Cảm Nhận Về Hai Khổ Thơ Đầu Của Bài Thơ “Sóng”

Xuân Quỳnh là một nhà thơ tiêu biểu trong thời kỳ chống Mỹ. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn tha thiết với khát vọng về hạnh phúc bình dị, đời thường. Với các tác phẩm chính như: Thơ Tơ tằm – chồi biếc, Hoa dọc chiến hào, Gió Lào cát trắng,… Trong đó, “Sóng” là bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh, in trong tập “Hoa dọc chiến hào”.

Bài thơ “Sóng” được sáng tác vào năm 1947, trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình). Trong bài thơ, tác giả thông qua việc khám phá những nét tương đồng giữa “Sóng” và “Em” để miêu tả vẻ đẹp tâm hồn, khát vọng tình yêu tha thiết, nồng nàn, thủy chung và hạnh phúc của người phụ nữ đang yêu.

Ở đây, “Sóng” là hình tượng trung tâm, ẩn dụ dùng để bộc lộ những cảm xúc trong tình yêu. Sóng là sự hòa nhập và phân tán của nhân vật trữ tình “Em”. Nhân vật trữ tình “Em” được tác giả phân thân ra để bộc lộ cảm xúc của chính mình. Tác giả đã sáng tạo hình tượng sóng khá độc đáo, vừa tả thực những trạng thái thăng trầm của con sóng, vừa thể hiện những cung bậc tình cảm và tâm trạng của người phụ nữ đang yêu.

Với bài thơ “Sóng” nổi bật là hai khổ thơ đầu. Nghĩ về sóng, cảm xúc trong tình yêu:

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể.

Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ.”

Trước hết, tình yêu mang tính phức tạp:

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể”

Ở khổ thơ, hai câu đầu ngắt nhịp 2/3, hai câu sau chuyển sang nhịp 3/2. Xuân Quỳnh đã mô tả được sự thay đổi mau lẹ, biến hóa không ngừng của sóng biển và sóng tình. Sóng hiện ra như một con người có nội tâm nhiều biến động, con sóng mang những trạng thái trái ngược nhau: Lúc thì “Dữ dội” khi thì “Dịu êm”, lúc thì “Ồn ào” khi thì “Lặng lẽ”. Đó là hai trạng thái tâm hồn đối lập nhau, giằng xé nhau, buồn vui lẫn lộn.

Nhưng tại sao lại thế? Có phải sóng đang yêu, yêu âm thầm, lặng lẽ?

Sóng không biết! Sóng không hiểu!

Vậy nên, nếu “Sông không hiểu nổi mình” thì sóng dứt khoát từ bỏ, vượt qua giới hạn chật hẹp để “Tìm ra tận bể”, tìm đến cái bao la, vô cùng… Cũng như sóng, tình yêu cũng có những trạng thái phức tạp. Khi thì sôi nổi, mãnh liệt, khi thì dịu dàng, sâu lắng. Để hiểu nổi mình, tình yêu đã hướng đến cõi nhân gian rộng lớn. Rõ ràng, hành trình “Tìm ra tận bể” của sóng cũng chính là quá trình tự khám phá, tự nhận thức chính bản thân và khao khát sự đồng cảm, đồng điệu trong tình yêu của nhân vật “Em”.

Để rồi, hiện rõ khát vọng về tình yêu của tuổi trẻ:

“Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ.”

Sóng “Ngày xưa” và sóng “Ngày sau” vẫn vậy, vẫn trường tồn với thời gian, vẫn khát khao vào bờ. Và tình yêu cũng thế, vẫn vĩnh hằng với thời gian và tuổi trẻ. Như Xuân Diệu từng nói: “Hãy để trẻ con nói cái ngon của kẹo – Hãy để tuổi trẻ nói hộ tình yêu”. Tình yêu gắn liền với tuổi trẻ, tình yêu ở quá khứ, hiện tại và tương lai đều là khát vọng muôn đời của tuổi trẻ “Nỗi khát vọng tình yêu – Bồi hồi trong ngực trẻ”. Hai tiếng “Bồi hồi” cứ rộn ràng, rung động, xao xuyến trong tim, thúc đẩy tuổi trẻ đi tìm chân lí yêu đương. Nhưng không riêng gì tuổi trẻ mà con người ai cũng đều nồng nàn và bồi hồi trước tình yêu.

