia đình, quê hương là tình cảm nguyên sơ nhất của con người. Quả thật:

“Quê hương nếu ai không nhớ

Sẽ không lớn nổi thành người

BÀI VĂN MẪU SỐ 2 CẢM NHẬN BÀI THƠ “NÓI VỚI CON”

Gia đình, quê hương là cái nôi đầu đời của mỗi con người. Tình cảm gia đình, quê hương là sợi dây vô hình níu giữ bước chân của những con người xa quê với cội nguồn. Với giọng điệu tâm tình nhỏ nhẹ, Y Phương cho ta cảm nhận niềm hạnh phúc gia đình bình dị mà ai trong chúng ta cũng từng được trải qua:

Ngôn ngữ thơ mộc mạc giản dị, hình ảnh thơ chân thực cùng với nhịp thơ nhanh kết hợp với điệp cấu trúc hình ảnh : 1 bước,2 bước. Giúp dựng lên trước mắt chúng ta bức tranh gia đình với không khí đầm ấm hòa hợp quấn quýt đầy ắp niềm vui hạnh phúc. Hình ảnh trung tâm của bức tranh ấy chính là đứa trẻ đang tập đi tập nói , từng bước chân và tiếng cười của nó đều được cha mẹ nâng niu. Viết những câu thơ này dường như Y Phương cũng đang sống với tâm thế của một người làm cha thật, với những niềm vui và hạnh phúc khi được đón chờ cô con gái đầu lòng vì vậy mà 4 câu thơ đầu ông viết thay cho lời tâm sự niềm hạnh phúc lớn lao nhất của con người khi được sinh ra và lớn lên trong tình yêu thương của gia đình. Những câu thơ chính là những lời nhắc nhở vè cội nguồn sinh dưỡng đầu tiên của bất cứ ai đó là gia đình.

Những con người không chỉ lớn lên trong tình yêu thương gia đình mà còn có một mái ấm lớn hơn đó là quê hương. Y Phương cũng thấu hiểu và nhắc nhớ trong ba câu thờ tiếp theo. Con người đồng mình, chính là con người quê hương , con người vùng mình những con người uống chung một dòng suối, đi chung một con đường. Ba tiếng ‘ người đồng mình’ gợi lên bao tình cảm thân thiết ruột thịt giữa những con người ở quê hương. Các bộc lộ tình cảm trực tiếp qua từ ‘yêu lắm’ cùng với cụm từ ‘con ơi’ tạo giọng điệu lời thơ tha thiết chan chứa tình yêu lời chân trọng người đồng mình. Trong những lời thơ, công việc của người đồng mình là những việc đan lờ bắt cá, ken vách làm nhà qua ba động từ liên tiếp: ‘đan, ken cài’. Hai câu thơ làm sáng lên vẻ đẹp của cuộc sống tâm hồn mơ mộng lãng mạn. Nghệ thuật ẩn dụ: ‘cài nan hoa’ ; ‘ken câu hát’ với đôi tay khéo léo của con người quê hương vót nan tre nan trúc để đan lờ được nhìn như đan hoa. Vách nhà không chỉ được đan bằng bùn đất rơm dạ mà còn được đan bằng những câu hát. Ý thơ xuất phát từ thực tế song cũng được đúc kết từ cái nhìn đầy tinh tế của Y Phương.

Thiên nhiên quê hương còn được y Phương vẽ nên bởi hai hình ảnh : ‘những cánh rừng bạt ngàn và con đường dài vô tận’