Quả thật, tình yêu là gì? Khó có ai lý giải được! Kể cả “Ông hoàng thơ tình” là Xuân Diệu còn phải chịu thua và than thở:

“Làm sao cắt nghĩa được tình yêu?

Có nghĩa gì đâu một buổi chiều

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt

Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu…”

Thế nhưng, con người ta vẫn cứ khát vọng, khát vọng lớn lao, vĩnh hằng với tình yêu.

Như vậy, bằng nghệ thuật tương phản, biện pháp ẩn dụ cùng phép liên kết độc đáo, Xuân Quỳnh đã làm nổi bật cảm xúc của người phụ nữ đang yêu và nỗi khát vọng của họ về một tình yêu mãnh liệt, nồng nàn và vĩnh cửu.

Cảm Nhận Về Hai Khổ Thơ Đầu Của Bài Thơ “Sóng” – Xuân Quỳnh

Cảm nhận về hai khổ thơ đầu của bài thơ “Sóng” – Xuân Quỳnh.

Xuân Quỳnh là một nhà thơ tiêu biểu trong thời kỳ chống Mỹ. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn tha thiết với khát vọng về hạnh phúc bình dị, đời thường. Với các tác phẩm chính như: Thơ Tơ tằm – chồi biếc, Hoa dọc chiến hào, Gió Lào cát trắng,… Trong đó, “Sóng” là bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh, in trong tập “Hoa dọc chiến hào”. 

Bài thơ “Sóng” được sáng tác vào năm 1947, trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình). Trong bài thơ, tác giả thông qua việc khám phá những nét tương đồng giữa “Sóng” và “Em” để miêu tả vẻ đẹp tâm hồn, khát vọng tình yêu tha thiết, nồng nàn, thủy chung và hạnh phúc của người phụ nữ đang yêu.

Ở đây, “Sóng” là hình tượng trung tâm, ẩn dụ dùng để bộc lộ những cảm xúc trong tình yêu. Sóng là sự hòa nhập và phân tán của nhân vật trữ tình “Em”. Nhân vật trữ tình “Em” được tác giả phân thân ra để bộc lộ cảm xúc của chính mình. Tác giả đã sáng tạo hình tượng sóng khá độc đáo, vừa tả thực những trạng thái thăng trầm của con sóng, vừa thể hiện những cung bậc tình cảm và tâm trạng của người phụ nữ đang yêu.

Với bài thơ “Sóng” nổi bật là hai khổ thơ đầu. Nghĩ về sóng, cảm xúc trong tình yêu:

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể.

Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ.”

Trước hết, tình yêu mang tính phức tạp:

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể”

Ở khổ thơ, hai câu đầu ngắt nhịp 2/3, hai câu sau chuyển sang nhịp 3/2. Xuân Quỳnh đã mô tả được sự thay đổi mau lẹ, biến hóa không ngừng của sóng biển và sóng tình. Sóng hiện ra như một con người có nội tâm nhiều biến động, con sóng mang những trạng thái trái ngược nhau: Lúc thì “Dữ dội” khi thì “Dịu êm”, lúc thì “Ồn ào” khi thì “Lặng lẽ”. Đó là hai trạng thái tâm hồn đối lập nhau, giằng xé nhau, buồn vui lẫn lộn.

Nhưng tại sao lại thế? Có phải sóng đang yêu, yêu âm thầm, lặng lẽ?

Sóng không biết! Sóng không hiểu!

Vậy nên, nếu “Sông không hiểu nổi mình” thì sóng dứt khoát từ bỏ, vượt qua giới hạn chật hẹp để “Tìm ra tận bể”, tìm đến cái bao la, vô cùng… Cũng như sóng, tình yêu cũng có những trạng thái phức tạp. Khi thì sôi nổi, mãnh liệt, khi thì dịu dàng, sâu lắng. Để hiểu nổi mình, tình yêu đã hướng đến cõi nhân gian rộng lớn. Rõ ràng, hành trình “Tìm ra tận bể” của sóng cũng chính là quá trình tự khám phá, tự nhận thức chính bản thân và khao khát sự đồng cảm, đồng điệu trong tình yêu của nhân vật “Em”.

Để rồi, hiện rõ khát vọng về tình yêu của tuổi trẻ:

“Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ.”

Sóng “Ngày xưa” và sóng “Ngày sau” vẫn vậy, vẫn trường tồn với thời gian, vẫn khát khao vào bờ. Và tình yêu cũng thế, vẫn vĩnh hằng với thời gian và tuổi trẻ. Như Xuân Diệu từng nói: “Hãy để trẻ con nói cái ngon của kẹo – Hãy để tuổi trẻ nói hộ tình yêu”. Tình yêu gắn liền với tuổi trẻ, tình yêu ở quá khứ, hiện tại và tương lai đều là khát vọng muôn đời của tuổi trẻ “Nỗi khát vọng tình yêu – Bồi hồi trong ngực trẻ”. Hai tiếng “Bồi hồi” cứ rộn ràng, rung động, xao xuyến trong tim, thúc đẩy tuổi trẻ đi tìm chân lí yêu đương. Nhưng không riêng gì tuổi trẻ mà con người ai cũng đều nồng nàn và bồi hồi trước tình yêu.

Quả thật, tình yêu là gì? Khó có ai lý giải được! Kể cả “Ông hoàng thơ tình” là Xuân Diệu còn phải chịu thua và than thở:

“Làm sao cắt nghĩa được tình yêu?

Có nghĩa gì đâu một buổi chiều

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt

Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu…”

Thế nhưng, con người ta vẫn cứ khát vọng, khát vọng lớn lao, vĩnh hằng với tình yêu.

Như vậy, bằng nghệ thuật tương phản, biện pháp ẩn dụ cùng phép liên kết độc đáo, Xuân Quỳnh đã làm nổi bật cảm xúc của người phụ nữ đang yêu và nỗi khát vọng của họ về một tình yêu mãnh liệt, nồng nàn và vĩnh cửu.

Cảm Nhận 4 Khổ Thơ Đầu Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh

Cảm nhận 4 khổ thơ đầu bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

Mở bài:

Trong các nhà thơ Việt Nam hiện đại, Xuân Quỳnh là một trong số những nhà thơ của tình yêu. Chị viết nhiều, viết hay về tình yêu với những tác phẩm tiêu biểu như: “Sóng”, “Thuyền và Biển”, “Hoa dọc chiến hào”… trong đó “Sóng” là một bài thơ đặc sắc rất tiêu biểu cho phong cách thơ tình yêu của Xuân Quỳnh. Bài thơ Sóng để lại giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc mà tiêu biểu là 4 khổ thơ đầu bài thơ:

“Dữ dội và dịu êm … Khi nào ta yêu nhau”

Thân bài:

Bài thơ Sóng được Xuân Quỳnh sáng tác tại biển Diêm Điền năm 1967, sau được in trong tập “Hoa dọc chiến hào”. Bài thơ mang âm hưởng của những con sóng biển và những con sóng lòng đang khao khát tình yêu. Bài thơ có hai hình tượng cùng song hành và hòa điệu, đó là “Sóng” và “Em”. Hai hình tượng này đã tạo nên nét đáng yêu cho bài thơ.

Bốn câu thơ đầu là những cung bậc của sóng và cũng là những cung bậc trong tình yêu của người phụ nữ:

“Dữ dội và dịu êm Ồn ào và lặng lẽ Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể”.

Hai câu thơ đầu với nghệ thuật đối: “Dữ dội – dịu êm”; “Ồn ào – lặng lẽ” đã làm hiện lên vẻ đẹp của những con sóng biển ngàn đời đối cực. Những lúc biển động, bão tố phong ba thì biển “dữ dội – ồn ào” còn những giây phút sóng gió đi qua biển lại hiền hòa trở về “dịu êm – lặng lẽ”.

Nghệ thuật ẩn dụ ở hai câu đầu là ẩn dụ cho tâm trạng người con gái khi yêu. Xuân Quỳnh đã mượn nhịp sóng để thể hiện nhịp lòng của chính mình . Tình yêu của người phụ nữ cũng không chịu yên định mà đầy biến động, khao khát. Đúng như vậy, tình yêu của người con gái nào bao giờ yên định bởi có lúc họ yêu rất dữ dội, yêu mãnh liệt hết mình với những nhớ nhung, đôi khi ghen tuông giận hờn vô cớ. Nhưng cũng có lúc họ lại thu mình trở về với chất nữ tính đáng yêu, họ “lặng lẽ”, “dịu êm” ngắm soi mình và lặng im chiêm nghiệm.