Hoa vốn là biểu tượng của cái đẹp tinh thần là kết tinh của điều tinh túy mà rừng đã hào phóng mang lại cho con người những gì đẹp nhất. Hình ảnh ẩn dụ ‘những con đường’ mở ra ý thơ thêm sâu sắc, con đường là con đường đi hằng ngày lên núi nhưng cũng là hình ảnh cho con đường đời, trên con đường ấy con sẽ nhận được biết bao sự giúp đỡ chân thành từ những người đồng mình. Như vậy, cả con người và thiên nhiên của quê hương đều xây dựng cho con tâm hồn lối sống vì vậy con phải biết trân trọng và bảo vệ quê hương. Kết thúc khổ thơ cuối, bằng giọng chân tình cha đã kể cho con nghe về ngày cưới của cha mẹ, ngày hai tâm hồn gặp nhau mang lại cho con niềm hạnh phúc, điều tốt đẹp nhất. Mạch thơ có sự đan xen tình gia đình- tình quê hương- tình gia đình cùng nuôi dưỡng chở che tạo cho con cả hình hài và tâm hồn.

Khổ thơ tiếp theo cha kể cho con nghe về phẩm chất của người đồng mình. Mở đầu bài thơ ấy là câu nói mà như thốt lên: ‘người đồng mình thương lắm con ơi’ câu thơ như điệp lại câu thơ mở đầu nhưng từ yêu chuyển thành từ thương. Chỉ một chữ ‘thương’ nhưng diễn tả bao cảm xúc chan chứa: cha không chỉ yêu, tự hào về người đồng mình mà còn thấy thương xót cho nỗi vất vả nhọc nhằn của con người đồng mình

Câu thơ ngắn lại làm cho câu thơ như hai vế đối kháng khá chuẩn chỉnh cả về từ ngữ lẫn ý nghĩa. Đó là sự đối lập giữa hai hoàn cảnh sống và ý chí nghị lực kiên cường của người đồng mình. Nỗi buồn và trí lớn thuộc lĩnh vực tinh thần đã được Y Phương dùng cách nói cụ thể của người dân miền núi lấy độ cao của núi để đo vất vả gian nan, lấy tầm xa của rừng đê đo ý chí nghị lực. Hình ảnh ẩn dụ nuôi chí lớn gợi cảm giác sự dẻo dai bề bỉ ôm ấp khát vọng hoài bão quyết tâm vượt qua mọi khó khắn.

“Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn

Sống trên đá không chê đá gập ghềnh

Sống trong thung không chê thung nghèo đói”

Cách điệp cấu trúc sống trên đá và sống trong thung ở đầu mỗi câu thơ gợi lên một cuỗ sống nghèo đói vất vả lam lũ và đầy trắc trở của con người đồng mình. Điệp từ không chê tạo cho lời thơ vừa da diết đanh chắc như lời nhắc nhở con phải biết chấp nhận quê hương khó khăn thử thách, phải biết sống ân tình thủy chung với que hương đừng vì quê hương nghèo khó mà dời bỏ lãng quên. Hai câu thơ chất chứa nỗi niềm của một người làm cha cũng là nỗi niềm của một người làm lãnh đạo và là một nhà văn hóa. Lời thơ như mang hơi thở của thời đại, Y Phương đã nhấn mạnh vấn đề nhạy cảm khi ấy: nhiều người chê đá gập ghềnh chê quê hương è mọn mà rời bỏ quê hương để tìm đến một vùng đất mới. Y Phương sợ điều đó sẽ xảy ra với con mình bởi lẽ khi đã rời bỏ quê hương là rời bỏ cội nguồn. Vì vậy mà Y Phương đã hai lần dặn cho “không chê” để con khắc cốt ghi xương tình cảm đừng vì quê hương nghèo khó mà quay lưng ; đừng vì quê hương gập ghềnh mà phai bạc, con phải biết trân trọng quê hương.

Mạch cảm xúc như được nối dài

“Sống trên đá không chê đá gập ghềnh

Sống trong thung không chê thung nghèo đói

Sống như sông như suối

Lên thác xuống ghềnh

Không lo cực nhọc”

Nghệ thuật so sánh : ‘ sống-sông; núi’cũng mang đập tư duy của người miền núi luôn gắn với sự vật hiện tượng với thiên nhiên. Sống như sông như suối thể hiện một cách sống thoáng đạt thẳng thắn hồn nhiên mộc mạc nhưng hết sức mạnh mẽ và dạt dào tình cảm của người đồng mình. Nghệ thuật ẩn dụ ‘lên thác xuống ghềnh’ gợi lên cuộc sống dù khó khắn vất vả nhưng con phải biết chấp nhận vững vàng đối mặt không được né tránh, không sợ gian lao mà vượt lên.