Hai câu tiếp theo tác giả sử dụng nghệ thuật nhân hóa để nói đến hành trình đi tìm tình yêu của sóng:

“Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể”.

Ba hình ảnh “sông”, “sóng”, “bể” như là những chi tiết bổ sung cho nhau : sông và bể làm nên đời sóng, sóng chỉ thực sự có đời sống riêng khi ra với biển khơi mênh mông vô tận. Sóng không cam chịu một cuộc sống đời sông chật hẹp, tù túng nên nó làm cuộc hành trình ra biển khơi bao la để thỏa sức vẫy vùng.

Mạch sóng mạnh mẽ như bứt phá không gian chật hẹp để khát khao một không gian lớn lao. Hành trình tìm ra tận bể chất chứa sức sống tiềm tàng, bền bỉ để vươn tới giá trị tuyệt đích của chính mình. Tình yêu của Xuân Quỳnh cũng vậy, tình yêu của người phụ nữ cũng không thể đứng yên trong một tình yêu nhỏ hẹp mà phải vươn lên trên tất cả mọi sự nhỏ hẹp tầm thường để được sống với những tình yêu cao cả, rộng lớn, bao dung. Đây là một quan niệm tình yêu tiến bộ và mạnh mẽ của người phụ nữ thời đại. Có thấy ngày xưa quan niệm tình yêu cổ hủ “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” thì mới thấy hết được cái mới mẻ trong quan niệm tình yêu của Xuân Quỳnh: Người phụ nữ chủ động tìm đến với tình yêu để được sống với chính mình.

Khổ thơ thứ hai, nhà thơ khẳng định: Tình yêu mãi mãi là khát vọng của tuổi trẻ, nó làm bồi hồi, xao xuyến rung động trái tim của lứa đôi, của con trai con gái, của em và anh.

“Ôi con sóng ngày xưa Và ngày sau vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ”

Hai câu thơ đầu, từ “Ôi!” cảm thán là nỗi thổn thức của trái tim yêu. Nghệ thuật đối lập “ngày xưa” – “ngày sau” càng làm tôn thêm nét đáng yêu của sóng. Sóng là thế muôn đời vẫn thế vẫn “dữ dội ồn ào” vẫn “dịu êm lặng lẽ” như tình yêu tuổi trẻ có bao giờ đứng yên:

“Có những khi vô cớ Sóng ào ạt xô thuyền Bởi tình yêu muôn thuở Có bao giờ đứng yên”

(Xuân Quỳnh)

Hai câu thơ sau, nhà thơ khẳng định tình yêu luôn song hành với tuổi trẻ. Bởi tuổi trẻ sinh ra là để yêu : “Làm sao sống được mà không yêu/ Không nhớ không thương một kẻ nào” (Xuân Diệu). Tình yêu là khát vọng là ước mơ của bao người. Sẽ như thế nào nếu thế giới này không có tình yêu lứa đôi ? Tôi tin cuộc sống chẳng còn gì ý nghĩa. Tình yêu luôn làm cho tuổi trẻ phải bồi hồi, điên đảo . Xuân Quỳnh đã từng viết “Những ngày không gặp nhau/Lòng thuyền đau rạn vỡ”. Có yêu nhau mới thấy được cồn cào của vị nhớ, mới thấy được thế nào là bồi hồi trong ngực trẻ.

Khổ thơ thứ ba, Xuân Quỳnh băn khoăn nghĩ suy về anh và em, về nơi tình yêu bắt đầu :

“Trước muôn trùng sóng bể Em nghĩ về anh, em Em nghĩ về biển lớn Từ nơi nào sóng lên?”

Câu thơ đầu, Xuân Quỳnh nhìn về biển khơi “Trước muôn trùng sóng bể”. Nhìn những con sóng vô hồi vô hạn đang hướng vào bờ chị chợt bâng khuâng nghĩ suy về anh và em “Em nghĩ về anh, em” rồi lại hướng nghĩ suy về biển lớn “Em nghĩ về biển lớn” . Những nghĩ suy ấy tất cả là để đặt một câu hỏi lớn: Từ nơi nào sóng lên ?

Khổ thơ thứ tư, nhà thơ lý giải về nguồn gốc của sóng của gió, và qua đó tự bâng khuâng về khởi đầu của tình yêu:

“Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau”

Câu thơ đầu nhà thơ tự lý giải nguồn gốc của sóng là từ gió “Sóng bắt đầu từ gió” nghĩa là sóng biển là khởi đầu từ gió, nhờ gió mà có sóng lên. Nhưng ở câu thơ thứ hai nhà thơ lại không lý giải được nguồn gốc của gió “Gió bắt đầu từ đâu”. Đến lúc này thì đúng là nhà thơ phân vân thật sự và đành lắc đầu bất lực “Em cũng không biết nữa”.

Lí giải được ngọn nguồn của sóng thì dễ bởi “Sóng bắt đầu từ gió” nhưng để hiểu “Gió bắt đầu từ đâu” thì thi nhân lại ấp úng “Em cũng không biết nữa”. Cũng như tình yêu của anh và em nó đến rất bất ngờ và tự nhiên bởi “tình yêu đến trong đời không báo động”. Câu thơ “Khi nào ta yêu nhau” như một cái lắc đầu nhè nhẹ, rất ư là nữ tính. Kì lạ quá, diệu kì quá, em và anh yêu nhau bao giờ nhỉ ? Câu hỏi này muôn đời không ai lí giải nổi nhất là những bạn trẻ đang yêu và đắm say trong men tình ái.

Tình yêu là vậy, khó lí giải, khó định nghĩa. Xuân Diệu – ông hoàng của thi ca tình yêu cũng đã từng băn khoăn khi định nghĩa về tình yêu “Đố ai định nghĩa được tình yêu/ Có khó gì đâu một buổi chiều/Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt/Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu”. Chính vì không thể lí giải rõ ngọn ngành nên tình yêu vì thế mà trở nên đẹp và là cái đích để cho muôn người đi tìm và khám phá. Càng khám phá càng thú vị, càng khám phá càng đẹp.

Thành công của đoạn thơ nói riêng và bài thơ nói chung đó là nhờ vào một số thủ pháp nghệ thuật: Thể thơ năm chữ tạo âm điệu của những con sóng biển. Nghệ thuật đối lập, nhân hóa, ẩn dụ… Tất cả đã tạo nên những vần thơ tình yêu hay nhất mọi thời đại.

Kết bài:

Tóm lại, 4 khổ thơ đầu bài thơ Sóng là những khổ thơ hay nhất của bài thơ. Qua đoạn thơ, người đọc cảm nhận được trái tim yêu của Sóng và người phụ nữ rất nồng nàn say đắm, mãnh liệt cuộn trào nhưng cũng rất nữ tính đáng yêu. Đoạn thơ giúp ta hiểu được tình cảm và hồn thơ Xuân Quỳnh, dù trong mọi hoàn cảnh như thế nào thì tiếng thơ của chị vẫn là tiếng thơ hồn hậu với những khát vọng hạnh phúc đời thường đúng như lời chị viết:

“Chỉ riêng điều được sống cùng nhau Niềm vui sướng với em là lớn nhất Trái tim nhỏ nằm trong lồng ngực Giây phút nào tim chẳng đập vì anh!”

Cảm Nhận Của Em Về Khổ Thơ Đầu Bài: “Nói Với Con” Của Y Phương.

Thơ của Y phương rất dễ nhận ra, ông thường viết về tình cảm gia đình, quê hương, đất nước. Thơ của ông thể hiện tâm hồn chân thật, mạnh mẽ trong sáng, cách tư duy giàu hình ảnh của người miền núi. Từ những đề tài quen thuộc đó, Y Phương đã cho ra một bài thơ về tình phụ tử “Nói với con”. Một cách diễn đạt mộc mạc, chân chất của người miền núi những lời tâm tình thiết tha, những lời dặn dò ân cần, chia sẻ của người cha đối với con lòng tự hào về con người và quê hương yêu dấu của mình.

Mở đầu của bài thơ là khổ thơ thứ nhất của bài. Khổ thơ đầu là lời nhắn nhủ của cha đối với con về gia đình, quê hương, đất nước, nghĩa tình:

Chân phải bước tới cha

Chân trái bước tới mẹ

Một bước chạm tiếng nói

Hai bước tới tiếng cười

Người đồng mình yêu lắm con ơi

Đan lờ cài nan hoa

Vách nhà ken câu hát

Rừng cho hoa

Con đường cho những tấm lòng

Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới

Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời.