Những câu thơ tiếp theo lại là những câu thơ về người đồng mình. Hình ảnh ‘thô sơ da thịt’ là hình ảnh vừa diễn tả vẻ mộc mạc chất phác quê mùa thô kệch không hào hoa nghệt thuật trong cuộc sống. Song tương phản với sự thô sơ mộc mạc mấy lại chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con. Cụm từ ‘đâu con’ tạo cho âm điệu câu thơ vừa tha thiết ngọt ngào. Dùng cách nói phủ định ‘chẳng mấy ai nhỏ bé’ để nói với con rằng cn người quê hương mình vô cùng mạnh mẽ, cao thượng không tầm thường giàu nghị lực sống và trong sạch đầy khát vọng.

“Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương”

Câu thơ không nói đến tình yêu quê hương hay sự chất phác mộc mạc mà hình ảnh người đồng mình gắn liền với côn việc lao động thương ngày: đó là công việc đuc đá dựng dậu lam nương. Công việc vất vả nhọc nhằn nhưng lại là hình ảnh đặc trưng của người dân miền núi. Vì vậy chính côn việc nặng nhọc ấy tạo nên truyền thống cho quê hương; người đồng mình tự hào mà nêu cao truyền thống ấy, bằng hình ảnh cụ thể kê cao quê hương người cha đã ngợi ca ý chí của con người đồng mình tự xây dưng mảnh đất nghèo khó còn quê hương trở thành điểm tựa tâm hồn cho mỗi con người đồng mình.

“con ơi tuy thô sơ….nghe con”

Âm điệu câu thơ da diết như tiếng gọi con để nhắn nhủ lời nhắn trìu mến tâm tình của người cha. Lần thứ hai hình ảnh ‘thô sơ da thị’t được nhắc lại nhưng nếu ở lần thứ nhất cha muốn con cảm nhận được vẻ đẹp của người đồng mình thì lần này cha muốn con phải khắc cốt ghi tâm : người quê mình chân chất mộc mạc nhưng ẩn sâu vẻ đẹp chân chất ấy lại là một lẽ sống cao đẹp vì vậy con phải giữ vững và phát huy lẽ sống cao đẹp của con người đồng mình. Câu thơ tiếp theo đột ngột thu lại còn hai tiếng ‘ lên đường’ làm cho nhịp thơ đanh hơn giống như một lời nhắc nhở con lên đường cũng chính là con đang bước vào đời. Câu thơ cuối gửi gắm tâm tình cũng là mong muốn của cha dành cho con: ‘không bao giờ được nhỏ bé nghe con’ con phải tự tin bước trên đường đời mạnh mẽ chấp nhận khó khăn để vươn lên, không được lùi bước phải sống trong sạch cao thượng xứng đáng là con người đồng mình. Người cha lúc này giống như một người tuyền lửa cho con , cha mong con sống chân thành mộc mạc không hèn mọn. Lời nhắn nhủ của cha dành cho con vừa kiên định lại vừa thiết tha ‘ nghe con’ gợi lên tiếng dặn dò với bao trìu mến thương yêu.

Bài thơ viêt theo thể thơ tự do câu ngắn dài đan xen linh hoạt; âm điệu câu thơ vừa ngọt ngào vừa cứng rắn cùng với hình ảnh mang đậm nét tư duy của dân tộc miền núi. Bài thơ đã thể hiện tình cảm gia đình ấm cúm với lời ca ngợi truyền thống cần cù của con người quê hương. Lời thơ vừa tha thiết nhưng cũng hết sức nghiêm khắc về một lẽ sống cao đẹp. Đó là những điều gần gũi thiêng liêng vừa có ý nghĩa với muôn đời và muôn đời