Con được sinh ra và lớn lên trong tình yêu thương của cha mẹ, trong lao động và trong thiên nhiên thơ mộng nghĩa tình của quê hương. Gia đình quê hương là cái nôi êm của đời con.

Đoạn thơ mở ra mới hình ảnh gia đình ấm êm, hạnh phúc:

Chân phải bước tới cha

Chân trái bước tới mẹ

Một bước chạm tiếng nói

Hai bước tới tiếng cười

Người đồng mình yêu lắm con ơi

Bằng những hình ảnh cụ thể giản dị, Y phương đã gợi tả hình ảnh gia đình ấm êm, hạnh phúc. Đó là hình ảnh con đang chập chững bước đi. Tiếng nói, tiếng cười của con đều do ba mẹ ban tặng. Con lớn lên từng ngày trong vòng tay yêu thương của gia đình, trong sự nâng niu và mong chờ của cha mẹ. Những hoạt động bình dị của dân tộc Tày “Đan lờ”, “Ken”.

Ba chữ “Người đồng mình” Y Phương gọi tên người cùng làng thân mật đầy giản dị, bộc lộ tình cảm quê hương, gắn bó. “Người đồng mình” tuy cuộc sống vật vã nhưng họ có ý chí mạnh mẽ, khoáng đạt, nghĩa tình gắn bó với quê hương, dẫu quê hương có nhiều khó khăn. “Người đồng mình” là người quê mình, là những biểu tưởng cho vẻ đẹp của quê hương.

Bài thơ thể hiện tình yêu thương thắm thiết của cha mẹ dành cho con cái, tình yêu và niềm tự hào về quê hương đất nước. Bài thơ còn thể hiện lòng yêu thương con cái, ước mong thế hệ sau nối tiếp xứng đáng truyền thống của tổ tiên, dân tộc, quê hương.

Bài thơ “Nói với con” của Y Phương bằng những cách nói, cách nghĩ, những hình ảnh mộc mạc, cụ thể của người dân tộc Tày, tác giả cho người đọc hiểu được sự nuôi dưỡng, che chở của cha mẹ đối với con và mong con sống xứng đáng với quê hương.

Cảm Nhận Của Em Về Khổ Thơ Đầu Của Bài Thơ “Đồng Chí” Của Chính Hữu

Đồng chí! Ôi tiếng gọi sao mà thân thương tha thiết quá. Nó biểu hiện thật đầy đủ tình đồng đội của anh bộ đội Cụ Hồ thời kháng Pháp. Cảm nhận được tình cảm vừa thân quen vừa mới lạ trong cuộc sống chiến đấu ấy, Chính Hữu, một nhà thơ – chiến sĩ đã xúc động viết bài thơ Đồng chí. Với lời thơ chân chất, tràn đầy tình cảm, bài thơ đã để lại bao cảm xúc trong lòng người đọc. Cái đẹp trong khó khăn, thiếu thốn và nhất là cái đẹp trong tình đồng chí, đồng đội, thắm thiết, sâu nặng:

Quê hương anh nước mặn đồng chua

làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Tôi với anh đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau

Súng bên súng đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

Đồng chí !

Bài thơ mở đầu bằng hai câu đối nhau rất chỉnh:

“Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”

Hai câu thơ giới thiệu quê hương “anh” và “tôi” – những người lính xuất thân là nông dân. Giọng điệu thủ thỉ, tâm tình như lời kể chuyện, tâm sự của hai người đồng đội nhớ lại kỉ niệm về những ngày đầu tiên gặp gỡ. Họ đều là con em của những vùng quê nghèo khó, là những nông dân ở nơi “nước mặn đồng chua” hoặc ở chốn “đất cày lên sỏi đá.Hình ảnh “quê hương anh” và “làng tôi” hiện lên với biết bao nỗi gian lao vất vả, mặc dù nhà thơ không chú ý miêu tả. Nhưng chính điều đó lại làm cho hình ảnh vốn chỉ là danh từ chung chung kia trở nên cụ thể đến mức có thể nhìn thấy được, nhất là dưới con mắt của những người con làng quê Việt Nam. Thành ngữ dân gian được tác giả vận dụng rất tự nhiên, nhuần nhuỵ khiến người đọc có thể dễ dàng hình dung được những miền quê nghèo khổ, nơi sinh ra những người lính. Khi nghe tiếng gọi thiêng liêng của Tổ Quốc, họ sẵn sàng ra đi và nhanh chóng có mặt trong đoàn quân chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc.Hai câu thơ theo cấu trúc sóng đôi, đối ứng: “Quê anh – làng tôi” đã diễn tả sự tương đồng về cảnh ngộ. Và chính sự tương đồng về cảnh ngộ ấy đã trở thành niềm đồng cảm giai cấp, là cơ sở cho tình đồng chí, đồng đội của người lính.

Trước ngày nhập ngũ, những con người này vốn “xa lạ”:

“Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”

Những câu thơ mộc mạc, tự nhiên, mặn mà như một lời thăm hỏi. Họ hiểu nhau, thương nhau, tri kỉ với nhau bằng tình tương thân tương ái vốn có từ lâu giữa những người nghèo, người lao động. Nhưng “tự phương trời” họ về đây không phải do cái nghèo xô đẩy, mà họ về đây đứng trong cùng đội ngũ do họ có một lí tưởng chung, cùng một mục đích cao cả: chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc. Hình ảnh : “Anh – tôi” riêng biệt đã mờ nhoà, hình ảnh sóng đôi đã thể hiện sự gắn bó tương đồng của họ trong nhiệm vụ và lí tưởng chiến đấu: “Súng bên súng đầu sát bên đầu”. “Súng” và “đầu” là hình ảnh đẹp, mang ý nghĩa tượng trưng cho nhiệm vụ chiến đấu và lý tưởng cao đẹp. Điệp từ “súng” và “đầu” được nhắc lại hai lần như nhấn mạnh tình cảm gắn bó trong chiến đấu của người đồng chí.

Từ trong tâm khảm họ, bỗng bật thốt lên hai từ “đồng chí”. Từ “đồng chí” được đặt thành cả một dòng thơ ngắn gọn mà ngân vang, giản dị mà thiêng liêng. Từ “đồng chí” với dấu chấm cảm như một nốt nhấn đặc biệt mang những sắc thái biểu cảm khac nhau, nhấn mạnh sự thiêng liêng cao cả trong tình cảm mới mẻ này. Đồng chí là cùng chí hướng, cùng mục đích. Nhưng trong tình cảm ấy một khi có cái lõi bên trong là “tình tri kỉ” lại được thử thách, được tôi rèn trong gian khổ thì mới thực sự vững bền. Không còn anh, cũng chẳng còn tôi, họ đã trở thành một khối đoàn kết, thống nhất gắn bó. Như vậy, trong tình đồng chí có tình cảm giai cấp (xuất thân từ nông dân), có tình bạn bè tri kỉ và có sự gắn bó giữa con người cùng chung lí tưởng, chung mục đích chiến đấu. Và khi họ gọi nhau bằng tiếng “đồng chí” họ không chỉ còn là người nông dân nghèo đói lam lũ, mà họ đã trở thành anh em trong cả một cộng đồng với một lý tưởng cao cả vì đất nước quên thân để tạo nên sự hồi sinh cho quê hương, cho dân tộc. Câu thơ vẻn vẹn có hai chữ như chất chứa, dồn nén bao cảm xúc sâu xa từ sáu câu thơ trước và khởi đầu cho những suy nghĩ tiếp theo. Quả thật ngôn từ Chính Hữu thật là hàm súc.

Với ngôn ngữ thơ cô đọng hình ảnh chân thực, gợi tả, có sức khái quát cao nhằm diễn tả cụ thể quá trình phát triển của một tình cảm Cách mạng thiêng liêng: Tình đồng chí – một tình cảm chân thực không phô trương mà lại vô cùng lãng mạn và thi vị. Trong muôn vàn nốt nhạc của tình cảm con người phải chăng tình đồng chí là cái cung bậc cao đẹp nhất, lí tưởng nhất. Dường như Chính Hữu đã thổi vào linh hồn của bài thơ tình đồng chí keo sơn, gắn bó và một âm vang bất diệt làm cho bài thơ mãi trở thành một phần đẹp nhất trong thơ Chính Hữu.